Kỳ 152
Khiết từng chứng kiến nhiều cảnh nhận họ của người Tàu đổi với người Việt, thật hồn nhiên: “Ủa ông họ Lý à, tôi cũng họ Lý đây, chúng ta là anh em cả mà.” “Tốt lắm tiên sinh họ Trần, tôi cũng họ Trần, tưởng ai xa lạ!”
Ðiều đáng quý và lý thú là sau khi nhận họ như vậy người Tàu có bổn phận mời người bà con tự phương xa lại về nhà chè chén phè phỡn. Chúng ta hãy tưởng tượng trong đám thanh niên xuất ngoại làm cách mạng kia, vào đúng lúc phải “nhậm xà” với lạc rang trừ bữa mà được ông Tàu nhận họ như vậy để rồi mình có thể kéo thêm một vài anh bạn đến dự tiệc nhận họ thì còn gì bằng. Câu chuyện kéo nhau đi ăn gỡ như vậy, nhìn bằng con mắt nghiêm trang thực chẳng có gì đáng hãnh diện, khốn nhưng người Việt mình ưa trào phúng, nhất là vào những lúc thất vọng ê chề buồn nản nặng trĩu, thì thái độ trào phúng không những là lối thoát mà còn là phương pháp mầu nhiệm để bồi đắp lại những sinh lực đã mất.
Khiết ưa tìm hiểu đến nơi đến chốn, thấy rằng thái độ nhận họ một cách chí tình của người Tàu chẳng phải vì người Tàu quá ngây thơ. Nguyên do thuở nhỏ họ cắp sách đến trường, thì môn địa lý dạy ở nơi này vẫn mặc nhiên coi cái mẩu đất nhỏ bé dính liền với nước Tàu ở miền cực Nam kia là của nước Tàu, rồi cả những người không cắp sách đến trường cũng bị lây cái quan niệm lờ mờ đó và coi cái tên “Dệ Nàm” (tiếng Quan Hỏa) hay Dịt Nàm (tiếng Quảng Ðông) là tên một quận huyện nào đó của nước Tàu.
Nhưng chẳng biết lần này sẽ ra sao vì là trường hợp người vợ “Dệ Nàm” nhận họ.
Khiết đã theo bà Ðô về tới nhà. Bà giới thiệu Khiết với chú Nìn, giọng thao thao bất tuyệt. Khiết tuy đã nghe và nói khá sõi tiếng Quan Hỏa mà chỉ hiểu được lõm bõm, hình như đó là tiếng nói của tình cảm mà người nghe cần trực giác nhiều hơn cần lý trí. Chú Nìn chắc cũng chẳng hiểu gì hơn Khiết, nhưng chú nghe bằng trực giác, chú thong thả vuốt râu mép gật gù, miệng bập bập ống điếu thuốc lào, phun khói từng đợt nhịp với tiếng “ừ ừ” như để chấm câu. Khi bà Ðô vừa dứt, chú thân ái ngẩng nhìn Khiết… Bà Ðô sung sướng ứa nước mắt khi thấy chú Nìn ra nắm lấy hai cổ tay Khiết lắc lắc mấy cái mà rằng:
– Hẳn hỏ, ủa mán ta tchya tú shử sấn síi! (Tốt lắm, chúng ta đều là thân thích cả mà!)
VIII
Theo ông Hải dời Vientiane, rời mái học đường – Collège Pavie – nơi niên khóa cuối cùng vừa qua. Khóa lĩnh phần thưởng hạng ưu, về đến Hà Nội Khóa gặp kỳ nộp đơn thi vào hai nơi: Tòa Sứ và Sở Quan Thuế. Trong khi chờ kết quả, Khóa theo đúng lời mẹ dạy, thoạt về quê nội – làng Liên Phú – rồi quê ngoại – miền Ninh Tiếp – nhận họ hàng cả hai bên.
Sản xuất muối nấu vẫn là “nghề tay mặt” của quê ngoại, Khóa gặp một ông cậu khá vui tính, buổi chiều, chỉ đoàn người nhà đi chặt củi về nấu muối, ông nói:
– Cây xú, cây vẹt thổ sản của miền đồng lầy này lại được dùng làm củi đun nước biển của vùng. Rõ thật “nồi da nấu thịt.”
Trở lại Hà Nội, Khóa về thăm quê vị hôn thê ở Văn Lý (Nam Ðịnh). Nhạc phụ Khóa có ruộng muối ở đây Khóa không ngờ quê mẹ đã làm muối, đến quê vợ cũng làm muối nốt. Vì nhớ đến mẹ nhiều mà Khóa thích chú ý đến muối. Khóa so sánh thấy muối nấu hai miền Ðồng Bài Ninh Tiếp (Quảng Yên) khác với muối Văn Lý, phương pháp làm cũng khác. Ruộng muối là những vùng đất tháp phẳng không cao hơn mặt biển bao nhiêu, có những con ngòi dẫn nước biển vào. Khóa đã cùng nhạc gia cho gánh cát trải phẳng thành một lớp mỏng trên mặt ruộng muối, xung quanh luôn luôn có nước biền thấm qua đất. Buổi chiều Khóa cùng gia nhân vun cát lại thành đống, xúc lên phên, giội nước chất muối lọc theo mương chảy dồn về một cái hố xa, hôm sau láy gầu vục lên đổ vào một cái sân lát xi măng hay vôi gạch, xung quanh có gờ nhỏ cao chừng năm phân để giữ nước. Dưới sức nóng mặt trời nước bốc hơi còn lại muối, một thứ muối kết tinh thành từng hạt khá lớ màu ửng hồng – phải chăng vì có nước sông Hồng chảy ra cửa bể Văn Lý? Muối Văn Lý nổi tiếng hơn cả, chính thứ muối này mới đủ độ mặn để muối dưa, muối cà, là những món ăn nghèo, thuần túy dân tộc.
Rồi Khóa cũng đã từng theo gia nhân xe muối đến kho có rào xung quanh, một phó đoan ngồi kiểm soát, ra lệnh người phụ việc phát rổ, muối được xúc vào rổ cho có ngọn rồi đội vào đổ trong kho. Những người dân chuyên đội thường cạo đầu nhẵn thín (để về nhà dễ gội), thêm nước da người miền biển rám hồng, trông chẳng khác những vị sư hổ mang loại Lỗ Trí Thâm. Kho muối lợp tuyền bằng cói, hai chân mái chấm sát mặt đất, bên trong muối đổ đầy sát nóc. Mỗi lần đổ xong rổ muối ra, tên phó đoan người Pháp lại vứt vào rổ cho một jeton, sau này đổi thành tiền.
Khóa hỏi:
– Thưa thầy về mùa lạnh thì vùng ta nghỉ làm muối?
Cụ đáp:
– Mùa lạnh cũng có làm nhưng số thu hoạch rất ít, gọi là mùa chiêm.



























































































