Vàng Ðen (Kỳ 2)


LTS –
“Vàng Ðen” là tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Dũng Tiến, được xây dựng trên những tư liệu cùng huyền thoại liên quan tới vùng “Tam Giác Vàng,” một trong những nguồn sản xuất và cung cấp thuốc phiện (“vàng đen”) lớn nhất thế giới. Ngoài việc viết văn, tác giả Nguyễn Dũng Tiến cũng là một trong những người Việt Nam đầu tiên có công gầy dựng vườn cây ăn trái cho người Việt ở xứ người. Ông hiện là chủ nhân vườn cây LA Mimosa Nursery, 6270 East Allston Street, Los Angeles, CA 90022-4546. Tel: (323)722.4543. Ðược sự cho phép của tác giả, Người Việt hân hạnh giới thiệu tiểu thuyết “Vàng Ðen” trên mục truyện dài của Nhật Báo Người Việt cũng như Người Việt Online.


 


Kỳ 2


 


“Thưa hoàng thân, trên nguyên tắc, chiếc cầu rất có lợi cho nền kinh tế của cả hai nước Thái Lan và Lào của chúng ta, nhưng thực chất, tôi e ngại rằng, Thái Lan và Úc Ðại Lợi sẽ hưởng nhiều quyền lợi hơn chúng ta, vì xứ của chúng ta không sản xuất được gì cả, dù ta có rất nhiều hầm mỏ.


Tất cả mọi thứ hàng thông dụng hàng ngày đều phải mua từ Thái Lan, còn với cây cầu này, Úc sẽ dễ dàng định được giá cát…”


“Cát? Tôi tưởng chỉ có người Nhật mới mua cát để làm thủy tinh, Úc có chán vạn gì cát.”


“Thưa ngài không, cát bồi tại lòng sông Mêkông nơi xứ của chúng ta mới thật sự tốt để sản xuất được loại thủy tinh tốt. Kỹ nghệ máy móc của người Nhật rất cần đến thủy tinh tốt, hơn cả người Úc, nhưng những trục lộ giao thông chính của chúng ta đã được người Úc thầu và tu bổ, gián tiếp người Nhật vẫn phải trả tiền vận chuyển cho người Úc, qua những dịch vụ chuyển vận của Úc Ðại Lợi. Nhưng điểm chính tôi muốn trình bày cùng ngài là tụi Thái-y-sản (giống dân Thái lai Lào, hung dữ, sống dọc biên giới Thái, Lào). Cây cầu chính thức mở cửa biên giới hai nước sẽ là điều dễ dãi cho tụi Thái-y-sản xâm nhập, luân lý và đạo đức của nước chúng ta đã bị băng hoại bởi những Pháp, Mỹ, và hầu như gần bị người Việt Nam đồng hóa, nay lại thêm tụi Thái-y-sản, tôi không biết quốc gia ta sẽ đi về đâu?”


“Ðúng là điều làm tôi nát đầu bấy lâu nay. Trước kia, chúng ta còn có con sông Mêkông làm biên giới, nay khó lòng kiểm soát được tụi Thái man dã đó.”


Sau tiếng thở dài của hoàng thân Lào, cả hai cùng im lặng. Mỗi người theo đuổi ý nghĩ riêng của mình.


Ðoàn xe bon bon chạy trên những con đường của thủ đô Vạn Tượng, sửa soạn băng qua những vùng ngoại ô để vượt những cánh đồng lúa nếp trước khi đến biên giới Thái-Lào. Chợt nhìn thấy từ phía trước, thật xa, thấp thoáng những bóng áo vàng, hàng một đang phất phơ bay trong gió.


Ðoàn sư gần chục người, đầu không nón đội trời, chân không giầy đạp đất, lặng lẽ đi ngang những người đàn bà Lào đang kính cẩn quỳ bên vệ đường, và những người đàn bà rón rén bỏ tặng phẩm vào bình bát của từng vị sư. Từng món tặng phẩm được cung kính đưa ngang mày trước khi đặt nhẹ vào bình bát, nhẹ đến độ tay không dám chạm vào bình bát, như chừng sợ làm ô uế chuyện tu hành của những nhà sư. Trong khi những nhà sư không một lời cám ơn, chỉ lặng lẽ chìa những chiếc bình bát được làm bằng đồng hay bạc, lấp lánh phản chiếu ánh mặt trời, để đón nhận.


“Ðây mới chính là lối thoát, đây mới chính là lối thoát, cho xe dừng lại, dừng xe lại.”


Giọng của hoàng thân hớn hở thật bất ngờ, bất ngờ hơn nữa, ngài lại ra lệnh dừng xe lại, chiếc xe chao nhẹ rồi từ từ dừng lại.


“Cạnh những nhà sư kia, lái lại gần chỗ những nhà sư.”


Chiếc xe từ từ nhích lên, rà sát lại cạnh những nhà sư đang đi cầu thực. Lệnh của hoàng thân ra thật bất ngờ, làm những chiếc xe hộ tống đi đầu lẫn đi sau đâm ra tán loạn hàng ngũ, chiếc trở đầu, chiếc cặp sát bên ven đường, chiếc thắng ken két trên mặt đường làm mọi người dưới đường, từ sư cho đến dân giả đều hoảng hốt, chừng như nhận ra hoàng thân Souvano Xithôn khi ngài đang bước xuống xe, mọi người đều quỳ rạp đất để lạy, kể cả các nhà sư đang được khách thập phương quỳ lạy.


“Xin mời quý sư đứng dậy.”


Hoàng thân Xithôn từ tốn mời các nhà sư đứng dậy, trong khi đó người sĩ quan chỉ huy toán hộ tống xanh mặt chạy lại.


“Trình hoàng thân, chỗ này không được an toàn, lại nữa ngài có thể đến đó trễ mất.”


Khẽ xua tay, hoàng thân hỏi người sĩ quan:


“Người và toán lính lấy hết tiền ra cho ta mượn.”


“Trình… trình…”


“Trình, trình cái gì, có bao nhiêu tiền gom hết ra đây, ta chỉ mượn thôi chứ có lấy của các người đâu.”


“Thưa chúng tôi không dám nghĩ như vậy, nhưng ngài thật sự muốn mượn?”


“Ta đùa với nhà ngươi à?”


Sau khi gom được một món tiền kha khá từ tay những người lính cận vệ và nhẩm đếm, hoàng thân cung kính chia thành từng món tiền nhỏ, đều nhau, tay lễ độ đưa lên trán, trước khi nhẹ nhàng bỏ vào từng cái bình bát của từng nhà sư. Những nhà sư, sau khi nhận lễ của hoàng thân, cũng cung kính lạy để tỏ sự cám ơn, hoàng thân chỉ khiêm tốn trả lễ.


Sự việc diễn ra chỉ chừng vài phút, nhưng không biết ở đâu dân chúng đã lũ lượt rủ nhau ra xem hoàng thân Xithôn để tỏ lòng ái mộ. Dù đang ở thật xa, nhiều người đã khởi sự vái lạy. Những người đàn bà, ngay từ khởi đầu, quỳ gần hoàng thân Xithôn, nên đã chứng kiến hết những cảnh, một người của hoàng tộc, hạ mình vay mượn tiền của đám cận vệ để cung kính cúng dường, đã không dấu nổi những cảm động nên xì xụp lạy.


Ðoàn xe lại tiếp tục lên đường.


“Ðạo Phật mới chính là lối thoát tinh thần, đạo đức cho dân tộc của chúng ta.”


Sau câu nói của hoàng thân, chỉ thấy nhà sư già trầm ngâm.


“Thưa ngài, tôi nghĩ cũng chưa hẳn, đạo Phật cao siêu, ý tưởng của Phật vô cùng, tôi được ngài thương nên ban cho chữ đắc đạo, cho được cận kề ngài để giúp ngài về những chuyện công quả, nhưng quần chúng quá giản dị, chỉ hiểu hời hợt bề ngoài của đạo pháp, người dân tưởng rằng càng cúng dường nhiều, tội lỗi sẽ được trả nhiều, cùng tạo nên được nhiều phước đức, nên họ dám đặt cả chuyện tạo nghiệp và chuyện cúng dường lên bàn cân để xem lỗ, lời.”


“Cũng không trách họ được, dân trí thấp, chính là lỗi ở ta, lỗi của những người lãnh đạo tinh thần, nhưng ngược lại, quốc sư cũng phải nhận thấy một điều, nhiều khi cái tinh thần sùng đạo đến độ cuồng tín cũng có lợi cho những người lãnh đạo, chỉ cần dùng tôn giáo chúng ta đã có thể lay chuyển cả một khối ù lì, trì trệ.”


“Tôi chỉ cầu cho vị lãnh đạo của chúng ta thật anh minh.”


Cắt ngang câu chuyện bằng cách chỉ tay về phía trường quân sự Chinimụ, nơi C.I.A. đã đổ tiền để đào tạo những sĩ quan tình báo bản xứ, hoàng thân Xithôn khẽ nói:


“Hình như mình cũng sắp đến nơi?”


Báo Người Việt hoan nghênh quý vị độc giả đóng góp và trao đổi ý kiến. Chúng tôi xin quý vị theo một số quy tắc sau đây:

Tôn trọng sự thật.
Tôn trọng các quan điểm bất đồng.
Dùng ngôn ngữ lễ độ, tương kính.
Không cổ võ độc tài phản dân chủ.
Không cổ động bạo lực và óc kỳ thị.
Không vi phạm đời tư, không mạ lỵ cá nhân cũng như tập thể.

Tòa soạn sẽ từ chối đăng tải các ý kiến không theo những quy tắc trên.

Xin quý vị dùng chữ Việt có đánh dấu đầy đủ. Những thư viết không dấu có thể bị từ chối vì dễ gây hiểu lầm cho người đọc. Tòa soạn có thể hiệu đính lời văn nhưng không thay đổi ý kiến của độc giả, và sẽ không đăng các bức thư chỉ lập lại ý kiến đã nhiều người viết. Việc đăng tải các bức thư không có nghĩa báo Người Việt đồng ý với tác giả.

Truyện chưởng Kim Dung của Trần Văn Tích: Từ hư cấu đến hiện thực

Dựa theo bối cảnh, sự kiện cũng như các nhân vật trong truyện chưởng Kim Dung, tác giả Trần Văn Tích lần lượt nêu lên nhiều chi tiết lý thú

Tại sao vĩ tuyến 17 mà không là vĩ tuyến khác?

Lê Công Tâm đã mang ra ánh sáng tại sao Việt Nam lại bị vĩ tuyến 17 chia đôi, phân cách mà không phải là một vĩ tuyến khác? Thí dụ 15 hay 18?

Viễn Châu và bài ca vọng cổ ‘Chim Vịt Kêu Chiều’

Dân đờn ca tài tử rất thích học bài “Chim Vịt Kêu Chiều” bởi vì đây là bài ca vọng cổ có xen vào nhiều lớp kịch.

‘Hồng bay mấy lá…’

Một bài thơ của Tản Đà, không có nhan đề, đúng ra nhan đề bài thơ ấy đã được dùng làm nhan đề cho cả cuốn sách, in ở ngoài bìa: hồng bay mấy lá

Tháng Ba, Đà Nẵng và Em – thơ Lê Tấn Dương

Ta vẫn nhớ thương về nơi ấy/ Những chiều nắng nhạt Ngũ Hành Sơn/ Nhớ đỉnh Sơn Trà trong gió lộng/ Tiếng oán than như tiếng gọi hồn.

Lê Công Tâm ghi nhận được những gì qua Hiệp Định Geneva 1954?

Luật Sư Lê Công Tâm cho rằng, ông thật may mắn khi có thể truy lục được các tài liệu liên quan về lịch sử Việt Nam, nhất là lịch sử cận đại.

Bài vọng cổ xưa ‘Nỗi Lòng Nàng Khương Nữ’ của Huỳnh Thủ Trung

Đến giữa thập niên 1950, soạn giả Huỳnh Thủ Trung đã dựa theo trang tình sử bi thảm của nàng Khương Nữ tìm chồng viết lên bài vọng cổ 12 câu

Nhìn lại một tạp chí miền Nam: Hiện Đại

Trong năm 1960 miền Nam Việt Nam xuất hiện tới ba tạp chí văn chương: Hiện Đại xuất bản vào Tháng Tư, tới Thế Kỷ Hai Mươi, và Sáng Tạo.

Tình muộn – thơ Thọ Khương

Giọt mưa buồn thánh thót/ Thu vàng gợi tình xưa/ Lá rơi chiều cúi mặt/ Thầm lặng đời lay đưa

Hành Tây Bắc – thơ Lê Tấn Dương

Ta đã lưu phương Tây Bắc này/ Hai sáu mùa, theo lá thu bay/ Hết năm, Xuân đến, hoa đào nở/ Mới thấy cuộc đời lắm đổi thay.