Kỳ 150
Bà có nhớ ngày quân Nhật bất thần giội bom xuống hạm đội Hoa Kỳ ở Trân Châu Cảng không phải vì chính biến cố đó, mà thư từ liên lạc giữa Nam Kinh với nước nhà bỗng xáo trộn hẳn, một tháng trời qua bà không nhân được lá thư nào của Khóa.
Rồi thư Khóa tới, Khóa vẫn làm ở đoan, bé Thanh, cháu nội của bà, đã sắp lên năm. Vào năm 1943 bà được Khóa thư cho hay là Khóa không chịu được đời sống công chức, đã xin nghỉ dài hạn ở đoạn sau năm năm phục vụ ngành này. Sở dĩ Khóa phải xin nghỉ dài hạn không lương để rồi sẽ tìm cách xin thôi sau vì thiên hạ còn ở trong tình trạng chiến tranh, công chức đâu được quyền xin thôi. Bà sung sướng không thể tả được khi đọc những bức thư dài Khóa thuật lại những chuyến buôn lỗ lãi. Khóa lại tả cảnh Lào, nếp sống Lào trầm tĩnh hiền hòa khác hẳn nếp sống ào ạt hỗn độn của Tàu. Ðã tám năm giời bà không gặp Khóa, bà không thể mường tượng nổi thằng con giai độc nhất của bà bây giờ vẻ mặt dáng người ra sao. Bà còn giữ nguyên vẻ mặt dáng người của “nó” năm nào ở Lào Kay nhưng chắc chắn “nó” bây giờ khác xưa nhiều. Nhưng cứ đọc thư không thôi, bà cũng tin rằng Khóa khôn ngoan lanh lợi và ăn nói có duyên lắm.
Chú Nìn thuở còn ở Lao Kay, sau ngày người vợ cả mất, hay đi tìm khuây ở ca lâu và một lần mắc bệnh tình, vì vậy mà khi tục huyền với bà Ðô chú không thể có con được nữa. Ðó là cái phúc lớn cho bà Ðô, bà vẫn cám ơn thầm Trời Phật về điều này, một mình bà trả nợ đủ thôi, nợ chẳng nên thành dây thành rễ mà làm gì!
Tháng Tám 1945 Nhật đầu hàng đồng minh vô điều kiện, nước Trung Hoa bước lên hàng cường quốc thứ năm trong hàng ngũ đồng minh, vinh hạnh đó bà chẳng hề xơ múi của chú Nìn. Tại nước nhà Cách Mạng Tháng Tám thành công, nghe nói có lộn xộn nội bộ, nhưng bà vẫn nhận được thư đều của Khóa, thế là được! Nhưng rồi sang năm sau phòng quan rút về Tàu, nghe chừng nội bộ lộn xộn dữ, thư Khóa không tới, rồi kháng chiến toàn quốc… bà Ðô có cảm tưởng bà rơi chìm nghỉm xuống một vực sâu. Thêm một tin sét đánh: gia đình ông Kiển nhất định dời đi Hồng Kông, “thật là con người bất nhân, chỉ nghĩ đến tiền” – bà nghĩ thầm thế, nhưng rồi bà hồi tâm thấy rằng mình đã ích kỷ, trách cứ ông Kiển vô lý chỉ vì thương và lo cho Cam không còn một hình bóng nào của đất tổ để mà bấu víu cho khỏi mất gốc.
Cam đã mười sáu. Có phải đây là xứ lạnh, con gái dậy thì muộn, hay vì xa đất tổ thân yêu thích hợp cho sự nảy nở cơ thể cũng như tâm hồn, Cam tuy tới tuổi đôi tám mà còn ngây ngô như đứa nít mới lớn. Nước da Cam trắng hồng và rất mịn, khuôn mặt tròn phúc hậu, mái tóc mềm, đen, cắt ngắn ngang vai, đôi mắt to đen lúc nào cũng như ngạc nhiên hết từ vật này đến vật nọ, hết từ chuyện này đến chuyện nọ. Cam chính là hình ảnh xinh đẹp phúc hậu của bà Ðô xưa hồi còn con gái, nhưng kém sắc sảo hơn nhiều. Nhìn Cam người ta có thể liên tưởng đến một đức trẻ chỉ có cơ thể lớn bồng lên một cách bất thường. Bà Ðô cũng hiểu thế lắm, bà muốn phát điên lên, trời ơi, rồi đây không còn một gia đình Việt Nam nào nữa ở đây, thì Cam sẽ ra sao, Tàu không ra Tàu, Việt không ra Việt!
Chỉ còn một điều làm bà yên lòng đôi chút là Cam nói tiếng Việt rất sõi, rất trôi chảy. Ðiều này bà phải nhớ ơn gia đình ông Kiển, nhớ ơn nhiều, nhiều lắm.
Vừa may lúc đó Khiết tới.
Lạy giời, lạy Phật!
VII
Như chúng ta biết, Khiết cùng một số bạn cách mạng trẻ sang đây hoạt động tìm thế liên minh các lực lượng quốc gia để chống lại đoàn thể Việt Minh Cộng Sản hiện đương nắm chính quyền. Khiết hoạt động mạnh, đi đi lại lại như mắc cửi trên con đường xe hỏa nối Nam Kinh với Thượng Hải, nhưng vào dịp phải đợi, hoặc đợi tổ chức hội nghị sắp tới, hoặc đợi đại biểu đoàn thể bạn sắp tới… thì Khiết hết sức lợi dụng những ngày giờ được nghỉ xả hơi đó mà vãn cảnh Nam Kinh, đi thăm và tìm hiểu những sử tích Nam Kinh. Khiết mua một bản đồ Nam Kinh có kèm một quyển chỉ nam sơ lược, nhiều khi Khiết phải lật mở cuốn Trung Quốc Sử lược để tra cứu thêm về một vài nhân danh, địa danh…
Hôm đó vừa ở Thượng Hải về Nam Kinh, Khiết đã tới gặp vị lão thành cách mạng, xin người đứng làm trưởng phái đoàn dẫn anh em đến yết kiến Thống Chế Tưởng Giới Thạch tại Trùng Khánh để giành lấy sự ủng hộ tích cực hơn của Quốc Dân Ðảng Tàu, vị lão thành cách mạng quyết định hôm sau phái đoàn sẽ lên đường. Thế là Khiết được dịp nghỉ xả hơi từ trưa hôm đó đến sáng hôm sau. Chàng thủng thẳng đi ngược dòng sông Tần Hoài lên phía trên, nhìn bãi cát trắng phau với hàng liễu rủ, cái soi ở giữa sông tràn ngập ánh nắng trưa, trông tưởng như có nhích lại gần bờ hơn chút đỉnh. Chàng vừa tựa vai vào một thân liễu thì có tiếng hỏi rụt rè nhưng trong trẻo, ngay phía sau:
– Xin lỗi ông, ông có phải là người Việt Nam không ạ.



























































































