Trịnh Y Thư, thơ ở quảng trường Siêu Thực

Du Tử Lê/Người Việt

Trường phái Siêu Thực xuất hiện trong sinh hoạt thi ca và hội họa, đã có hàng trăm năm trước. Nó khởi đầu từ thủ đô Paris, Pháp Quốc. Tới nay, trong Bách Khoa Toàn Thư, Wikipedia-Mở, vẫn còn ghi nhận sự thành hình của trường phái này.

“Trường phái Siêu Thực (Surrealism) là khuynh hướng nghệ thuật bắt nguồn từ chủ nghĩa tượng trưng và phân tâm học, đặt phi lý tính lên trên lý tính. Theo chủ trương, khuynh hướng này nhằm giải phóng con người khỏi mọi xiềng xích xã hội, thể hiện nội tâm và tư duy tự nhiên, không bị gò bó bởi lý trí, lôgic, luân lý, mỹ học, kinh tế, tôn giáo. Những sáng tác phẩm của những nghệ sĩ Siêu Thực ghi chép tất cả những trạng thái tâm lý luôn luôn chuyển biến trong tiềm thức, không phân biệt thực hay mộng, tỉnh hay điên, đúng hay sai. Với trường phái hội họa, những chủ thể rất bình dị được đặt trong một phông màn hoặc bí ẩn, hoặc hùng vĩ, khiến cho bức tranh mang một sức sống mới, ý nghĩa mới, như tồn tại trong mơ cùng những sự vật hiện thực trong trạng thái không thực” (theo Bách Khoa Tự Điển Triết Học)

Ở Việt Nam, người sớm nhất bước vào trường phái thơ Siêu Thực là cố thi sĩ Bích Khê/Lê Quang Lương (1916-1946) với thi phẩm “Tinh Huyết” xuất bản năm 1939.

Người viết tựa cho thi phẩm này là cố thi sĩ Hàn Mặc Tử/Nguyễn Trọng Trí (1912-1940), với lời ngợi ca không thể nồng nhiệt hơn. Mặc dù trước đấy, có một giai thoại rất thú vị trong tình bạn của hai nhà thơ, đã được ghi lại rằng: Trước khi có thi phẩm “Tinh Huyết,” Bích Khê đã gửi rất nhiều thơ cho Hàn Mặc Tử, nhưng bị bạn trả lại, với lời chê bai rất nặng… Bị chạm tự ái, Bích Khê tuyên bố “Trong vòng sáu tháng, nếu không trở thành một nhà thơ phi thường, ông sẽ bỏ làm thơ…” Và, chỉ trong vòng ba tháng thôi, “Tinh Huyết” ra đời. Tạo thành cơn “bão thi ca” lớn.

Trong lời tựa cho thi phẩn “Tinh Huyết,” khi được Bích Khê yêu cầu, Hàn Mặc Tử viết:

“…Ta có thể sánh văn thơ của Bích Khê như đóa hoa thần dị… Và đem phân chất, ta sẽ thấy thơ chàng gồm có ba tính cách khác nhau: Thơ tượng trưng, thơ huyền diệu và thơ trụy lạc… Sự điên cuồng ấy uyên nguyên ở một phần thiên tài, và ở một phần sự ‘Đau khổ’”…

Kế tiếp, theo hai tác giả Hoài Thanh và Hoài Chân, trong tác phẩm “Thi Nhân Việt Nam” cũng ghi nhận rằng:

“…Bích Khê là người có những  câu thơ hay nhất Việt Nam, như:

Ô! hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi, vàng rơi thu mênh mông…”

Hay:

“Nàng là tuyết hay da nàng tuyết điểm?
Nàng là hương hay nhan sắc lên hương…”

Nhưng liền sau đó hai tác giả này lại thú nhận:

“…Tôi chưa thể nói nhiều về Bích Khê. Tôi đã đọc không biết mấy chục lần bài Duy Tân. Tôi thấy trong đó những câu thơ thật đẹp. Nhưng tôi không dám chắc bài thơ đã nói hết cùng tôi những nỗi niềm riêng của nó. Hình như vẫn còn gì nữa… Còn các bài khác hoặc chưa xem hoặc mới đọc có đôi ba lần. Mà thơ Bích Khê, đọc đôi ba lần thì cũng như chưa đọc…”

Mặc dù hai tác giả Hoài Thanh và Hoài Chân từng nhấn mạnh rằng “Bích Khê là người có những  câu thơ hay nhất Việt Nam” vì tác giả “Tinh Huyết” chọn hiến mình cho thể loại thơ Siêu Thực, là thể thơ xóa bỏ những “biên cương” mà các thể cũ như lãng mạn, tượng trưng, hoặc thi sơn… nhưng không vì thế mà lịch sử thi ca Việt Nam, ghi nhận được nhiều thi sĩ tìm vào thể loại thơ này.

Ghi nhận chung, cho thấy sự hiến cho trường phái thơ siêu thực là một khó khăn, thử thách lớn. Cụ thể là phải nỗ lực “phi lý trí.” Do dấy, nó đòi hỏi nơi nhà thơ một bản lãnh hơn người và, một óc tưởng tượng không chỉ phong phú mà, hoàn toàn khác biệt. Mọi non tay, thiếu tự tin, đều bị loại khỏi trường phái thơ Siêu Thực.

Tuy nhiên, gần đây, ở hải ngoại, những người yêu thơ đã được chào đón thi phẩm mới nhất của nhà thơ và cũng là một dịch giả tên tuổi, Trịnh Y Thư, với thi phẩm “Phế Tích của Ảo Ảnh.” Khi chọn tựa sách này, chung cho cả tuyển tập thơ của mình, họ Trịnh đã dứt khoát cho thấy cõi-giới thi ca của ông mang tính siêu thực hoàn toàn. Nó không hề là sự tổng hợp hay còn dựa dẫm, liên hệ gần, xa tới thể loại thơ tượng trưng, như định nghĩa căn bản về thể loại thơ siêu thực ở trên.

Ngay phần thứ nhất, trong ba phần của “Phế Tích của Ảo Ảnh” cũng đã chọn tiêu đề “Phế Tích của Ảo Ảnh” để khẳng định bản lãnh của họ Trịnh với những câu thơ mới, lạ, gần như chưa hề có trong chều dài thi ca Việt Nam, như:

“ban mai hừng rỡ như mang dấu ấn của tội đồ
phát vãng từ thần kỳ huyền sử”

Hay:

“nỉ non bờ giậu ao chuôm duềnh dọc
hay róc rách con trổ vắt ngang”
(“Phế Tích của Ảo Ảnh,” trang 11)

Ngoài hình ảnh, ẩn dụ, liên tưởng như những cú đánh thình lình, bất ngờ, thẳng vào não bộ người đọc, Trịnh Y Thư còn đem vào thơ ông hai từ ghép rất mới là: “hừng rỡ” – chiết tự hai tĩnh tự này, chúng ta có: “hừng” của từ kép “hừng hực” và “rỡ” của từ kép “rạng rỡ” trong ngôn ngữ Việt.

Thi phẩm “Phế Tích của Ảo Ảnh” không chỉ có hai từ ghép vừa kể mà, chúng đã xuất hiện khá nhiều trong thơ của ông. Vì thế, tôi cho chiết tự là bước đi cần thiết để chia sẻ những cảm nhận, rung động rất mới, lạ trong thơ của tác giả này.

Ngay ở trang thơ kế tiếp của “Phế Tích của Ảo Ảnh,” Trịnh Y Thư đã mang đến cho người hai câu thơ đẹp, phản ảnh thực trạng chiến tranh, đang đưa nhân loại tới vực thẩm:

“như thứ ngôn ngữ chiến tranh
đóng đinh vào tận thế”
(“Phế Tích của Ảo Ảnh,” trang 12)

Và:

“Chỉ còn sự cô độc
ôi tôi yêu nó biết bao
vang váng một linh hồn cô độc”

(Ở câu thơ trên, người đọc lại được gặp hai tính từ kép là: “vang = chỉ sức dội” “váng = chỉ lớp màng mỏng trên mặt nước)

Rồi:

“Nơi tôi đứng chiều nay
những mái nhà nâu
những chiếc cầu lung linh bóng nước
sẽ tan biến cả và còn lại
chỉ là phế tích của ảo ảnh – rơi rớt”
(“Phế Tích của Ảo Ảnh,” trang 13)

Và, nhiều câu thơ sau đó, theo tôi, chúng đã được tac giả cố tình cho chúng  gánh trên vai những hình ảnh mang ẩn dụ lạ lẫm:

“Chiều đã xuống quảng trường nhức nhối lói” (“Phế Tích của Ảo Ảnh,” trang 15)

(Ở câu thơ này, tác giả dùng cùng một lúc, hai tính từ là “nhức nhối” và “lói.” Diễn giải một cách đơn giản thì đó là “ sự nhức nhối lở,  lói” – Hay “nhức nhối khủng  khiếp tới mức lở lói (?)

Họ Trịnh nhấn mạnh thêm:

“Vẫn biết sự thật là tiếng vọng thiên thu
nhưng hãy cho tôi hòa giải
bởi cuộc chiến với ký ức
là cuộc chiến với sự lãng quên

Ký ức như một phần người chết
hãy để nó vĩnh viễn dưới đáy ngục sâu
đào lên chỉ thấy toàn hồn ma và xương xẩu kinh người”
(“Phế Tích của Ảo Ảnh,” trang 16)

Thi ca như tình yêu, nếu cảm nhận được bởi trái tim (vì tất cả sự phi lý của nó), chứ không phải từ bộ óc, chúng ta sẽ nhận được nhiều thú vị hay hoan lạc tình thần từ cõi giới siêu thực mà họ Trịnh đã trân trọng mang lại cho người đọc. (Du Tử Lê)

Chú thích:
Thi phẩm “Phế Tích của Ảo Ảnh” của Trịnh Y Thư do nhà Văn Học ấn hành năm 2017.

Video: Tin Trong Ngày Mới Cập Nhật

Copyright © 2018, Người Việt Daily News

Lưu ý: Để mở âm thanh, xin bấm vào nút muted icon imagephía góc phải bên dưới của khung video.
play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT