Kỳ 8
Tháng Tư vào những ngày mưa, nước sông lên, cá theo con nước cắn đuôi nhau vào ruộng đẻ, khi nước rút chúng lại trở ra sông, đó là lúc gần trọn đàn chúng đã vào rước – một thứ bẫy cá – của chú Tây.
Bao giờ – theo lời chú – chúng cũng thoát đi được một số; có khi không may cho chú đúng vào lúc chúng rút ra sông, trời tiếp một cơn mưa lớn khiến chúng thoát trọn đàn. Chú Tây cho đó là trời muốn vậy, vì có thế mới năm này sang năm khác còn cá cho chú đánh. Vào những ngày không mưa chú đánh cá bằng rập, một thứ vó vuông và khá lớn có thể úp được trọn đàn sộp. Chú kể cá sộp tinh lắm, chú từng nằm trên bờ rập hàng giờ (có phủ lá để ngụy trang cho cá không thấy) theo dõi đàn sộp nhởn nhơ sát bờ rập mà không chịu vào, đôi khi con đầu đàn quay mình lại cho một phần đuôi vào trước để dò xét địch tình rồi lại vùng ra lạch nhởn nhơ tựa hồ để trêu tức chơi. Cứ như vậy cho đến một phút nào đó nó chợt lao mình như một đường tên vút từ lạch vào khoảng nước rộng và sâu ngay dưới tầm rập; cả đàn sộp cũng vội ùa theo như sợ mất chủ, rập ụp xuống như máy, một vài con may thoát ra ngoài nhảy tơn trên mặt nước, quẫy tắt ra phía sông, những con bị úp dưới rập vùn vẫy một cách tuyệt vọng đục ngầu cả khoảng nước. Có những mẻ sộp lớn làm rách rập, buổi tối hôm đó chú Tây phải ngồi vá lại dưới ánh đèn dầu lạc trong lều, hoặc dưới ánh trăng.
Câu cá chuối tuy dễ mà khó vì phải hiểu tâm lý cá. Cá chuối rất thương con, nó thường dắt đàn con đi vào chỗ ngòi nông loi thoi ngọn cỏ, nước nửa trong nửa đục để kiếm ăn. Ðàn chuối con khi đó chỉ lớn như những con đòng đòng, tung tăng bơi lội, mổ vào những ngọn cỏ, đớp những bọt nước hoặc chòng ghẹo nhau. Chuối mẹ lặn dưới đáy ngòi đâu đó, canh chừng đàn con. Chú Tây chỉ cho Tân cách quan sát biết chắc chuối mẹ ở đâu. Ngọn cỏ là là mặt nước kia không có gió mà khe khẽ lung lay, chính là chuối mẹ lờn vờn bên dưới đó. “Cá chuối chết đuối vì con,” bây giờ chỉ việc bắt một con sin-sít sống, mắc lưới câu vào ngang thân, đợi lúc đàn con bơi gần chỗ mẹ, thả lưỡi câu xuống cho con sin-sít quẫy mạnh, lập tức sộp mẹ ghen con, vùng lên đớp mồi và mắc lưỡi.
Hằng năm vào Tháng Tám nước sông cạn, dân đánh cá chuyên nghiệp của làng Lại Vũ thường hẹn nhau tập họp ở quãng sông nông nhất rồi giăng dài thành hàng ngang, tay mỗi người cầm một chiếc nơm, có khi nơm úp được con cực lớn, cần người phụ lục lặn xuống. Bắt loại cá này hai tay giữ chặt chưa đủ, bí quyết phải lập tức bóp mắt nó, như vậy nó mới hết quẫy để hòng thoát thân. Nghệ thuật lặn xuống để bắt cá lớn này, làng Lại Vũ chưa ai qua mặt được chú Tây. Tiếng kêu hốt hoảng giữa dòng sông thường bao giờ cũng là, “Bác Tây ơi, giúp tôi một tay đây!” Nếu con cá lớn đó để ở nhà ăn thì mặc nhiên khúc giữa bao giờ cũng dành biếu bác Tây, tục lệ của dân chài lưới làng Lại Vũ là như vậy. Trong những câu hát của dân chài thuở đó có một câu Tân còn nhớ mãi về sau này:
Người ta câu biển câu sông
Tôi đây câu lấy con ông cháu bà.
Mộng san bằng giai cấp của họ cũng chỉ thể hiện trong lời bài hát bông đùa thế thôi, thực tình họ có đời sống riêng mà họ ưa thích còn hơn cả việc câu được “con ông cháu bà.”
Hợp tác với chú Tây được ngót một tháng, bấy giờ vào cuối Tháng Bảy, thì mẹ kéo Tân về để giúp người trong việc buôn bán. Thế là bỏ học, Tân thực thụ lăn lưng vào cuộc đời từ năm mười bảy tuổi. Thoạt Tân đi theo mẹ để giúp đỡ người trong việc cất hàng loại xa xỉ ở Hà Nội mang về các tỉnh nhỏ bán buôn, rồi lại buôn các phẩm vật địa phương mang về Hà Nội. Sau một chuyến hàng cuối năm, về tới đầu làng, Tân giật mình hay tin chú Tây đã mất, tội nghiệp chú bị chết lạnh, chú không đủ áo ấm vào mùa Ðông này. Phiệt được ông bác hiếm hoi – ông con trưởng cụ đề Bách – mang về nuôi, ông không có con trai và rất ưng Phiệt sẽ thừa tự sau này mặc dầu của hương hỏa của ông cũng chẳng còn gì ngoài chiếc nhà ngói ba gian hai trái đã ọp ẹp lắm.
Sau hai năm ngược xuôi giúp mẹ, Tân đã thành thạo, chàng khuyên mẹ ở nhà để một mình chàng đảm đương công việc. Chiến tranh làm hàng ngoại hóa khan hiếm nên việc buôn đi bán lại đó giúp Tân trả dần được công nợ cho mẹ. Dầu hỏa đã trở thành một thượng đẳng xa xỉ phẩm, khắp miền quê đã dùng thay bằng dầu lạc, nhiều nơi dùng kèm một thứ nến bằng lá tẩm nhựa thông. Tân thuê thuyền theo các đường sông máng lớn nhỏ chuyên chở hai thứ này (dầu lạc, nền-nhựa-thông) vào sâu các vùng hẻo lánh. Quân Nhật đã đặt chân lên toàn lãnh thổ Ðông Dương, người Pháp đã mất nước vào tay người Ðức. Tuy nhiên Toàn quyền C, vẫn còn chút quyền hành ở đây đủ để đại diện cho nền văn minh thực dân cấp bằng phát minh cho một số người “bản xứ” đã sáng chế ra được thứ đèn đầu lạc với hệ thống bánh xe răng cưa nhỏ có thể khêu bấc đèn cao thấp tùy ý. Nhân việc này một nhà ái quốc tiêu cực làng Lại Vũ đã lấy một câu Kiều để mỉa mai:
Phát minh sáng chế nhà ta
Ðã buồn cả ruột lại dơ cả đời.



























































































