Thấy khuôn mặt Tân chìm hẳn trong niềm suy nghĩ, Miên hỏi như để đánh thức chàng:
– Chắc rồi anh gặp lại anh bạn ở trường Thuốc?
Tân lắc đầu:
– Ngày đó mẹ tôi vừa mất, nhìn quanh mình toàn cảnh buồn, nhưng nghĩ rằng trở lại trường Thuốc gặp lại bạn thân thì cũng thấy vui vui phần nào. Hay tin quân Pháp nhảy dù Bắc Kạn, tôi vội lên Ðại Ðồng thì trường Thuốc đã dọn đi nơi khác. Mãi tới Tháng Mười – nghĩa là ngót một tháng sau – trong khi quân ta đương mở chiến dịch sông Lô truy kích binh đoàn Pháp từ Tuyên Quang về Ðoan Hùng, tôi mới tìm ra trường Thuốc ở Chiêm Hóa. Không thấy bạn!
– Hay là bạn anh bị chết trong vụ quân Pháp nhảy dù Bắc Kạn? Giọng Miên như tham dự vào lo âu của Tân.
Tân lắc đầu:
– Tôi cũng không rõ, nhưng tôi không nghĩ rằng Kha chết!
– Tên anh bạn đó là Kha?
– Vâng, tên Kha. Thoạt tôi tưởng vì có vụ nhảy dù Bắc Kạn mà Kha còn thất lạc, nhưng vào một đêm trăng kia hỏi kỹ các anh bạn năm thứ nhất tôi mới hay là Kha không hề đến ghi tên trường Thuốc.
Bóng chiều tràn vào, vẻ mặt Tân càng chìm trong suy nghĩ, Miên không muốn hỏi thêm gì nữa, nàng lẳng lặng đứng dậy ra suối rửa mặt mũi chân tay để còn chuẩn bị ăn cơm.
Rõ thực hóa nhi đa hí lộng? Ngày đó đôi bạn tạm chia tay, Tân về Bắc Ninh, Kha tìm đến trụ sở tạm thời trường Thuốc, nhưng nửa đường gặp mấy người bạn cũ, họ rủ Kha đi Vĩnh Yên học Luật. Kha ưng ngay vì nếu học Luật càng sẽ gần mẹ ở Thạch Thất. Chàng đã ghi tên học Luật rồi đến Thạch Thất gặp mẹ. Bà giáo yếu lắm cần về làng (trong vùng tề) để thuốc men. Tiễn mẹ về làng rồi thành vĩnh biệt… Chuyện này chúng ta rồi sẽ có dịp để rõ chi tiết. Ðiều cần ghi nhận ngay ở đây là vào đúng đêm trăng, Tân hỏi các bạn năm thứ nhất để hay rằng Kha không hề đến ghi tên trường Thuốc thì – thực là kỳ thú – cũng chính đêm trăng đó Kha cùng những người bạn năm thứ nhất trường Luật leo lên đồi trăng làng Thạch Trục vừa ngẩng nhìn vòm trời nhung biên biếc vừa ca hát thơ mộng. Miên từ làng Hạc Thủy trở về cơ quan quân y qua đó, nàng đương cúi đầu rảo bước dưới chân đồi thì tiếng một sinh viên nói khẽ – chính là tiếng Kha: “Nàng tiêng đi dưới ánh trăng!” Và anh bạn ôm lục huyền cầm bên Kha đã kịp thời gieo xuống chân đồi trăng hợp âm la đoản cùng với tiếng hát âm thầm và lẳng lơ để cợt Miên:
Tôi tưởng tôi là Ðường Minh Hoàng
Trong cung nhớ nàng Dương Quý Phiii…
IV
Trở lại chuyện Tân. Tháng Mười năm 1947, ghi tên vào năm thứ nhất trường Thuốc xong, rồi lý thuyết, rồi thực tập liên miên. Tháng Năm năm 1950 chàng ghi tên vào bộ đội phục vụ cho quân y trung đoàn 36. Tháng Tám, Tân theo bộ đội lên Cao-Bắc-Lạng để Tháng Chín, Tháng Mười tham dự các trận Ðông Khê, Thất Khê và chở thương binh qua biên giới Trung Hoa, điều trị tại Quảng Uyên đối diện với Cao Bằng. Cho tới đây tình cảm của Tân đối với những người cộng sản lãnh đạo kháng chiến chưa có gì thay đổi. Thực ra chính sách tương đối dân chủ của họ đã bắt đầu chuyển hướng từ đầu 1950. Tháng Năm năm 1950 họ khai hội Trung Ương đảng bộ quyết định áp dụng chính sách điền thổ của Trung cộng ở Việt Nam. Từ sau chiến thắng Cao-Bắc-Lạng đã có những cuộc học tập riêng của cán bộ đảng và những cái nhìn nếu không nghi kỵ thì cũng lạnh lùng của đảng viên đối với “quần chúng tiểu tư sản” đã nhiều khi làm Tân lộn ruột (trong khi Miên lẳng lặng chịu đựng). Tháng Giêng năm 1951, Tân theo bộ đội từ Cao-Bắc-Lạng xuống mặt trận Trung du, ở đây chàng gặp lại anh Liệt, anh chàng vẫn hay hát bài “Nguyễn Thái Học” hồi còn ở đồn điền Lợi Ký. Bộ phận quân y trung đoàn của Tân đóng ngay ở làng có Liệt. Tân nhận ra Liệt ngay, chính Tân đã gọi Liệt trong khi Liệt còn ngơ ngác đến một phút sau mới nhận ra Tân.
Ngày đó, sau khi được huấn luyện tại đồn điện Lợi Ký thành cán bộ tăng gia sản xuất, đến khi ra phụ trách thì trại của Liệt là một trong những trại tan vỡ đầu tiên, Liệt bèn dời Phú Thọ đi Vĩnh Yên, không là cán bộ nữa mà như một đồng bào tản cư thường. Giọng ca sầu thảm của anh xúc động trái tim một cô gái địa phương, hai người thành vợ thành chồng, anh đi cầy nàng đi cấy, năm sau – năm 1948 – anh có đứa con trai đầu lòng, hai năm sau nữa – năm 1950 – anh có thêm một gái. Anh mang nặng nhiều u uất, từ ngày lấy vợ, anh bắt đầu uống rượu. Rượu say, anh ra sân hoặc lên đồi nhìn trăng, nhìn sao, hóng gió, dáng thơ thẩn, nếu gặp ngày mưa thì anh cũng ra ngồi bực cửa. Thường vào những lúc say đó anh dùng giọng bông lơn riễu chính phủ kháng chiến. Khẩu hiệu “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa muôn năm” anh đọc chệch là “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa trừ nhân nhân chia.” Khi có phong trào thi đua sản xuất thì một buổi chiều kia vừa rượu xong anh nắm tay chị cố kéo vào buồng và nói lớn: “Tao với bu mày vào đây tăng gia sinh sản.” Chị tuột khỏi, chạy ra sân lườm anh: “Rõ khéo nhỉ, nói vừa vừa chứ kẻo lại tù mọt gông!” Khi có phong trào rèn cán chỉnh cơ (rèn cán bộ chỉnh cơ quan). Anh nói: “Cán gì cán thuổng, cơ gì cơ cực!” Hết nói riễu, anh hát, giọng hát trầm buồn tuyệt hay trước đây đã làm rung động lòng chị ra sao giờ đây làm rung động lòng chị như vậy. Anh hát nhiều bài lắm nhưng bài hát chính vẫn là bài “Nguyễn Thái Học” và hầu như kể cả những bài vui, qua giọng anh hát cũng thành buồn buồn.



























































































