Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa
là lẽ sống của Miền Nam tự do
* Vann Phan
Có thể nói rằng, trong lịch sử thế giới hiện đại, không có quân đội của bất cứ một quốc gia nào đã thôi tồn tại từ cả mấy thập niên rồi mà vẫn được hằng triệu dân chúng của đất nước đó ngưỡng mộ và tôn sùng như trường hợp của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, một đội quân kiêu hùng, bất khuất nhưng đã phải buông súng tan hàng vào ngày 30 Tháng Tư năm 1975 vì bị Thế Giới Tự Do lầm mê và vô ơn bạc đãi cũng như bị chính người bạn đồng minh Hoa Kỳ bỏ rơi sau hơn hai thập niên chiến đấu trên tuyến đầu để ngăn chặn làn sóng xâm lăng của Cộng Sản Quốc Tế.
Tập thể những người lính Việt Nam Cộng Hòa là cả một thế hệ thanh niên không phân biệt Nam, Trung, Bắc trong các giai đoạn lịch sử cận đại từ 1954 tới 1975, qua các lần động viên từng phần thời Ðệ Nhất Cộng Hòa và cuộc tổng động viên sau Tết Mậu Thân 1968 thời Ðệ Nhị Cộng Hòa.
Cũng có thể nói rằng chưa có một quân đội nào mà, 33 năm sau khi cuộc chiến kết thúc, lại có được tinh thần thượng võ, tình huynh đệ chi binh và nhất là lòng tưởng nhớ đến các đơn vị cũ, chiến trường xưa như những cựu chiến sĩ trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
Cũng chưa có một quân đội nào mà, trong hơn hai thập niên chiến tranh, đã có đến mười mấy vị tướng vị quốc vong thân, trong đó đến năm vị tướng tuẫn tiết vì không chịu đầu hàng kẻ địch. Và cũng còn không biết bao nhiêu là cái chết vì tổ quốc khác của những sĩ quan cấp tá, cấp úy, cùng các binh sĩ khi họ cùng với gia đình hoặc đồng đội tự sát tập thể mà vì hoàn cảnh nước đã mất, nhà đã tan nên không có con số thống kê nào được ghi lại. (1)
Dù bị giam cầm và ngược đãi cả chục năm hay lâu hơn nữa trong những trại tù khắc nghiệt – vẫn được gọi là “trại cải tạo” – đa số các cựu chiến binh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa vẫn còn giữ được tinh thần bất khuất, vẫn thiết tha với màu Cờ Vàng Ba Sọc Ðỏ của quê hương và sắc áo của binh chủng mình từng phục vụ trước đây, cũng như vẫn nghĩ đến anh em đồng ngũ đã vĩnh viễn ra đi hay còn lầm than, vất vưởng đâu đó nơi quê nhà. Tại những nơi đang sống cuộc đời lưu vong trên khắp thế giới, trong hầu hết các cuộc đấu tranh chống Cộng Sản và tranh thủ tự do, nhân quyền cho đất nước và dân tộc, những người lính cũ của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa vẫn là những kẻ xướng xuất và đi đầu trong mọi hoạt động và phong trào.
Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa là ai?
Ở đây, tưởng cũng nên đề cập đôi chút đến lịch sử của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa từ ngày tập thể này được thành lập cho tới khi bị khai tử một cách tức tưởi vào Tháng Tư năm 1975, là lúc quân Cộng Sản Bắc Việt đạt chiến thắng sau cùng trong cuộc đánh chiếm toàn bộ lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa từ Bến Hải tới Cà Mau.
Vào ngày 8 Tháng Ba năm 1949, sau khi Thỏa Hiệp Élysée được ký kết giữa chính phủ Pháp và đại diện Quốc Gia Việt Nam, nước Việt Nam tự do trẻ trung dưới quyền lãnh đạo của Quốc Trưởng Bảo Ðại được Pháp công nhận là một quốc gia độc lập trong Liên Hiệp Pháp (Union Francaise), và Quân Ðội Quốc Gia Việt Nam được thành lập sau đó để chiến đấu bên cạnh Quân Lực Pháp chống lại các lực lượng Cộng Sản Việt Nam dưới quyền lãnh đạo của ông Hồ Chí Minh và các đồng chí như Phạm Văn Ðồng và Võ Nguyên Giáp. Lực lượng mới được thành lập này mang danh xưng “Quân Ðội Quốc Gia Việt Nam” và, lúc đầu, được đặt dưới quyền chỉ huy của các sĩ quan Pháp cũng như Việt Nam có quốc tịch Pháp, nổi bật nhất là Trung Tướng Nguyễn Văn Hinh.
Năm 1952, các lực lượng thuộc Quân Ðội Quốc Gia Việt Nam gồm có tới 60 tiểu đoàn nhưng chưa hề đóng vai trò đáng kể nào trong cuộc chiến tranh giữa Pháp và các lực lượng Việt Minh Cộng Sản. Người Pháp chỉ nhờ quân đội này làm lực lượng phòng thủ diện địa để cho quân đội Liên Hiệp Pháp rảnh tay mở các cuộc hành quân chống đánh Việt Minh. Cụ thể, lực lượng quân sự non trẻ này đã được dùng để bảo vệ “Chiến Tuyến De Lattre” ở Bắc Việt trong thời gian quân đội Pháp được tạm thời đưa sang tham gia cuộc Chiến Tranh Cao Ly (Hàn Quốc) dưới lá cờ Liên Hiệp Quốc do nước đàn anh của Pháp là Mỹ cầm đầu trong những năm đầu thập niên 1950.
Ðến năm 1954, lần đầu tiên, lực lượng Nhảy Dù trong Quân Ðội Quốc Gia Việt Nam đã tham gia cùng với quân đội Liên Hiệp Pháp trong nỗ lực bảo vệ chiến tuyến Ðiện Biên Phủ. Trung Úy Phạm Văn Phú là một trong các sĩ quan ưu tú của lực lượng Quân Ðội Quốc Gia tham dự các trận chiến vô cùng ác liệt tại đây, từng bị bắt làm tù binh rồi được trả về sau Hiệp Ðịnh Geneva 1954.
Vào ngày 26 Tháng Mười năm 1956, chính phủ Ngô Ðình Diệm khởi sự tái tổ chức các lực lượng thuộc Quân Ðội Quốc Gia Việt Nam, và quân đội này mang danh xưng mới là Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa. Các lực lượng chiến đấu trên không và trên biển được gọi là Không Quân Việt Nam và Hải Quân Việt Nam. (2)
Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa khác với các quân đội
chiến bại khác ở những điểm nào?
Dù bại trận, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, thành lũy chống Cộng của Thế Giới Tự Do tại Ðông Nam Á, lẽ sống của Miền Nam Việt Nam từ 1954 tới 1975, vẫn khác xa các đội quân chiến bại khác, từ quân đội Ðức Quốc Xã và Phát-xít Ý tới quân đội Quốc Dân Ðảng của Thống Chế Tưởng Giới Thạch đến đạo quân Cuba của Tổng Thống Batista.
– Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa là quân đội duy nhất trên thế giới vẫn sống còn trong lòng dân tộc sau khi bị tan rã và sau khi quốc gia mà họ xả thân phục vụ bị xóa tên trên bản đồ thế giới. Các quân đội của Quốc Xã Ðức, Phát-xít Ý, Thiên Hoàng Nhật, và Cộng Hòa Cuba đã biến mất ngay sau khi các quốc gia và thể chế chính trị đỡ đầu cho các quân đội ấy cáo chung. Ngược lại, 33 năm sau ngày Sài Gòn thất thủ, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa vẫn còn được người Việt hải ngoại khắp nơi trên thế giới cùng với các đơn vị Ðồng Minh từng tham chiến tại Việt Nam vinh danh trong những dịp lễ lạt hay tưởng niệm Cựu Chiến Binh, đặc biệt là vào ngày 19 Tháng Sáu, Ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
– Trong bối cảnh chính trị và quân sự tại Á Châu và Mỹ Châu La-tinh từ sau Ðệ Nhị Thế Chiến (hồi hạ bán thế kỷ thứ 20), Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa là một trong số rất ít quân quân đội không biến thành những nhóm quân phiệt mà lại tự đặt mình dưới quyền sử dụng của một chính quyền dân sự. Chế độ quân nhân tại Việt Nam Cộng Hòa, được khai sinh từ ngày lật đổ Tổng Thống Ngô Ðình Diệm hồi năm 1963 và tái lập vào ngày Quân Lực 19 Tháng Sáu năm 1965, đã tự ý trao quyền cho một thể chế dân sự hoặc xuyên qua các tuyên cáo và quyết định (như Quyết Ðịnh Số 4 ngày 16 Tháng Hai năm 1965 của Hội Ðồng Quân Lực trao quyền quản trị hành chánh quốc gia lại cho phe dân sự tại Miền Nam Việt Nam) hoặc qua các cuộc bầu cử Tổng Thống, Quốc Hội và Các Hội Ðồng Tỉnh, Thành tại Miền Nam Việt Nam thời Ðệ Nhị Cộng Hòa. (3)
Ðiều đáng chú ý là, cũng vào thời điểm đó, dù không trực tiếp nằm trong tình trạng chiến tranh, các nước bạn của Việt Nam tại Á Châu, như Ðại Hàn Dân Quốc (Nam Hàn), Thái Lan, Indonesia,… cũng như một số nước ở Mỹ Châu La-tinh đều nằm dưới quyền cai trị của các chính thể quân phiệt hoặc do phe quân nhân lãnh đạo.
– Chế độ quân nhân tại Việt Nam Cộng Hòa không tự phát sinh mà ra đời do những hoàn cảnh đặc biệt của đất nước. Ngay như cuộc đảo chánh Tổng Thống Ngô Ðình Diệm hồi năm 1963 để đưa Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng lên cầm quyền, dù vẫn bị coi là tai hại cho nền độc lập của đất nước (vì do Mỹ giật dây) và làm suy yếu nỗ lực chiến đấu chống Cộng, vẫn có thể biện minh được vì chế độ của Ông Diệm có khuynh hướng kỳ thị Phật Giáo và không chịu triệt để đi theo đường lối của Hoa Kỳ là nước đang cung cấp kinh viện và quân viện cho Miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ. Trái lại, các chế độ quân phiệt tồn tại mà không cần lý do chính đáng, phần lớn là do các lãnh tụ quân sự tự tạo nên lý do tồn tại, như viện cớ phải bành trướng thế lực trên trường quốc tế (trường hợp quân phiệt Nhật Bản trước và trong Ðệ Nhị Thế Chiến), chống xu hướng Cộng Sản (trường hợp Hy Lạp, Thái Lan và Indonesia thời Suharto), chống phiến quân tả phái (trường hợp Chile, El Salvador, Nicaragua,…), hoặc chống tất cả các khuynh hướng đối lập (trường hợp Pakistan, Ai Cập, Libya, Myanmar,…).
Chế độ quân nhân tại Miền Nam Việt Nam, vì xuất thân từ dân chúng mà ra, đã không hề gây tội ác nào với dân chúng, nếu không nói được là họ đã xả thân chăm lo bảo vệ hạnh phúc của dân chúng. Nền Ðệ Nhị Cộng Hòa tại Miền Nam Việt Nam tuy cũng mang tiếng là có những thành phần tham nhũng, nhưng mức độ tham nhũng đó chẳng có gì đáng kể một khi đem so với các chế độ quân phiệt hay độc tài đương thời tại những nơi khác, từ Á Châu cho tới Mỹ Châu La-tinh và Phi Châu, đừng nói gì đến chuyện đem so sánh với mức độ tham nhũng hiện nay của các viên chức chế độ Cộng Sản tại Việt Nam bây giờ. Trong khi đó, các thành phần lãnh đạo của những chế độ quân phiệt thường lạm quyền, tham nhũng và gây nhiều tội ác chống lại dân chúng cho nên sau khi các chế độ này sụp đổ thì các lãnh tụ thường bị các chế độ kế tiếp hay chính dân chúng tại các quốc gia đó xử tội. Ðó là trường hợp của nhà độc tài Suharto bên Indonesia và Pinochet ở Chile.
(Còn tiếp)



























































































