Tiếng đàn bầu của chú Phan hàng xóm sao mà buồn! Chú bị tật khoằm chân từ thuở bé, cha mất sớm, mẹ nghèo. Phải chăng vì thế chú chọn đàn độc huyền để phổ tâm tình u buồn của chú vào đấy?
Khi chú ngồi xếp vòng tròn gảy đờn thì không ai trông thấy tật chân của chú. Thụy, người con gái xinh xinh ở ngay phía sau nhà chú, đêm đêm xay lúa sảy gạo, khuya nghe tiếng đàn bầu của chú mà thổn thức cõi lòng.
Ðàn bầu ai gẫy thì nghe
Làm thân con gái chớ nghe đàn bầu.
Làm sao mà Thụy không nghe cho được? Tiếng đàn trong đêm khuya thanh vắng như rót vào tai. Thụy xinh như cánh hoa đào. Trong vườn nhà Thụy kế cận nhà Phan có cây đào, về cuối Ðông hoa nở đón Xuân. Khi nghe tiếng đàn của Phan, Thụy buồn như cánh đào đọng ướt trong một ngày cuối Ðông có mưa phùn. Thụy thành thím Phan rồi suốt đời Thụy tận tụy hầu hạ Phan, hình ảnh Phan với Thụy là hình ảnh người ngồi xếp vòng tròn gảy đàn bầu chứ chẳng phải hình ảnh Phan lúc đứng dậy đi tập tễnh.
Trong số những bạn của thầy, Tân còn nhớ có ba bác: bác Ký, bác Tử và bác Thạc.
Thứ nhất là bác Ký, người phong tình, quần chúc bâu áo vải phin trắng nõn, bao giờ hai túi cũng nặng trĩu thư tình. Mỗi lần viết xong một bức thư mới, bác thường mang lại đọc bàn với thầy để sửa gọt từng câu chữ trước khi gửi đi, sau mỗi câu đắc ý hai người lại vỗ đùi cười ha hả. Mở đầu bức thư nào cũng bằng ba tiếng rất sang trọng: Thưa quý nương… rồi tiếp đến những câu văn biền ngẫu tề chỉnh thiết tha. Lâm ly nhất là sau mỗi tiếng: “Ôi!” lại có một câu tập Kiều. Tỷ như:
Thưa quý nương,
Từ ngày gặp quý nương tôi những đêm năm canh trằn trọc, ngày sáu khắc mơ màng ruột tằm trăm mối, đòi đoạn vò tơ!
Ôi!
Người đâu gặp làm chi
Trăm năm biết có duyên gì hay không?
Bỗng bác Ký bỏ làng đi đâu xa, hình như về một huyện nào thuộc tỉnh Hà Ðông, rồi có tin bác Ký dính líu vào vụ cướp (!)và bị mang ra xử tại tòa Ðại Hình, rồi bị đày đi Côn Ðảo. Kỷ niệm thì đứt nối, đầu óc Tân hồi đó lại non nớt quá nên sau này mọi khi ôn lại kỷ niệm ngày nhỏ, nhớ đến bác Ký, Tân vẫn không hiểu duyên cớ gì đã khiến bác Ký chuyển hóa từ chàng thanh niên phong tình quần áo trắng nõn sang một tên ăn cướp rồi bị tù đầy. Sau cùng Tân ngờ rằng bác có tham gia hội kín, rồi hoặc bị tay sai của thực dân vu khống, hoặc người làng sợ vào săng-tan hỏa lò nên phải nói chệch ra như vậy.
Thứ hai tới bác Tử người cao, khuôn mặt xương xương, nước da trắng, râu rậm khi cạo nhẵn còn xanh om, trông bác có vẻ đẹp phong lưu sáng sủa của người trí thức ngày nay. Mà theo sự xét đoán của cậu bé Tân thì bác xứng đáng là trí thức lắm vì bác viết chữ nho rất đẹp, đọc truyện Kiều, Cung Oán, Chính Phụ, Bần-nữ-thán toàn bản chữ nôm. Câu chuyện của bác bao giờ cũng vui, một số nhân vật đặc biệt của làng đều được bác ghi nhận và tả lại bằng những nét điển hình đượm tính chất hài hước. Quả thực bác phải thông minh lắm mới có được những nhận xét tinh tế như vậy. Câu chuyện của bác hấp dẫn đến nỗi mỗi khi thấy bác đến chơi là Tân quanh quẩn ở nhà. Nhiều câu chuyện vui của bác nói với thầy, Tân không hiểu nghĩa nhưng thấy cả hai người cất tiếng cười khoái trá thì Tân cũng vui lây. Tân thích tiếng cười của bác Tử, tiếng cười sang sảng, ranh rách, lanh lảnh đượm chút kiêu kỳ của người hiểu đời, vẫn thích sống giữa đám nhân gian nhưng vẫn khinh thế ngạo vật. Hằng năm cứ vào gần tết mẹ lại mua một chục tờ giấy đỏ khổ rộng có đốm trăng kim, thầy mời bác Tử đến viết lại hoành phi câu đối thay những cái cũ. Bức hoành phi khung gỗ treo ở chính gian giữa có ba chữ “Ðức Lưu Quang” nét chữ đại tự rắn rỏi nhưng cũng cao và hơi gầy như bác Tử. Ðôi câu đối dán hai bên cột tre (dạo đó nhà Tân còn là nhà lá) nét chữ bay bướm hơn:
Phúc sinh phú quý bình an thịnh
Lộc tiến vinh hoan sự nghiệp hưng.
Mùa Xuân năm Kỷ Tỵ (1929), (Tân lên bảy) thầy mẹ khởi công xây nhà gạch. Năm trước – năm Mậu Thìn – mẹ đã cho xây bể và lát sân, cả làng ai cũng khen mẹ buôn bán đảm. Ba chữ triện lớn “Kỷ Tỵ Xuân” đắp bằng xi măng ở phía trước tường hoa trán mái cũng là do bác Tử viết rồi căn lên giấy dầu làm mẫu cho thợ nề đắp.
Vật đổi sao dời… bác Tử nghiện, rồi nghèo xơ xác, rồi ôi, thực chẳng ai ngờ, bác đi ăn trộm. Bác không dám đến chơi với thầy nữa, thỉnh thoảng Tân gặp bác ngoài đường, bác gầy quá, râu ria xồm xoàm, quần áo mỏng tanh rách mướp, dáng đi tơi tả, hèn mọn, đầu hơi cúi xuống để không nhìn ai và để mặc ai nhìn mình. Theo dư luận người làng thì sở dĩ bác “xuống” thế vì cụ thân sinh ra bác ngày xưa là một nhà nho bất đắc chí xoay ra gá bạc làm bao nhiêu người làng thất cơ lỡ vận. Vì sự tích ông bố “chứa thổ đổ hồ” như vậy nên nay bác chịu nghiệp báo “đời cha ăn mặn đời con khát nước.” Về sau này khi Tân đã lớn, các con bác Tử cũng đều trở thành làm ăn khá giả để phụng dưỡng bác tử tế. Ðã có dạo bác cai được thuốc phiện và người làng lại được dịp nghe giọng nói hài nước của bác chế người nãy diễu người nọ, nhưng thực tình giọng nói cũng như tiếng cười của bác không còn được sang sảng như xưa: Tuổi trẻ đã mất, sự hồn nhiên đã mất, bác còn đeo nặng những lỗi lầm của dĩ vãng! Cai được mấy năm rồi bác hút trở lại, bác mở một bàn đèn để thường xuyên tiếp các khách hút tài tử người làng hoặc người làm tổng, bác tiêm hầu lấy sái. Câu chuyện quanh bàn đèn của bác nghe đâu dí dỏm lắm và luôn luôn rộn tiếng cười nhưng ở đây là cả một thế giới khác, Tân chưa hề đặt chân tới để chứng kiến bao giờ.



























































































