
Mẫu hạm của Trung Quốc chỉ là ‘cọp giấy’
Triệu Phong/Người Việt (tổng hợp)
BẮC KINH –Chiếc hàng không mẫu hạm đầu tiên của Trung Quốc vừa được hạ thủy hôm Thứ Ba. Lễ hạ thủy có sự tham dự của các lãnh đạo nhà nước như Hồ Cẩm Ðào và Ôn Gia Bảo, theo báo The New York Times.

Thủy thủ Hải Quân Trung Quốc dàn chào trên mẫu hạm Liêu Ninh trong buổi lễ hạ thủy tại cảng Ðại Liên vào hôm Thứ Ba, 25 Tháng Chín. (Hình: AP/Zha Chunming)
Trước sự kiện này, Trung Quốc muốn tỏ cho thấy quân đội của họ tăng cường thêm sức mạnh, trong khi đang có sự leo thang căng thẳng giữa Bắc Kinh với các nước láng giềng về vấn đề lãnh hải.
Mặc dù quảng cáo rầm rộ về ngày hạ thủy và đánh giá cao về tầm quan trọng của chiếc mẫu hạm, con tàu vẫn chỉ được dùng cho việc huấn luyện và thử nghiệm. Theo các chuyên gia về vấn đề Trung Quốc và quân sự, số “16” sơn trước mạn tàu cho thấy hoạt động của nó chỉ trong giới hạn của việc tập luyện. Trung Quốc chưa có máy bay đủ khả năng đáp xuống một hàng không mẫu hạm và mãi đến nay họ chỉ mới tập đáp xuống tàu ở mô hình trên mặt đất.
Dù sao, việc ra mắt chiếc Liêu Ninh, tên của hàng không mẫu hạm này, ở cảng Ðại Liên, phía Ðông Bắc Trung Quốc, là một cơ hội để Trung Quốc kích động lòng ái quốc, vốn đang lên cơn sốt trong 10 ngày qua về vụ tranh chấp lãnh hải giữa họ với Nhật tại đảo Senkaku/Ðiếu Ngư ở biển Hoa Ðông.
Bộ Quốc Phòng Trung Quốc tuyên bố rằng chiếc mẫu hạm này “làm tăng thêm sức mạnh của Hải Quân Trung Quốc,” đồng thời giúp “Trung Quốc bảo vệ chủ quyền quốc gia một cách hữu hiệu hơn.”
Ðại Hội Ðảng CS Trung Quốc tổ chức vào mỗi thập niên, dự trù được tổ chức vào tháng tới để chuyển giao quyền lãnh đạo, và việc trình làng công khai chiếc hàng không mẫu hạm, dường như là một phần nỗ lực nhằm củng cố sự đoàn kết quốc gia, trước khi bắt đầu đại hội.
Về mặt quốc tế, việc ra mắt công khai con tàu có vẻ như để tỏ dấu hiệu với các nước nhỏ ở trong khu vực biển Ðông, gồm Philippines, một đồng minh của Mỹ, và Việt Nam, thấy rằng Trung Quốc có dồi dào nguồn sức mạnh để triển khai.
Trong khi đó, các nhà hoạch định quân sự Hoa Kỳ đánh giá thấp tầm quan trọng của việc hạ thủy chiếc Liêu Ninh. Một số viên chức Hải Quân Hoa Kỳ còn nói rằng không những thế mà họ còn khuyến khích Trung Quốc cứ tiến tới trong việc đóng riêng hàng không mẫu hạm của mình cùng các chiến thuyền hộ tống, vì làm như vậy họ sẽ tiêu phí hết tiền của.
Ông You Ji, một khách mời khảo cứu tại đại học National University of Singapore, phát biểu trong cuộc phỏng vấn: “Thực tế là chiếc mẫu hạm này hoàn toàn vô dụng đối với Hải Quân Trung Quốc. Nếu nó được dùng để đối đầu với Hoa Kỳ thì nó sẽ sớm bị tiêu diệt. Trong khi nếu đem ra để chống lại các nước láng giềng thì đó là dấu hiệu ‘lớn ăn hiếp nhỏ.’”
Ông You tiếp rằng, Việt Nam, một nước láng giềng mà Trung Quốc đã nhiều lần có chiến tranh, có các chiến đấu cơ Sukhoi 30 do Nga chế tạo. Những chiến đấu cơ này sẽ là mối đe dọa đối với chiếc hàng không mẫu hạm. Ông nhận định: “Ở biển Ðông, một khi mà chiếc mẫu hạm Liêu Ninh bị Việt Nam gây hư hại thì sự mất mặt của Trung Quốc quả không phải nhỏ. Thật không đáng chút nào.”
Ông You cho biết, mãi tới nay, phi công Trung Quốc chỉ mới thực tập đáp xuống mẫu hạm qua những đường băng bê tông trên mặt đất, bằng những chiếc J-8 do Trung Quốc chế tạo, mô phỏng theo chiếc Mig-23 do Liên Xô sản xuất cách đây 23 năm. Theo ông You, phi công Trung Quốc chưa có khả năng đáp xuống một hàng không mẫu hạm đang di chuyển vì họ chưa có được loại phi cơ thích ứng.
Khi được hỏi liệu Trung Quốc có tiến đến việc tự đóng lấy một chiếc và liệu họ có chế được phi cơ đáp được lên đó hay không, ông đáp: “Muốn đóng được một con tàu như vậy cần phải qua một quá trình dài, hết sức dài.”
Ngược lại, với suy nghĩ hoài nghi như trên, ông Li Jie, một nhà nghiên cứu tại Viện Khảo Cứu Hải Quân Trung Quốc, phát biểu trong cuộc phỏng vấn của báo Nhân Dân rằng chiếc mẫu hạm này làm thay đổi nếp suy nghĩ truyền thống của Hải Quân Trung Quốc, đồng thời mang lại những thay đổi phẩm chất về hoạt động cũng như cơ cấu của quân chủng này.
Mặc dù Trung Quốc không minh bạch về chi tiêu quốc phòng, các chuyên gia quân sự ngoại quốc nói rằng hải quân của Trung Quốc không được cấp nhiều ngân khoản bằng lục quân và không quân. (TP)
Thơ Thi-San
Vào Thu lưu bút
Lật trang lưu bút làm thơ
Này đây hoa bướm trải tờ giấy đôi
Ừ ta vẫn chỉ một thời
Thoáng đâu phấn trắng bạc trời tóc xanh
Quê hương chìm sóng lênh đênh
Nhìn bày chim nhỏ chuyền cành tạm dung
Sáng thu sương lạnh mịt mùng
Tựu trường lan cúc ngập ngừng hàn huyên
Ðông, xuân, hè đến bên thềm
Cỏ thơm gót nhỏ, nắng mềm tóc mây
Ve đâu sầu khúc chia tay
Ngàn năm mây trắng, còn ai lầu vàng.
__________
Bên rừng ẩn lan
Qua đây chiều đổ bên tường
Hắt hiu ngọn cỏ cây vương nắng hè
Mới niềm hy vọng đường ve
Sầu đông quạnh quẽ vương thề tóc bay
Ngày đông rét ngọt lòng tay
Bên rừng lan ẩn giữa trời nhạc vui
Ðợi nhau không thể hẹn lời
Trộm em sợi tóc kết vùi cơn mơ
Ðêm về bật khóc thành thơ
Ghép vàng trang sách chẳng chờ hồi âm
Nghe hoang vắng lặng buồng tim
Nghe trăng giá buốt nghe thầm mênh mang
Thính phòng u uẩn khuôn trăng
Tóc thề nghiêng mái khói sương cuối dòng.
Thơ Phượng Các Vũ Thị Mưu
Tháng Ngày Xưa
Chiều đông về làm bao gợi nhớ
Khoảng thời gian cắt nát bên đường
Quay lưng đi mà lòng tắt ngấm
Cả khung trời rêu cũ hắt hiu.
Ném nụ hôn thời gian đơn lẻ
Dấu mòn xưa quen biết đi về
Hơi ấm nồng còn hương bám víu
Cả một thời âu yếm yêu đương
Thương cho ai để khô dòng lệ
Tiếc cho ai lạc lối quay về
Nửa chiều tà tan hoài mắt nhớ
Chuông giáo đường gầy guộc tiễn đưa
Cuộc tình như cầu xưa đã gẫy
Ðứng bên này mãi ngóng bên kia
Làm sao kêu cho người quay lại
Một cái nhìn đủ ấm hồn ai
Thơ ngây nào giờ đong lại đếm
Trách gì thủa hoang phí tình yêu
Buồn tênh hênh bóng ngả bên chiều
Còn ai nữa mà chờ với đợi.
______
Quê Cũ
Quán vắng bên đường mờ sương khói
Một phút dừng chân ngắm quê xa
Bao năm cách xứ buồn ly biệt
Thấp thoáng hương nhà dạ xót xa
Bãi gió sông xưa giờ vắng lặng
Ðâu rồi bờ đá mái tóc nghiêng
Còn không đường cũ hồn thu nhỏ
Nhìn cánh diều bay mãi ước mơ
Mộng ước ngày xưa đời xô ngã
Cả trái tim hồng cũng nát tan
Chiều nay về cả màu hoang tím
Nhớ cánh hoa rừng hương ngát bay.
California, mùa Thu
* Nguyễn Ðông Giang
Cali mưa nắng thất thường
Người ta vẫn ở, vẫn thương xứ nầy
Thu về, theo lá vàng bay
Cali nắng vẫn, ấm ngày lạnh đêm
Tôi đến đây, thân rách mền
Có thêm ấm lạnh, có thêm bụi đời
Thu về lá rụng, vàng rơi
Gió thu nhẹ nhắn, những lời tình yêu
Em, Mỹ trắng, đẹp, mỹ miều
Nhìn em thì dễ, còn yêu khó chừng!
Em ơi! tôi là người dưng
Người dưng ở Mỹ, nhớ chừng Việt Nam
Cali, tháng 11, 2010
(Nguồn: Tác giả gửi qua sangtao@org)
Thơ Lý Kiến Trúc
Thơ Lý Kiến Trúc
Zen 20
Bỏ đôi dép đỡ đần vào bãi cỏ
Về với chân trần với đất đi em
Áo bà ba gợn sóng lũy tre xanh
Hương đồng nội tô màu chân kỳ diệu.
Kìa đàn gà cục tác chui bờ giậu
Tan chợ chiều vai quẩy gánh long đong
Này bờ ao, này mái giạ, này chuồng trâu
Này bếp lửa – đàn con – bát cơm rau vội vã.
Chùa ở đâu ngân dài chuông đến lạ
Áo nâu sồng nở rộ gánh hàng hoa
Trèo lên non lần xuống biển băng hà
Trầm diện bích tìm cho ra diệu ảo.
Chân đất ơi!
Ðón tôi về giữa thinh không tối mật
Tôi sẽ đến, và sẽ đi bình thản
Hôn chân người, y hệt đất hôn chân.
(riêng gởi tặng tập thơ The Love of Centuries)
__________
Zen 22
Khoác vội chiếc áo lính cũ mèm
áo ngày xưa tôi thường phủ lên vai em
lính quýnh
đi lên đi xuống
đầu con dốc này, nhọc nhằn
cuối con dốc nọ, gian nan
rủ em
làm quen phố núi.
Dẫn em đi trong chiều nắng nhạt túa qua đồi ngẩn ngơ
hết con đường ta đi không tên mà vẫn thuộc
tận con phố không đèn mà vẫn tưởng chưa khuya.
Rốt cuộc
cái buổi ban đầu ngây ngô ấy
gia tài thô sơ chia cho em hơi hám manh áo trận trây-zi
đẫm mồ hôi hành quân xa từng bước: tình tôi.
…….
Giây phút hoàng hôn lặn vội cho e ấp dâng lên
cho áo bụi đời che khuất má hây hây bừng bừng cả thẹn
cho xõa tóc thuyền từ vắt qua đồi ái ân kín đáo
mỗi khi tôi tìm cách xích lại gần em hơn nữa, ngại ngần.
“Áo anh nồng mùi thuốc lá”
“Áo anh ấm cả tình em”
“Em ưa giây phút này ư ?”
Giây phút nhẹ như tình yêu hai ta gởi lại bên đường.
…….
Nằm dài bên nhau lau lắt trên sườn đồi nồng nồng gốc cỏ
chúng ta chưa biết nói với nhau những điều chưa bao giờ nghĩ tới
chúng ta yên lặng nghe sóng từ xa đập liên hồi kỳ trận
vẽ trong đáy mắt em màu hè hạt lựu: tim tôi
ghì chặt lưng ong vào lòng ong bướm, mềm: rợn nóng
hơi thở, lần mò, lan truyền thân thể dạt hơi sương.
…….
Em
biêng biếc
lộng gió bốn bề
cỏ run run
và lao chao
“xích lại gần anh tí nữa đi em!”
Vứt chiếc áo sang một bên
“Áo anh nồng mùi thuốc lá!”
Vứt chiếc áo sang một bên
Giọt sương đêm ướt đẫm áo trây-zi.
(trích từ tập thơ “Zen, Tim Cổ Ðại Khắc Thơ Trên Ðá” / chưa xuất bản)
Thơ Lan Ðàm
Tháng Chín ở Huntington Beach
Và tháng chín, nhớ người, theo lối biển,
Chiều mênh mang, bờ cát sóng đong đưa.
Bầy chim trắng thẩn thơ trên bãi mịn,
Ðếm bóng mình hay tìm dấu chân xưa.
Ngày cuối hạ, nắng ngập ngừng phố cũ,
Hàng cây buồn, vòm lá gió xôn xao.
Có tiếng nói vang âm từ quá khứ,
Thoáng ngậm ngùi, dĩ vãng cũng hư hao.
Và tháng chín, rồi đêm về rất muộn,
Thèm chút mưa cho kỷ niệm vơi đầy.
Ly rượu đỏ, quán khuya, không hò hẹn,
Biển thầm thì, trăng lạnh, trĩu sầu mây.
(Tháng 9, 2012)
____
Buổi trưa ở Lake Mead/Nevada
Chờ em ta đứng giữa trời,
Mênh mông núi xám, dốc ngời nắng trưa.
Hồ xanh, bờ đá nghìn xưa,
Có không những dấu chân vừa qua đây.
Gọi em gió động cây gầy,
Thấy trăm năm chẳng thêm đầy trần gian.
Về thôi, cát bãi ngút ngàn,
Hồn ta thiên cổ đã tan chốn này.
____
Khi em về
Em về, gió ngẩn ngơ theo,
Vườn tôi đầu hạ chợt heo may đầy.
Cuối ngày phố núi giăng mây,
Áo mong manh, dáng buồn gầy bước xiêu.
Em về, quạnh vắng thêm chiều,
Tôi ngây ngô đếm trăm điều nhớ quên.
Cồn ngực nhỏ ấm giữa đêm,
Gối chăn thơm, má môi mềm hương đưa…
Em về, trăng lạnh song thưa,
Tôi nghêu ngao đợi đời thừa tháng năm.
(Tháng 7, 2012)
Nhớ ngày tựu trường
* Thảo Nguyên
Các bạn ơi, chớm thu rồi đấy, mùa tựu trường bắt đầu…
Bh (Nguồn: [email protected])
Mỗi đời người được cắp sách, có lẽ không ai là không nhớ tới ngày tựu trường. Ở đó, có trái bàng thu rơi bất ngờ làm giật mình con trẻ, có cái nhìn ngơ ngác của đôi mắt trong veo, có cái níu tay mẹ với hai hàng mi ướt nhòe nước mắt…
Em, ngày tựu trường. (Nguồn: Google)

Tất cả đều thân thương, hồn nhiên đến lạ và đã làm điểm tựa cho mỗi người vượt qua bao sóng gió của dâu bể cuộc đời.
“Tôi quên làm sao được buổi mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh, mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường dài và hẹp. Con đường này tôi đã đi lại nhiều lần nhưng lần này tôi tự nhiên thấy lạ. Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, vì chính lòng tôi đang có sự thay đổi lớn: Hôm nay tôi đi học…”
Những câu văn tài hoa ấy của nhà văn Thanh Tịnh không thể nào thiếu được trong mùa tựu trường,đã in dấu trong tâm hồn bao thế hệ học trò.
Chính cảm xúc ngọt ngào thơm ngát từ những ngày thơ dại cắp sách đến trường đã làm dịu đi bao nỗi nhọc nhằn đời thường.
Khi mùa Thu về với lá vàng rơi đầu ngõ, giật mình chợt nhớ da diết một khoảng trời cũ, thấy ấm áp niềm vui thuở học trò. Ðể thấy chùm phượng vĩ đỏ muộn một góc sân trường cứ ngời lên bao điều nuối tiếc, như cháy mãi những điều vấn vương chưa nói hết nỗi niềm thương nhớ.
Nhớ mãi ngày còn nhỏ, sau kỳ nghỉ hè đầy thi vị với quê nhà bát ngát cánh đồng, con diều no gió vi vút trên cao, chỉ còn khoảng vài ngày nữa là đến ngày khai trường, bọn trẻ chúng tôi lúi húi lục tìm những tờ giấy báo cũ để bao sách vở, vẽ nhãn tên đủ màu sắc, dặn mẹ đi chợ mua những viên mực tím be bé về ngâm trong bình mực nhỏ nhắn, thay những ngòi viết lá tre đã hoen gỉ bằng những ngòi bút mới. Rồi còn giục mẹ may cho bộ quần áo mới, tươm tất hơn, chúng tôi háo hức chờ đợi ngày khai trường.
Ðã xa rồi những mùa tựu trường năm cũ, còn đâu quê nghèo với con đường rợp bóng tre mát rượi. Còn đâu những ngày xưa yêu dấu cùng chúng bạn đi trên con đường bùn đất, để nghe trong gió từ đồng xa về hương lúa thơm ngào ngạt…
Hôm nay, tôi đưa con tới trường, như ngày nào mẹ dắt tới lớp. Trong tôi lại tràn ngập cảm xúc lo lắng, bồi hồi. Lo biết bao nhiêu khi con mình lần đầu tiên đến trường, một ngôi trường mới, khang trang và cao rộng hơn với thầy cô, bạn bè mới. Buổi học đầu tiên của con hôm nay, vẫn là nét chữ i tờ ngộ nghĩnh trên trang giấy trắng tinh. Mùa thu, trời trong xanh thoáng đãng, nghe gió thu xào xạc, lá rơi nhè nhẹ cùng những trái bàng chín thơm thơm.
Bồi hồi cùng con bước trên sân trường loang nắng. Thoáng đâu đây nghe thầm thì những câu thơ thuở nào:
“Có cả cuộc đời rồi bỗng nhớ
Những đoạn đường xa lắc tuổi thơ đi
Bàn chân nhỏ len qua bờ ruộng nhỏ…”
Hương Dạ Lan
* Ngọc Cường
(Ðể tặng NBÐ)
Chiếc phi cơ quân sự C-130 đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhất thì đã hơn sáu giờ chiều. Thành vội với lấy xe ôm về nhà. Ra khỏi cổng trại Phi-Long, chiếc xe Honda chạy băng qua Làng Cha Cả rồi rẽ về phía Bộ Tổng Tham Mưu để hướng đi Gia-Ðịnh.

(Nguồn: Google)
Xe đang lao nhanh qua đường phố chớm lên đèn. Ngồi sau, Thành nắm chặt một tay vào yên xe để khỏi ngã, còn tay kia ghì vào ba-lô. Hôm nay là ngày gần Tết. Cảnh tượng hai bên đường nhộn nhịp hơn hẳn cách đây hai tuần khi chàng lên đường ra Ðà-Nẵng trong chuyến công tác cuối năm của đơn vị.
Một cơn gió mát chợt tạt qua mặt, Thành đưa tay lên giữ vành nón lưỡi trai. Chàng ngước nhìn lên cao, bầu trời thấp như chìm xuống mặt đất và phủ lên bởi một màn mây trắng nổi gợn sóng như từng cuốn bông gòn khổng lồ ai treo lơ lửng một cách yên lặng; một sự yên tĩnh khác hẳn với vẻ náo nhiệt ở mặt dưới đất khiến Thành nghĩ miên man… và có cảm giác mơ hồ là đã chứng kiến cái cảnh tượng này một lần rồi… Hình như, vào cái thời xa xôi nào đó, đã rất lâu, khi chàng còn nhỏ, cũng đứng nhìn những đám mây trên một bầu trời giống như chiều nay. Những đám mây cũng đã làm xao xuyến thằng bé mồ côi, mà chiều chiều ra sân sau nhà cô đơn nhìn mây trôi…
Trong cuộc sống, chàng đã từng trải qua cái cảm giác khi đứng trước một cảnh vật, hay khi gặp một người lạ mà tưởng như đã gặp rồi, đã xảy ra cho mình rồi, và nay đã gặp lại… nhưng không nhớ rõ cho lắm… Tất cả chỉ mơ hồ, như chỉ hiện diện trong một cơn mộng, một đoạn phim nào đó mà mình đã có lần được xem qua…
Hai bên đường, cảnh hàng chợ Tết đang được bày ra tấp nập. Xem như ai trên đường cũng có vẻ vội vã. Họ qua lại… và xe cộ chạy ào ào như tâm trạng của Thành lúc này là chỉ muốn mong về nhà cho sớm… Cảnh vật cuối năm, cái không khí tưng bừng của mấy ngày tất niên năm nào đang mang đến cho chàng một cảm giác xao xuyến mông lung , nó đượm cái háo hức… nhưng cũng chớm một thoáng buồn nhẹ nhàng như một cơn gió thoảng qua.
***
Bất giác, Thành mỉm cười khi chợt nghĩ đến Dung, người vợ mới cưới và đang mang bầu của chàng: Dung sẽ ngạc nhiên và vui mừng biết bao khi nhìn thấy chàng bước vào nhà một cách bất ngờ. Ðáng lẽ giờ này chàng phải ở Ðà-Nẵng cho đến qua Tết mới được về.
Hai ngày trước đây, lúc còn ở Ðà-Nẵng, buổi sáng khi vào trình diện bộ Tư-Lệnh Quân Ðoàn I như mọi khi cùng phái đoàn đi công tác thì Trung Tá Ðức, ông trưởng đoàn của chàng, gọi lại và nói: “Tôi biết vợ cậu sắp sanh, thôi đặc biệt lần này tôi cho cậu về Sàigòn ăn Tết. Cậu cầm Sự Vụ Lệnh qua bên Không Quân xin máy bay ngay đi. Qua Tết sẽ đi làm lại.” Thành rất ngạc nghiên và sững sờ và không biết nói gì ngoài mấy lời cám ơn ông. Chàng ngạc nghiên vì ông Ðức nổi tiếng là một đơn vị trưởng khó đến độ đã mang tiếng là hắc ám. Thành tự nhủ: Trong quân đội, có khi làm dưới quyền một ông sếp mang tiếng là khó mà bất ngờ lại được vài đặc ân nho nhỏ chăng?…
Chiếc xe ôm đột nhiên phóng nhanh khi băng qua đường Chi-Lăng. Thành nghĩ thầm, cũng như mình, có lẽ anh tài xe ôm muốn đi gấp để còn về nhà vui Tết với gia đình? Và Thành nhớ lại: Mấy anh lính Không Quân này chắc cũng nghèo và cần kiếm thêm chút tiền nuôi vợ con nên khi phi cơ đáp xuống tới bến, chàng thấy rất nhiều xe ôm đang chờ sẵn ở khu bãi đáp. Cái cảnh này khác hẳn bên phía phi trường dân sự: Phía đó thì có cả dẫy xe hơi bóng loáng đi đón khách hàng sang trọng…
Thành đã từng chạm trán với thực tế đời lính khi vào một hôm, có việc tạt qua trại gia binh để kiếm anh lính dưới quyền, chàng sững sờ khi thấy căn nhà của gia đình anh ta chỉ gồm một cái mái tôn dựa vào bức tường nhà của một sĩ quan cao cấp bao bọc bởi vài tấm ván gỗ. Trong nhà chỉ sơ sài có một cái giừơng liền với cái tủ nhỏ cũ kĩ.
Thành càng thấu hiểu cái nghèo và thiếu thốn của đời lính: Khi lấy vợ, đồng lương trung úy của chàng đã không đủ nuôi gia đình. Rất may cho Thành là sau đó, cha mẹ Dung lại muốn hai đứa về ở chung nhà. Thế là chàng đã về ở nhà Dung. Bạn của Thành đã từng đùa chàng bằng câu: “Kẻ ở rể thì cũng như một con chó nằm gầm trạm mà thôi.”
***
Thành và Dung quen nhau đã hai năm nay. Lần đầu tiên hai đứa gặp nhau là ở nhà cô bạn của Dung, và cũng là em gái một người làm chung đơn vị với Thành. Tình cờ gặp nhau, Thành chú ý ngay đến đôi mắt to và đen của Dung. Ở Dung toát ra một vẻ sinh động và tươi mát của người con gái tràn đầy nhựa sống, như một bông hoa sơ khai chớm nở vào một buổi sáng mùa Xuân.
Sau khi được giới thiệu và có lẽ nhờ có sự khuyến khích ngầm của người bạn của mình, Dung xem ra cũng có cảm tình với Thành… Chàng chưa bao giờ quên được cái buổi gặp gỡ đầu tiên đó, y hệt như câu thơ của một chàng thi sĩ tiền chiến: “Cái thủa ban đầu lưu luyến ấy…” Nhưng chàng nhớ mãi chính là đôi mắt của Dung và cái vẻ ngây thơ của nàng, như một cái gì khó tả được. Phải chăng đó là sự trong sáng của tâm hồn nàng? Với nước da trắng và thân hình tròn trĩnh, Dung vừa mang một vẻ ngây thơ, vừa đồng thời cũng tóat ra một chút xa lạ, như một bức tường vô hình ngăn cách nàng với Thành. Chàng thắc mắc là cái gì đó ở Dung đã thu hút chàng: cái vẻ dịu dàng mà lại bí ẩn như một kho tàng đang được giấu kỹ… Rồi dần dần, chàng đến nhà Dung thường xuyên. Mối tình hai đứa càng ngày càng nảy nở, sâu đậm. Nhưng có điều là cái dáng vẻ bí ẩn của Dung vẫn còn nguyên đó. Thành biết Dung cũng yêu chàng; nhưng đối với Thành, chàng luôn tự hỏi: Như vậy có đúng là tình yêu… hay còn là cái gì khác nữa? Hay tất cả chỉ là do một xúc cảm mãnh liệt tồn tại mãi mãi, khiến Thành cứ phải suy nghĩ mông lung?
Rồi cứ thế… vào nhiều buổi tối, sau bữa cơm chiều, Thành thường hẹn Dung ở ngoài ngõ, bên cạnh một hàng rào dâm bụt. Ngõ hẻm nhà Dung tuy nhỏ mà vắng vẻ và yên tĩnh, dù bên trái ngõ là phía trước nhà nàng nhưng bên phải kia chỉ là những bức tường dâm bụt phía sau của một dãy căn nhà khác. Gặp nhau, Thành nói nhiều hơn, mặc dù cả hai đều đã trao đổi với nhau đủ thứ chuyện. Gần Dung, chàng thấy hứng khởi và nô nức như đứa trẻ được quà. Nhưng cũng có đôi lúc chàng cảm thấy bức rức vì một chuyện không đâu. Nhiều đêm, khi đã khuya, chỉ còn hai đứa với nhau trong bóng tối, bên hàng rào dâm bụt, Thành luôn thấy hớn hở trong lòng, ước gì trên thế gian này chỉ còn có hai đứa, chẳng còn chiến tranh, không còn giàu nghèo hay đau khổ gì nữa… Có một đêm, tự nhiên hương thơm của hoa dạ lan ở đâu đó lan tỏa ra dịu dàng, ngạt ngào. Thành có cảm tưởng như mùi thơm ấy từ từ quyện lấy cả thân thể chàng và đưa chàng vào một cõi mơ hồ thần tiên nào đó…
Có thể, Thành đã yêu cái tình yêu mà mình đã tạo ra, hơn là yêu chính Dung… Và khi mối tình của hai đứa đã không xảy ra giống như chàng đã mường tượng trong tâm trí mình. Thành trở nên ray rứt đến dằn vặt: Hay cũng có thể chính nội tâm của chàng đã đến hồi xung đột gay gắt. giữa tình cảm và lý trí… Một hôm, Thành thấy rằng, nếu mình không có ý định cưới Dung thì có lẽ chàng nên phải ngưng gặp nàng, để cho Dung cơ hội khác… Ðêm đó, Thành lấy can đảm nói với Dung: “Anh thấy là chúng mình gặp nhau mà không đi đến đâu… Hay là anh tạm không đến nhà em một thời gian. Xem sao…” Thanh hồi hộp lén nhìn phản ứng của Dung và thấy nàng vẫn yên lặng, không lộ một vẻ gì buồn bã. Nhưng trong ánh mắt Dung có vẻ gì khác lạ. Thành tự nghĩ: Sao Dung không khóc hay nói một đều gì đấy? Bởi vì nếu Dung thể hiện như vậy thì chàng sẽ đổi ý ngay. Nhưng không, tất cả chỉ là một tình trạng yên lặng kéo dài… Thành đã vội phóng xe về nhà và, không buồn thay quần áo, Thành nằm vật xuống giường mà nghĩ đến Dung. Chàng thấy tim mình đập mạnh: Chàng cảm thấy ray rứt, hồi hộp. Ðầu óc chàng quay cuồng. Và một cảm giác buồn bã xâm chiếm khiến như chàng đang đánh mất đi một vật gì vô cùng quý giá. Hình ảnh đôi mắt của Dung cứ ám ảnh chàng. Rồi Thành tưởng tượng ra đến buổi chiều mai, khi tan sở, Dung sẽ không thấy chàng đón; và rồi sẽ không có ai đưa nàng về nhà, Dung sẽ phải đi bộ một mình. Dung sẽ không còn nụ cười tươi tắn trên môi như hàng ngày khi gặp Thanh đến đón… Ðột nhiên chàng thấy mình đang chảy nước mắt. Và lập tức, Thành ra xe phóng đến nhà Dung… Chỉ ít lâu sau chàng cưới Dung; và nay thì chàng lại sắp có đứa con đầu lòng…
***
Chiếc xe ôm đã vừa chạy qua chợ Bà Chiểu và sắp đến ngõ nhà Dung. Bên cạnh chợ, những dẫy hàng quán Tết đã mở lan ra bên đường và kéo dài đến rạp cinê Cao Ðồng Hưng. Thành thấy lòng mình nôn nao, hồi hộp nghĩ đến Dung. Chàng mường tượng ra cảnh Dung chạy ra ngõ đón mình, và hai đứa ôm nhau say đắm như trong một đoạn trong phim Zhivago hai đứa mới xem…
Khi xe rẽ vào ngõ thì đột nhiên Thành kêu ngừng lại cho chàng xuống. Thành muốn đi bộ một quãng trong hẻm để về nhà. Trời đã nhá nhem tối và quãng đường này vắng vẻ. Khi tới trước cửa nhà, chàng không thấy có ai. Băng qua phòng khách, chàng dừng lại ở cửa bếp và thấy Dung đang ngồi nhặt rau. Nàng vừa ngước nhìn lên. Và trong bầu không gian nhá nhem tối, Thành chỉ thấy rõ đôi mắt đen của Dung. Dừng tay, nàng khẽ reo lên: “Anh đã về.” Một niềm vui nhẹ nhàng len lén xâm chiếm Thành. Và cũng không biết từ đâu đến, một hương thơm nhẹ nhàng của hoa dạ lan đã tỏa rộng trong không gian. Thành nhìn vào đôi mắt to của Dung… Và hình như nàng đang mỉm cười lại với chàng.
Cà phê Sài Gòn… xưa
*Lương Thái Sỹ-An Dân
“Sài Gòn” một thời để yêu và một thời để nhớ.
Cho những ai đã lớn lên và cắp sách đến trường ở Sài Gòn…
Bạn đã uống cà phê nhiều, bạn biết muốn pha một ly cà phê tuyệt vời đâu có khó. Cà phê loãng nước nhưng đậm mùi thơm, cà phê mít đặc quánh mà vô vị, hãy chọn một tỷ lệ pha trộn thích hợp là đã đi được 70% đoạn đường rồi; muốn kẹo thêm nữa hả?
Một tiệm cà phê ở đại lộ Lê Lợi xưa.

Muốn hưởng cái cảm giác chát chát, tê tê đầu lưỡi phải không? Dễ mà, thêm vào chút xác cau khô là xong ngay. Bạn muốn có vị rhum, thì rhum; bạn thích cái béo béo, thơm thơm của bơ, cứ bỏ chút ‘bretain’ vào. Bạn hỏi tôi nước mắm nhĩ để làm gì à? Chà, khó quá đi, nói làm sao cho chính xác đây! Thì để cho nó đậm đà.
Ðậm làm sao? Giống như uống coca thì phải có thêm chút muối cho mặn mà đầu lưỡi ấy mà. Uống chanh đường pha thêm chút rhum cho nó ra dáng tay chơi. Như kẻ hảo ngọt nhưng vẫn cắn răng uống cà phê đen không đường cho lập dị. Thèm đá muốn chết nhưng cứ chốn bạn nhậu thì nằng nặc đòi uống chay không đá cho giống khác người, cho đẳng cấp. Tôi không biết, không tả được, mời bạn hãy thử và tự cảm nhận lấy.
Bạn đòi phải có tách sứ, thìa bạc; bạn nói phải nghe nhạc tiền chiến, phải hút Capstan (dộng vài phát hết gần nửa điếu và rít đỏ đầu), Ruby hay Basto xanh mới đã đời, thú vị phải không? Bạn đã có đủ những gì bạn cần, sao lại cứ thích đi uống cà phê tiệm? Tôi không trách bạn đâu. Cà phê ngon chỉ mới được một nửa, nhưng chúng ta đâu chỉ cần uống cà phê, chúng ta còn ghiền “uống” con người tại quán cà phê; “uống” không khí và cảnh sắc cà phê; “uống” câu chuyện quanh bàn cà phê và nhiều thứ nữa. Vậy thì mời bạn cùng tôi trở lại không khí cà phê Sài Gòn những năm cuối 1960 và đầu 1970.
Sài Gòn những năm giữa thập niên 1960 đến đầu thập niên 1970 tuổi trẻ lớn lên và tự già đi trong chiến tranh. Những “lưu bút ngày xanh” đành gấp lại; những mơ mộng hoa bướm tự nó thành lỗi nhịp, vô duyên. Tiếng cười dường như ít đi, kém trong trẻo hồn nhiên; khuôn mặt, dáng vẻ tư lự, trầm lắng hơn và đầu óc không thể vô tư nhởn nhơ được nữa. Những điếu thuốc đầu tiên trong đời được đốt lên; những ly cà phê đắng được nhấp vào và quán cà phê trở thành nơi chốn hẹn hò để dàn trải tâm tư, để trầm lắng suy gẫm. Có một chút bức thiết, thật lòng; có một chút làm dáng, thời thượng.
Ðối với một thanh niên tỉnh lẻ mới mẻ và bỡ ngỡ, Sài Gòn lớn lắm, phồn vinh và náo nhiệt lắm. Phan Thanh Giản đi xuống, Phan Ðình Phùng đi lên; hai con đường một chiều và ngược nhau như cái xương sống xuyên dọc trung tâm thành phố giúp định hướng, tạo dễ dàng cho việc di chuyển. Cứ như thế, cái xe cọc cạch, trung thành như một người bạn thân thiết lê la khắp Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Ðịnh.
Những ngày này, tôi là khách thường trực của quán Cà phê Thu Hương đường Hai Bà Trưng. Quán nằm ở một vị trí đẹp, chiếm ba lô đất ngó chéo qua phía trại hòm Tobia; nơi đây có một căn phòng hẹp vừa đặt quầy thu tiền, vừa là chỗ ngồi cho những ai thích nghe nhạc với âm thanh lớn, phần còn lại là một sân gạch rộng, có mái che nhưng không ngăn vách, từ trong có thể nhìn rõ ra đường qua những song sắt nhỏ sơn xanh với một giàn hoa giấy phủ rợp. Ngồi đây có thể nghe được văng vẳng tiếng nhạc vọng ra từ bên trong; cảm được chút riêng tư cách biệt, nhưng đồng thời cũng có thể nhận ra được sức sống bừng lên mỗi sáng, dáng vẻ mệt mỏi, u ám mỗi chiều đang lặng lờ chảy qua trên đường phía ngoài.
Chủ quán ở đây là một người đặc biệt: Khó chịu một cách dễ thương. Hình như với ông, bán cà phê chỉ như một cách tiêu khiển và pha cà phê là một nghệ thuật kỳ thú. Ông hãnh diện với tên tuổi của Thu Hương và muốn bảo vệ nó. Bạn là khách uống cà phê phải không? Xin cứ ngồi yên đó. Cà phê được bưng tới, ông chủ sẽ ngồi đâu đó quan sát và sẽ xuất hiện đúng lúc cạn phin, sẽ bỏ đường, khuấy đều cho bạn và sẽ lịch sự “xin mời” khi mọi việc hoàn tất. Ly cà phê như vậy mới là cà phê Thu Hương, đó là cung cách của Thu Hương, đặc điểm của Thu Hương. Trong lãnh vực kinh doanh quán cà phê, có người dùng âm thanh; có người dùng ánh sáng và cảnh trí; có người nhờ sự duyên dáng của tiếp viên; có người dùng phẩm chất của cà phê để hấp dẫn khách. Ông chủ Thu Hương đã chọn cách cuối cùng, cách khó nhất và ông đã thành công.
Khách đến với Thu Hương là ai? Nhiều lắm, nhưng dù từ đâu họ đều có điểm giống nhau là tất cả đều trẻ và đều có vẻ “chữ nghĩa” lắm; “ông,” “bà” nào cũng tha tập cours quằn tay, cộng thêm các tập san Sử Ðịa, Bách Khoa, Văn và vân vân…
Bạn thường ăn phở gà Hiền Vương, phở Pasteur; bạn thường đi qua đi lại liếc liếc mấy bộ đồ cưới đẹp ở nhà may áo dài Thiết Lập, vậy bạn có biết cà phê Hồng ở đâu không? Thì đó chứ đâu, gần nhà may Thiết Lập, cách vài căn về phía đường Nguyễn Ðình Chiểu, ngó xéo qua mấy cây cổ thụ ở bờ rào Trung tâm Thực nghiệm Y khoa (Viện Pasteur).
Tôi phải hỏi vì tôi biết có thể bạn không để ý. Quán nhỏ xíu hà, với lại cái tên Hồng và tiền diện của nó trông ủ ê cũ kỹ lắm, chứ không sơn phết hoa hòe, đèn treo hoa kết gì cả. Từ ngoài nhìn vào, quán như mọi ngôi nhà bình thường khác, với một cái cửa sổ lúc nào cũng đóng và một cánh cửa ra vào nhỏ, loại sắt cuộn kéo qua kéo lại. Quán hẹp và sâu, với một cái quầy cong cong, đánh verni màu vàng sậm, trên mặt có để một ngọn đèn ngủ chân thấp, với cái chụp to có vẽ hình hai thiếu nữ đội nón lá; một bình hoa tươi; một con thỏ nhồi bông và một cái cắm viết bằng thủy tinh màu tím than. Phía sau, lúc nào cũng thấp thoáng một mái tóc dài, đen tuyền, óng ả, vừa như lãng mạn phô bày vừa như thẹn thùng, che giấu.
Cà phê Hồng, về ngoại dáng, thực ra không có gì đáng nói ngoài cái vẻ xuề xòa, bình dị, tạo cảm giác ấm cúng, thân tình và gần gũi. Tuy nhiên, nếu ngồi lâu ở đó bạn sẽ cảm được, sẽ nhận ra những nét rất riêng, rất đặc biệt khiến bạn sẽ ghiền đến và thích trở lại. Hồi đó nhạc Trịnh Công Sơn đã trở thành một cái “mốt,” một cơn dịch truyền lan khắp nơi, đậu lại trên môi mọi người, đọng lại trong lòng mỗi người. Cà phê Hồng đã tận dụng tối đa, nói rõ ra là chỉ hát loại nhạc này và những người khách đến quán – những thanh niên xốc xếch một chút, “bụi” một chút (làm như không bụi thì không là trí thức) – đã vừa uống cà phê vừa uống cái rã rời trong giọng hát của Khánh Ly.
Không hiểu do sáng kiến của các cô chủ, muốn tạo cho quán một không khí văn nghệ, một bộ mặt trí thức hay do tình thân và sự quen biết với các tác giả mà ở Cà phê Hồng lâu lâu lại có giới thiệu và bày bán các sách mới xuất bản, phần lớn là của hai nhà Trình Bày và Thái Ðộ và của các tác giả được coi là dấn thân, tiến bộ. Lại có cả Time, Newsweek cho những bạn nào khát báo nước ngoài.
Quán có ba cô chủ, ba chị em; người lớn nhất trên hai mươi và người nhỏ nhất mười lăm, mười sáu gì đó. Nói thật lòng, cả ba cô đều chung chung, không khuynh quốc khuynh thành gì, nhưng tất cả cùng có những đặc điểm rất dễ làm xốn xang lòng người: Cả ba đều có mái tóc rất dài, bàn tay rất đẹp và ít nói, ít cười, trừ cô chị. Những năm 1980, Cà phê Hồng không còn, tôi đã thường đứng lại rất lâu, nhìn vào chốn xưa và tự hỏi: Những người đã có thời ngồi đây mơ ước và hy vọng giờ đâu cả rồi? Còn chị em cô Hồng: những nhỏ nhẹ tiểu thư, những thon thả tay ngà, những uyển chuyển “chim di” giờ mờ mịt phương nào?
Viện Ðại Học Vạn Hạnh mở cửa muộn màng nhưng ngay từ những năm đầu tiên nó đã thừa hưởng được những thuận lợi to lớn về tâm lý, cùng với những tên tuổi đã giúp cho Ðại Học Vạn Hạnh được nhìn vừa như một cơ sở giáo dục khả tín, vừa như một tập hợp của những thành phần trẻ tuổi ý thức và dấn thân. Tuy nhiên, dường như cái hồn của Ðại Học Vạn Hạnh được đặt tại một tiệm cà phê: Quán Nắng Mới ở dốc cầu, ngó xéo về phía chợ Trương Minh Giảng.
Quán Nắng Mới có nhiều ưu thế để trở thành đất nhà của dân Vạn Hạnh, trước nhất vì gần gũi, kế đến là khung cảnh đẹp, nhạc chọn lọc và cuối cùng, có lẽ quan trọng nhất là sự thấp thoáng của những bóng hồng, có vẻ tha thướt, có vẻ chữ nghĩa. Các nhóm làm thơ trẻ đang lên và đang chiếm đều đặn nhiều cột thơ trên báo chí Sài Gòn ngồi đồng từ sáng đến tối để… làm thơ. Nhưng đông hơn cả, ấm áp hơn cả là những nhóm hai người, một tóc dài, một tóc ngắn chờ vào lớp, chờ tan trường và chờ nhau. Nắng Mới đã sống với Vạn Hạnh cho đến ngày cuối cùng. Nắng Mới nay không còn. Những con người cũ tứ tán muôn phương.
Có một quán cà phê thân quen nữa không thể không nhắc đến: Quán chị Chi ở gần đầu đường Nguyễn Phi Khanh, kế khu gia cư xưa cũ, rất yên tĩnh và rất dễ thương, nằm phía sau rạp Casino Ða Kao. Ở đó có những con đường rất nhỏ, những ngôi nhà mái ngói phủ đầy rêu xanh, những hàng bông giấy che kín vỉa hè, trầm lắng cô liêu và im ả tách biệt lắm mà mở cửa ra là có thể nghe người bên trái nói, thấy người bên phải cười và có cảm tưởng như có thể đưa tay ra bắt được với người đối diện bên kia đường.
Quán chị Chi độ chín mười thước vuông, chỉ đủ chỗ để đặt ba bốn chiếc bàn nhỏ. Quán không có nhạc, không trưng bày trang trí gì cả ngoại trừ một bức tranh độc nhất treo trên vách, bức tranh đen trắng, cỡ khổ tạp chí, có lẽ được cắt ra từ một tờ báo Pháp. Tranh chụp để thấy một bàn tay dắt một em bé trai kháu khỉnh, vai đeo cặp sách, miệng phụng phịu làm nũng, hai mắt mở to nhưng nước mắt đang chảy dài theo má, phía dưới có hàng chữ nhỏ: “Hôm qua con đã đi học rồi mà.” Khách đến với chị Chi không phải coi bảng hiệu mà vào, cũng không phải nghe quảng cáo, mà hoàn toàn do thân hữu truyền miệng cho nhau để đến, nhiều lần thành quen, từ quen hóa thân và quyến luyến trở lại.
Chị Chi có bán cà phê nhưng tuyệt chiêu của chị là trà; loại trà mạn sen, nước xanh, vị chát nhưng có hậu ngọt và mùi thơm nức mũi. Trà được pha chế công phu trong những chiếc ấm gan gà nhỏ nhắn, xinh xinh. Ấm màu vàng đất, thân tròn đều, láng mịn, vòi và quai mảnh mai, cân đối. Mỗi bộ ấm có kèm theo những chiếc tách cùng màu, to bằng ngón tay cái của một người mập, vừa đủ cho hốp nước nhỏ.
Ấm có ba loại, được gọi tên ra vẻ “trà đạo” lắm: độc ẩm, song ẩm và quần ẩm, nhưng hồi đó chúng tôi thường “diễn nôm” theo kiểu “tiếng Việt trong sáng” thành ấm chiếc, ấm đôi và ấm bự. Trà được uống kèm với bánh đậu xanh – loại bánh đặc biệt của chị Chi – nhỏ, màu vàng óng và mùi thơm lừng. Nhắp một ngụm trà, khẽ một tí bánh, cà kê đủ chuyện trên trời dưới đất, trông cũng có vẻ phong lưu nhàn tản và thanh cao thoát tục lắm. Quán chị Chi giờ đã biến tướng ít nhiều nhưng dù sao cũng xin cảm ơn chị và xin đại diện cho những anh chị em đã từng ngồi quán chị bày tỏ lòng tiếc nhớ đến chị và đến những ngày khó quên cũ.
Những năm cuối thập niên 60 Sài Gòn có mở thêm nhiều quán cà phê mới, và thường được trang hoàng công phu hơn, có hệ thống âm thanh tối tân hơn và nhất là quán nào cũng chọn một cái tên rất đẹp, phần lớn là dựa theo tên những bản nhạc nổi tiếng: Cà phê Hạ Trắng, Lệ Ðá, Diễm Xưa, Hương Xưa, Hoàng Thị, Biển Nhớ, Hoài Cảm, Da Vàng… Tuy nhiên, ở một con đường nhỏ – Hình như là Ðào Duy Từ – gần sân vận động Thống Nhất bây giờ, có một quán cà phê không theo khuôn mẫu này, nó mang một cái tên rất lạ: Quán Ða La. Ða La là Ðà Lạt, quán của chị em cô sinh viên Chính Trị Kinh Doanh, có lẽ vừa từ giã thác Cam Ly, hồ Than Thở để về Sài Gòn học năm cuối tại nhà sách Xuân Thu hay sao đó, mở ra. Trường kinh doanh quả là khéo đào tạo ra những môn sinh giỏi kinh doanh: Tin mấy cô sinh viên mở quán thật tình là không được chính thức loan báo ở đâu cả; tuy nhiên, cứ úp úp mở mở như vậy mà tốt, nó được phóng lớn, lan xa, tạo ấn tượng mạnh và quán được chờ đón với những trân trọng đặc biệt, những náo nức đặc biệt. Những cô chủ chắc có máu văn nghệ, đã cố gắng mang cái hơi hướm của núi rừng Ðà Lạt về Sài Gòn: Những giò lan, nhưng giỏ gùi sơn nữ, những cung tên chiến sĩ đã tạo cho quán một dáng vẻ ngồ ngộ, dễ thương; rồi những đôn ghế, những thớt bàn được cưa từ những gốc cây cổ thụ u nần, mang vẻ rừng núi, cổ sơ đã giúp cho Ða La mang sắc thái rất… Ða La.
Ngày khai trương, Ða La chuẩn bị một chương trình văn nghệ hết sức rôm rả, với những bản nhạc “nhức nhối” của Lê Uyên Phương, Nguyễn Trung Cang, Lê Hựu Hà… Ða La đông vui, chứng kiến sự nở hoa và tàn úa của nhiều mối tình. Nhưng Ða La vắng dần những người khách cũ và đóng cửa lúc nào tôi không nhớ.
Cà phê Hân ở Ðinh Tiên Hoàng, Ða Kao là quán thuộc loại sang trọng, khách phần lớn ở lớp trung niên và đa số thuộc thành phần trung lưu, trí thức. Bàn ghế ở đây đều cao, tạo cho khách một tư thế ngồi ngay ngắn, nghiêm chỉnh và bàn nào cũng có đặt sẵn những tạp chí Pháp ngữ số phát hành mới nhất. Câu chuyện ở Hân chắc là quan trọng lắm, lớn lắm; nhìn cái cách người ta ăn mặc; trông cái vẻ người ta thể hiện là biết ngay chứ gì; có lẽ cả thời sự, kinh tế tài chánh, văn chương, triết học đều có cả ở đây. Một chỗ như vậy là xa lạ với dân ngoại đạo cà phê. Nhưng Hân là một nơi hết sức đáng yêu, đáng nhớ của nhiều người, dù ngồi quầy là một ông già đeo kính như bước ra từ một câu chuyện của văn hào Nga Anton Chekov. Về sau, đối diện với Hân có thêm quán cà phê Duyên Anh của hai chị em cô Hà, cô Thanh; cô em xinh hơn cô chị và được nhiều chàng trồng cây si.
Hai tiệm cà phê, một sang trọng chững chạc, một trẻ trung sinh động, đã trở thành một điểm hẹn, một đích tới mà khi nhắc đến chắc nhiều anh chị em ở trường Văn Khoa, trường Dược, trường Nông Lâm Súc ngay góc Hồng Thập Tự-Cường Ðể còn nhớ, cũng như nhớ món bánh cuốn ở đình Tây Hồ bên trong chợ Ða Kao thờ cụ Phan, nhớ quán cơm “lúc lắc” trong một con hẻm nhỏ đường Nguyễn Bỉnh Khiêm mà nữ sinh viên vừa đi lên căn gác gỗ vừa run khi được mấy chàng mời cơm.
Bạn nào muốn gặp các nhà văn nhà thơ, muốn nhìn họ ngậm ống vố, đeo kính cận nói chuyện văn chương thì mời đến quán Cái Chùa, anh em nào muốn có không khí trẻ trung đầm ấm mời đến Hầm Gió; anh em nào muốn có chỗ riêng tư tâm sự thì cứ theo đường Nguyễn Văn Học chạy tuốt lên Gò Vấp, vào quán Hương Xưa, ở đó có vườn cây đẹp, các cô chủ đẹp và cái cách người ta đối đãi với nhau cũng rất đẹp. Cũng đừng quên nhắc đến quán Chiêu, hẻm Cao Thắng. Rồi còn cà phê hàng me Nguyễn Du, cũng Beatles, cũng Elvis Presley như ai; và cả pha chút Adamo quyến rũ. Giá ở đây thật bình dân nhưng thường xuyên chứng kiến những pha so găng giữa học sinh hai trường nghề Cao Thắng và Nguyễn Trường Tộ.
Chán cà phê thì đi ăn nghêu sò, bò bía, ăn kem trên đường Nguyễn Tri Phương, góc Minh Mạng hoặc bên hông chợ Tân Ðịnh. Phá lấu đã có góc Pasteur-Lê Lợi, nhưng chỉ dành cho các bạn có tiền. Rủng rỉnh tí xu dạy kèm cuối tháng có Mai Hương (nay là Bạch Ðằng Lê Lợi). Quán Mù U, hẻm Võ Tánh, chỗ thương binh chiếm đất ở gần Ngã tư Bảy Hiền dành cho những bạn muốn mờ mờ ảo ảo. Muốn thưởng thức túp lều tranh mời đến cà phê dựa tường Nguyễn Trung Ngạn gần dòng Kín, đường Cường Ðể. Rồi quán cà phê Cháo Lú ở chợ Thị Nghè của một họa sĩ tên Vị Ý.
Cao cấp hơn có La Pagode (đổi thành Hương Lan trước khi giải thể), Brodard, Givral. Thích xem phim Pháp xưa, phim Mỹ xưa và ngồi… cả ngày xin mời vào rạp Vĩnh Lợi trên đường Lê Lợi để chung vai với đám đồng tính nam. Vào Casino Sài Gòn có thể vào luôn hẻm bên cạnh ăn cơm trưa rất ngon tại một quầy tôi đã quên tên. Nhưng rạp Rex vẫn là nơi chọn lựa nhiều nhất của SV, cả nghèo lẫn giàu.
Cuộc sống SV cứ thế mà trôi đi trong nhịp sống Sài Gòn. Nghèo nhưng vui và mơ mộng. Tống Biệt Hành, Ðôi Mắt Người Sơn Tây sống chung với Cô Hái Mơ. Ðại Bác Ru Ðêm sánh vai với Thu Vàng. Ảo Vọng và Thực Tế lẫn vào nhau. Thi thoảng lại pha thêm chút Tội Ác Hình Phạt, Zara đã nói như thế! Che Guervara, Garcia Lorca.
Tất cả những gì tôi nhắc tới là một chút ngày cũ, một chút cảnh xưa, một phần hơi thở và nhịp sống của Sài Gòn trong trí nhớ. Xin tặng anh, tặng chị, tặng em, đặc biệt là tặng tất cả những ai tha hương có lúc bỗng bàng hoàng nhận thấy, dường như một nửa trái tim mình còn đang bay lơ lửng ở cà phê Hồng, Thu Hương, hay đâu đó ở quê nhà.
(Nguồn: www.khoahocsaigon.com)
Ðạo Mormon, một bất lợi cho Thống Ðốc Mitt Romney?
Việt Nguyên
LTS: Từ Bàn Viết Houston là cột mục bàn về các vấn đề thời sự từ chính trị tới kinh tế, văn hóa… do nhà báo Việt Nguyên trong ban biên tập Ngày Nay phụ trách. Ông cũng là một bác sĩ làm việc tại Houston.
***
Ðại hội Ðảng Cộng Hòa và Dân Chủ đã kết thúc, con đường đi đến tòa Bạch Ốc của hai ứng cử viên tổng thống Barack Obama và Mitt Romney vẫn còn trong tình trạng bất phân thắng bại.
Một điều chắc chắn là đến tháng 11 năm nay vào ngày bầu cử, cử tri Hoa Kỳ đã có sẵn thiên kiến. Phụ nữ, đồng tình luyến ái và dân thiểu số nghiêng về TT Barack Obama. Dân da trắng, cựu chiến binh, giới tiểu thương nghiêng về cựu Thống Ðốc Mitt Romney.
Tình trạng thất nghiệp vẫn trên mức 8%, chương trình kinh tế của T.T. Obama trong vòng 4 năm qua không tạo được công ăn việc làm nhưng chương trình kinh tế của ông Romney cũng chưa thuyết phục được dân Mỹ. Các chương trình xã hội của TT Obama đã làm mất phiếu giới cử tri Công Giáo nhưng đạo Mormon của Thống Ðốc Mitt Romney đã khiến cử tri Thiên Chúa Giáo ngần ngại.
Joseph Smith sáng lập đạo Mormon
Mormon là một đạo Tin Lành trong 23,000 giáo phái Tin Lành ở Bắc Mỹ. Người sáng lập đạo là ông Joseph Smith (sanh ngày 23 tháng 12 năm 1805). Ông có cuộc đời ly kỳ. Tháng 3 năm 1826, anh chàng Joseph Smith 21 tuổi bị tòa án thành phố Bain Brigdge, New York kết án tù về tội làm rối loạn trật tự công cộng, mạo danh, lừa đảo, hay dòm trộm đàn bà qua cửa kính, lường gạt mọi người qua việc tổ chức đi tìm vàng, đào đất để tìm cổ vật trong đó có những đĩa cổ có sức mạnh thần bí.
Trong vòng 4 năm sau, ông Joseph Smith nổi tiếng, 18 tháng sau ngày bị kết án ông tuyên bố tìm thấy kinh Mormon (nghĩa là more good, tốt hơn) nhờ thiên thần Moroni hiện ra hướng dẫn ông đào từ những gò đất của dân da đỏ (thiên thần của Thiên Chúa Giáo và Hồi Giáo là Gabriel).
Kinh sách Mormon được in trên những đĩa vàng giải thích ngọn nguồn Phúc Âm từ dân da đỏ và ông cũng cho biết tìm thấy hai đĩa bằng đá đi đôi với nhau, Thummim và Urim, được đề cập trong kinh Cựu Ước. Các kinh này là cổ vật hiếm có của 10 bộ lạc Do Thái mất tích từ thế kỷ thứ 8. Kinh này sau đó được ông Joseph Smith dịch ra tiếng Anh. Ông Smith cũng giống như những người da trắng Tây Ban Nha, Bồ Ðào Nha tin rằng 10 bộ lạc Do Thái mất tích đã đi cùng khắp thế giới, đi đến Anh, Phi Châu, có mặt nhiều nhất ở Ấn Ðộ và Tân thế giới.
Hồi thế kỷ thứ 15, nhà thám hiểm Bồ Ðào Nha Vasco Da Gamma khi đến Ấn Ðộ đã lầm tưởng dân Ấn theo đạo Thiên Chúa, những người Do Thái mất tích, vì họ cũng làm lễ thánh, vẩy nước, ông nghe thần Krishna thành Christ (đồng âm) và nhìn tượng nữ thần Devaki lại nghĩ là tượng Ðức Mẹ đồng trinh Maria.
Những người Tây Ban Nha khi đến vùng Nam Mỹ đã tưởng dân Aztecs là những người trong 10 bộ lạc Do Thái mất tích vì họ tế lễ vẩy nước thánh và xây đền thờ.
Năm 720 trước Thiên Chúa, vương quốc Do Thái bị đế quốc Neo-Assyria (Iraq bây giờ) phá hủy. Ðầu tiên, Vua Do Thái Menahem phải triều cống vua Tiglath-Piloser III (vua Pul trong kinh thánh). Năm 733 trước Thiên Chúa, vua Pul đem quân đánh Do Thái thời vua Pekh. Theo Eric H. Cline, giáo sư khảo cổ đại học Washington, 10 bộ lạc Do Thái đã bị đuổi ra khỏi Do Thái. Dân Do Thái phần thì lưu vong, phần còn lại phải lấy quân chiếm đóng.
Vua Shamanneserv chiếm thủ đô Samarian đuổi dân Do Thái, đưa dân từ Babylon, Cathah, Hamth và Avoah vào thủ đô Samaria định cư. Kinh thánh không ghi lại số dân Do Thái bị đuổi. Sách sử Tiglath Pileser cho biết trừ thủ đô còn tất cả thành phố vùng bắc Do Thái bị chiếm và nhập vào đế quốc Neo Assyria đem theo 13,520 dân Do Thái về nước. Sách không cho biết địa điểm dân Do Thái tái định cư. Ðến thời vua Sargon II (năm 722 BC), đế quốc Neo-Assyria chiếm thủ đô Samaria bắt 27,280 dân Do Thái đưa về Assyria, nhập Smaria vào đế quốc mới. Kinh thánh ghi dân 10 bộ lạc Do Thái bị đầy đi Halah trên bờ sông Gozan, tỉnh Medes, trong vùng Lưỡng Hà (Mesopotamia) giữa đồng bằng sông Euphrates và Tigris.
10 bộ lạc Do Thái mất tích được đề cập trong các kinh Isaiah, Jeremah và Ezekiel là những dân Do Thái sống rải rác, trong đó Samaria hiện nay là vùng Tây Ngạn. Tổng cộng gồm 40,000 người, một phần mười dân số Do Thái thời ấy: Trong thời kỳ này dân số ở vùng Nam Do Thái (Jerusalem và Judah) trong 10 năm gia tăng do kết quả di dân.
Chính sách của đế quốc Neo-Assyria là chính sách của các đế quốc thực dân như Trung Hoa đời nhà Minh, nhà Nguyên khi chiếm Việt Nam đã đuổi dân ra khỏi thành phố, đồng hóa lấy người bản xứ hay như chính sách của Cộng Sản Việt Nam sau 30 tháng 4 năm 1975, đuổi dân đi vùng kinh tế mới, chiếm đất, cướp nhà, đưa dân từ Bắc vào Nam.
Dân Do Thái theo chính sách của đế quốc Neo-Assyria lưu vong sang Ai Cập, Iraq và Iran. Mười bộ lạc Do Thái không thất lạc qua các châu khác. Giáo Sư Eric Cline dựa trên các bằng chứng khảo cổ cho thấy không hề có việc 10 bộ lạc dân Do Thái đi đến Ấn Ðộ, Ethiopia, Phi Châu, Mỹ Châu hay các vùng khác
Tiến trình đạo Mormon
Tín đồ Mormon theo đạo qua giáo chủ Joseph Smith và kinh Mormon với những nhà tiên tri bắt đầu là Nephi, con của Lehi, bỏ trốn khỏi Do Thái từ 600 năm trước Thiên Chúa đến Mỹ Châu. Tuy nhiên, ông đạo Smith từ chối không cho ai xem các đĩa vàng vì “ai nhìn đĩa sẽ chết.”
Giống như Mohammed, ông đạo Smith mù chữ, chỉ đọc được chút ít, không biết viết, nhờ ông hàng xóm Martin Harris bỏ nhà đi theo ông đạo, dịch kinh từ các tảng đá, nhưng chỉ nghe mà không được nhìn ông đạo. Bà vợ ông Smith không như chồng, không sợ chết, ăn cắp 160 trang đầu tiên và thách thức ông Joseph Smith viết lại. Các học giả về kinh thánh nhận thấy 25,000 chữ trong kinh Mormon lấy thẳng từ kinh Cựu Ước, chương Isaiah (sách bà Ellan Smith: cái nhìn của người Do Thái về 10 bộ lạc Do Thái ở Mỹ) 2,000 chữ khác đến từ kinh Tân Ước. Về 350 tên thánh trong kinh Mormon thì có hơn 100 tên lấy từ Kinh Thánh.
Các chương sách Mormon bắt đầu bằng I, Nephi (Tôi, Nephi). Trong kinh thánh, 3 người con ông Noah (đóng thuyền cứu nhân loại ra khỏi trận đại hồng thủy) là Shem, Ham và Japhet. Ham là người da đen. Trong kinh Mormon cũng có 3 sắc dân Nephite là dân da trắng, đẹp trai, dân Lamanite là dân da đen bị Thượng Ðế ruồng bỏ.
Nhóm thứ ba là giống dân trung lập, trên thiên đàng đứng giữa Thượng Ðế và quỷ Lucifer. Vì lý do này mà người da đen có thể theo đạo nhưng không được làm mục sư hay được dự lễ trong đền thờ thiêng cho mãi đến năm 1965 bỗng nhiên những người Mormon lại được “Thiên Khải” cho biết người da đen cũng là người và năm 1978 nhà thờ Mormon Latter-day Saints cho phép người da đen làm linh mục và tham dự lễ như người da trắng. Ðạo Mormon bắt đầu cùng một vùng với dân Tin Lành Shakers mộ đạo (những người tin tận thế sắp xảy ra) ở vùng Nữu Ước được gọi là Burn-Over district, hết giáo phái cuồng tín này đến giáo phái cuồng tín khác đến hành đạo…
Dân Mỹ ở vùng này theo đạo Mormon một cách cuồng nhiệt phần vì họ thèm khát một tôn giáo mới thay cho Công Giáo lâu đời phần vì bắt đầu cuộc đời mới ở miền đất hứa họ cần một niềm tin mới.
Chủ thuyết của Mormon, 2 nhóm Thiện (Nephite) và Ác (Lamanite) giống như Thiện thắng Ác của tôn giáo thời Babylon, Trắng thắng Ðen cũng giống như thuyết của Manichean (Mani giáo thế kỷ thứ IV), tu sẽ giúp phần tử trắng lấn phần tử đen nhưng Mormon ghi lại chúa Jesus đã đến thăm dân Do Thái đến Mỹ bằng thuyền định cư ở Misouri, sau khi Chúa tái sinh và trước khi Chúa lên trời (không thấy ghi trong Phúc Âm).
Tín đồ Mormon ở vùng “cháy lan bởi ngọn lửa Thánh Linh” đã tin Chúa Jesus tái giáng trần ngày 21 tháng 3, 1843, khi có tận thế. Mormon trong thế kỷ thứ 19 là một trong những giáo phái Tin Lành như Methodist, tin vào sự tỉnh thức lần thứ hai của Thiên Chúa. Các tín đồ Mormon tin mãnh liệt vào điều này và khi Chúa trở lại, ngài cho “tình yêu cho mọi người.”.
Trong hai thập niên 1830 và 1840 hàng ngàn người Mỹ ở vùng Nữu Ước đã theo đạo Mormon. Những người tiên phong đi khai phá Mỹ Quốc đã tin vào các tông đồ, trong đó có Brigham Young, đã bảo cho họ biết hàng triệu triệu mẫu đất chưa ai khai thác là Thiên Ðàng Eden trong Kinh Thánh.
Dựa trên sách Mormon (cũng như Kinh Thánh, Kinh Torah hay Kinh Koran, sách được đọc nhưng không được hỏi) ông Smith phán Thượng Ðế, Thiên Thần và con người là một loài. Thượng Ðế ở trong mỗi người và con người tu đi đến Thượng Ðế, trở thành Thượng Ðế khác với các nhóm Tin Lành khác như Lutheran chủ trương con người hướng về hình ảnh Thượng Ðế nhưng con người không cùng da thịt như Thượng Ðế.
Cùng da thịt với Chúa nhưng Joseph Smith không đồng ý với Công Giáo về việc vinh danh Chúa trên thánh giá, phải đề cao vinh quang của Chúa hơn là sự thương khó, chịu nhục hình, vì vậy nhà thờ Mormon không có cây thánh giá (khác với các nhà thờ Tin Lành cây Thánh Giá không có hình Chúa sau khi bà hoàng hậu Anh Catherine vợ vua Henry VIII vứt cây thánh giá Công Giáo xuống sông). Joseph Smith tranh cử tổng thống năm 1844, chủ trương giải phóng nô lệ, nhưng sau đó bị đuổi ra khỏi New York đi lang thang, trong thời kỳ này Mormon tranh chấp nội bộ cũng như với chính quyền.
Năm 44 tuổi, Joseph Smith bị giết, được xem là thánh tử đạo ở thành phố Carthage, Illinois, trong khi ở tù đợi ngày ra tòa về tội phản quốc.
Mục Sư Brigham Young tiếp tục sự nghiệp của Joseph Smith đưa đoàn Mormon về tiểu bang Oregon, theo con đường tìm vàng. Năm 1874 xây nhà thờ ở tiểu bang Utah, ông đặt tên thành phố là Salt Lake City và trở thành thống đốc đầu tiên của Utah (Brigham Young gọi Utah là Deserter, người trong sa mạc). Ông Young cai trị vùng đất rộng lớn bao gồm cả Wyoming, Colorado và Nevada. Ông Young giống như các ông đạo Jones (tự sát tập thể ở Mexico) và David Koresh chủ trương dùng máu để chịu tội dựa theo câu nói của Chúa Jesus: “Người có yêu người đủ để đổ máu vì người ấy?”
Năm 1857, hơn 100 người ở vùng Mountain Meadow bị tàn sát vì đụng độ với tín đồ Mormon. Ông Young nổi tiếng tàn nhẫn, xem Utah là vùng đất riêng của Mormon. Tổng Thống James Buchanan gởi quân đến giải giới, ông Young hăm đốt cháy thành phố Salt Lake nhưng cuối cùng phải nhượng bộ, trả Utah về cho chính quyền liên bang Hoa Kỳ.
Tín đồ Mormon muốn tạo nước trời Do Thái, Zion, trên mặt đất nhưng cuối cùng đồng ý chỉ hành đạo và không thực hành sống đa thê (nhiều vợ vì Thượng Ðế có nhiều vợ). Từ đó, đạo Mormon chủ trương theo Phúc Âm Thịnh Vượng (Gospel of Prosperity), con người khi giàu thì sẽ thành người tốt, giàu là dấu hiệu của Ðức (Virtue).
Chúa dạy “người giàu lên nước thiên đàng khó hơn lạc đà qua lỗ kim” nhưng lỗ kim của đạo Mormon càng ngày càng lớn, tín đồ càng ngày càng giàu, Mormon xây các khu thương mại buôn bán đặt tên là Zion Coop Mercantile exchange Institution (ZCMI) với Salt Lake City là trung tâm thương mại. Từ đó triết lý của đạo Mormon thay đổi, nói đến Mormon là nói đến nhà tỷ phú hàng không Howard Hughes sống trong sạch và trung thành, là nói đến gia đình cô ca sĩ Marie Osmond, nhiều con, lúc nào cũng cười “lộ mười cái răng,” tính tình ôn hòa, không uống rượu, không uống café, không uống trà, không uống nước có chất caffeine, không hút thuốc, chỉ uống root beer (mặc dù lúc sau người ta biết anh em Osmond bị bệnh trầm cảm). Họ sống theo tôn chỉ: “Cố trở thành người hoàn toàn, bạn sẽ hạnh phúc.”
Ðại hội đảng Dân Chủ đã đưa “Thượng Ðế và Jerusalem” về với đảng, ngầm chỉ đạo Mormon của Thống Ðốc Mitt Romney thiếu cả hai. Nhưng đạo Mormon hiện nay không khác gì các đạo Tin Lành với nhà thờ lớn “Mega Church” như Lakewood của Mục Sư Joel Osteen ở Houston, họ đi theo con đường của đạo Tin Lành mà Max Weber và R. H. Tawney đã mô tả trong sách “tôn giáo và con đường đi lên của chủ nghĩa tư bản” vào thế kỷ 16, trong đó chủ nghĩa tư bản là vinh quang của đạo Tin Lành ngoài nhiệm vụ từ thiện và “giàu có đồng nghĩa với hạnh phúc!”
Tàu Nhật và tàu Ðài Loan phun vòi rồng vào nhau
Tranh chấp chủ quyền đảo Senkaku/Ðiếu Ngư
BẮC KINH (AP) – Các tàu tuần Nhật và Ðài Loan hôm Thứ Ba đã phun vòi rồng vào nhau trong cuộc đối đầu mới nhất liên quan đến tranh chấp biển đảo ở vùng biển Hoa Ðông, trong khi đại diện Tokyo gặp phía Bắc Kinh trong nỗ lực giảm thiểu tình trạng căng thẳng hiện nay.
Tàu tuần duyên Nhật xịt nước vào tàu Ðài Loan trong vùng biển tranh chấp. (Hình: Yomiuri Shimbun/AFP/GettyImages)

Khoảng 40 tàu đánh cá cùng 12 tàu tuần duyên Ðài Loan đã kéo đến vùng biển gần quần đảo mà Nhật gọi là Senkaku trong khi Trung Quốc gọi là Ðiếu Ngư sáng ngày Thứ Ba, gây ra cuộc đụng độ bằng đại bác bắn nước với tàu tuần duyên Nhật. Giới chức tuần duyên Nhật nói rằng các tàu Ðài Loan bất chấp lời yêu cầu phải rời khỏi hải phận Nhật và chỉ rút lui sau khi bị phun nước.
Trong khi đó, Thứ Trưởng Ngoại Giao Trung Quốc Zhang Zhijun và Thứ Trưởng Ngoại Giao Nhật Chikao Kawai, cùng các phụ tá hai bên đã có cuộc họp hôm Thứ Ba ở Bộ Ngoại Giao Trung Quốc. Sau bốn giờ thảo luận, phát ngôn viên Hồng Lỗi của Trung Quốc nói rằng hai bên có sự trao đổi quan điểm “thẳng thắn và sâu rộng,” cũng như đồng ý sẽ tiếp tục có thảo luận.
Cuộc tranh chấp hiện nay đã khiến một số người dân Trung Quốc hủy bỏ chương trình du lịch Nhật. Công ty hàng không Nhật JAL cho hay phải cắt bớt sáu chuyến bay mỗi ngày từ Nhật đến Bắc Kinh và Thượng Hải trong thời gian từ 10 Tháng Mười đến 27 Tháng Mười sau khi khoảng 15,000 khách hủy bỏ chuyến bay. (V.Giang)
Trung Quốc ngưng dịch và bán sách báo Nhật
BẮC KINH –Vụ tranh chấp lãnh hải giữa hai nước Trung Quốc và Nhật một lần nữa lại leo thang sang mặt trận mới, theo đó sách vở trở thành một thứ vũ khí. Nhà nước Trung Quốc vừa yêu cầu các tiệm không được bán sách báo của Nhật, đồng thời áp lực các nhà xuất bản ngưng dịch tác phẩm của Nhật sang tiếng Hoa, theo tin của Christian Science Monitor.

Sách Nhật trưng bày tại hội chợ sách lần thứ 32 tổ chức ở Paris hồi Tháng Ba. Trung Quốc vừa ra lệnh cấm bán, dịch sách báo của Nhật, kể cả sách trong nước viết về Nhật. (Hình: Francois Guillot/AFP/Getty Images)
Căng thẳng giữa đôi bên tăng cao hồi tuần qua, sau khi chính phủ Nhật mua đảo Senkaku, tức Ðiếu Ngư theo lối gọi của Trung Quốc. Quyết định của Nhật làm dấy lên những cuộc chống đối tại Trung Quốc, mà đối tượng là kiều dân và kinh doanh của Nhật ở đây, kể cả cơ sở ngoại giao.
Theo báo Japan Times, các nhà xuất bản ở Bắc Kinh được lệnh “ngưng phát hành sách viết bằng tiếng Nhật hoặc có bản quyền của Nhật, trong đó có cả sách viết về nước Nhật mà tác giả là người Hoa.” Tờ báo tiếp, lệnh cấm cũng ảnh hưởng đến các sinh hoạt trao đổi văn hóa, bản quyền và cổ động về sách viết về nước Nhật do người trong nước viết.
Cuốn “1Q84” của Haruki Murakami bán chạy nhất ở Trung Quốc bị lấy khỏi các kệ sách ở Bắc Kinh.
Một nguồn tin tiết lộ với báo Guardian của Anh rằng nhà nước cấm các cơ sở kinh doanh bán như vậy là chuyện thường tình, mỗi khi có căng thẳng chính trị. Tuy nhiên, “chuyện này chỉ có tính cách tạm thời thôi.” (TP)
Nạn cướp giật iPhone, iPad ở New York tăng 40%
NEW YORK –Cảnh sát New York vừa cho hay nạn cướp giật iPhone và iPad cùng các sản phẩm khác của Apple tăng 40% so với năm trước.

Hai phụ nữ khoe điện thoại iPhone 5 trước cửa tiệm Apple ở đại lộ 5th Avenue, tại Manhattan. Cảnh sát New York khuyên người sử dụng nên cẩn thận khi cầm điện thoại. (Hình: Emmanuel Dunand/AFP/Getty Images)
Theo sở cảnh sát, tính đến nay trong năm 2012, đã có trên 11,400 vụ trộm cướp các sản phẩm của Apple, tăng từ con số gần 3,300 của năm ngoái.
Tổng số các vụ phạm pháp nói chung trong năm nay là trên 79,000 vụ, tăng 4% so với năm trước.
Bà Shaun Delacy, sống ở Manhattan, có em gái bị giật mất iPhone ở Bronx, nhưng may mắn không bị thương. Bà nói: “Khi có kẻ cướp mất đồ sở hữu cá nhân, chúng ta cảm thấy như khoảng không gian riêng tư của mình bị tấn công.”
Ðể đối phó với tệ nạn này, cơ quan công lực New York tăng cường cảnh sát chìm trên các tàu điện, đồng thời đặt thêm máy ghi hình theo dõi khắp hệ thống tàu điện ngầm.
Tuần qua, cảnh sát New York cũng khởi động chiến dịch “Operation ID,” giúp cảnh sát dò tìm được các món đồ bị mất để hoàn trả lại cho chủ nhân. Theo chiến dịch này, chủ nhân các sản phẩm của Apple có thể mang đến trạm cảnh sát để đăng ký số “serial number,” kèm theo thông tin cá nhân của người sở hữu.
Vì tính cách giá trị của sản phẩm khiến kẻ gian lấy được có thể bán lại với giá cao, cảnh sát khuyên chủ nhân của những sản phẩm này nên cảnh giác khi cầm trên tay ở nơi công cộng. (TP)












