Không biết từ đời thuở nào tôi đã vô cùng ái mộ nền văn minh Hy Lạp. Hy Lạp với những đền đài uy nghi tráng lệ song lại rất giản đơn, thanh nhã. Hy Lạp với những thần linh uy mãnh song lại mỹ miều như những con người ngọc và đầy đam mê rất người. Và rồi dưới ảnh hưởng của Nietzsche, tôi biết ái mộ thêm tinh thần sáng lóa, tinh khôi của thiên tài Hy Lạp, biểu lộ một cách bi tráng, lẫm liệt qua những bi kịch gia vĩ đại, những triết gia độc đáo tiền Socrates, Plato. Cuối cùng, Henry Miller với cuốn du ký tuyệt vời “The Clossus of Maroussi” đã đưa tôi vào những vườn olive, vườn chanh thơm ngát bên bờ biển, gặp gỡ những người Hy Lạp đầy sức sống, nồng nàn tình người.
Với tình yêu Hy Lạp đó tôi đã dịch Alexis Zorba vào năm 1969.
Nguyễn Hữu Hiệu
Kỳ 80
Chuông ngân lên một cách ai oán. Cha phụ trách tiếp khách làm dấu và đứng lên.
– Tôi phải đi. Hình khổ của Chúa bắt đầu, chúng tôi phải vác cây thập tự với ngài. Các ông có thể nghỉ ngơi đêm nay, hẳn các ông phải mệt mỏi sau cuộc hành trình. Nhưng vào lúc hát kinh buổi sáng mai…
– Ðồ con heo! Zorba rít lên khi lão thầy tu vừa đi khỏi. Ðồ con heo! Ðồ dối trá! Ðồ con lừa!
– Có chuyện gì thế, Zorba? Zaharia nói gì với bác?
– Ðừng lo, ông chủ, cứ để đó. Nếu họ không muốn ký, tôi sẽ cho họ biết tay tôi!
Chúng tôi trở lại phòng người ta đã dọn sẵn cho chúng tôi. Trong góc, một pho tượng Ðức Mẹ Ðồng Trinh áp má vào con, cặp mắt lớn của bà đầy nước mắt.
Zorba lắc đầu:
– Ông có biết tại sao mà khóc không, ông chủ?
– Không.
– Bởi vì bà nhìn thấy chuyện gì đang xẩy ra. Nếu tôi là họa sĩ vẽ thánh tượng, tôi sẽ vẽ Ðức Mẹ Ðồng Trinh không mắt không tai, không mũi. Bởi vì tôi thương hại bà.
Chúng tôi ngã mình trên hai cái giường cứng. Những cây đà có mùi trắc bá; qua khuôn cửa sổ mở rộng cơn gió hây hây của mùa Xuân thổi lọt vào ngào ngạt hương hoa. Thỉnh thoảng vài điệu tang tóc từ sân vọng lên như những trận cuồng phong phũ phàng. Một con họa mi cất tiếng hót bên cửa sổ, tức thì, một con khác và một con khác nữa, ở gần đó phụ họa theo. Ðêm lai láng tình yêu.
Tôi không ngủ được. Tiếng hót của chim họa mi hòa lẫn với những lời than vãn của Chúa Cứu Thế và tôi cũng cố gắng trèo lên Golgotha, qua những cây cam đơm hoa, tự hướng dẫn mình bằng những giọt máu đào. Trong đêm xuân xanh biếc, tôi có thể nhìn thấy mồ hôi lạnh lóng lánh trên khắp thân thể xanh xao và run rẩy của Chúa. Tôi thấy hai tay ngài chìa ra như năn nỉ, như van xin. Ðám dân khốn khổ Galilee vội vã chạy theo ngài, kêu gào: “Hosannah! Hosannah!” Tay họ cầm lá dừa và họ trải áp dưới bước chân ngài. Ngài nhìn những kẻ ngài thương yêu, nhưng không một kẻ nào đoán nỗi tuyệt vọng của ngài. Chỉ một mình ngài biết mình sắp chết. Dưới muôn sao, lặng lẽ khóc thầm, ngài vỗ về trái tim nhân loại đáng thương tràn đầy kinh sợ của mình:
“Tựa như một hạt lúa mì, tâm hồn ta ơi, ngươi cũng phải rụng xuống đất và chết đi. Ðừng sợ hãi. Nếu ngươi không chết đi, làm sao ngươi có thể trở thành bông lúa? Làm sao ngươi có thể nuôi dưỡng những kẻ chết đói?”
Nhưng, trong ngài, trái tim nhân loại run lên, ngất tỉnh mà không muốn chết.
Chẳng bao lâu cánh rừng xung quanh tu viện tràn ngập tiếng hót họa mi dâng lên từ những vòm lá ướt, đầy tình yêu và đam mê bi thiết. Và cùng với tiếng chim hót, trái tim con người run rẩy, căng lên và khóc lóc.
Dần dần, âm thầm lặng lẽ, cùng với Hình Khổ của Chúa và tiếng hót họa mi, tôi đi vào cõi mộng như tâm hồn phải đi vào cõi Thiên Ðàng.
Tôi ngủ chưa đầy một giờ đồng hồ thì tôi choàng dậy, sợ hãi:
– Zorba! Tôi kêu. Bác có nghe thấy không? Một tiếng súng lục!
Nhưng Zorba đã ngồi trên giường hút thuốc:
– Ðừng hoảng hốt, ông chủ, hắn cố dằn cơn giận dữ, để họ thanh toán nhau, mấy con heo!
Chúng tôi nghe thấy những tiếng kêu la từ hành lang, những tiếng giầy băng-túp kéo lệt xệt, cánh cửa mở ra đóng vào, và xa xa tiếng rên rỉ của một người bị thương.
Tôi nhẩy xuống giường và mở cửa. Một lão già dăn dúm hiện ra trước mặt tôi, dang tay ra cản đường. Lão đội một cái mũ trùm đầu nhọn mầu trắng và một cái áo chemise trắng dài tới đầu gối.
– Cụ là ai?
– Giám mục…, lão trả lời, giọng run run.
Tôi suýt nữa bật cười. Một giám mục? Tế phục của ngài đâu: áo hai vạt vàng, mũ chủ giáo và pháp trượng, ngọc thạch giả rựa ở đâu?… Ðây là lần đầu tiên tôi thấy một giám mục mặc áo ngủ.
– Tiếng súng lục đó là tiếng súng lục nào vậy, thưa đức ngài?
– Cha không biết, cha không biết…, lão ấp úng nói và nhẹ nhàng đẩy tôi vào phòng.
Zorba ngồi trên giường, phá lên cười:
– Cha sợ sao, hở cha? Hắn nói. Vào đây với chúng tôi, bạn già. Chúng tôi không phải là thầy tu đâu, đừng sợ.
Tôi nói khẽ:
– Zorba, ăn nói kính cẩn hơn chút nữa được không, đức giám mục đấy.
– Hừ, bạn ơi, trong áo ngủ không ai là giám mục hết! Vào đây, ông bạn!
Hắn đứng lên, cầm cánh tay lão, dìu lão vào trong phòng và đóng cửa lại. Hắn mở túi dết lấy ra một chai rhum và rót rượu ra một cái ly nhỏ.
Hắn nói:
– Uống đi, ông bạn. Rượu sẽ làm bạn hăng hái ngay.



























































































