Kỳ 154
Nhà cái hấp tấp mở bát ngay, ý muốn thanh toán tôi cho rồi, như người đao phủ bỗng nổi một cơn lương tâm, cho hành quyết gấp để thu ngắn thời gian bi đát của tên tử tội. Bát đồ sấp hai, chẵn. Tôi để nguyên. Bát mở: sấp tư! Tôi vẫn để nguyên. Bát mở: ngửa tư! “Thật là kỳ dị!”
Cả làng cười ồ nói vậy. Tôi vẫn để nguyên, máu hồi sinh đã dồn lên mặt. sấp hai! Lúc đó tôi mới lách ngồi xuống kẻo đống tiền về bắt đầu đánh cẩn thận. Cả làng nhường như chống lại tôi. Tôi đặt một bên thì họ bảo nhau đặt cả sang bên đối lập vì họ không thể quan niệm rằng tôi đã đỏ lại có thể đỏ mãi được. Nhiều khi một mình tôi đặt chẵn (hay lẻ), nhà cái còn hô với tôi “bán sạch lẻ” (hay chẵn), tất nhiên tôi mở liền, thường mười lần họa là thua một.
Cuối canh tư sang đầu canh năm, tôi vét sạch làng, bà mẹ vợ anh vẫn ngồi chồm hổm gần đấy đợi tôi, chẳng vui lúc đó mà cũng chẳng buồn trước đây, tôi bảo bà ấy vào nhà mượn bà chủ quang gánh, bà gánh về hai rỗi bạc hoa xòe đầy! Tôi xin giải ngũ, vẫn ở lại Vientiane buôn bán và nhất định không đánh bạc nữa, lần này nhất định thật. Rồi tôi đứng làm đại diện Việt kiều bên ấy. Từ ông Thượng thư Phạm Quỳnh đến ông thiếu Hà Ðông Hoàng Trọng Phu ở bên nước nhà hét ra lửa, sang đến Vientiane là phải đến thăm tôi trước. Tôi quen ông Hải nhà cũng vào dịp này đấy, đôi bên thành bạn tri kỷ. ông Hải đổi về tôi cũng về theo, tôi về thẳng quê nhà đây giúp bà chị dâu một tay làm muối, nghề cũ. Chỉ tội nghiệp bà mẹ vợ anh mất ở bên đó ba năm trước đây. Phần mộ của bà tôi cho xây đẹp nhất, chọn chỗ sơn thủy hữu tình nhất, bên bờ sông Mê Kông. Rồi đây có thể cao hứng tôi cho dời bà về quê, bởi tuy sinh thời bà ít nói, nhất là ít yêu cầu tôi điều gì nhưng khi biết mình sắp chết bà có giối giăng lại là hãy cố mang bà về quê cha đất tổ!
Nhạc phụ ngưng câu chuyện ở đấy. ông phe phẩy quạt, chừng như đã thấy rã rượu, ông phe phảy quạt thêm mấy cái nữa rồi thiu thiu ngủ. Khóa rưng rưng nước mắt nghĩ đến mẹ mình. Cũng kể từ đấy câu chuyện bỗng thành một ám ảnh lớn với Khóa, chàng luôn luôn sợ mẹ chết nơi đất khách quê người.
Sau này – năm 1947 – đương tản cư ở Lạt Sơn (Phủ Lý) nghe tin mẹ rời Nam Kinh về Hà Nội bằng đường hàng không, Khóa đã bất chấp việc buôn bán còn dở dang, bất chấp cả công an Việt Minh, tạm để vợ con ở lại hậu phương, một mình rời Lạt Sơn lên Ðồng Quan rồi vào thành (cùng hai người nữa) bằng con đường Văn Ðiển. Khi hai mẹ con gặp nhau ở Hà Nội rồi, Khóa mới yên trí là mẹ không đến nỗi phải gửi xương nơi đất khách quê người.
Ðồng thời Khóa được cô em út – Cam, năm đó tuổi vừa đôi tám – thủ thỉ kể cho nghe cảnh mẹ từ trên phi cơ xuống, bà quỳ lạy cảm tạ Trời Phật và cúi xuống vừa khóc vừa hôn mảnh đất quê hương – khi đó là khoảng phi đạo xi măng cốt sắt của phi trường Gia Lâm.
Thật ra cử chỉ đó dù là chí thành cũng rất dễ biến thành hài kịch dưới con mắt bàng quan, nhưng lòng chí thành quá cô đọng của bà Ðô kết lũy trong bao nhiêu năm – mười ba năm kể từ 1935 là năm bà rời Lao Kay đi Nam Kinh – nên bà đã thực sự thôi miên cả đám hành khách Việt có, Tàu có, Mã Lai có, Ấn có… tất cả những giống người khác nhau trên đều do trực giác mà cảm thông thấy ngay rằng bà cụ đang quỳ xuống hôn phi trường kia là người đàn bà đã lưu lạc lâu năm nơi quê người. Một số nữ công nhân làm việc ở phi trường cũng thấy xúc động lây, kín đáo chấm nước mắt. Phi đoàn gồm ba người, đều là người Pháp, xuống sau cùng họ dừng lại một chút trước cảnh tượng đó và họ cũng lập tức hiểu ngay… Viên quan ba hoa tiêu kính cẩn cất chiếc béret basque màu xanh nước biển xuống và khẽ nghiêng đậu khi bước qua chỗ bà Ðô quỳ, hai vai đương rung động, bà khóc không thành tiếng.
IX
Từ ngày tự nhiên được làm quen với gia đình bà Ðô, vào những dịp nhàn rỗi Khiết có lại thăm bà cùng chú Nìn.
Cam vẫn gọi Khiết bằng “cậu” và xưng “cháu”, nhưng những danh từ “cậu cháu” đó, Cam dùng một cách vui vẻ, hình như chỉ cốt để phân biệt nàng với tha nhân, tuyệt nhiên không đượm vẻ kính cẩn, cách biệt hẳn, như bên nước nhà, Khiết coi đó là một điều ngộ nghĩnh để giải trí. Rồi mỗi lần có dịp đi thăm các di tích lịch sử: Huyền Vũ Hồ, Mạc Sầu Hồ, Yên Chi Tỉnh, Dã Thành… Khiết đều cho Cam đi theo. Giá ở nước nhà, con gái mình vừa đến tuổi mười sáu như vậy, bà Ðô quyết chẳng dám để cho tự nhiên đi chơi với bất cứ người đàn ông nào ở tuổi nào, nhưng đây là ở Nam Kinh, người Việt ở đây lại hiếm như đất sỏi hiếm trạch, nên bà Ðô còn lấy làm hỉ hả là Cam đã được “cậu Khiết” đưa đi đây đó. Thường thì sau mỗi lần đi thăm một nơi về, “hai cậu cháu” vào giải lao tại một trà thất nào đó bên sông Tần Hoài. Và nhiều lần Khiết quan sát Cam ngây thơ ra đùa nghịch bên ven sông với mấy cô bé bán lạc rang, hay mấy thiếu phụ bán miến nộng nấu với mề gà đây cũng là thứ quà đặc biệt của Nam Kinh như thứ hàm ạp hấp với sôi vậy – Khiết đặt thầm cho Cam cái tên “cô bé bên sông Tần Hoài!



























































































