TchyA, thơ và truyện truyền kỳ

Viên Linh

Nhà văn TchyA Ðái Ðức Tuấn (1908-8.8.1968) người Thanh Hóa, có tác phẩm đầu tay là một tập thơ, nhan đề Ðầy Vơi, xuất bản từ 1940.

Thuộc lớp thanh niên có học thời đầu thế kỷ XX, một lớp bằng hữu với ông có Lãng Nhân, Phùng Tất Ðắc, Ðàm Quang Thiện, Nguyễn Tuân.

Ðỗ tú tài Pháp, làm công chức Nha Học Chánh, ông cũng chỉ làm 10 năm rồi xin nghỉ, trong khi tài hoa, vẽ đẹp, làm thơ hay, càng ngày càng phát triển. Theo hồi ký của nhà văn Lãng Nhân, bạn ông cũng càng ngày càng say mê hương khói phù dung, và thanh sắc nữ giới, nhất là “một ngôi sao trên sông hồ của Hà thành hoa lệ,” tên là Angèle. Bút hiệu xếp chữ mà thành do đó là TchyA: Tuấn chỉ yêu Angèle. Huyền thoại này đã được diễn giải nhiều cách, song cách trên đây của người bạn cùng thời trai trẻ với TchyA là đáng tin nhất.

Tác phẩm của TchyA Ðái Ðức Tuấn ngoài thi phẩm Ðầy Vơi kể trên còn có: Thần Hổ (1937); Kho Vàng Sầm Sơn (1940); Ðồng Tiền Vạn Lịch, Ai Hát Giữa Rừng Khuya (1942). vẫn theo hồi ký của bạn ông, TchyA đi đây đi đó rất nhiều, kề cả Trung Hoa, thời thập niên ’50 ở Sài Gòn cho xuất bản Tình Sơn Nữ (1956), và nhập ngũ làm việc trong ngành Tâm Lý Chiến với cấp bậc đại úy đồng hóa. Trong văn học Việt Nam, những tác phẩm phiêu lưu mạo hiểm truyền kỳ và thần kỳ, có lẽ không ai hơn ông, nhất là với truyện Ai Hát Giữa Rừng Khuya.

Trong văn học sử Việt Nam thời tiền chiến, lãnh vực truyện dã sử truyền kỳ, phiêu lưu mạo hiểm không ai qua mặt được ông. Khi ông khai thác câu chuyện nhà Tây Sơn ra Bắc, chiếm Thăng Long của nhà Lê, chiếm đoạt kho vàng của nhà Lê mang vào Ðàng Trong thì thật là lôi cuốn, và thật là hợp lý, dù đó chỉ là một giả thuyết, đó là chuyện “Kho Vàng Sầm Sơn.” Truyện mở đầu như sau:

“Vào khoảng năm 1934, ở bãi Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa phía Bắc Trung Kỳ, nhà nước có khám phá được một kho vàng chìm đắm dưới đáy bể. Khi tải sản nghiệp lớn ấy lên mặt đất, người ta thấy có mấy trăm thoi vừa vàng vừa bạc, hình chữ nhất dài độ non gang, trên thoi nào cũng có khắc chữ ‘Ðức.’ Lại thấy rất nhiều tiền Cảnh Hưng và các thứ tiền Tầu, từ đời Vạn Lịch (Minh Thần Tôn) cho đến đời Càn Long (Thanh Cao Tôn).

“Thiên hạ nhao nhao bàn tán về gốc tích kho vàng ấy nhưng không ai biết rõ nguồn rễ nó từ đâu. Có kẻ bảo đó là vàng của hai anh em vua Thái Ðức nhà Tây Sơn lấy ở các kho trong thành Thăng Long rồi cho tải đi, [bị chìm] trong khi kéo quân ở Bắc Hà về Nam. Vẫn biết rằng “Nguyễn Nhạc lúc ở Thăng long về, có sai người lấy hết cả kho tàng nhà Lê đem đi; nhưng đoàn quân của Nhạc và Huệ lúc ấy có mấy vạn hùng binh, có voi ngựa xe pháo, tất họ phải chuyển về bằng đường bộ, bên mình họ cho chắc chắn; có lẽ nào lại dùng thuyền đi đường bể để đến nỗi bị đắm ở Sầm Sơn?

“Xét trong lịch sử, khối vàng bạc kia ắt phải thuộc về đời Lê-mạt. Nếu trong thời Lê quí, sản nghiệp đó không phải của hai anh em Tây Sơn thì chỉ còn là của Hữu Quân Ðô Ðốc Nguyễn Hữu Chỉnh… Chỉnh bị Nguyễn Nhạc theo lời gièm pha của rể là Võ Văn Nhậm, bỏ một mình ở lại Bắc Hà, nên ngày hôm sau sợ quá, cho cả của cải lên thuyền, chạy theo về Nghệ. Chỉnh là người có mưu trí, không bao giờ đem vàng bạc ở bên người phần sợ thuyền nặng khó đi nhanh, phần sợ bị cướp hại đến tính mạng. Thế tất Chỉnh phải giao tài sản cho con trông coi hộ, mình thì cưỡi thuyền nhẹ theo Nhạc về cho mau.

“Cứ xem như thế, kho vàng kia tất là của Nguyễn Hữu Chỉnh. Dựa vào lời phỏng đoán có nhiều phần đúng sự thực ấy, tôi viết bộ truyện ly kỳ này, một là để tưởng nhớ lại một thời oanh liệt đã qua, hai là để hiến các bạn một thể truyện lịch sử mới.

“Câu chuyện này hoàn toàn là một truyện dã sử, nhưng nó có liên lạc rất mật thiết với chính sử nước nhà. Có lắm đoạn, tôi phải chép gần đúng văn của ông Trần Trọng Kim, nhà làm sử cương trực và uyên bác đã soạn ra bộ ‘Việt Nam Sử Lược.’

“Những vật liệu tôi góp nhặt để xây đắp câu chuyện ‘kho vàng’ này, nó không đúng hẳn với các việc chép trong chính sử đâu: song le, dù nó đúng hay không đúng tôi cũng không quản ngại: tôi chỉ muốn dựa vào lịch sử để tạo ra một tiểu thuyết, có phải muốn dùng tiểu thuyết ấy để làm sống một thời lịch sử đâu?

“Các bạn đọc truyện này, hãy nên lượng cho tôi chỗ đó. Cái cốt truyện hay, giãi bằng một thể văn không tẻ, đó là sở nguyện của tôi. Nếu bạn cho là tôi đã đạt được mục đích ấy, tôi tự lấy làm sung sướng lắm rồi. Một nhà văn còn đâu dám tự phụ mình cùng là một sử gia uyên bác?

“TchyA Ðái Ðức Tuấn.”

Với biện giải như trên, tác giả đã hoàn tất một tác phẩm dã sử truyền kỳ giá trị, còn tồn tại tới ngày nay.

Về thơ, nhạc điệu trong thơ TchyA là chủ yếu, du dương trầm bổng. Xin đọc hai bài ông làm cách đây khoảng ba phần tư thế kỷ, chúng ta sẽ nghiệm thấy người xưa làm thơ như thế nào.

Thoát tục
(Tặng hương hồn phụ thân)

Thân đã phôi pha đầu gió ngược
Tài còn trôi nổi mặt trào xuôi
Bút toan rạch nát giang sơn cũ
Mò đáy tang thươngtrọn cảm hoài.

Tuổi xanh hăm sáu xuân rồi;
Ðầu xanh chọi mãi với thời đảo điên!
Ðòi phen tỉnh giấc cô miên,
Ðã toan rũ sạch trần duyên lỡ làng!

Thân thế mang oan sầu, tủi nhục;
Tài hoa trơ lại tập văn chương.
Ðã già nông nỗi cùng cơ hội,
Mà vẫn bồng tang với đoạn trường!

Sông liều nghịch với sầu, thương;
Thuyền cô, đẫm bóng tà dương nhẹ chèo…
Sương tàn lả ngọn ba tiêu,
Lòng trần thoảng sạch, bể chiều nhấp nhô.
Hỏi đường, lên cõi Hư Vô…
(1933)

Chuyến tầu

Tôi chị cùng nhau một chuyến tầu
Một trời mù mịt. một ngàn lau.
Ai đưa mắt biếc trông non nước
Tớ ngả đầu xanh ngắm bể dâu.

Cùng góp phong trào đôi chiếc bóng
Mà riêng công cuộc một hồn thâu.
Ðường xa hỡi khách ai chung hội?
Xin hãy vui cười với bóng câu.
(1937)

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT