Giải Nobel văn chương năm 2019 được trao cho Peter Handke.
Là nhà văn đồng thời cũng là nhà viết kịch, nhà thơ và nhà viết tiểu luận tiền phong, Handke sinh năm 1942 tại Griffen, Áo. Mẹ là người gốc thiểu số đến từ Slovakia, một nước nhỏ vùng Trung Âu (Central Europe), cha người Đức, nhưng sống từ nhỏ với cha ghẻ và mang theo họ của cha ghẻ. Cả cha ruột và cha ghẻ đều đã từng ở trong quân đội Đức Quốc Xã.
Gia đình ông sống ở khu đông Berlin (Đức) do Liên Xô chiếm đóng cho đến năm 1948 mới chuyển về lại Griffen. Ông theo học luật ở Đại Học Graz (Áo) năm 1961, cộng tác với tạp chí văn chương tiền phong Manuskripte trong thời gian còn là sinh viên. Bốn năm sau, 1961, ông bỏ học, giành hết thời gian cho việc viết lách.
Hai tác phẩm đầu tiên của ông, một truyện dài và một vở kịch, là hai tác phẩm mang tính cách tiền phong. Truyện dài “Die Hornissen” (The Hornets/ Những Con Ong Bắp Cày) được xuất bản vào năm 1966, là một truyện thực nghiệm hư cấu (experimental fiction), trong đó, nhân vật chính hồi tưởng từng đoạn gãy khúc ở một truyện dài khác.
Vở kịch Publikumsbeschimpfung (“Offending the Audience” – Xúc Phạm Khán Giả), được gọi là “phản kịch” (anti-play) vì hoàn toàn mang tính cách phi truyền thống, có bốn nhân vật đối thoại với nhau, phân tích bản chất của sân khấu kịch nghệ trong cả tiếng đồng hồ, rồi lên tiếng sỉ nhục khán giả và ca ngợi cung cách trình diễn của họ, nhằm tạo ra nhiều phản ứng khác nhau từ khán giả.
Hai tác phẩm đầu tiên đó là bước đầu ghi dấu ấn văn chương của Handke vào văn giới. Hơn 50 năm tiếp theo sau, với một số lượng tác phẩm đạt đến con số gần cả 100 với nhiều truyện dài, truyện ngắn, tạp ghi, hồi ký, tự truyện, kịch và kịch bản phim, ông trở thành một trong những nhà văn có ảnh hưởng lớn ở Âu Châu sau Thế Chiến II và là một trong những tác giả được đọc và thưởng thức nhiều nhất trên thế giới.
Là ngòi bút tiền phong chịu ảnh hưởng của Franz Kafka, Samuel Beckett lẫn William Faulkner, và với cả trào lưu Tân Tiểu Thuyết của Pháp, ông được đánh giá là một trong những nhà văn viết bằng tiếng Đức kích thích suy nghĩ nhất và là một trong những nhà văn hư cấu đương đại có ảnh hưởng kéo dài trong suốt mấy thập niên.
Các tác phẩm của ông mô tả nỗi lo âu, xao xuyến không thể truyền đạt và không thể giao tiếp trong thời hiện tại. Đề tài ưu thế của ông là chứng minh rằng hiện thực đời sống và ngôn ngữ bình thường hằng ngày cùng với trật tự hữu lý kèm theo chúng, lại tạo ra một hiệu ứng kềm hãm trên tinh thần con người vốn bị chi phối bởi sự phi lý, mơ hồ và đôi khi điên loạn tiềm ẩn bên trong.
Về truyện dài, nổi tiếng nhất là hai truyện, một là “Die Angst des Tormanns beim Elfmeter” (The Goalie’s Anxiety at the Penalty Kick/Nỗi Xao Xuyến của Goalie Lúc Đá Cú Phạt Đền), xuất bản vào năm 1970. Đó là một câu truyện giật gân, mô tả một cầu thủ bóng đá phạm tội giết người một cách vô nghĩa và rồi đợi chờ cảnh sát đến bắt đi; và hai là “Die linkshändige Frau” (The Left-Handed Woman/Người Đàn Bà Thuận Tay Trái) xuất bản năm 1976; truyện diễn tả thái độ vô cảm, lạnh lùng một bà mẹ trẻ đối phó với cảm giác lạc lõng sau khi ly thân với chồng. Một trong những tác phẩm nổi tiếng khác của ông là tập tự truyện “Wunschloses Unglück” (A Sorrow Beyond Dreams/Nỗi Đau Buồn Vượt Quá Giấc Mơ) ghi lại biến cố bi thảm nhất trong đời ông là mẹ ông tự tử vào năm 1971.

Về kịch, ông viết nhiều vở kịch, trong đó, nổi tiếng nhất là: “Kaspar” (1968), “The Ward Wants to Be Guardian” (Đứa Bé Được Giám Hộ Muốn Trở Thành Người Giám Hộ), “The Ride Across Lake Constance” (Đi Qua Hồ Constance); và nhiều kịch bản phim truyền thanh và truyền hình: “Wings of Desire” (Đôi Cánh Khát Khao), “The Absence” (Vắng Mặt).
Ông cũng còn là đạo diễn phim, trong đó, nổi tiếng nhất là phim chuyển thể từ truyện dài cùng tên “Die linkshändige Frau” (The Left-Handed Woman/Người Đàn Bà Thuận Tay Trái) ra mắt công chúng vào năm 1978, được đề cử vào giải Liên Hoan Điện Ảnh Cannes và đoạt giải điện ảnh Đức năm 1980.
Theo nhận định của Ban Giám Khảo Hàn Lâm Viện, tác phẩm của ông là “một công trình đầy thuyết phục, bằng sự tinh tế ngôn ngữ, đã thăm dò vùng ngoại biên và tính cách đặc trưng của kinh nghiệm nhân sinh.” Chúng “chứa đầy một khát khao mạnh mẽ muốn khám phá và mang những khám phá của mình vào đời sống bằng cách tìm ra những lối diễn đạt văn chương mới.”
Ngoài ra, tác phẩm của ông có đặc điểm của một “tinh thần phiêu lưu mạnh mẽ, nhưng đồng thời đi cùng với tình hoài hương.” Điều này có thể tìm thấy trong vở kịch “Über die Dörfer” (Walk About the Villages/Đi Lang Thang Trong Làng Quê) và đặc biệt trong truyện dài “Die Wiederholung” (Repetition/Tái Diễn), nơi nhân vật chính Georg Kobal trở về thăm lại quê hương gốc của bà mẹ mình.
Ban Giám Khảo cũng nêu bật một nét đặc thù của nghệ thuật Peter Handke, đó là “sự chú ý đặc biệt đến phong cảnh và sự hiện diện vật chất của thế giới, cái đã khiến khiến điện ảnh và hội họa trở thành hai nguồn cảm hứng lớn nhất của ông.” Cùng lúc đó, văn của ông cho thấy một sự truy tìm ý nghĩa hiện sinh không ngừng nghỉ. Do đó, lang thang và di trú là cách hoạt động chủ yếu của ông. Điều này xuất hiện trong tiểu thuyết “Langsame Heimkehr” (Slow Homecoming/ Chầm Chậm Về Nhà), được xem như”bước ngoặt trong sự nghiệp viết lách của ông,” cũng theo nhận định của Ban Giám Khảo.
Như ta biết, việc Hàn Lâm Viện Thụy Điển trao giải Nobel cho Handke đã gây ra nhiều tranh cãi trên thế giới. Cho đến nay, cuộc tranh cãi vẫn còn tiếp tục. Trong lúc những người chỉ trích liên tục đả kích Hàn Lâm Viện, thậm chí đòi tước bỏ giải Nobel của Handke, Hàn Lâm Viện Thụy Điển vẫn cương quyết bảo vệ quan điểm của mình.
Ngày 15 Tháng Mười Một, 2019, Hàn Lâm Viện Thụy Điển công bố một lá thư do chủ tịch Ban Giám Khảo giải Nobel Anders Olsson ký, gửi cho các nhà xuất bản ở Bosnia và Herzegovia, qua đó, Ban Giám Khảo giải tin rằng “trong một xã hội cởi mở, phải có chỗ cho nhiều ý kiến khác nhau về các tác giả và phải có chỗ cho những lý giải hợp lý khác nhau về các tác phẩm văn chương của họ.”
Quyết định trao giải cho Handke là “hoàn toàn phù hợp với di chúc của người sáng lập giải” là ông Nobel. Lá thư nhấn mạnh, “Trao giải cho Handke, là trao giải cho các tác phẩm của ông hơn là cho chính bản thân ông. Cũng như các giải vật lý hay hóa học là trao giải cho các khám phá, thì trao giải văn chương là trao cho sự khám phá và phát triển cách viết mới hơn là cho cá nhân.”
Các nhà chỉ trích Handke, một lần nữa, hoàn toàn bác bỏ lập luận của Hàn Lâm Viện Thụy Điển. Họ cho rằng, với lá thư này, Hàn Lâm Viện không chỉ biện hộ cho việc trao giải mà hoàn toàn đứng về phía những người phủ nhận tội diệt chủng, như tựa đề của bài báo đăng trên tạp chí The Intercept ngày 20 Tháng Mười Một, 2019, “Stockholm Syndrome: The Nobel Prize Organization Is Now Fully Engaged in the Business of Genocide Denial.” Họ nêu ra bằng chứng là Peter Handke không chỉ có thái độ chính trị mà đã viết nhiều tác phẩm bày tỏ sự ủng hộ những kẻ diệt chủng như “A Journey to the Rivers” (Hành Trình Đến Những Con Sông), “Around the Grand Tribunal” (Chung Quanh Tòa Đại Hình), “The History of Dragoljub Milanovic” (Lịch Sử của Dragoljub Milanovic), “Asking in Tears” (Hỏi Trong Nước Mắt), vở kịch “The Journey in the Dugout Canoe ” (Chuyến Hành Trình trên Thuyền Độc Mộc), vân vân. (Trần Doãn Nho)
Tài liệu tham khảo:
-Wikipedia.
-The Intercept: https://theintercept.com/2019/11/20/peter-handke-nobel-prize-bosnian-genocide/
[jwplayer WIKeH0Wg-YzmDPLlM]



























































































