Không biết từ đời thuở nào tôi đã vô cùng ái mộ nền văn minh Hy Lạp. Hy Lạp với những đền đài uy nghi tráng lệ song lại rất giản đơn, thanh nhã. Hy Lạp với những thần linh uy mãnh song lại mỹ miều như những con người ngọc và đầy đam mê rất người. Và rồi dưới ảnh hưởng của Nietzsche, tôi biết ái mộ thêm tinh thần sáng lóa, tinh khôi của thiên tài Hy Lạp, biểu lộ một cách bi tráng, lẫm liệt qua những bi kịch gia vĩ đại, những triết gia độc đáo tiền Socrates, Plato. Cuối cùng, Henry Miller với cuốn du ký tuyệt vời “The Clossus of Maroussi” đã đưa tôi vào những vườn olive, vườn chanh thơm ngát bên bờ biển, gặp gỡ những người Hy Lạp đầy sức sống, nồng nàn tình người.
Với tình yêu Hy Lạp đó tôi đã dịch Alexis Zorba vào năm 1969.
Nguyễn Hữu Hiệu
Kỳ 82
Gã chống tay lên gối và bắt đầu lẩm bẩm như thể mê sảng:
“Ðóa hồng không bao giờ tàn, mảnh đất mầu mỡ, cây nho, suối, nguồn của phép lạ, cây thang lên trời, cầu, chìa khóa thiên đàng, bình minh, ánh sáng vĩnh cửu, cột lửa, nguyên soái vô địch, tháp bất di dịch, pháo đài bất khả xâm phạm, an ủi, hoan lạc, gậy cho kẻ mù lòa, mẹ của những trẻ mồ côi, bàn, thực phẩm hòa bình, thanh bình, sữa và mật…
– Lão già mê sảng rồi, Zorba nói khẽ, để tôi đắp chăn cho lão khỏi cảm lạnh…
Hắn đứng dậy, ném một tấm chăn lên người lão và sửa lại gối cho ngay ngắn.
– Tôi nghe người ta nói có bẩy mươi bẩy loại điên hắn nói, loại này hẳn phải là thứ bẩy mươi tám.
Ngày ló rạng. Chúng tôi nghe thấy tiếng mõ gỗ. Tôi nghiêng đầu ra ngoài cửa sổ. Trong ánh sáng đầu tiên của bình minh, tôi trông thấy một tu sĩ gầy gò, đội một cái mũ trùm đầu dài, vừa chậm rãi đi vòng quanh sân vừa cầm một cái búa nhỏ gõ vào một tấm gỗ có âm điệu cực kỳ êm ái. Âm thanh của mõ gỗ ngân lên trong không khí buổi mai, đầy dịu dàng, du dương và mời mọc. Chim họa mi đã thôi hót và những con chim đầu tiên của ngày bắt đầu ríu rít kêu trong lùm cây.
Tôi lắng nghe, mê mẩn tâm thần vì hòa khúc ngọt ngào và khuyến dụ của cái mõ gỗ. Ngay cả trong sự suy đồi, tôi nghĩ, một nhịp đời đã lên cao vẫn còn có thể duy trì được hình thức bân ngoài, oai nghiêm và cao nhã xiết bao! Tinh thể đã bỏ đi, nhưng còn để lại trú sở vẹn toàn mà, tự bao thế kỷ, từ từ chuyển hóa thành một nơi an trú thoải mái tựa một cái vỏ hến.
Những nhà thờ chính tòa người ta gặp trong đô thị náo nhiệt và vô thần giống hệt như những cái vỏ hầu hến rỗng ruột này, tôi nghĩ. Những con quái vật tiền sử chỉ còn để lại những bộ xương, bị xoi mòn vì mưa nắng.
Người ta gõ cửa phòng. Chúng tôi nghe thấy cái giọng chơn chớt của cha phụ trách khoản đãi khách vọng vào.
– Mời các huynh dậy đi thôi, đến giờ hát kinh kỳ-đảo buổi sáng rồi đấy!
Zorba nhẩy lên:
– Tiếng súng lục nào đó hồi đêm qua? Hắn nổi đóa hỏi.
Hắn chờ một lát. Yên lặng. Lão thầy tu hẳn còn phải đứng sau cửa bởi chúng tôi có thể thấy hơi thở rộn ràng của y. Zorba giậm chân, tức tối hỏi lại:
– Tiếng súng lục nào đó?
Chúng tôi nghe thấy bước chân vội vã đi ra. Zorba nhẩy một bước tới cửa. Hắn mở toang cửa ra:
– Quân đê tiện bẩn thỉu! Hắn vừa la lớn vừa nhổ bọt về phía lão thầy tu bỏ chạy. Cha cố, sơ vã, thầy tu, giáo khu lý sự viên, những tên giữ đồ thánh, tao phỉ nhổ lên bọn chúng bay tuốt hết!
Và hắn lại nhổ bọt. Tôi nói:
– Ði thôi, có mùi máu phảng phất đâu đây.
– Không phải máu, Zorba càu nhàu. Nếu ông muốn, ông đi nghe hát kinh kỳ-đảo buổi sáng đi, ông chủ. Tôi đi quanh quẩn xem có khám phá ra điều gì không?
– Ði thôi! Tôi lợm giọng nhắc lại. Bác làm ơn đừng có xen vào việc gì không phải của mình cho tôi nhờ.
– Nhưng đây chính là việc tôi muốn xen vào đó! Zorba la lên.
Hắn suy nghĩ giây lát rồi mỉm cười một cách tinh quái:
– Ma quỉ đã cho ta một đặc ân. Tôi nghĩ nó đang đem sự việc về một mối. Ông có biết phát súng đó làm tu viện tốn bao nhiêu tiền không? Bẩy ngàn đồng.
Chúng tôi xuống sân. Hương thơm của cây trổ hoa, sự êm đềm của buổi mai, diễm phúc tuyệt trần. Zaharia rình mò đợi chúng tôi. Gã chạy tới nắm lấy cánh tay Zorba.
– Ðồng chí Canararo, gã run run thì thầm. Lại đây, chúng ta đi đằng này.
– Tiếng súng lục nào đó? Chúng nó giết ai? Nói đi thầy tu, nói không tôi bóp cổ chết bây giờ!
Cằm gã thầy tu run lên. Gã nhìn quanh. Sân vắng các phòng đều đóng kín; những luồng sóng nhạc lan truyền sang cánh cửa giáo đường đang mở rộng.
– Cả hai người theo tôi, gã lẩm bẩm, Sodom và Momorrah!
Chúng tôi len lén men theo tường vượt qua sân và ra khỏi vườn. Cách tu viện chừng trăm thước là nghĩa địa. Chúng tôi bước vào.
Chúng tôi nhảy qua mộ. Zaharia đẩy cánh cửa nhỏ của giáo đường và chúng tôi vào theo gã. Ở giữa, trên một cái chiếu, một thân thể nằm ngay đơ, một cái áo tu sĩ phủ lên trên. Một ngọn nến cháy ở gần đầu, một ngọn ở chân tử thi.
Tôi cúi xuống nhìn xác chết.
– Tiểu tăng! Tôi rùng mình lẩm bẩm. Chú tóc vàng của Cha Demetrios!
Thượng đẳng thiên sứ Michael cánh cửa mở rộng, gươm rút ra khỏi bao và chân đi dép đỏ sáng chói trên cửa giáo đường.
– Thượng đẳng thiên sứ Michael! Gã thầy tu la lên. Xin hãy cho lửa và lưu hoàng xuống, thiêu tất cả chúng đi! Thượng đẳng thiên sứ Michael, đá cho chúng một cái! Xin ngài hãy rời khỏi thánh tượng! Giơ gươm lên và đập chúng! Ngài không nghe thấy tiếng súng lục sao?
– Ai giết gã? Ai? Demetrios? Nói đi, đồ râu xồm!



























































































