Thư cho con:
Từ Uyên/Người Việt
Con yêu của mẹ,
Ngày từ phụ Father Day vừa qua, mẹ được Gia Ðình Chân Quê của cô Diamond Bích Ngọc mời tham dự. Ngồi bên cạnh mẹ là một bác H.O. không nói gì về ngày lễ của cha mà lại nói cho mẹ và các bạn hữu nghe một câu chuyện về những người mẹ trong đời ông ta.
Bác ấy kể rằng:
Mẹ của tôi
Ðó là thời gian năm Ất Dậu 1945, nạn đói xẩy ra trên khắp đất nước, đặc biệt ở những tỉnh miền Bắc. Số người chết vì đói lên tới hàng triệu người. Nguyên nhân vì quân phiệt Nhật khi chiếm Ðông Dương gồm ba nước Việt-Miên-Lào đã bắt dân chúng phải hủy bỏ những đồng ruộng không cho trồng lúa mà phải trồng đay là thứ mà quân đội Nhật đang cần đến cho chiến tranh. Trong khi đó số thóc dự trữ từ những vựa lúa Thái Bình miền Bắc và đồng bằng sông Cửu Long miền Nam, Nhật đã bắt chính quyền thực dân Pháp phải cung ứng cho Nhật để dùng thay thế cho than đang thiếu để đốt cho các đầu máy xe lửa vận hành chuyển quân của họ.
Hình: Tranh của họa sĩ Nguyễn Thị Hợp.

Do đó người dân Việt đã phải chịu một thảm cảnh không bút nào tả cho xiết được.
Khi ấy tôi mới chỉ vừa lên bẩy, lên tám gì đó nhưng tâm trí tôi đã in hằn hình ảnh mẹ tôi. Ðể tránh những vụ thả bom của Mỹ vào các thành phố lớn có quân Nhật trú đóng, gia đình chúng tôi đã phải lánh về quê, một làng ở ngoại thành Hà Nội. Hoàn cảnh này, đương nhiên cha tôi phải thất nghiệp. Ðời tư chức, tay có làm thì hàm mới có cái mà nhai nên cả nhà tôi gồm bố mẹ tôi và bốn anh chị em chúng tôi, mới đầu thì còn có bữa cơm, bữa cháo. Nhưng số tiền dành dụm của một tư chức thì có là bao, vả lại lúc ấy dù có tiền bạc, quí kim thì cũng chẳng tìm đâu ra được ngô khoai mà mua, nói chi đến gạo. Lý do vì ruộng đồng, đất đai to nhỏ gì cũng phải trồng đay hết.
Có những ngày, cả gia đình tôi đã phải ăn rau trừ bữa. Rau là thứ rau tập tàng, lèo tèo vài cọng rau dền cơm, dền đất mọc hoang trên các bờ ruộng quanh nhà, cộng với những cọng rau sam cũng mọc hang đâu đó mà mẹ tôi cứ kì cụi suốt hai buổi để có cái ăn.
Một bữa, tôi thấy mẹ tôi vắng nhà lâu quá, mãi tới gần khuya mới tất tả bước lên thềm nhà. Trong khi ấy thì, tôi thấy rất rõ, cha tôi đang nằm đọc một tờ báo cũ, giấy vàng ố. Tờ báo cứ run bần bật trên tay. Lúc ấy thì tôi cũng lờ mờ đoán ra được rằng, cha tôi đói quá nên đã không làm chủ được cánh tay cầm tờ báo nữa vì hai ngày nay, cả nhà chỉ có ăn thứ rau tập tàng trừ bữa. Thì mẹ tôi về. Bà cắp bên hông một cái rổ nhỏ được đậy kín bằng lá chuối và những manh quần áo cũ. Bốn anh em chúng tôi cũng chỉ ngước nhìn mẹ mà chẳng có ai đứng dậy đón mẹ về. Bởi chúng tôi cùng đói quá nếu đứng lên thì có lẽ sẽ quỵ xuống liền. Mẹ hào hển nói: “Ðứa nào giúp mẹ nhóm lửa lên.” Chúng tôi cùng ngước mắt nhìn mẹ dò hỏi nhưng chẳng có ai thốt được lên lời “để làm gì hở mẹ.” Biết ý, mẹ tôi thều thào, có lẽ phần vì cũng đói như cha con chúng tôi, phần vì cuộc hành trình suốt từ sáng đến tối mịt. Bà cố gắng nói cho cả năm bố con chúng tôi nghe, “Có gạo! Có gạo!”
Cha tôi ngồi nhỏm ngay dậy. Chúng tôi cũng bật ngay dậy như có một phép thần thông biến hóa cha con chúng tôi. Mẹ chúng tôi vừa đặt cái rổ lên tấm ván ngựa giữa nhà vừa nói.: “Lấy một nửa nấu cơm, còn một nửa để ngày mai ngày mốt nấu chút cháo.” Cha tôi lo xa: “Thôi lấy một phần tư nấu cháo, còn để dành cho mai kia nữa chứ.” Nghe đến mai kia, khoảng thời gian tương lai gần, dù còn bé nhưng tôi cũng chợt bàng hoàng lo nghĩ mai kia rồi cũng hết số gạo này, lại ăn rau mà rau quanh các bờ ruộng nhà cũng mọc lên không kịp.
Nhưng niềm vui sắp được một bữa cơm mà có lẽ cả tháng trời rồi chúng tôi chưa từng được ăn làm cho tôi quên ngay cái mai kia đáng sợ. Cả nhà lăng xăng quanh nồi cơm sôi. Hơi gạo thơm bay khắp gian bếp. Ở nhà trên cha tôi vui vẻ nói: “Gạo mới hay sao mà thơm quá!” Mẹ ngừng tay ghế cơm nói vọng lên: “Gạo cũ còn trong kho của ông bà ngọai san sẻ cho đấy, cũng chỉ còn chưa đầy một khạp mà cả nhà đến hai chục miệng ăn.”
Bữa cơm dọn ra nhanh chóng. Mẹ tôi sới cho cả nhà mỗi người một bát cơm đầy. Riêng mẹ chỉ có lưng bát. Mẹ nói: “Ði cả ngày mệt quá, chắc ăn không nổi.” Rồi bà kể tiếp như để khỏa lấp chuyện chén cơm của mình chỉ có một nửa. Bà kể đi khắp “trên làng “(danh từ gia đình chúng tôi thường gọi nơi làng cư ngụ của ông bà ngoại chúng tôi) mà cả bà con nội ngoại chẳng ai có một hạt thóc nào. Mỏi mệt quá về đến nhà thì bà ngoại dấm dúi cho lưng rổ gạo này rồi giục về ngay đi kẻo các bác các dì biết lại lời ra tiếng vào. Lời bà nói vui như những ngày gia đình tôi no đủ.
Hình ảnh thứ hai cũng đã in sâu trong tâm trí tôi là những ngày “hồi cư” về Hà Nội. Cha tôi thì chưa kiếm được việc làm, các anh chị tôi cũng còn đang tuổi đi học, thế mà hàng ngày chúng tôi cũng vẫn được no đủ hai bữa cơm có thịt cá. Nghe anh chị tôi nói thì mẹ “chạy hàng xách.” Tôi chẳng hiểu “chạy hàng xách “ là gì thì một hôm được mẹ cho đi theo tôi mới lờ mờ hiểu ra công việc kiếm tiền của mẹ tôi. Mẹ tôi đưa tôi đến một ngã tư rộng gần bờ hồ, bảo đứng dưới hàng hiên dài của một cửa hàng lớn của Pháp gọi là “Gô Ða.” Mẹ tôi cùng với một số các bà khác cũng trạc tuổi mẹ tôi trò chuyện, giằng co, có khi lớn tiếng rồi sau cùng mỗi người đeo một bị như cái tay nải hay một cái làn mây xách tay. Mẹ tôi kéo tôi đi về cuối phố lại gặp một số bà bạn khác. Các bà lại thì thào to nhỏ, trao đổi với nhau những xách tay rồi mỗi người đi về một ngả. Lúc này thì trên tay mẹ tôi không còn gì cả nhưng nét mặt của bà rất vui tươi, mua cho tôi một khúc bánh mì với nhân thịt trong một cửa tiệm của người Pháp.
Sau này khi lớn lên, nhớ lại cảnh ấy tôi mới hiểu ra “chạy hàng xách” là buôn chui bán lén giữa các bà mới hồi cư không có vốn nhiều chỉ mua góp nhặt một số hàng để bán lén cho những người từ trong vùng kháng chiến ra. Tội nghiệp cho mẹ tôi, vốn là con gái duy nhất của ông ngoại tôi là tri phủ cũ, có chồng là một nhà thầu khoán mà phải bươn chải chống đỡ gia đình những khi nguy khốn. Nếp sống nhung lụa đã không ngăn trở được mẹ tôi trong việc tháo vát để nuôi gia đình.
Chưa hết, khi di cư vào Nam, cha tôi có việc làm, các anh chị tôi cũng đã lớn, đi làm cả, gia đình khá sung túc nhưng bữa cơm nào mẹ tôi cũng thường nhường nhịn những miếng ăn ngon cho chồng cho con đến độ chúng tôi coi như chuyện tự nhiên chẳng có ai lưu tâm đến nữa. Cảm động nhất là những bữa cơm có món cá, bao giờ mẹ tôi cũng chỉ đặt đũa vào cái đầu cá mà cả nhà chẳng có ai ăn. Có lần anh em chúng tôi giục mẹ ăn khúc mình cá thì bà như e thẹn nói: “Tôi chỉ thích ăn cái đầu cá thôi.” Ngưng một lát bà nói thêm như để chứng minh là mình nói thật chứ không phải nhường nhịn cho chồng con, rằng: “Sau này tôi có chết đi ngày giỗ tôi các cô các cậu cứ cúng cái đầu cá cho tôi.”
Mẹ của các con tôi
Sau năm 1975, chúng tôi phải trình diện đi tù theo lệnh của kẻ thắng. Ở nhà chỉ còn có bốn mẹ con mà nhà tôi thì trước đó chỉ biết có một nghề là nội trợ. Khi tôi ra đi thì vốn liếng trong nhà chẳng có gì vì trước đó “tiền lính thì tính liền” đâu có được của ăn của để. Thế mà không hiểu làm sao trong cuộc đổi đời, gia đình lính tráng chúng tôi bị chế độ mới trù dập, kỳ thị mà nhà tôi đã nuôi được ba đứa con đủ ăn đủ mặc, cũng được đi học mà còn liên tục thăm nuôi tiếp tế cho tôi trong bao nhiêu năm trời lại còn lo đến 9 lần vượt biên mất cả năm bẩy chục lạng vàng để cho các con thoát được ra nước ngoài.
Sau này khi đoàn tụ, nhà tôi mới kể, không chỉ nhà tôi mà các chị em vợ lính đã bươn chải đầu đường xó chợ để buôn chui bán lén, mới đầu thì đồ đạc trong nhà sau thì thuốc tây, chợ trời, cả đến vàng bạc đá quí cho các “mệnh phụ” từ ngoài Bắc vô. Mạng lưới làm ăn của các bà mới đầu thì lén lút sau thì lôi kéo luôn cả vợ con cán bộ, đảng viên tạo thành một thị trường đen đồng thời tiêu hủy luôn những lý tưởng của người cộng sản để ai nấy cùng chạy theo đồng tiền nên mới có câu đồng giao “tiền là Tiên là Phật, là sức bật lò xo, là thước đo chân lý…” dài lắm tôi không nhớ hết.
Hàng chục năm bươn chải như vậy với những người đàn bà không nghề không nghiệp mà vẫn trụ vững trước biết bao lọc lừa, cám dỗ, thử hỏi đàn ông chúng tôi nếu gặp cảnh này biết có vượt qua được như các bà không.
Ðến khi “trời lại sáng” ra được hải ngoại, chúng tôi còn đang bó tay trước hoàn cảnh mới, hoàn toàn không hòa nhập nổi thì cũng lại các bà chẳng quản nhọc nhằn vinh nhục mà lăn ngay vào những công việc lao động chân tay, chắt chiu dành dụm để cho con cái được học cho bằng người. Nay thì các vị cũng đã thấy con em chúng ta phần lớn đều thành nhân trong xã hội mới với cuộc sống mà nếu còn ở trong nước khó mà đạt tới được.
Con yêu của mẹ,
Kể lại cho con câu chuyện này, mẹ mong con đọc hết biết đâu có phút nào rỗi rảnh con nhớ lại mà tìm ra được ý nghĩa nào chăng.
Với mẹ thì những người mẹ trong đời của bác H.O. ấy chính là những người Mẹ Việt Nam đấy con ạ. Con có đồng ý với mẹ không?

































































































