Kỳ 168
Nhớ lại năm lên sáu, năm mới học vỡ lòng, vụ hè năm đó về quê, ông giáo mua thưởng cho Kha một chiếc harmonica nhỏ xíu tám nốt (vừa đúng một âm giai).
Buổi chiều Kha theo ông giáo ra đồng đứng hóng mát trên gò cao. Ðã bắt đầu có tiếng chuông thu không. Mặt trời chạm đỉnh Ba-Vì rồi như viên ngọc đỏ bị một con sư tử thần thoại há miệng nuốt chửng. Vô tình Kha thổi một nốt trầm, âm thanh như rung động thành gió, thể hiện thành những gợn rùng mình trên ruộng mạ. Vũ trụ tựa hồ rung lên cùng một nhịp với âm thanh buồn buồn đó. Tuy vậy Kha không hề chú ý đến học nhạc, và cho đến ngày kháng chiến, cũng chưa hề sáng tác một bài thơ, một bài văn nhỏ. Không những thế nếu kiểm điểm kỹ lại thì năm thứ nhất trung học, bài luận quốc văn thi đệ nhị cá nguyệt của Kha chỉ được có một điểm (bét lớp), vì tả một người câu cá trên thuyền, cậu bé Kha đã dùng một câu thơ cổ mà cậu bất ngờ nhớ được (câu thơ đó của ai, đọc được ở đâu, vào hồi nào, nhớ có đúng không, chính cậu cũng lờ mờ không rõ hẳn).
Bất quá môn đinh tam ngũ bộ
Quán tận giang san thiên vạn trùng
(không ra khỏi sân nhà ba hay năm bước mà xem được sông núi, đến ngàn vạn trùng). Thiết tưởng câu thơ cổ trên không có gì là lạc đề, sở dĩ ông giáo “trù” cậu, có lẽ vì ông quan niệm rằng còn “oắt con” mà dám nêu câu thơ cổ bằng chữ Hán chính ông chưa hề đọc tới như vậy, là phạm thượng chăng?
Giàu cảm xúc Kha lại may mắn được thêm ưu điểm có tài ngâm thơ. Giọng chàng trong, rất tự nhiên và khéo uốn nắn cho khi trầm khi bổng để thích hợp với lời thơ khi buồn khi vui khi hoang mang thao thức…
Kha say mê từ nhỏ câu ca dao:
Ai lên xứ Lạng cùng anh
Anh còn thương cảm vô cùng hình ảnh người lính thú “Ba năm trấn thủ lưu đồn.” Sinh trưởng ở một gia đình sung túc, được nuông chiều từ nhỏ nhưng Kha sớm có khuynh hướng quý trọng người nghèo. Kể từ năm Kha bắt đầu lên trung học (năm mười lăm) chàng hay đến ngủ nhà một người bạn rất nghèo cùng làng tên là Thận. Thận hơn Kha chừng ba hay bốn tuổi, đỗ xong bằng sơ học ấu lược phải phá ngang làm thợ sắp chữ tại Viễn Ðông Ấn-Quán (I.D.E.O). Cha Thận đã già và là một nhà nho lỡ thời, tính tình rất hiền. Mặc dù có dư luận diễu ông là “nho, y, lý số sở ngô khoai” nhưng mọi người trong làng đều mến và thương ông.
Những lúc gia đình này túng thiếu, Kha giúp.
Từ ngày bà chị Thận đi lấy chồng ở làng bên, Kha thường hay đến ngủ với Thận (gia đình Thận khi đó còn vẻn vẹn hai cha con, mẹ Thận mất từ sớm). Ðêm Ðông đôi bạn nằm ổ rơm, đắp chăn khố tải, vì chăn hẹp đôi bạn phải nằm úp thìa, mỗi lần dở mình hô đùa như thể tập quân sự “Chuẩn bị dở mình… một… hai.” Nhiều Chủ Nhật Kha mang sách vở lại đàng Thận vừa học vừa chơi, rồi cùng làm cơm ăn. Hai đứa đi ra ao đình gần đấy câu cá, rồi kiếm một ít cành khô về làm củi (cành nhãn, cành bưởi, cành mít…)
Câu được cá rô to, có thể nướng lên, lọc lấy nạc, cho vào cối giã rồi nấu với canh cải. Cũng có thể ướp cá với nghệ, nấu với dọc sơn hà. Cũng có thể nấu canh dưa với cá trê:
Chồng chê thì mặc chồng chê
Dưa khú nấu với cá trê càng bùi.
Cha Thận mất, Kha càng năng lui tới với Thận để Thận bớt cô độc. Những ngày sống với bạn nghèo như vậy, Kha thấy có cái thú tằn tiện và khám phá được những nếp rung cảm rất nên thơ của cảnh lá lành đùm lá rách. Cụ ngoại và bà giáo là những người đàn bà phúc hậu thuở nhỏ đã trải qua nhiều cảnh hàn vi nên thấy Kha như vậy thì bằng lòng.
Sau này khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ được ngót một tháng thì quân Pháp tự nội thành mở rộng mặt trận đánh tỏa ra bốn cửa ô, phi cơ nhào lộn, rú máy từ trên cao sà xuống thấp, đạn liên thanh rít trong không khí, đạn mortier, trái phá vang rền và rít rất đều vào các làng lân cận mà địch nghi có bộ đội ta đóng. Làng Ðịnh Quyết bị tàn phá nhiều nhất chính vào dịp này. Chiếc nhà ngói năm gian của ông bà cả Bê vừa cất xong, nóc bằng gỗ sến, xà bằng gỗ trai, cột bằng gỗ lim, rui, mè bằng gỗ chò chỉ, bị một đạn trái phá rớt vào trúng giữa nổ tung, cột lim gẫy nhà xiêu xuống, may người không ai việc gì, cả dãy nhà lá giữa làng bị bom lửa thiêu trụi. Buổi chiều Thận ra ngồi ở bãi cỏ rìa đồng xóm Quán – bãi để thả diều – bất ngờ bị đạn mortier tự trong thành câu ra nổ gần đấy. Thận chết.
Dân làng tiếp tục tản cư, người ở lại thì chúi xó trong nhà, xác Thận bị bỏ quên trên bãi cỏ.



























































































