Giã từ Trung Tâm Huấn Luyện Cán Bộ Chiến Tranh Chính Trị


Vân Hải Nguyễn Xuân Hùng
(K16 Thủ Ðức)


Sau khi cùng các quân nhân khác nghiêm chỉnh chào cờ lần chót và nghe Trung Tá Nguyễn Văn Minh, chỉ huy trưởng Trung Tâm Huấn Luyện Cán Bộ Chiến Tranh Chính Trị nghẹn ngào nói với chúng tôi những lời cuối trước khi bước đi, tôi cảm thấy trước mắt mình là một con đường hầm đen hút mà chúng tôi, những quân nhân và công chức của chế độ Việt Nam Cộng Hòa không chóng thì chày sẽ bị đẩy vô và không còn một sự lựa chọn nào khác.


Những lời nói ấy cứ như một thứ âm vang dội ngược trong đầu óc tôi: “Nước đã mất, quân đội đã không còn và tôi cũng không còn là chỉ huy trưởng của các anh em nữa. Cho tôi gửi lời thăm hỏi cuối cùng đến gia đình các anh em. Xin mọi người hãy bảo trọng.”


Tôi ngước mắt nhìn lên đỉnh cột cờ một lần nữa, nơi mà lá cờ vàng ba sọc đỏ đã được kéo xuống sau lần chào cờ chót và được Trung Sĩ Kiệt và Hạ Sĩ Tài trịnh trọng gấp lại cất vào văn phòng chỉ huy trưởng, một thao tác cuối cùng chấm dứt vĩnh viễn hoạt động của một trung tâm nơi đã đào tạo ra nhiều cán bộ sĩ quan cũng như hạ sĩ quan Chiến Tranh Chính Trị cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.


Ðó là ngày 30 tháng 4 năm 1975, một ngày có thể nói là buồn bã nhất trong đời tôi, ngày mà mảnh đất thân yêu cuối cùng của những con người quốc gia, yêu tự do, yêu chân lý đã lọt vào tay cộng quân Bắc Việt.


Ðầu óc tôi như muốn rối tung lên, phần vì chán nản đến cùng cực, phần vì đau xót không những cho riêng cá nhân mình mà còn cho cả hàng hàng lớp lớp người dân Miền Nam Việt Nam tự nhiên bị rơi vào một cái khoảng trống tâm lý, tình cảm và tinh thần rất lớn nghĩa là bị du vào cái cảnh nước mất, nhà tan, vào tròng Cộng Sản và để cho đầu mình bị chúng tròng lên cái “niền kim cô” đỏ, hay “những cái niền kim cô” đỏ mà hơn một triệu người miền Bắc di cư vào Miền Nam năm 1954 đã may mắn thoát được.


Và bây giờ thì chúng tôi chẳng còn có cách nào vùng vẫy thoát cái niền ấy được nữa mà phải chấp nhận sống dưới một chế độ mà riêng gia đình chúng tôi đã mất thiện cảm từ lâu. Nói một cách khác chúng tôi thù chúng nó thì đúng hơn.


Thay vì thay đồ dân sự để ra khỏi đơn vị của mình ngay khi biết chắc rằng bọn Cộng Sản Bắc Việt sắp sửa tràn tới đây nhưng tôi vẫn chưa vội mà vẫn mặc bộ quân phục trên người.


Tôi nghĩ mình nên nán lại thêm một thời gian ngắn đủ để nhìn lại đơn vị của mình một lần cuối, và biết đâu sau này khi có dịp mình có thể viết lại, kể lại, cái giây phút cuối cùng của một trong những đơn vị quân sự của quân lực Việt Nam Cộng Hòa đã bị buộc phải rã ngũ trong đau thương để cho con cháu mình đọc được và cảm nhận được rằng ông cha của chúng ngày xưa đã đau đớn như thế nào và đã sống như thế nào, chứ không phải hèn hạ như bọn Cộng Sản đã từng lăng nhục và thóa mạ họ.


Vì thế tôi một mình thong thả đi xuống khu anh em khóa sinh nhìn lại một lần chót nơi ăn chốn ở của họ. Một số anh em nhà ở mãi tận Miền Trung cũng vẫn còn nán lại đó dù rằng tất cả cũng đã sẵn sàng với chiếc ba lô duy nhất để “dzọt” cho lẹ.


Thấy tôi anh em khóa sinh bu lại hỏi tôi rằng họ phải làm gì bây giờ. Nghe hỏi như vậy tôi không biết trả lời làm sao cho hợp tình hợp lý và hợp cảnh vì thực sự ngay chính bản thân tôi, tôi cũng chẳng biết mình phải làm gì trong lúc này chứ đừng nói là làm cố vấn cho ai Tôi nói với họ là bây giờ tình hình đã như thế, nước đã mất, quân đội và cấp chỉ huy không còn thì gia đình mình là nơi duy nhất để mà trở về.


Rồi tôi quay trở lại văn phòng của Liên Ðoàn Khóa Sinh. Hạ Sĩ Nguyễn Ngọc Dung, người tài xế của tôi vui tính hay cười cũng không thấy xuất hiện. Chiếc xe Jeep đậu hờ hững bên hông. Tôi bước tới nhìn chiếc xe rồi quay trở lại chiếc bàn bureau làm việc thường ngày ngồi đó hai tay chống cằm suy nghĩ.


Rồi như bị du vào trong một giấc mộng ban ngày… trí nhớ của tôi bay bổng về vùng trời của quá khứ, nhớ đến cái ngày chúng tôi thật sự thoát khỏi vùng Cộng Sản để sang vùng Quốc Gia xẩy ra vào một buổi sáng mù sương của 21 năm về trước, một ngày của tháng 10 năm 1954 khi gia đình chúng tôi cùng nhiều gia đình di cư khác đã tới được bến đò Quý Cao thuộc huyện An Lão, tỉnh Kiến An, Bắc Việt, nơi địa đầu giữa Quốc Gia và Việt Minh Cộng Sản.


Buổi sáng hôm ấy từ làng Vĩnh Bảo chúng tôi được cán bộ Việt Minh Cộng Sản đưa đi dọc theo một con đường đê dài khoảng hơn một cây số thì tới bến đò Quý Cao nơi đó chính quyền địa phương tân lập của Việt Minh Cộng Sản căng một chiếc dù trắng tịch thu được của Pháp với một cái thùng nhôm lớn đựng nước trà và mấy cái chén nhỏ để trên một cái khay. Theo lời của mấy tên cán bộ thì nước trà này là do “nhân dân” có tấm lòng tốt đãi những người đi vào Miền Nam.


Vài tên cán bộ được bố trí bám theo ca nô mà Ủy Hội Quốc Tế Kiểm Soát Ðình Chiến thuê mướn để đưa chúng tôi từ Phát Diệm đến đây lúc nào cũng cố tỏ vẻ nhã nhặn và còn dặn chúng tôi là “hễ đồng bào vào trong ấy rồi mà ‘bọn Ngô Ðình Diệm’ đối xử không tốt hay đàn áp đồng thì đồng bào cứ đứng lên đấu tranh mà đòi về nhá.”


Nghe bọn cán bộ nói thế bố tôi và mấy người có tuổi chỉ cười trừ. Lúc ấy tôi chỉ là một thiếu niên mười sáu tuổi nhưng hình như lúc ấy ông coi tôi giống như một người trưởng thành. Ông hỏi tôi rằng thái độ của mấy cán bộ Việt Minh này như thế nào. Thực tình mà nói chị em chúng tôi giống như những trái cây bị chín ép trong chế độ Việt Minh Cộng Sản, điều đó có nghĩa là chúng tôi có sự suy nghĩ già dặn hơn những người khác cùng tuổi sống trong một môi trường khác, hoàn cảnh khác.


Tôi cười nói:


-Cậu ơi chúng chỉ được cái mồm thôi. Thời gian ngắn ngủi sống trong Nhà Tràng Lý Ðoán ở Phát Diệm là chúng con biết chúng “tốt” với người dân ra sao rồi.


Tuy còn bé nhưng hồi ấy chúng tôi đã biết phân biệt phải trái, trắng đen ở trong cái vùng gọi là xôi đậu ấy. Thằng Tây thì ở xa, tuy không xa lắm còn đám Việt Minh Cộng Sản thì ở sát với dân, với chúng tôi. Chúng sống nhờ dân, chúng bám vào dân. Cha tôi thì thất nghiệp phải dắt díu cả gia đình về quê sống bám vào mấy mẫu ruộng tư điền mà ông bà nội tôi để lại. Gia đình tôi sống trong cảnh bần bách mà phải nuôi cơm không mấy thằng cán bộ Việt Minh Cộng Sản ăn dầm ở dề. Trong khi chiến tranh chưa ngã ngũ ra sao thì chúng nhỏ nhẹ nịnh nọt người dân, đến khi nghe tin sắp chiến thắng Ðiện Biên Phủ rồi thì chúng thấy không cần phải lấy lòng dân nữa nên giở mặt liền, đánh đấm người dân tức khắc không cần lời nói của người ta có đúng hay sai. Phải chi chúng nó cứ hanh hách như mấy tên lính partisan Việt Nam đi lính cho Pháp thì lại đi theo một lẽ khác. Ðằng này lúc nào chúng cũng một điều đồng bào hai điều đồng bào, và lúc nào cũng nói là “Bác” Hồ dặn phải cần kiệm liêm chính và nhất là phải thương yêu dân, đừng bóc lột dân, đừng cướp của dân.


Nhưng cháy nhà thì mới lòi ra mặt chuột. Khi nghe tin thắng Pháp ở Ðiện Biên Phủ thì bọn Việt Minh Cộng Sản ở quê tôi bỗng nhiên giống như những hung thần. Ông Lý Luận ở làng tôi chỉ nói một câu vô thưởng vô phạt là “chông sắt thì mới đâm thủng giầy tây của Pháp chứ còn chông tre thì chẳng ăn thua gì.” Lời nói của ông bất ngờ lọt vào lỗ tai tên Tặng, xã đội trưởng Xã Ðội Liên Minh người Ðô Quan. Không nói nửa lời y trợn mắt hét hai tên du kích “vật cổ” ông già 54 tuổi xuống đất để cho y đích thân cầm cây gậy tre to bằng nửa cổ tay đánh ông ta đến ngất ngư. Phản ứng của chúng bấy giờ là bất cứ ai nói hay thốt lên những lời ngược với sự tin tưởng hay việc làm của chúng thì chúng “xơi tái” ngay, không tha. Chúng lật lọng lắm. Bây giờ thì nhỏ nhẹ với đám dân di cư này chỉ là vì Ủy Hội Quốc Tế Kiểm Soát Ðình Chiến coi như đã khoán trắng cho chúng là phải đưa chúng tôi tới đây không thiếu một người, bởi vì chứng cớ là vào lúc sâm sẩm tối hôm trước phái đoàn của Ủy Hội Quốc Tế đã đến chỗ cái ca nô mà chúng tôi đã đi trên đó kiểm soát xem có đủ người không. Sở dĩ tôi biết và nhớ kỹ vì tôi là một tên thiếu niên trong số ít những người được chỉ định ở lại canh cái ca nô ấy.


Từ bờ bên đây con sông phía Việt Minh Cộng Sản chúng tôi đã nhìn thấy lá đại kỳ mầu vàng ba sọc đỏ vẫy vùng bay trên đỉnh của một cột cờ rất cao trên một cái kỳ đài rất lớn. Khi thấy chúng tôi tới thì trên bến mé sông bên kia nơi có lá đại kỳ bỗng có tiếng loa phóng thanh sang bên phía bờ nơi chúng tôi đang đứng cái câu mà cho đến bây giờ sau hơn sáu mươi năm tôi vẫn còn nhớ là: HOAN HÔ ÐỒNG BÀO TA ÐÃ ÐẾN ÐƯỢC VÙNG TỰ DO, HOAN HÔ!


Không ai bảo ai chúng tôi cũng đồng loạt hô lên hai chữ hoan hô đến hai lần đáp lại.


Tiếng hoan hô từ phía bờ bên kia được phóng lớn qua hệ thống loa khá mạnh theo gió đông bắc lồng lộng trượt trên đỉnh những ngọn sóng lăn tăn như một luồng hơi ấm thổi vào trong tâm hồn buồn nản của mọi người khiến cho chúng tôi ai cũng phấn chấn hẳn lên.


Bọn cán bộ Cộng Sản Việt Minh trai có, gái có được chỉ định đi theo chúng tôi mặt mũi kẻ nào kẻ nấy trông cứ khó đăm đăm chứng tỏ rằng chúng đang chửi thầm chúng tôi rằng tại sao lại không ở lại với Bác với Ðảng nhà chúng nó trong một nửa quốc gia vừa mới giành được độc lập, có chủ quyền không đủ sướng hay sao mà lại ngu dại kéo nhau đi đến một miền dưới sự “kìm kẹp” của “một chính phủ bù nhìn Ngô Ðình Diệm” thì cũng là một điều lạ.


Tuy khó chịu nhưng chúng chẳng dám làm gì vì chúng tôi là những người coi như được Ủy Hội Quốc Tế Giám Sát Ðình Chiến “bảo đảm mạng sống” trước khi rời Nhà Tràng Lý Ðoán cũng như nhà thờ Phát Diệm để lên ca nô chạy sang Thái Bình rồi đi ngược lên Kiến An.


Một chiếc đò gỗ tương đối lớn lần lượt đưa chúng tôi qua sông cập bến bờ bên kia tức là bên vùng tự do. Và từ điểm địa đầu này chúng tôi được xe nhà binh của Quân Ðội Quốc Gia Việt Nam chở về quận lỵ An Lão lãnh thực phẩm và gạo trước khi lên xe đi tiếp đến Hải Phòng. Và rồi chúng tôi được đưa đến Trại Di Cư Thượng Lý do Phủ Thủ Hiến Bắc Việt Di Cư cho thiết lập ở ngoại ô thành phố Hải Phòng với sự hỗ trợ của Hải Quân Hoa Kỳ.


Tôi còn nhớ lúc đang còn ở bến đò Quý Cao chờ được đưa sang bên bờ Quốc Gia mẹ tôi bồng thằng em trai tôi tên Huệ lúc ấy mới có hai tuổi nước mắt rưng rưng. Bố tôi vốn tính trầm lặng rất ít nói nhưng khi nhìn thấy lá đại kỳ mầu vàng ba sọc đỏ phần phật tung bay và rồi nghe tiếng reo hò chào mừng chúng tôi từ phía bên kia sông vọng tới ông vỗ vai mẹ tôi rồi nghiêm trang nói:


-Bà ạ, gia đình mình sống rồi!


Câu nói ngắn ngủi nhưng đầy ý nghĩa ấy vang lên trong tiềm thức dẫn tôi về với cái cảnh đời thường khốn khổ ở quê nhà tôi, một ngôi làng nhỏ nghèo nàn thuộc vùng châu thổ sông Hồng, nơi đó mẹ con chúng tôi sống một cuộc sống vô cùng là cơ cực. Nhưng năm 1951, bố tôi trở lại Hà Nội làm việc lại cho chính phủ quốc gia thời ông Nguyễn Văn Tâm làm thủ tướng và Cựu Hoàng Bảo Ðại làm Quốc Trưởng thì cuộc sống khấm khá hơn nhiều.


Nhờ hồi ngạch bố tôi được hưởng lương bổng trở lại và việc đầu tiên ông làm là cấp tốc cứu đói gia đình. Ông nhờ người cháu gọi bằng chú mang về cho mẹ tôi một ngàn năm trăm đồng bạc tiền Ðông Dương. Lúc nhận được tiền mừng quá mẹ tôi cũng nói với đám trẻ con chúng tôi cái câu tương tự như vậy: “Thôi! Mẹ con mình sống rồi!” Người ta nói “lịch sử là một sự tái diễn” còn tôi thì từ câu nói ấy tôi bắt chước nói rằng “lịch sử của gia đình cũng là một sự tái diễn.”


Tôi đang như tỉnh như mê chìm trong dòng suy nghĩ thì bỗng có một tiếng nổ rất lớn và những tràng súng liên thanh bắn rộ ở phía ngoài nghe giòn giã như pháo Tết khiến tôi bỗng trở về với thực tại trần trụi của ngày mất nước, ngày mà mọi sự tủi nhục và đớn đau đều đang diễn ra trên thành phố thủ đô thân yêu đang chìm dần trong cơn đại hồng thủy khốn nạn và tai quái này! Hai trung úy Ngô Việt Cương và Trần Quang Minh đang đứng ở phía ngoài chạy ùa trở lại vào trong văn phòng trong trạng thái lo lắng.


Trung Úy Minh nói với tôi:


-Ngoài vẫn còn bắn dữ lắm. Ông Minh đã ra lệnh đầu hàng cả gần hai tiếng rồi mà vẫn còn bắn nhau nữa sao? Bọn quân phạm chạy ào ào phía ngoài đại úy ơi. Chắc Việt Cộng mở trại tù cho họ chạy ra ngoài đấy. Mình cũng về thôi. Hết rồi!


Ngoài sân đã vắng người nhưng ngoài cổng Hạ Sĩ Tài cũng vẫn còn đứng ở trước trạm gác và cây súng garant M1 hờ hững dựa vào trạm gác.


Tài nói với tôi:


-Khoan hãy ra ngoài đại úy! Bây giờ phía ngoài chộn rộn lắm. Nãy có mấy người lính Biệt Khu Thủ Ðô chạy ngược lại nói là Saigon như đang lên cơn sốt. Người đâu mà đổ ra đường nhiều quá xá, kẻ đi, người chạy ai cũng hối hả… Chẳng còn bóng dáng một người cảnh sát nào. Sao đại úy không thay đồ civil đi.


Tôi mỉm cười trả lời:


-Có chứ.


Bấy giờ tôi mới sực nhớ là trên mình tôi vẫn còn mặc bộ đồ nhà binh. Tôi quay trở lại văn phòng Liên Ðoàn Khóa Sinh mở cánh cửa tủ sắt lấy bộ quần áo civil, một cái áo sơ mi trắng cộc tay và chiếc quần bằng vải Dacron xanh màu xanh dương. Tháo đôi giầy jungle boots xong tôi lặng lẽ trút bỏ bộ quân phục nhưng lại đem máng vào cái ghế ngồi hàng ngày của mình sau chiếc bàn bureau rồi mới mặc bộ đồ dân sự. Ðôi chân không giầy bây giờ được thay thế bằng đôi dép Nhật. Rồi tôi lặng lẽ ra hàng hiên đạp máy xe cho nổ là giã từ luôn.


Nhưng chiếc xe mobylette cứ trơ ra, đạp cách nào nó cũng không nổ. Giá như những bữa khác thì tôi lái xe Jeep về nhà, tuy nhiên kể từ hôm nay trở đi tôi không còn là chủ của chiếc xe ấy nữa, bởi vì bây giờ nó sắp trở thành một trong những chiến lợi phẩm của Cộng quân Bắc Việt.


Bỗng có một anh trung sĩ khóa sinh từ phòng ngủ ở đằng sau hối hả chạy tới chỉ tay vào chiếc xe mini Lambretta nói:


-Ồ còn có chiếc xe này này, đại úy. Xe nọ đi không được thì đi xe kia. Giờ này mà!


Tôi bảo với anh ta:


-Xe này là xe của Trung Úy Hội, Khối Chiến Tranh Chính Trị. Chưa biết chừng ông ấy đang trên đường đi tới đây để lấy xe về đấy.


Người khóa sinh nói:


-Giờ này ai còn có can đảm trở lại đây nữa, đại úy. Ðại úy không đi thì em đi được không?


Tôi đáp:


-Tùy anh, chứ tôi thì tôi thật sự không có ý kiến, vì không phải xe của mình.


Nhưng người khóa sinh kia nói với tôi:


-Chẳng bao lâu Việt Cộng chúng nó sẽ tới đây thôi. Bây giờ em cần chạy ra bến Bạch Ðằng để xem ra có còn chiếc tầu nào mà leo lên chạy trốn đi chứ ở với bọn Việt Cộng này không được đâu đại úy. Em với đại úy cùng đi, nhá.


Không hỏi ý kiến gì thêm nữa anh ta lại nói:


-Ồ mà không có chìa khóa xe thì làm sao mà đi được.


Nhưng loay hoay một tí nhìn bên này, nhìn bên kia, anh ta bỗng reo lên:


-Ồ không cần khóa khung gì cả. Em biết làm gì rồi.


Rồi đạp máy xe cho nổ, hắn giục tôi:


-Ðại úy với em chúng mình dzọt đi thôi. Họ đi gần hết cả rồi, chắc là chỉ còn hai người mình thôi.


Cũng vừa lúc ấy Trung Úy Minh chở Trung Úy Cương trên chiếc Honda 50 cũng vừa mới vút ra cổng để lại cái tiếng gằn của máy xe khi bị ép ga.


Xe nổ máy anh khóa sinh giục tôi:


-Không còn thì giờ suy nghĩ nữa, đại úy. Em với đại úy đi đi chứ không có thì không kịp. Mình chạy ra bến Bạch Ðằng. Ở đây mà không leo lên tầu được thì mình chạy xuống Nhà Bè. Mình phải ra đi trước khi Việt Cộng chiếm bến tầu.


Tôi bảo:


-Em cho tôi quá giang ra khỏi cổng trung tâm thôi.


Rồi tôi leo lên ngồi phía sau. Chiếc xe bò chầm chậm chạy ra khỏi cổng và khi chạy tới bùng binh Ngã Sáu đầu đường Trần Quốc Toản thì máy lại tắt. Anh khóa sinh cứ loay hoay mãi đành phải dựng xe lại mặt đăm chiêu không biết tiến thoái ra sao. Một lát sau anh ta lại đạp máy thì may mắn thay, máy nổ.


Nỗi vui mừng hiện ra trên khuôn mặt trẻ măng của anh hạ sĩ quan khóa sinh CTCT, anh ta lại giục tôi:


-Em với đại úy cùng đi nghe!


Tôi đáp:


-Cám ơn em, em đi đi. Thượng lộ bình an.


Thấy rủ tôi chạy xuống bến tầu đến hai ba lần mà thất bại, anh ta nhìn chòng chọc vào tôi để xem phản ứng như thế nào. Bỗng anh ta đứng thẳng người giơ tay lên chào kính một tác phong rất nhà binh rồi nói:


-Vĩnh biệt đại úy!


Chiếc xe mini lambretta rú lên thê thảm và rồi chìm trong làn xe cộ đủ thứ. Con đường Lê Văn Duyệt đầy ứ xe cộ đủ loại y như những con đường khác trong thành phố như Trần Hưng Ðạo, như Pétrus Ký.


Khói từ mấy cái ống bô của xe lam, của xe hơi dân sự và của xe gắn máy phun khói mịt mờ, đầy đường tạo ra cái cảnh xe cộ kẹt cứng ngắc. Nhiều người cho xe gắn máy của mình leo lên lề chạy luồn chạy lách bất kể bị người khác phản đối hay không vì cướp lối đi của họ. Người nào người nấy mặt mũi trông buồn bã như đi đưa đám, còn số khác khuôn mặt họ hoảng hốt thấy rõ trong khi ấy có người sụt sùi khóc.


Tại bùng binh Ngã Sáu Lê Văn Duyệt Trần Quốc Toản mấy chiếc xe Jeep của binh chủng nhẩy dù máy xe có cái vẫn còn nổ và máy truyền tin trên xe vẫn còn phát ra những lệnh lạc từ một cấp chỉ huy nào đó. Trong lúc ấy ngay tại cái chỗ quẹo giữa Yên Ðổ và Lê Văn Duyệt, một binh sĩ thiết giáp vẫn còn bình tĩnh đứng trên thiết vận xa trút bao gạo của mình cho một bà cụ đang đứng ở dưới. Một binh sĩ Nhẩy Dù đi qua mình trần.


Bỗng có một người nào đó ném cho anh ta chiếc áo sơ mi dân sự rồi bảo:


-Này anh Nhẩy Dù! Mặc áo vô đi!


Thấy có người quăng cho mình cái áo, anh lính trẻ không kịp cám ơn vừa đi vừa mặc áo rồi biến vào trong hẻm gần đó. Mấy người lính khác đủ loại cũng tản vào trong mấy ngõ hẻm gần đấy.


Anh hạ sĩ quan trẻ tuổi khóa sinh của tôi đã vọt đi từ lúc nẫy rồi. Ðầu đường Trần Quốc Toản có mấy chiếc xe GMC trên chở lính Nhẩy Dù trang bị đến tận răng, người nào người nấy với khuôn mặt thật bình thản. Trong giờ phút dầu sôi lửa bỏng mà họ vẫn còn giữ thái độ trầm tĩnh và thản nhiên không tỏ ra nao núng, tôi thật sự khâm phục tinh thần quả cảm và bình tĩnh của họ và nhất là tinh thần kỷ luật, cho đến giờ phút ấy vẫn một lòng trung trinh với cấp chỉ huy của mình.


Bây giờ sau bao nhiêu năm lúc ngồi viết lại những gì xẩy ra trong ngày đầu tiên, ngày 30 tháng 4 năm 1975 tôi có thể nói rằng nếu như ông Dương Văn Minh ra lệnh tử thủ Saigon thì cho dù Cộng Sản Bắc Việt có vượt trội quân đội Việt Nam Cộng Hòa về vũ khí thì bọn chúng cũng phải chết gần hết mới chiếm được Saigon.


Tự nhiên tôi nẩy ra ý định muốn theo đoàn quân Nhẩy Dù và tôi đoán là đoàn xe sẽ chạy ra Phú Lâm và rồi xuống Vùng Bốn bắt tay với các sư Ðoàn 7, 9 và 21 cùng các đơn vị địa phương như Ðịa Phương Quân và Nghĩa Quân còn nguyên vẹn. Trước đó ít ngày tôi đã nghe tin rằng đấy là cái kế hoạch của Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ và lực lượng Việt Nam Cộng Hòa còn lại sẽ kéo hết xuống Vùng 4 và tử thủ từ Bắc Mỹ Thuận trở xuống.


Tôi tiến lại gần nói:


-Các anh cho tôi đi theo với.


-Không được. Dân sự không đi theo được, một người lính nói với tôi.


-Không tôi cũng là lính mà!


-Lính gì mà không có quần áo lính vậy? người lính dù quát lên.


Nghe giọng quát lên như vậy tôi mới chợt bừng tỉnh vì lúc ấy tôi cũng vẫn nghĩ mình đang còn mặc bộ đồ lính với cặp lon đại úy chứ không nghĩ rằng mình bây giờ ngoài cái đầu húi “cua” còn thì tất cả không có cái gì để chứng minh tôi là lính Việt Nam Cộng Hòa cả. Chiếc áo sơ mi trắng với chiếc quần “xi vin” mầu xanh cùng đôi dép Nhật dưới chân tôi chỉ có thể chứng minh tôi là một người dân thường không hơn không kém. Rồi mấy chiếc GMC nổ máy chạy xuống cuối đường Trần Quốc Toản nẻo ra Phú Lâm.


Tôi lẩm bẩm lặp lại sự suy nghĩ lúc nẫy:


-Chắc là chạy xuống Long An rồi về Vùng Bốn bắt tay với Quận Ðoàn 4 Quân Khu Bốn nơi đó còn có ba sư đoàn bộ binh 7, 9 và 21 và lực lượng địa phương như Ðịa Phương Quân và Nghĩa Quân còn nguyên vẹn mà.


Một đoàn người lếch thếch từ trên đường Lê Văn Duyệt hướng Saigon đi ngược lại Lê Văn Duyệt Biệt Khu Thủ Ðô. Một thiếu phụ chừng trên dưới ba mươi ôm đứa con còn nhỏ xíu trong tay vừa đi vừa khóc lóc thảm thiết phần vì chồng mới chết mà lại lạc mất đứa con:


-Trời đất ơi! Con ơi là con ơi! Sao con nỡ bỏ mẹ với em mà đi đâu con ơi! Mẹ biết kiếm con ở đâu ra đây? Còn ai là người cùng mẹ đi tìm con về đây. Cha con thì bị cái bọn Việt Cộng nó bắn chết rồi, còn ai thay mẹ đi kiếm con chứ ứ ứ… con.. ơi… là… con…. ơi!


Chị ngồi bệt xuống lề đường tiếp tục gào khóc thê thảm. Tiếng kể lể xen lẫn tiếng khóc sụt sùi nức nở của thiếu phụ lạc mất con, chồng chết ở cái “giờ thứ hai mươi lăm” này tự nhiên tôi thấy vô cùng mủi lòng. Giá như lúc bình thường thì chắc chắn sẽ có người giúp chị. Nhưng mà bây giờ chính bản thân của họ cũng ở trong tình trạng bấn loạn thì ai có thể giúp cho ai được đây?


Tôi giật bắn người trở về với giây phút hiện tại. Chết! Vợ con tôi bây giờ ra sao? Mẹ và các em tôi ra sao tôi cũng không biết nữa. Ðất nước mất rồi! Quê hương của tự do mất rồi! Hai mươi mốt năm sau ngày rời quê nhà miền Bắc vào Nam xa lánh được cái chế độ bất nhân ấy thì nay nó lại lừng lững trở lại.


Tôi ngồi phịch xuống. Bao nhiêu đau đớn như một khối khổng lồ ép tôi xuống. Nước mắt tôi ứa ra. Hình ảnh đói khổ và cuộc đời của những đứa trẻ như chị em chúng tôi sống qua những năm tháng truân chuyên dưới chế độ Việt Minh Cộng Sản lại hiện về rõ nét. Tôi nhớ đến cha tôi người lúc còn sinh tiền đã có lần nói với chúng tôi rằng:


-Chế độ Miền Nam thì quá nhân đạo, còn chế độ Bắc Việt Cộng Sản thì xảo trá và lưu manh vô cùng! Quân tử sẽ thua bọn tiểu nhân thôi! Mất nước các con ạ. Mà hễ nước gần mất thì cố mà trốn đi. Xuống thuyền ra biển, xa bọn Cộng Sản. Nước nào sống cũng được miễn là đừng Cộng Sản. Rủi mà đi không được thì đánh chìm thuyền mà chết còn hơn là sống với chúng nó, cái lũ lúc nào cũng rình rò ro rỏm như đồ ăn cắp vặt vậy. Mình không thể sống với một chế độ “đo lọ nước mắm, đếm củ dưa hành” dĩ chí còn đếm từng hạt gạo nữa.


Kinh nghiệm sống với chế độ Việt Minh Cộng Sản đã khiến cho ông có thái độ dứt khoát. Nhưng con của ông không thể làm theo lời ông được chỉ vì lực bất tòng tâm. Vả lại tinh thần trách nhiệm của một quân nhân đã không cho phép tôi cũng như em tôi, Huy, bỏ đơn vị trong lúc tình hình đang ở thế giằng co…


Em Huy tôi cấp bậc trung úy, sĩ quan công binh mãi đến sáng 30 tháng 4 năm 1975 vẫn còn ôm súng trên nóc nhà thờ Ðồng Tiến. Còn tôi với tư cách là liên đoàn trưởng khóa sinh tôi không thể bỏ đơn vị, bỏ khóa sinh khi chưa có lệnh lạc gì cả. Người xưa cũng nói rằng “nuôi quân ba năm dụng binh một ngày” mà.


Tôi bước thấp bước cao thất thểu đi xuôi xuống đường Trần Quốc Toản rồi rẽ trái vào đường Cao Thắng. Dọc con đường này chưa thấy có một lá cờ nào của bọn Giải Phóng Miền Nam hay cờ máu của Cộng Sản Bắc Việt được treo lên cả. Nhà cửa mặt tiền hai bên phố đa số đóng im ỉm. Bỗng tôi thấy một người có lẽ là quân nhân thứ thiệt trên người còn mặc quần treillis, áo may ô trắng, chân đi đôi dép Nhật xách đôi giầy nhà binh mới toanh, loại jungle boots, nửa da nửa vải cố nhét vào trong cái thùng rác đặt trên lề phố. Lại một hình ảnh giã từ vũ khí! Cái cảnh quăng ba lô, vất vũ khí tôi đã chứng kiến ở bùng binh Ngã Sáu Trần Quốc Toản Lê Văn Duyệt sau khi nghe Tướng Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng quân Bắc Việt Cộng Sản rồi, nhưng cứ hễ thấy cái cảnh ấy lặp lại trước mắt mình tôi lại thấy trong tim mình nhói đau.


Ðến cuối đường Cao Thắng tôi rẽ phải vào đường Hồng Thập Tự. Xe cộ lúc này sao mà đông quá, khói phun mù mịt, mạnh ai nấy chạy… thật đúng là quân hồi vô phèng. Lực lượng cảnh sát giao thông của đô thành Saigon-Chợ Lớn cũng tan tác trôi theo vận nước kể từ buổi sáng ngày hôm nay khởi đầu bằng lời tuyên bố của Tướng Minh tổng thống ra lệnh cho tất cả quân cũng như dân buông súng… buông súng đầu hàng “người anh em bên kia” bất nhân bất mục ấy.


Tôi cứ thản nhiên đi bộ theo chiều lượn quanh bức tượng người cảnh sát ở đầu đường Petrus Ký rồi nhập vào với đường Petrus Ký chạy thẳng tới đường Trần Hưng Ðạo và rồi quẹo phải vào đường Trần Hưng Ðạo hướng về Chợ Lớn. Phải nói rằng các con đường Hồng Thập Tự và Petrus Ký nghẹt ứ xe cộ bao nhiêu thì đường Trần Hưng Ðạo cũng ứ nghẹt xe bấy nhiêu. Người qua kẻ lại, kẻ khuân người vác đủ thứ cả những chiếc nệm giường dầy mà sau này tôi nghe nói đó là của họ “hôi” được từ các building trên đường Hồng Thập Tự nơi người Mỹ trú ngụ.


Người ta hò hét, người ta kêu nhau ơi ới, tất cả hợp cùng với tiếng máy nổ của đủ loại xe nhất là xe lam có những cái bị bể ống khói nên vừa phun ra khói đen ngòm vừa phát ra tiếng kêu lạch bạch rất là lớn đến điếc cả tai… tóm lại là đủ mọi loại âm thanh chát chúa quyện vào với khói xe mịt mờ làm thành một thứ hợp âm ma quái. Tôi có cảm tưởng đó là một bản đại hợp tấu hổ lốn, một tiếng khóc ai oán tiễn đưa linh hồn nước Việt Nam Cộng Hòa, một quốc gia tự do vừa ngã xuống chết tức tưởi trước cái cuồng vọng của bọn giặc Hồ và của tên đồng minh đểu giả bán đứng Miền Nam cho loài quỷ đỏ Cộng Sản chỉ vì quyền lợi của mình.


Tôi có cảm tưởng rằng toàn bộ dân thành phố Saigon đều đổ ra đường hết để cố chứng kiến một cái ngày dài nhất, một cái ngày khốn nạn nhất, ngày mà miền Nam từ nay sẽ không còn được sống theo như ý thích của mình nữa. Và cũng từ cái ngày này trở đi từ lời ăn tiếng nói đến mọi sự sinh hoạt của một xã hội tự do theo kinh tế thị trường sẽ bị bọn Cộng Sản Bắc Việt khuôn mẫu hóa giống như Trung Cộng và Liên Xô cũng như các nước Ðông Âu. Và người dân miền Nam rồi đây tất cả sẽ trở thành những “YES MAN” và khi mở miệng nói ra điều gì thì câu nói mở đầu phải là nhờ ơn Ðảng, nhờ ơn Bác, chứ không phải là nhờ ơn Trời Phật hay nhờ ơn Chúa nữa.


Suốt cả một cuộc đi bộ dài từ Biệt Khu Thủ Ðô cho đến đường Trần Hưng Ðạo này chỗ nào cũng như sôi sục lên. Kẻ khóc, người cười, tâm tư của người dân bộc lộ theo từng quan điểm của phe, nhóm, thương, ghét.


Vì nhà chúng tôi ở mãi bên quận Tám thành thử từ đường Trần Hưng Ðạo tôi rẽ trái vào đường Nguyễn Biểu lối dẫn lên cầu chữ Y chạy sang quận Tám, bến Phạm Thế Hiển. Ði hết con cầu dài ngoằng, tôi thong thả đi xuống cầu, vòng qua Dạ Nam Cầu… từ đây con đường cũng bớt đông đúc nghĩa là người ta không đổ ra phố nhiều như bên Saigon.


Chợt một cảnh tượng khiến tôi cảm thấy con mắt mình thấy xốn xang: hai nhà sư vận áo xám đang cột một lá cờ xanh đỏ của Mặt Trận Giải Phóng vào trong thành của một cái “ban-công” trong lúc ấy thì hai bên đường Phạm Thế Hiển rất nhiều nhà đã trương cờ Mặt Trận Giải Phóng ra trước cửa nhà họ.


Bỗng từ phía bên kia đường có một người chạy ào ra nắm lấy vai tôi nói:


-Ðù má nó! Ðúng là bạc như dân, bất nhân như lính. Nhìn thấy mà ghét!


Tôi giật mình quay lại xem người đó là ai.


-Ồ mày! tôi kêu lên.


Thì ra người ấy là một thằng bạn rất thân của tôi tên K. Chúng tôi đã bặt tin nhau từ cả mấy năm nay chưa một lần gặp nhau, nay gặp lại thì cả hai chúng tôi lại đều ở trong một hoàn cảnh thê thảm như thế này.


Tôi chép miệng nói:


-Người dân bạc bẽo quá mày ơi! Ai mà ngờ được chứ? Nhưng mà thôi kệ họ. Thời gian sẽ trả lời cho họ xem ai là người tốt, ai là người xấu, chế độ nào là tốt và chế độ nào là xấu. Mắc mớ chi mà phải phiền lụy về những chuyện không đâu cho bực mình, tổn thọ chứ.


Hắn ghé tai tôi nói nhỏ vừa cho đủ nghe:


-Lúc nẫy có một “thằng già” ở đây này nói với tao một câu ngu kềnh ngu càng rằng ngày 30 tháng 4 này cũng giống như một cuộc đảo chánh, và rồi cuộc sống cũng sẽ vẫn như cũ chứ có gì đâu.


Tôi hỏi K:


-Mày trả lời làm sao?


-Tao cười trừ chứ nói gì nữa. Biết đâu nó lại là một tên cán bộ Việt Cộng. Việt Cộng thì dĩ nhiên là khỏi phải nói rồi bởi vì chúng chỉ là những con vẹt không hơn không kém. Nếu là một người dân thường mà có sự suy nghĩ như thế thì cũng kệ họ. Bây giờ chúng ta không còn có cơ hội để tẩy rửa giùm những cái đầu u ám ngốc nghếch như vậy. Ðã ngu như heo vậy thì thôi cứ để cho kẻ đó tiếp tục ngu đi. Bọn Cộng Sản Hồ Chí Minh chúng nó chỉ cần dân ngu thôi. Ngu thì dễ dậy, dễ sai, dễ bảo, nói hươu nói vượn gì thì cũng cứ cắm đầu mà nghe mà tin thôi. Nó ngu như vậy thì bọn Việt Cộng mới có cơ tuyên truyền đánh phá bọn mình trước đây chứ. Kẹt một cái là bọn phản chiến Mỹ chúng nó cứ cắm đầu bênh lũ Cộng Sản. Ngay cả cái thằng thủ tướng Thụy Ðiển cũng còn xuống đường biểu tình ủng hộ “bọn Phỏng Giái” thì còn nói gì thêm được nữa đây. Không biết chúng nó ăn cái gì vào miệng mà ngu tệ ngu lậu đến thế! Nhưng mà! Thôi! Số phận nghiệt ngã đã dành cho phe Quốc Gia chúng mình như thế thì phải chấp nhận thôi. Nhưng mà ông Trời sao cũng bất công thật. Ông ấy đã để cho cái lũ ăn cướp, cái lũ bất nhân, cái lũ xỏ lá thắng người tử tế.


Thốt nhiên K giơ tay ra bắt tay tôi nói:


-Tao phải đi.


Tôi cho hắn biết địa chỉ của mình, và dặn ngày mai lại nhà tôi chơi nói chuyện nhiều. Hắn hứa sẽ tới. Nhưng chẳng bao giờ chúng tôi gặp lại nhau nữa. Cho đến giờ phút viết lại những hàng chữ này trên quốc gia tạm dung là Hoa Kỳ tôi cũng chẳng biết nó ở đâu, sống hay chết nữa.


…………..


Thốt nhiên từ phía Cầu Mật, một toán du kích Mặt Trận Giải Phóng, áo bà ba đen, quần đùi, chân có người đi dép râu có người không, và tên đi đầu cao lớn vác cờ Mặt Trận Giải Phóng rất to, tất cả vội vã tiến về phía chân cầu chữ Y.


Một chiếc xe Honda 50 phân khối cũng từ phía Cầu Mật chạy tới trên xe chở một tên đàn ông tay cầm cây cờ đỏ sao vàng hết chạy ngược lên phía chân cầu chữ Y rồi lại chạy xuống phía cầu Hiệp Ân. Khi chạy đến gần bọn du kích giải phóng y cố phất vù vù lá cờ như để biểu lộ sự vui mừng nhưng hắn có ngờ đâu rằng chính cái bọn giải phóng ấy với lá cờ xanh đỏ ấy sắp sửa bị bọn Cộng Sản Bắc Việt cùng cái lá cờ đỏ sao vàng ấy khai tử một cách không thương tiếc khi “nhiệm vụ lót đường” cho chúng chiếm miền Nam đã xong. Tôi nhìn thấy hắn ta rồi bất chợt giật mình lẩm bẩm nói: “A cái thằng chết tiệt này tao biết mày là ai rồi và ở đâu nữa cơ. Vậy mà lâu nay tao cứ tưởng mày là thằng hiền chứ. Ai ngờ lại là thằng Việt Cộng nằm vùng!”


……………..


Nắng Saigon vào lúc xế trưa thật chói chang. Mặt đường nhựa bốc hơi nóng đưa lên khiến tôi thấy khó chịu và cảm thấy ngột ngạt, mệt mỏi, mệt mỏi cả thể xác lẫn tinh thần. Bỗng từ xa bên mé kia đường có một người đàn bà mặc toàn đồ đen, đầu để trần, tóc rối tung vừa đi vừa lấy lưng bàn tay chùi nước mắt đi ngược về phía tôi với bước chân cơ hồ như không còn vững nữa….Tôi dừng lại định thần nhìn kỹ xem người ấy là ai. Té ra người ấy là vợ tôi, bởi vì bả tưởng tôi không về nữa. Thấy tôi dừng lại bên kia đường nhìn chéo sang, vợ tôi cũng dừng lại có lẽ cũng để phóng tầm mắt nhìn kỹ xem người bên kia đường có phải là chồng của mình không. Biết rõ là tôi “bả” như người được thêm sức chạy vù băng ngang qua đường bất kể là có thể đụng xe hay đụng người khác không. Cũng may là không có chiếc xe nào vụt tới chứ nếu không thì ngày 30 tháng 4 cũng là ngày… không biết gọi là ngày gì thêm nữa cho cái tiểu gia đình tôi ngoài cái tang mất nước, mất tự do và mất… Vợ tôi nhào tới ôm lấy tôi miệng mếu máo nói:


-Thôi.. anh về với em và các con là được rồi.


Rồi òa lên khóc. Tôi đứng lặng yên nhìn vợ tôi khóc.. và tôi nghĩ khi khóc xong chắc “bả” sẽ cảm thấy thoải mái hơn.


Nước mắt nhòe nhoẹt, đầu tóc không chải, vợ tôi giống như một chiếc lá lìa cành dựa vào tôi mà đi.


Tôi chợt nghĩ:


-Giá mà cách đây từng tiếng rưỡi đồng hồ đơn vị Nhẩy Dù kia chấp nhận cho tôi lên xe đi cùng với họ ra Phú Lâm để về Vùng Bốn tức Quân Khu 4 thì không biết cuộc đời của tôi sẽ ra sao. Và vợ con tôi ở nhà sẽ khóc hết nước mắt.


Thấy tôi về lũ con tôi mừng quá. Thay vì cười mừng rỡ như mọi ngày tôi đi làm về thì miệng chúng lại méo xệch òa lên khóc khi nhìn thấy mặt tôi rầu rầu trong lúc ấy mẹ chúng nước mắt hai hàng.
 
Buổi chiều ngày 30 tháng 4 năm 1975
 
Về đến nhà lúc ấy cũng đã gần hai giờ rưỡi chiều. Tôi nặng nề gieo mình xuống chiếc giường gỗ nhỏ rồi thiếp đi lúc nào không hay. Bỗng vợ tôi lay tôi dậy nói:


-Anh với em xuống chợ xem mua tí thức ăn gì đi. Mấy ngày nay chộn rộn quá thành thử không dám đi đâu, không dám ra khỏi nhà, bởi vì nghe súng nổ tứ phía con mình nó sợ cứ quấn lấy mẹ


-Em đi một mình được không?


-Cả hai cùng đi anh ạ, vả lại mình cũng nên đi “thăm dân cho biết sự tình” một chút.


Chúng tôi kéo nhau xuống chợ. Buổi chiều chợ tuy vắng khách nhưng xem ra cũng lại đông hơn ngày thường trái với buổi sáng rất là thưa thớt nếu không muốn nói là trống vắng.


Vợ tôi giục:


-Mình đến hàng thịt heo trước đi anh.


Thấy chị hàng thịt quen vợ tôi nhoẻn miệng cười chưa kịp nói gì thì chị này “phang” cho vợ chồng tôi một câu ngoài sức tưởng tượng. Thay vì gọi chúng tôi bằng cách xưng hô thường ngày là “ông, bà” thì hôm nay chị ta hạ chúng tôi xuống bằng hai chữ “anh chị”:


-Này, anh chị muốn mua thịt heo phải không?


Câu hỏi thừa thãi và vô duyên ấy như một gáo nước lạnh tạt vào mặt chúng tôi. Chưa xong! Chị ta còn đanh đá nói tiếp:


-Nhớ là mua phải trả tiền ngay. Tiền “cách mạng” nghe.


Vợ tôi tức quá nói:


-Vợ chồng chúng tôi từ trước đến giờ có bao giờ mua chịu của chị đâu mà chị nói như thế. Hơn nữa tôi chỉ có tiền cũ.


-Tiền cũ là tiền gì?


-Là tiền Việt Nam Cộng Hòa, chị hiểu chưa?


-Tiền “Ngụy” hả? chị hàng thịt quắc mắt hỏi.


Không thèm trả lời, vợ tôi kéo tôi đi sang hàng khác rồi nói:


-Trò đời là vậy đấy! Mới hai hôm trước đây anh và em cùng đi chợ mụ còn đon đả mời mình mua miệng nói:


-Mời ông bà đại úy mua cho em thịt đi. Vậy mà hôm nay không những hạ cách xưng hô với mình từ ông bà xuống anh chị mà còn ăn nói khinh mạn mình là phải có tiền mới bán mà là tiền “cách mạng.” Mình đâu đã có cái thứ tiền Việt Cộng này chứ.


Tôi buột miệng nói:


-Chả trách các cụ ngày xưa hay nói câu: “Bạc như dân, bất nhân như lính” nay áp dụng vào trường hợp này mình mới thấy các cụ nhà nho của ta ngày xưa sao thâm thúy thế.


Vợ tôi nói chêm vào:


-Mới có từ sáng đến giờ mà họ đã quay một trăm tám chục độ rồi.


Tôi đem chuyện này kể với vợ chồng ông hàng xóm bạn thân hai vợ chồng anh cũng đều nói:


-Cứ để rồi xem. Họ phù thịnh chứ ai phù suy đâu. Nhưng cái loại người như thế thì trước sau rồi cũng chẳng ra gì.


(30 tháng 4, 1996)


(Viết ở Nghênh Phong Các thuộc thành phố Santa Ana, miền Nam California Hoa Kỳ)

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT