Khu Rừng Lau (Kỳ 14)


Kỳ 14


 


Khuê lại cất tiếng giục:


– Ê, Liệt hát đi mày!


Tân ngồi bên cũng giục thêm một câu:


– Anh cho chúng tôi nghe một bài đi, mười phút nữa đã xuống ga rồi.


Liệt ý chừng nể lời Tân hơn bèn đứng dậy dặng hắng. Anh em yên lặng chờ nghe.


“Nguyễn Thái Học” là một bài ca buồn thảm do một nhạc sĩ vô danh sáng tác, lời ca như thể một bài ai điếu của một đồng chí nào đó đã thoát chết từ vụ 1930 còn sống sót đến ngày nay, rồi nhân dịp nước nhà vừa giành lại chủ quyền, tưởng nhớ lại người bạn liệt sĩ cũ và cất lời than khóc. Giọng Liệt rất trầm, ấm dịu nên đã gợi được hết tình ý buồn thảm của lời ca, hơn nữa Liệt hát với tất cả sự say mê của một nghệ sĩ phụng sự nghệ thuật, vẻ hề của anh biến hẳn không để lại một vết tích nhỏ, dưới ánh điện yếu ớt của toa tàu khuôn mặt Liệt lúc biểu diễn bài ca càng thêm vàng vọt và như hơi co dúm lại trong một niềm thống khổ trang nghiêm.


Lời ca dứt, tiếng vỗ tay tán thưởng nhiệt tình, Liệt đưa tay lên xoa đầu trọc nhìn Tân mỉm cười, đôi môi dầy tòe giãn lập tức anh trở lại vẻ hề quen thuộc hầu như thường xuyên của anh.


Tầu từ từ dừng lại… Ðã tới ga Ấm Thượng. Ðoàn thanh niên xuống toa rồi theo ánh đuốc ra khỏi ga, rẽ vào một đường mòn, qua một chiếc cầu treo nhỏ đu đưa như võng, vòng vèo quanh những sườn đồi, bì bõm lội qua những con suối nhỏ… Có lẽ tới một giờ sau mới tới cứ sở. Nơi ăn chốn nằm đã được những toán tới trước thu xếp sẵn, mọi người chỉ còn việc mắc màn rồi nằm lăn quay ra ngủ mê mệt.


Có người con gái khuôn mặt trắng mát tiến đến với Tân. Không rõ ràng cười trước hay Tân cười trước. Gặp nhau sao mà buồn! Nàng nói: “Em mười bẩy, em chỉ sống đến năm hai mươi.” Tân cũng biểu đồng tình: “Em nói đúng! Một người con gái đẹp chẳng nên sống quá tuổi đó, em cho anh xin khoảng thời gian ngắn còn lại của em!”


Tân sực tỉnh, xung quanh là bóng tối đen đặc và lạnh buốt: chàng vừa chợp ngủ! Bên cạnh có tiếng ngáy, xa hơn, phía cuối phòng có tiếng cựa mình. Tân kéo tấm mền phủ kín tai cho ấm những mong nối kịp giấc mơ. Nhưng – Tân biết trước là không bao giờ, không bao giờ nữa, chàng có thể tìm lại được giấc mơ đẹp và mong manh như nắng chiều đó.


 


VI


 


Gió rít từng hồi tự trên đỉnh đồi cao lùa xuống các thung lũng nhỏ, khiến những chiếc lá vàng đua nhau rụng và những chiếc lá khô dưới đất tựa hồ những hồn ma bị dựng dậy đuổi nhau tít tít quanh các gốc cây. Tiếng gió và tiếng lá khô càng thêm bí ẩn khi bóng chiều đã hoàn toàn phủ kín miền đồi núi khu đồn điền Lợi Ký này.


Ðồn điền Lợi Ký gồm hàng ngàn mẫu đồi chè, không kể những nương sắn cùng những khoảng thung lũng khá rộng có ruộng lúa. Tân thuộc toán cuối cùng tới đây. Sau ba ngày tận lực làm việc để thu xếp nơi ăn chốn nằm cho có quy củ, hơn hai trăm nam nữ thanh niên có mặt lúc đó vừa hay tin chương trình huấn luyện bắt đầu từ hôm sau.


Về tổ chức nội bộ, ban giám đốc chia họ thành từng trung đội, mỗi trung đội trên dưới ba mươi người, thay phiên nhau phục dịch bếp nước.


Thời khóa biểu được ấn định như sau: sáu giờ sáng có hồi kèn đánh thức, từng toán, tùy nơi mình ở, đưa nhau đến khúc suối gần nhất – khoảng từ một đến hai trăm thước xa – đánh răng rửa mặt. Sáu giờ rưỡi tập họp tại sân chính, chào cờ, nhận huấn thị của ban giám đốc. Bảy giờ ăn sáng – sắn luộc là món ăn duy nhất rồi sau đó hoặc công tác kiếm củi hoặc vào lớp học lý thuyết, hoặc lên đồi vỡ nương tăng gia thực hành.


Tuy mới đến đây được ba ngày, Tân cũng như các anh em khác đã biết qua lý lịch đồn điền Lợi Ký. Ðồn điền này cha truyền con nối đã được ba đời. Thoạt là cụ đề Kình vì “có công” đi dẹp cuộc khởi nghĩa Yên Thế nên được chính phủ Pháp cho phép khai phá vùng này lập đồn điền, số ruộng khai phá hằng năm sản xuất đủ thóc cho hàng huyện chính là công cụ đề Kình, đời thứ nhất.


Ðời thứ hai: ông phán Nghị. Ông Nghị sinh trưởng tại Hà Nội theo học đủ bốn năm bậc thành cung ở trường Bưởi. Ðỗ xong, ông được vào một chân thư ký Tòa Sứ. Họ hàng bè bạn gọi ông là ông phán từ đấy. Ông bà phán Nghị vẫn có một cửa hàng hiệu bán vải rất sầm uất ở phố hàng cải thâm. Khoảng năm 1943, ông bà tậu thêm một dinh cơ khá lớn ở làng Ðịnh Quyết và nhập tịch làng đó, cách Hà Nội chừng năm cây số về phía đường xe điện Kim Liên. Vào dịp nghỉ lễ, nghỉ Tết Nguyên Ðán, nghỉ Hè ông bà cùng các con về làng hưởng gió đồng. Tuy đi làm nhưng ông vẫn gián tiếp điều khiển công việc tại đồn điền. Cho đến 1945, sau cuộc đảo chính Nhật, ông xin thôi, lên ở hẳn chốn hẻo lánh này trực tiếp khuếch trương đồn điền. Các đồi chè đã xanh lá, ông cho xây cất xưởng làm chè các chợ miền xuôi bán. Ngoài ra ông còn cho giống thử hai mẫu cam quanh nhà, lấy giống tận Bố Hạ (Bắc Giang). Ông và bà thay phiên nhau đi đi về về, lẽ cố nhiên vào những ngày giỗ và tết nhất, cả hai ông bà đều có mặt ở làng Ðịnh Quyết.

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT