“Khu Rừng Lau” là bộ trường thiên tiểu thuyết được Doãn Quốc Sỹ viết nhằm tái hiện giai đoạn bi thảm nhất của lịch sử cận đại Việt Nam. Nhưng lấp lánh đâu đó, giữa những trang văn của ông, vẫn là niềm tin nơi con người, nơi dân tộc. Nó chịu được sự đọc lại, không chỉ hôm nay mà còn với nhiều thế hệ mai sau.
Kỳ 36
Hiển chợt cười, chàng nhớ lại lời anh em thường nói để giờ đây nói lại với Miên:
– Anh đố cô đối được câu này: “Buổi sớm lên núi Sáng thấy cụm hoa vàng, nhớ cụ Hoàng Hoa”.
Hình như Miên không hề để ý đến chuyện hoa vàng nở đẹp, nàng bâng khuâng hỏi anh:
– Sao không là khu rừng mía mà lại là rừng lau anh nhỉ? Khu rừng lau vô tích sự!
Hiển gật đầu:
– Rừng lau thì vô tích sự thật!
Rồi Hiển đăm chiêu nhìn khoảng xanh cẩm thạch đó, dường như ý tưởng so sánh rừng mía với rừng lau cũng làm anh suy nghĩ.
Nhưng chợt nhớ mình công việc, anh hỏi Miên:
– Cô có xuống núi bây giờ không? Tuần sau anh em mình phải đi Hà Nội rồi.
Miên lắc đầu:
– Em ngồi một lát nữa anh ạ.
Ðã biết tính em, Hiển gật đầu:
– Ừ, thôi anh xuống trước.
Rồi Hiển hấp tấp theo một con đường tắt đi xuống, đường quá dốc, nhiều chỗ Hiển phải ngửa hẳn người về phía sau, hai cánh tay hơi dang ra khi nghiêng về tả khi nghiêng về hữu để giữ thăng bằng.
Quên hẳn chuyện khu rừng lau, Miên đưa mắt theo dõi bóng vạm vỡ của anh thấp thoáng qua lá cành cho đến khi khuất hẳn sau một mỏm đá lớn.
Thốt nhiên nàng thở dài.
III
Mấy năm đầu khi mới ra Hà Nội học, Hiển cũng mảnh khảnh thôi. Kể từ năm chàng đỗ xong tú tài phần một và xin được vào học ban Toán ở Albert Sarraut, phần vì học hào hứng, phần vì Hiển bắt đầu chịu tập thể thao, phần vì cơ thể có lẽ bắt đầu vừa thuận dịp nở nang, Hiển to lớn vạm vỡ trông thấy.
Cũng đôi mắt to và đen như Miên, nhưng thay vì cái nhìn xa xôi, đôi mắt Hiển thường nhìn thẳng vào người đối thoại. Trán rộng cằm vuông, khi suy nghĩ điều gì miệng Hiển thường mím chặt, hai vành môi khép lại thành một đường thẳng. Trên khuôn mặt cương nghị đó chỉ có nước da mai mái là tố cáo ở anh một đời sống bên trong dồi dào tình cảm.
Có một buổi chiều thứ bảy, Hiển đi xi-nê về, khuôn mặt đăm đăm. Lúc ngồi vào bàn ăn, Miên nhận thấy mấy lần anh dằn bát cơm xuống mâm, cử chỉ bứt rứt, đó là điều rất khác thường ở Hiển. Tính tình rất hiền dịu, Miên đối với anh còn rất mực tế nhị. Lúc đó nàng gượng nhẹ từng cử chỉ và tuyệt nhiên không dám hỏi anh một lời. Thường vào những lúc Hiển khó chịu như vậy, nàng lẳng lặng đoán anh cần thứ gì thì mang lại hoặc ra phố mua, sự săn sóc âm thầm đó như dòng nước nhỏ nhưng bền bỉ làm mòn đá làm mát đất.
Hôm sau Miên ốm, nàng bị kiết lỵ. Vừa đi học về, hay tin, Hiển quẳng sách vở đó phóng xa đạp đi ngay nói là đi kiếm thuốc cho Miên. Trời đổ mưa… mưa rơi tầm tã… Một giờ sau Hiển về, ướt như chuột lột nhưng vẻ mặt hoan hỉ lạ thường, tay cầm một nắm lá mơ tam thể.
– Bị kiết lỵ mà kiếm được thứ này ăn khỏi liền!
Nói đọa Hiển đi thay quần áo khô rồi xuống bếp. Lá mơ tam thể trông chẳng giống lá mơ thường chút nào, bản lá rộng, thân lá dài, một màu xanh nhạt và tiết ra mùi hôi hôi, không hiểu sao các cụ xưa lại đặt cho nó cái tên là “lá mơ tam thể”. Trước đây vào một dịp về Lập Thạch, Hiển gặp bà Quản đương hái lá mơ này ở góc vườn rồi vào chưng với trứng để cho đứa bé con nhà hàng xóm ăn mà khỏi kiết lỵ. Hiển nhớ. Rồi một hôm khác, khi đã trở lại Hà Nội học, Hiển đến thăm một người bạn cùng lớp ở ngoại ô gần phía Ngã Tư Sở, có thấy ở góc vườn nhà bạn cây lá mơ tam thể. Vì vậy khi hay tin Miên bị kiết kỵ lập tức Hiển phóng xa về nhà bạn phía Ngã Tư Sở. Hiển xuống bếp thái lá mơ nhỏ như những sợi thuốc rồi chưng với trứng gà không có mỡ. Miên ăn rồi khỏi. Chắc lá mơ tam thể có tác dụng chống kiết lỵ nhưng còn có tác dụng tâm tình nữa. Bao giờ Miên ốm Hiển cũng chăm sóc tận tình như vậy, săn sóc hệt người mẹ hiện không quản công lao, không quản đêm hôm thức giấc, bất kỳ một việc gì có thể làm được là Hiển làm liền, Hiển làm thoăn thoắt, lanh chao, tự nhiên như không.



























































































