Thơ Trần Vấn Lệ


Nam Mô A Di Ðà Phật


 


Sáng mùa Thu trời đẹp.


Lá vàng lác đác rơi…


Nhà sư huơ chổi quét.


Thỉnh thoảng dừng tay, cười:


“Trăm năm một kiếp người, một năm một kiếp lá.


Xanh tươi và tàn tạ, bắt đầu – kết thúc, thôi!”


 


Nhà sư nghe ai gọi.


Quay lại, người đàn bà, ôm cái bọc chìa ra: “Này con của ông, đấy!”


“Ồ! Thì ra là vậy!” Ông ôm bọc, vào chùa.


Người đàn bà ngẩn ngơ, quay lưng và đi mất.


 


Nhà Sư trước bệ Phật, mở bọc nhìn hài nhi,


ông hôn, không nói chi.


Ngày ngày chăm sóc nó.


Mỗi sáng ông quét lá.


Chiều chiều ông bế con, đi vòng quanh cái sân.


Bánh luân hồi cứ chuyển.


 


 


Rồi một ngày lại đến, người đàn bà năm nao,


thêm người đàn ông, vào, cúi chào ông lí nhí:


“Thưa Thầy xin đại xá, trả lại con cho tôi.”


 


Nhà sư mỉm nụ cười: “Ồ! Thì ra là vậy!”


 


Ðứa bé thơ năm ấy/nó là con người ta.


Ông gọi thằng bé ra, bảo nó chào Cha Mẹ.


Dĩ nhiên có giọt lệ/từ con mắt ông lăn,


ông nuôi nó bao năm, không luyến lưu không thể!


 


Ông nhìn theo thằng bé.


Nó quay lại nhìn ông.


Lá vàng rơi trắng sân, ông cầm cây chổi quét.


Bánh luân hồi quay miết.


Hết Hạ đang là Thu.


Mai mốt Ðông vi vu /gọi mời mùa Xuân khác…


 


Xếp bằng trước bệ Phật, ông chắp tay nhìn lên.


Trước mặt ông, mông mênh.


Trong lòng ông, bát ngát.


Ngoài vườn, tiếng chim hót/nghe vui như tiếng chuông.


 


Giọt nước mắt ông tuôn lăn tròn như viên ngọc…


Nam Mô A Di Ðà Phật


Nam Mô A Di Ðà Phật…


____________


 


Thêm mùa Thu nữa


 


Nắng hôm nay vàng hơn hôm qua


Ðầy vườn anh vàng hoa cúc hoa


Hoa cúc nở nên là Thu Cúc


Ðào Xuân và Sen Hạ đã xa…


 


Anh nhớ em má hồng môi sen


Anh nhớ em bốn mùa không quên


Ðào Ðà Lạt một thời thắm thiết


Sen Ðơn Dương từng đóa bình minh…


 


Nắng ngày xưa nắng xanh long lanh


Mùa Xuân xưa em là nữ sinh


Tay ôm cặp đứng nhìn hoa nở


Mắt huyền mơ muôn thuở thanh bình…


 


Rồi một hôm nắng vàng hoa núi


Em đâu rồi cho tủi cho thương


Dã quỳ nở dọc theo con suối


Tiếng thác rền nhói tới đại dương…


 


Nắng hôm nay Thu vàng đang tới


Cả vườn anh hoa nở cúc vàng


Anh là núi ngàn năm đứng đợi


Ngó hoa vàng buồn nghe miên man…

Thơ Nguyễn Minh Thanh


Thu buồn


 


Chợt thấy rừng xanh khoác áo vàng


Mới hay trời đã chuyển mùa sang


Mới hay thu tới heo may tới


Gió chở thu bay khắp nẻo đàng


 


Lững thững tầng mây ngự cõi không


Mưa thu se sắt tái tê lòng


Nắng thu chan chứa niềm hiu quạnh


Héo hắt thu buồn vương mắt trong


 


Sương khói hoàng hôn khuất cõi xa


Chân mây đầu núi hướng quê nhà


Nỗi buồn cố thổ bao giờ cạn


Ai ngắm thu vàng ai xót xa…!


 


Vũ trụ vận hành sanh tháng năm


Vầng trăng khi khuyết tiếp trăng rằm


Riêng ta chỉ có mùa thu úa


Chim trắng nàng Xuân mãi bặt tăm!


 


Ai đứng bên này xứ Georgia


Mà hồn phiêu phưởng tận đâu xa


Mong mùa thu dứt mùa thu dứt


Về lại quê xưa sửa lại nhà…


(Nguồn: Tác giả gửi qua sangtao@org)

Muốn có sức mạnh chính trị: Cần phải đi bầu

 


* TS Julie Phạm


 


LTS: Bài này được trích từ tuần báo Người Việt Tây Bắc số 2132, Thứ Sáu ngày 5 tháng 10, năm 2012.


 


Kêu gọi sự tích cực tham gia bầu phiếu của cộng đồng đa sắc dân-thiểu số. Ðể chúng ta có sức mạnh từ kinh nghiệm rút tỉa được của nhóm truyền thông đa sắc tộc.


Trong tháng 5 năm 2012, số trẻ sơ sinh thuộc các sắc dân thiểu số bắt đầu đông tăng vọt vượt qua sắc dân da trắng ngay ở Mỹ. Nhưng ngay cả với một tổng thống người Mỹ gốc Phi và sự tăng trưởng rất lớn của các dân tộc thiểu số. Nhưng vì sao các sắc dân của chúng ta vẫn còn xa để thực hiện được đầy đủ tiềm năng của quyền lực chính trị phải có như những cử tri Mỹ và dòng chính?


Số cử tri đi bầu của chúng ta tương đối thấp vì: 1) những người nhập cư có đủ điều kiện nhập tịch nhưng không trở thành công dân; 2) người dân không đăng ký bỏ phiếu, và 3) cử tri đã đăng ký, nhưng không chịu bầu phiếu!


Theo Trung Tâm Chính Sách Người Di Dân (Immigration Policy Center), hiện có tới 8 triệu người di dân trên toàn quốc hội đủ điều kiện trở thành công dân HK nhưng vẫn chưa xin nhập tịch. Ủy Ban Ðiều Tra Dân Số Mỹ cho thấy làm thế nào sắc dân thiểu số vẫn còn đường mòn đi sau người da trắng không phải gốc Tây Ban Nha trong việc đăng ký cử tri và đi bầu trong kỳ bầu cử mỗi tiểu bang năm 2010.


Trong khi khoảng một phần năm dân số của Washington bao gồm các dân tộc thiểu số, chỉ có khoảng 8% của những người dân tộc thiểu số tham gia bầu cử mà thôi. Nhiều tổ chức cộng đồng địa phương được tiến hành các cuộc vận động để ghi danh có thêm cử tri ghi danh nhằm đảo ngược sự thất lợi này hiện nay. Hãy hỗ trợ những nỗ lực hiện nay của các nhóm, tổ chức.


Ngoài vận động đăng ký cử tri và có nhiều cử tri đi bầu hơn, chúng ta cần phải điều chỉnh lại nhận thức phổ biến rằng các dân tộc thiểu số bỏ phiếu trong các khối (ví dụ, “phiếu người gốc La tinh,” “phiếu người Châu Á,” “phiếu người gốc Phi Châu” là “khối chiến thắng” và “sở hữu của một phía” của một bên hoặc một ứng cử viên. Trong ngắn hạn, lá phiếu của khối cử tri có thể được dùng hỗ trợ cho các trợ cấp tài chánh, lợi nhuận do quảng cáo nữa!)


Cả hai bên và tất cả các ứng cử viên cần phải nhìn thấy rằng lá phiếu của các sắc dân của chúng ta là một cái gì đó vẫn còn giá trị thu nhập. Chúng ta cho dù có ủng hộ tài chánh cho ứng cử viên trước mỗi mùa bầu cử, nhưng hơn cả chúng ta vẫn phải chứng minh mình có lá phiếu bầu cử.


Thay vì củng cố nhận thức của các dân tộc thiểu số hoạt động trong khối bỏ phiếu khối, tăng số lượng cử tri thiểu số tổng thể sẽ làm tăng quyền lực chính trị của chúng ta.


Năm 2010, cùng với các đồng nghiệp trong các cơ quan truyền thông địa phương chúng tôi thành lập một hiệp hội có tên gọi là Sea Beez (NAM), cùng kết hợp khoảng 25 cơ quan truyền thông cùng với nhau phục vụ cộng đồng sắc dân khác nhau. Chúng ta đã có thể đến với nhau, cùng quan tâm đến vấn đề bầu cử trong khi vẫn duy trì quan điểm và ý kiến đa dạng của từng nhóm sắc dân.


Các thành viên của tổ chức Sea Beez quan niệm tài chánh độc lập và quan điểm chính trị riêng. Sea Beez, không ủng hộ riêng một phía ứng cử viên cũng như các dự luật bầu cử.


Chúng tôi tổ chức hàng năm các buổi gặp gỡ tranh luận cùng với các tổ chức truyền thông hàng năm Meet & Greet để thúc đẩy các cơ hội cho các ứng cử viên tham gia với các phương tiện truyền thông địa phương dân tộc và các thành viên cộng đồng. Ðiều này mang lại cho các chiến dịch tiếp cận với cộng đồng thiểu số, nhưng cách duy nhất để vận động tận dụng điều này bằng cách nhìn thấy sắc thái riêng và cũng không mang tính đồng nhất của tổ chức.


Mùa bầu cử năm nay, các sắc dân thiểu số có cơ hội để chứng tỏ sức mạnh chính trị của cộng đồng sắc dân của mình.


Lá phiếu mới của khối cử tri thiểu số thậm chí có thể “quyết định” cho nhân vật thuộc đảng Cộng Hòa sẽ bước vào dinh thống đốc lần đầu tiên kể từ năm 1980. Nếu ta tích cực hơn!


Mặc dù các văn phòng chiến dịch vận động tranh cử của cả hai đảng vẫn gia tăng thu hút lá phiếu, nỗ lực dành cho việc tham gia của các cộng đồng dân tộc, cả hai đều được trích dẫn danh sách dài các tham gia của cộng đồng, văn kiện chiến dịch đa ngôn ngữ, và toàn thời gian tiếp cận cộng đồng dành riêng gặp gỡ tiếp xúc các chuyên gia của cộng đồng này.


Tính đa dạng của Washington là tỷ lệ ngày càng tăng của những người nói một ngôn ngữ khác ngoài tiếng Anh tại nhà (18.6%) và những người nói tiếng Anh “nói được chút ít” (8%). Ðiều này đặt ra những thách thức để huy động tham gia bầu phiếu từ nhóm cử tri có trình độ tiếng Anh hạn chế.


Tài liệu hướng dẫn cách bầu phiếu hiện chỉ ấn hành thêm 4 ngoại ngữ (không kể Anh ngữ) trong 39 quận hạt của TB Washington.


Phương tiện truyền thông bằng ngôn ngữ sắc dân thiểu số phục vụ quan trọng như một “kênh truyền thông” chủ chốt của những người nói tiếng Anh như một ngôn ngữ thứ nhì.


Truyền thông sắc tộc là một công cụ cần được sử dụng đúng mức để kêu gọi sự tham gia của các dân tộc thiểu số trong mùa bầu cử.


Theo Ủy ban Public Disclosure Commission (Ủy Ban Công Báo Công Khai) và một cuộc khảo sát của các phương tiện truyền thông địa phương dân tộc thiểu số, thời gian mùa bầu cử trước đây cộng đồng này nhận dưới $30,000 trong toàn bộ các sắc sắc dân thiểu số trong chiến dịch quảng cáo trong năm 2011.


Trong số 22 ủy ban tranh cử liên hệ với các cơ quan truyền thông thiểu số chỉ có 4 ủy ban tiêu xài trên $1,000 cho chiến dịch có quảng cáo với báo chí thiểu số vào năm 2011.


Ðó là: Quality Efficient & Accountable Home Care ($7826), One America Votes ($6895), Bruce Harrell ($5273) và Thomas Rasmussen ($1,023). Hãy so sánh khoảng chi tiêu nhỏ nhoi trên với: Ngân sách dành riêng để in, phát thanh và truyền hình quảng cáo cho các phương tiện truyền thông trong năm 2011 đạt tổng cộng hơn $12,400,000 (trên 12 triệu đôla).


Các ủy ban tranh cử hiện nay họ chỉ muốn đổ tiền quảng cáo vào những khối đa số vốn có tiếng là mạnh, thay vì chuyển hướng vào những cộng đồng còn yếu khi cần so chiếu.


Với thống kê hiện nay thì người đi bầu từ cộng đồng thiểu số còn tương đối thấp trong số các nhóm sắc dân bầu phiếu. Ðây chính là sự khó khăn cho các cơ quan truyền thông các sắc sắc dân thiểu số. Làm sao chúng ta có thể thuyết phục các ủy ban vận động tranh cử, nhắc nhở các chính trị gia đầu tư phải đến tiếp cận với cộng đồng chúng ta.


Sức mạnh khối cử của các cộng đồng dân tộc thiểu số đang phát triển mạnh. Tăng dân số vẫn không chứng minh được sự thực là chúng ta có dân số cao để các ủy ban tranh cử phải nghĩ đến ngân khoản tranh cử đổ vào, hoặc dành cho chúng ta một vị thế chính trị sức mạnh quyền lực chính trị.


Hãy nhớ: Chỉ có lá phiếu của chúng ta mới làm nên sức mạnh!*


(New America Media)

Người lính Quân Lực VNCH

 


Hung Tran


 


Trên quê hương tự do miền Nam Việt Nam, trong hơn 20 năm chiến tranh, có những người nhận lãnh phần thức cho người khác ngủ, chết cho người khác sống. Ðó là những người lính Việt Nam Cộng Hòa.


Họ là ai?


Họ là những chàng trai mắt sáng, môi tươi, tâm hồn trẻ trung phơi phới tinh tươm, là học sinh, sinh viên, là con em những gia đình lao động ở thành thị hay nông dân chơn chất ở nông thôn. Họ là những thanh niên tuổi đôi mươi căng tràn nhựa sống, ăm ắp mộng mơ, là những con người rất bình thường cũng đầy những thương ghét vui buồn… Sinh ra và lớn lên trong buổi loạn ly, dù không ham chém giết, dù ham sống, sợ chết, nhưng họ bình thản chấp nhận bổn phận được chính quyền, đại diện cho người dân giao phó trở thành những người lính


Những người trẻ, 19, 20, hay “21 tuổi vào quân đội mà lòng chưa hề yêu ai” ấy đã lấy đất làm giường, rừng lá làm màn, bỏ lại sau lưng ánh đèn màu của đô thị phồn hoa, mải miết đêm rồi lại ngày, chỉ rừng và núi, chỉ biết yêu những cánh rừng lá thấp vì đấy là màn che cho họ và đồng đội khỏi mắt quân thù, dù không quên những ngày hoa mộng nhưng chẳng cần những tiếng nỉ non đóng kịch rên rỉ câu yêu đương giả tạo.


 


Rừng lá xanh xanh cây phủ đường đi


Thành phố sau lưng ôm mộng ước gì


Tôi là người đi chinh chiến dài lâu


Nên mộng ước đầu nghe như đã chìm sau.


Từ máy thâu thanh cô nàng vừa ca


Trọn kiếp yêu anh lính khổ xa nhà


Giữa rừng già vang tiếng hát thật cao


Nhưng giữa già tôi có thấy gì đâu?


Sao không hát cho người giết giặc trên cầu


Khi bùn lầy còn pha sắc áo xanh


Trong khói súng xây thành


Mắt quầng thâm mất ngủ


Tàn đêm chiến cuộc, giờ chỉ còn hai tiếng yêu anh


Sao không hát cho những người còn mải mê


Lá rừng che kín đường về phồn hoa


Không hát cho những bà mẹ hằng đêm nhớ con xa


Hay hát cho những người vừa nằm xuống chiều qua


Rừng lá xanh xanh núi đồi chạy quanh.


Ðời lính quen yêu gian khổ quân hành


Nghe từ ngày thơ khói súng triền miên


Ðánh giặc lâu bền cho non nước bình yên


Lời hát xin gây rung động thật lâu


Ðừng hát như chim giữa rừng lá sầu


Xin thật lòng qua câu hát đầu môi


Như lính giữa rừng yêu lá thấp mà thôi


(Nhạc: Rừng Lá Thấp – Trần Thiện Thanh)


 


Ðất anh ở và rừng anh thở


Sớm anh đi chiều lại trở về


Rừng vi vút những đêm gió thổi


Bóng anh chìm với bóng hư vô


Ðôi khi đứng bên triền đá dựng


Anh hoang mang sợ núi đẻ mình


Có khi thấy con chồn con cáo


Anh giật mình lòng thoáng hãi kinh


Anh đi qua rừng cao quá đỗi


Anh đi về rừng quá đỗi cao


Anh thấy rồi, anh: con sâu gạo


Nằm rung rinh trong đám lá rì rào


Và buồn thảm ôi những chiều lặng lẽ


Núi và anh thành hai kẻ đăm chiêu


Núi ngó anh và anh ngó núi


Núi đụng trời anh đụng nỗi đìu hiu


Ðất anh ở và rừng anh thở


Quá lâu ngày nên thấy hoang mang


Anh sống dở và anh chết dở


Giữa núi rừng cao ngất ngàn năm


(Thơ: Ở trong rừng lâu ngày – Phạm Cao Hoàng)


 


Những người lính Việt Nam Cộng Hòa ấy, trong hai mươi năm dài, hàng hàng lớp lớp, tai nghe tiếng đạn réo, bom rơi mà lòng vẫn mềm như gió, sinh mạng treo đầu súng nhưng tim chẳng hận thù, ngày lội ruộng, đêm băng rừng nhưng mỗi lúc dừng chân lại tha thiết nhớ về mẹ, về em, về quê hương xóm làng, về những ngày thơ ấu


Phải là người đã cùng chia với họ túi cơm sấy nguội lạnh, hớp nước hố bom, đi cùng họ hàng mười ngày không thấy ánh mặt trời, và khi dừng chân bên trảng trống ở bìa rừng, mới vừa tạm ngả lưng vào gốc cây chưa kịp lại sức, đã nghe lệnh tiếp tục lên đường thì mới cảm được trọn vẹn tấm lòng rất đỗi thô sơ nhưng vô cùng tha thiết của người lính trẻ ngâm nga câu hát bên rừng


 


Lội bùn dơ băng lau lách xuyên đêm


Sương trắng rơi vai tôi buốt lạnh mềm


Chim muông buồn rủ nhau bay về đâu


Ngẩn ngơ lũ vượn gọi nhau


Nào những khi ôm thép súng tê tay


Ðắm mắt theo bao hư ảo thở dài


Nơi chốn xa cuộc đời mẹ quẳng gánh


Em còn khều sáng ánh đèn từ sương mai


Mẹ biết bây giờ con ngồi hố nhỏ


Gió hẹn mưa thề một khi con về quê ngoại xưa


Ðể mẹ nhắn lời thăm


Trường làng cũ năm nào khi con còn bé nhỏ


Theo mẹ đến trường giờ đây con đường xưa còn đó


Tóc liều vờn gió ru hoài…


Bận hành quân nên chắc khó thăm nhau


Nhưng có nhau như hơi thở vào đời


Tóc em còn có thơm hương cỏ may


Ðể anh nói chuyện ngày mai


Bạn bè anh theo lớp tuổi ra đi


Dăm đứa thân đôi khi chẳng trở về


Xin có em nguyện cầu cho đời anh


Ðá mềm chân cứng để mẹ còn tương lai…


(Nhạc: Sương Trắng Miền Quê Ngoại – Ðinh Miên Vũ)


 


“Lội bùn dơ băng lau lách xuyên đêm…”


bài nhạc đầy cải lương nói về người lính


Nam Bắc phân tranh, chiến hào Nguyễn Trịnh


điệu Habanera nón sắt úp trên đầu


“Sương trắng rơi vai tôi ướt…” rồi sao?


Vai ai ướt, Bắc kỳ hay Nam bộ?


đời lính thú lưu đồn quên cố thổ


“LÍNH” viết hoa, bao ngôn ngữ đều thừa


gặp lại bạn bè cũ vẫn như xưa


thằng nào cũng hát những bài ca tang chế


điệu Boléro như một lời trách khẽ


tiếng đàn đêm bỗng hóa tiếng than dài


phải rồi tiếng đàn quen thuộc ở Chu Lai


nắp hầm đầy rêu ta ngồi bưng mặt khóc


tay gõ nhịp kiểu sênh tiền lóc cóc


nhạc ngựa reo thấp thỏm giọng nam trầm


phải rồi tiếng đàn quen thuộc ở Chu Prong


dân “sinh Bắc tử Nam” không cần Trương Lương thổi sáo


thằng “ca sĩ lính Cộng Hòa” cụt đầu cây guitar chảy máu


khán giả hét “xung phong” qua tiếng hát ngậm ngùi


phải rồi tiếng đàn quanh quất đây thôi


thằng Nhái Hải Quân, thằng Nhảy Dù, thằng Lôi Hổ


cũng tiếng đàn ấy xưa mà chẳng cũ


dù đứt một giây, gân cổ vẫn nghẹn ngào


mười năm mới gặp nhau mỗi đứa một cơn đau


cởi áo binh chủng sao hồn còn vằn vện


nói gì đây khi rửa tay gác kiếm


chỉ biết lặng im chờ thái độ tiếng đàn


tiếng đàn của binh nhì không giống sĩ quan


lại habanera, lại bolero, lại những bài hát ấy


không phải tango, không phải valse quý phái


mà rất rưng rưng con mắt kẻ giang hồ


“giải phóng” về ta bỏ súng làm thơ


bạn bè tàn phế phải ăn mày hát dạo


tiếng đàn từ đó trở thành ra giọt máu


máu đã ứa ra không thể ứa hai lần


không thể một gã lính dù đã từng cõng bạn tải thương


lại đóng ngược vào đời mình đinh nhọn


cảm ơn lời ca và tiếng đàn chưa muộn


đã đánh thức ta sau mười tuổi công hầu


(Thơ: Ðêm lính ngụy – Bùi Chí Vinh)


 


Người lính ấy suốt hai mươi năm, vai mang balô, tay ghì chặt súng lội qua những cánh đồng sinh lây ở Ðồng Tháp Năm Căn, nơi đỉa lội như bánh canh, muỗi kêu như sáo thổi, đi qua những địa danh xa lạ: Ashau, A lưới, Ia Drang, Toumorong, Pleime,… Chu Pao ai oán hờn trong gió, mỗi tấc khăn tang một khúc đường.


Anh miệt mài những ngày truy lùng địch nơi Cổ Thành Quảng Trị, bên dòng sông Dakbla cuồn cuộn nước phù sa đỏ ngầu như máu, đã có những người bạn anh nằm yên trong rừng cao su Ðồng Xoài, trên bãi cát Sa Huỳnh hay trên cánh đồng miền Tây xanh ngát luống mạ non.


 


trời bỗng sầm đen tóe sấm sét


mặt đất ào ào trận pháo tuôn


trong thành phố tử thần co quắp


viên đạn cuối cùng đã bắn đi


người chết giữa trời – trên đồi cháy


hồn anh thảng thốt bay lên không


suốt dọc Trường Sơn đất run rẩy


mặt trời chưa thấy đêm dài ôi


từng khối lớn mênh mông đặc cứng


qua khe nhìn lại đồi C2


nhớ anh em ta đã nằm xuống


(Thơ: Ngày mưa đọc lại Dấu Binh Lửa – Ðỗ Quý Toàn)


 


Thế nhưng người lính ấy, đi chiến đấu với tâm niệm “súng đạn dẫu vô tình nhưng lòng người thì độ lượng,” biết quý vô cùng sự sống nhưng cũng không ngại thản nhiên dấn thân vào nơi binh lửa


 


nửa đêm kẻng giục, quân ra trận


kinh động cả lòng đêm tối bưng


nhận lấy ba ngày cơm gạo sấy


không buồn chỉ một chút bâng khuâng


đời ta là con số không vô tận


may trên đầu còn chiếc mũ rừng


mũ nhẹ nên coi đời cũng nhẹ


chiến tranh. Thì cũng tựa phù vân


(Thơ: Trước Giờ Tiếp Viện – Trần Hoài Thư)


 


Trong nỗi chịu đựng hy sinh, âm thầm nhưng kỳ vĩ, người lính vẫn sống và luôn gắng vượt qua chính mình và số phận, để ước mơ một giấc mơ hiền hòa về một ngày mai.


 


Rồi có một ngày, sẽ một ngày chinh chiến tàn


Anh chẳng còn chi, chẳng còn chi


Ngoài con tim héo em ơi


Xin trả lại đây, bỏ lại đây


Thép gai giăng với lũy hào sâu


Lỗ châu mai với những địa lôi


Ðã bao phen máu anh tuôn, cho còn lại đến mãi bây giờ


Trả súng đạn này, ôi sạch nợ sông núi rồi


Anh trở về quê, trở về quê tìm tuổi thơ mất năm nao


Vui cùng ruộng nương, cùng đàn trâu


Với cây đa khóm trúc hàng cau


Với con đê có chiếc cầu tre


Ðã bao năm vắng chân anh


Nên trở thành hoang phế rong rêu


Rồi anh sẽ dựng căn nhà xưa


Rồi anh sẽ đón cha mẹ về


Rồi anh sẽ sang thăm nhà em


Với miếng cau, với miếng trầu, ta làm lại từ đầu


Rồi anh sẽ dìu em tìm thăm


Mộ bia kín trong nghĩa địa buồn


Bạn anh đó đang say ngủ yên


Xin cám ơn! Xin cám ơn! Người nằm xuống


Ðể có một ngày, có một ngày cho chúng mình


Ta lại gặp ta, còn vòng tay mở rộng thương mến bao la


Chuông chùa làng xa, chiều lại vang


Bếp ai lên khói ấm tình thương


Bát cơm rau thắm mối tình quê


Có con trâu, có nương dâu


Thiên đường này mơ ước bao lâu!


(Nhạc: Một mai giã từ vũ khí – Ngân Khánh)


 


Người lính không mơ ước lớn lao, chỉ mơ có ngày trả súng đạn, cởi chiến y về với em với mẹ, mơ có ngày sống sót để được đi tạ ơn những đồng đội đã nằm xuống cho anh và cho bao người được “làm lại từ đầu.”


Nhưng hôm nay, đã hơn 30 năm, có thật chiến tranh đã kết thúc? người lính đã giã từ khẩu súng hôm qua, có thật được an phận sống đời một kẻ thường dân, được gặp lại con trâu bên nương dâu và có tìm được chốn thiên đường giản dị mà anh, cũng như bao lớp người đã bao lâu mơ ước?


Hai mươi năm chiến tranh, hơn năm trăm ngàn người lính đã để lại một phần thân thể trên chiến trường, và một số tương đương đã vĩnh viễn gục bên súng mũ bỏ quên đời, có ai trong chúng ta nhớ đến họ?


Từ trong tăm tối hận thù, người lính đã thắp sáng ý nghĩa đời người, đã từ cõi chết bước vào sự sống bất tử.


Xin cám ơn và chân thành nguyện cầu cho anh.


Hung Tran


Executive Producer


Vietnamese Language Group


SBS Radio


PO Box 294


South Melbourne


Victoria 3205 – Australia

Mười năm Thủ Ðức gọi ta về

 


Chính Biên


 


Mười năm Thủ Ðức gọi ta về là nhóm anh em cựu SVSQ Thủ Ðức thuộc nhiều khóa khác nhau của quân trường Thủ Ðức, nay tị nạn ở Hoa Kỳ trong quận O.C., Nam California và Phụ Cận đã quần tụ lại với nhau tính ra đã được 10 năm. Mười năm ấy biết bao nhiêu tình luyến lưu sau mỗi lần họp mặt.


Nhìn lại nhau trong bộ nhung phục ngày nào, lòng những rộn lên như ngày nào chờ giờ lãnh phép cuối tuần. Con đường Bonard cứ vởn vơ trước mắt để hình dung ra dáng người em gái hậu phương cùng người anh trở về từ quân trường dắt tay nhau dạo phố. Ôi, những chiều cuối tuần lề đường Lê Lợi Bonard sao mà dập dìu tài tử giai nhân đến thế. Và những chàng trai từ quân trường về chỉ có một ngày phép đã hoan hỉ trong bộ nhung phục số 2 “đi phép” với một người đẹp óng ả sóng bên. Không biết ai trong hai người thoáng lên niềm kiêu hãnh vì bộ nhung phục này. Ðất nước trong cơn nguy vì nạn xâm lăng của cộng sản thì “có ta (hay người thương của ta) đã đáp lời sông núi.”


Chỉ một kỷ niệm xưa ấy cũng đủ cho những người trai nơi quân trường ngày nào được hồn nhiên vui sướng trở lại cho dù nay đầu đã hai thứ tóc, sau đủ những gian truân chiến trường khi đáo nhậm đơn vị, đủ những đắng cay đời quân ngũ “thi hành trước, khiếu nại sau,” đủ những nhục nhằn khi phải buông súng đi vào những trại “học tập cải tạo.”


Họ đã hồn nhiên vui sống gặp lại mày tao chi tớ cùng với những nắm tay nhau siết chặt, những vòng tay thân khít nói lên cả một trời “tơ vương đến thác.”


Ðó là không khí, là cảm nhận của hơn 500 anh em cựu SVSQ các khóa của quân trường Thủ Ðức vừa tụ họp lại với nhau tại nhà hàng Hoàng Sa Paracel Seafood ở thành phố Westminster Nam California vào chiều tối hôm Chủ Nhật, 21 Tháng Mười. Giờ hẹn là 5 giờ nhưng mới 4.30 trước cửa nhà hàng đã có hàng chục anh em, người quân phục cũ, người vận ci vin nhưng cũng ráng có chiếc mũ nồi đen với hai giải vàng đỏ, dấu hiệu của người lính khi chưa ra trường. Xúc động hơn nữa là có hai chiếc Jeep A2 với đủ cần câu lệ bộ nơi chiến trường đậu chình ình trước cửa nhà hàng. Thôi thì bà con cô bác (những em gái hậu phương xưa ấy mà) cứ thay nhau leo trèo lên để có bằng được tấm hình kỷ niệm. Có cô em gái hậu phương nào nhớ được kỷ niệm có lần ngồi trên xe Jeep dạo phố cùng người yêu đã bị Quân Cảnh hỏi thăm đến nơi đến chốn người yêu của mình không nhỉ. Nhưng nhằm nhò gì mấy ngày trọng cấm để đổi lại được một chiều vi vút cùng em.


Kỷ niệm cứ thế tràn ra. Người ta nói đến chuyện kẻ mất người còn. Thằng A. lên lon sớm quá mà thằng B. thì lại leo lên bàn thờ. Còn thằng C. thì lại trở về “cho dang dở đời em” (lời nhạc Phạm Duy). Chuyện anh hùng nơi chiến trường thì cũng là sự thường tình. Chuyện anh hùng ngay cả trong vòng tay kìm kẹp lao cải của cộng sản nữa chứ. Thằng K. dám phanh ngực áo ra thách thức tên vệ binh cấm anh em không được xuống suối tắm (ở trại Thanh Lâm Thanh Hóa) khi lao động về vì “tội chây nười nao động.” Thế mà tên vệ binh phải thua, lên đạn soạch rồi mà phải quay súng bắn chỉ thiên. Bây giờ thằng K. sống hiền lắm, không “nổ” một tiếng nào trong sinh hoạt với anh em và cũng chẳng thấy ló mặt ra cộng đồng đấu tranh tranh đấu. Hỏi nó bảo, còn đứa con út chưa ra trường nên nợ áo cơm chưa dứt được. Hỏi nữa nó bảo mười năm đáp lời sông núi rồi để sau đó lãnh cái án 11 năm vì tội “làm đại úy” thấy cũng đủ trả nợ đời rồi, bây giờ thì trả nợ cho con vợ nó thủy chung nuôi giữ con cho mình suốt 10 năm mình đi lao cải.


Kỷ niệm thì có vui có buồn, nhưng với người lính VNCH, nhất là với những cựu SVSQ Thủ Ðức thì vui buồn nó cũng như nhau vì đã qua rồi, giờ thì chỉ còn lại những “thằng lính cũ” sống với nhau, biết với nhau trước những thờ ơ của thế hệ trẻ mà cả Hội Trưởng Nguyễn Văn Chuyên cũng như Tổng Thư Ký Trung Thu cho biết: “Trước đây thì hội cũng tổ chức lớp Hậu Duệ Thủ Ðức nhưng nay chúng lớn cả, ra trường đi làm mỗi đứa mỗi nơi, lại quen tiếng Anh nhiều hơn tiếng Việt nên tổ chức Hậu Duệ Thủ Ðức O.C. & Phụ Cận cũng không còn nữa.”

Khủng hoảng vì cơ cấu

 


Ngô Nhân Dụng


 


Mọi thể chế chính trị phải có phương cách giải quyết những tranh chấp quyền lực, giữa các cá nhân hoặc các phe phái. Mỗi chế độ có giải pháp riêng. Các ông Stalin và Mao Trạch Ðông đã dùng những phương pháp chấm dứt các mâu thuẫn rất giản dị.


 Những đồng chí có thể tranh giành ảnh hưởng với Stalin thường bị đưa ra tòa, kết tội phản động, rồi bắn chết. Khi Stalin chết, những người chung quanh cũng đem bắn ngay trùm mật vụ Beria của ông ta, theo cùng giải pháp đó.


Mao Trạch Ðông áp dụng cách đó, nhưng “theo đường hướng Trung Hoa.” Ông ta không xử bắn các đồng chí mà lại đem họ ra giữa chợ, cho “quần chúng” đấu tranh, hành hạ, sỉ nhục; rồi cho kéo dài kiếp sống mòn mỏi, tuyệt vọng, cho đến khi kiệt sức.


Những phương cách giải quyết mâu thuẫn nội bộ như trên rất phù hợp với chủ nghĩa Mác-Lê Nin. Vì chuyên chính vô sản dựa trên bạo lực. Khi bỏ mất nền tảng đó, nó sẽ tự tan rã giống như ngôi nhà bị sụt móng. Chế độ cộng sản bắt đầu rạn nứt khi các đồng chí tranh chấp quyền hành mà không còn bắn giết nhau nữa; chế độ dần dần tan vỡ khi các đồng chí chỉ tìm cách mua chuộc, hối lộ lẫn nhau (trả giá bằng các địa vị sinh lợi chắc chắn, hoặc đưa thẳng tiền mặt, đô la Mỹ). Ðổi mới kinh tế tạo cơ hội cho các “luật chơi mới” xuất hiện. Những người biết sử dụng các luật chơi mới sớm nhất sẽ tạo được thế lực mạnh hơn người khác. Nhưng vì thế các tranh chấp mới xuất hiện và cần giải quyết.


Nhưng các phe phái lại muốn sử dụng các luật chơi khác nhau để giải quyết những mâu thuẫn. Trong bất cứ hệ thống chính trị nào, câu hỏi quan trọng nhất là tại sao người này phải làm theo ý kiến, mệnh lệnh của người khác. Tại sao anh được quyền sai bảo mà tôi phải làm theo? Luật chơi cũ dựa trên chức vụ; thí dụ, chức tổng bí thư thì cao hơn chức thủ tướng. Luật chơi mới dựa trên khả năng phân phối, chia chác tài nguyên, lợi lộc. Tất nhiên, những người sử dụng luật chơi mới, phù hợp với thực tế kinh tế mới hơn, sẽ chiếm lợi thế. Tình trạng thay thế “bạo lực cách mạng” bằng “tài lợi kinh tế” làm cho hệ thống tự nó mất thăng bằng. Ðang giữa trận đấu, “luật lệ cuộc chơi” bỗng dưng thay đổi; người ta không còn biết áp dụng như phương pháp nào để giải quyết các tranh chấp nữa.


Ðiểm nổi bật là tất cả mọi người đều nhận ra “thực tế với lý thuyết” không đi đôi với nhau nữa. Mà họ cũng không thể đồng ý với nhau làm cách nào để sửa lại cho chúng phù hợp. Hậu quả là họ sẽ phải tiếp tục hô hoán những khẩu hiệu cũ (lý thuyết) mặc dù rỗng tuếch; trong khi đành chấp nhận phó mặc cho thực tế đưa đẩy, trôi nổi theo sức mạnh tương đối giữa các phe phái.


Thử tưởng tượng trong một trận đá banh bỗng dưng một tay cầu thủ dùng tay và cùi chỏ, thay vì chỉ dùng chân. Mà mấy anh cầu thủ đó còn tự ý thổi còi nữa. Một người dùng tay; rồi người thứ hai đá cẳng nhau thay vì đá banh; mà đó lại là những cầu thủ bự con, cao cấp; tất cả đua nhau đổi luật chơi, vừa đá banh lại vừa đóng vai trọng tài. Như vậy thì kết quả sau cùng sẽ ra sao? Khán giả sẽ bỏ về hết, trận đấu sẽ phải kết thúc không kèn không trống; giống như ở Liên Xô và các nước Ðông Âu những năm 1989, 90 vậy.


Hoàn cảnh bế tắc của cuộc họp gọi là “Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp Hành Trung Ương Ðảng khóa XI” của đảng Cộng Sản Việt Nam diễn ra theo kịch bản như trên. Ðọc bản tin cuối chúng ta thấy họ bị tắc nghẽn suốt 15 ngày vì không có kết quả cụ thể nào cả. Những lời lẽ mơ hồ, dù làm bộ nói đến cả những chi tiết lẩm cẩm vô ích nhưng trong thực tế lại vu vơ, không gây được hiệu quả nào hết. Qua đó, chúng ta biết chính những người trong Bộ Chính Trị cũng không biết họ phải theo luật chơi nào. Sở dĩ họ họp nhau lại, trước hết là vì có người muốn hạch tội Nguyễn Tấn Dũng. Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng thổi còi bắt đầu trận đấu, với Trương Tấn Sang đóng vai giám biên và đá cẳng. Nhưng cuối cùng Nguyễn Tấn Dũng vẫn được an toàn “ra về thơ thới hân hoan.”


Lý do khiến Ba Dũng an toàn là vì đã tự bày trận đấu trên một sân banh khác, và theo những luật chơi khác. Mấy trăm ông bà ủy viên Trung Ương Ðảng, người theo Trọng Lú, người theo Ba Dũng; cũng theo các luật chơi khác nhau. Cuối cùng, trận đấu giải tán; không có kết quả nào cả vì không thể tính điểm ai thắng, ai thua. Ðể khỏi mất mặt cả bầu đoàn, họ đành phải đưa ra những khẩu hiệu trống rỗng cùng với những biện pháp nửa mùa, không thể gây ra hiệu lực cụ thể nào cả. Họ lúng túng, bế tắc vì không theo một luật chơi chung. Mà họ cũng không thể quay lại, sử dụng các luật chơi kiểu Stalin hay Mao.


Ðể thấy tình trạng bối rối và bế tắc của chế độ chính trị tại nước ta, hãy thử tìm hiểu xem trong các chế độ chính trị khác, khi người ta cần giải quyết các tranh chấp quyền lực tương tự giữa các “phe phái” thì họ theo các luật chơi như thế nào.


Trong một chế độ đại nghị, ông thủ tướng thường là lãnh tụ phe chiếm đa số ở Quốc Hội, thì các đối thủ của ông ta có thể yêu cầu Quốc Hội bỏ phiếu bất tín nhiệm. Nếu nhiều người đồng ý là ông thủ tướng đã làm kinh tế suy yếu hoặc nuôi đàn em tham nhũng quá đáng, thì họ sẽ bỏ phiếu lật đổ. Nếu không, ông ta tiếp tục cai trị, trong vinh dự.


Ở một nước theo tổng thống chế, thì Quốc Hội không thể lật đổ một tổng thống do dân trực tiếp bầu lên; nhưng họ vẫn có khả năng kìm hãm bớt quyền hành của ông ta qua việc biểu quyết ngân sách. Với quyền nắm túi tiền của quốc gia, Quốc Hội có thể buộc hành pháp phải thỏa hiệp với mình tức là chia sẻ bớt quyền hành.


Trong một chế độ cộng sản thì sao? Trên nguyên tắc, đảng nắm toàn quyền. Tổng bí thư, Bộ Chính Trị rồi đến Trung Ương Ðảng quyết định tất cả. Trong cuộc họp 15 ngày đầu tháng 10, Nguyễn Phú Trọng đã trù tính dùng uy tín Trung Ương Ðảng để hạ thủ Nguyễn Tấn Dũng. Thật ra trận đấu đã khởi sự từ mấy tháng trước; ngay sau khi Trọng lên nắm chức tổng bí thư đã tính dùng “luật chơi cũ” để gia tăng quyền hành. Nhưng sân chơi đã thay đổi; uy quyền của tổng bí thư đã giảm sút rõ rệt nhờ Nông Ðức Mạnh ù ù cạc cạc. Có thể coi như chức tổng bí thư đã mất gần hết quyền lực; khi đem so với quyền hành thực tế của chức vụ thủ tướng. Quyền lực được thể hiện trong khả năng chia chác địa vị sinh lợi chứ không phải là các chức vị suông; ngoài ra là khả năng bắt người, giam người. Ba Dũng đã nắm trong tay hầu hết hai thứ quyền đó; nay Trọng Lú cố giành lấy nhưng vô hiệu.


Ngay từ đầu, cuộc đấu giữa Trọng và Dũng cho thấy họ theo các luật chơi khác nhau, người này không chịu luật chơi của kẻ kia. Nguyễn Phú Trọng đã ra tay trước khi công bố quyết định đem Ủy Ban Chống Tham Nhũng vào dưới quyền Bộ Chính Trị; để tổng bí thư đương nhiên nắm chức chủ tịch. Ai cũng tưởng Trọng đã thắng Dũng một keo; vì từ đầu Dũng đã lập ra Ủy Ban Chống Tham Nhũng để chính mình nắm đầu. Khi Trọng ra tay giành lấy quyền chống tham nhũng; nhiều nhà quan sát coi là cuộc mâu thuẫn giữa “Ðảng” và “Nhà nước” đã biểu hiện; và vội vã kết luận rằng trong keo này Ðảng đã thắng, tức là Trọng thắng.


Nhận xét đó càng có vẻ vững hơn khi Bầu Kiên bị bắt. Vụ bắt Bầu Kiên được thực hiện trong vòng bí mật, kín bưng, giống như cuộc hành quân của toán biệt kích tấn công vào sào huyệt Bin Laden! Một đội công an đặc biệt, do một thứ trưởng Bộ Công An cầm đầu thi hành cuộc đột kích. Mãi đến khi đi bắt Bầu Kiên họ mới thông báo cấp trên là bộ trưởng Công An biết. Như vậy là chức vụ tổng bí thư có quyền sử dụng một nhánh công an riêng, và thủ tướng chính phủ và Bộ Công An phải chấp nhận. Ai cũng nghĩ là Ba Dũng bị thua một keo nặng nề.


Nhưng ngay sau đó Nguyễn Tấn Dũng lại họp báo, trưng bày đủ mặt các bộ trưởng ngồi bên, Dũng tuyên bố một cách long trọng là, trái với tin đồn, chính mình đã ra lệnh đi bắt Bầu Kiên. Không những thế, Ba Dũng lại nhân dịp đó lại tự xác nhận mình vẫn là chủ tịch cái Ủy Ban Chống Tham Nhũng; một chức vụ ai cũng tưởng đã bị Nguyễn Phú Trọng giật mất rồi! Ðúng là hai bên đá banh theo lối khác nhau, và bên nào cũng tự coi mình nắm cái còi để thổi! Trước cảnh đó, người ngoài không thể biết được là ở trong nước Việt Nam hiện chỉ có một, hay là có hai cái ủy ban chống tham nhũng chạy song song? Chưa bao giờ hai ông tổng bí thư và thủ tướng lại giành nhau một cái danh hiệu như bây giờ. Mà cũng không ai biết nếu có hai cái ủy ban cùng làm một việc một lúc thì anh chủ tịch nào mới là anh có thực quyền? Chưa hết, anh nào có quyền ra lệnh sai bảo bảo công an? Ðám công an nào sẽ nghe lệnh ai? Nói chung, luật chơi hiện nay nó như thế nào? Chẳng biết sự thật ra sao cả! Nhưng đây là lần đầu tiên trong một chế độ cộng sản mối tranh chấp nội bộ được phơi bày trước mắt thiên hạ như vậy.


Trong cuộc họp 15 ngày, người ta tưởng là họ sẽ cùng nhau xác định lại một luật chơi thống nhất. Nhưng thất vọng. Vì ngay cả bản thông cáo cuối cùng họ cũng không dám gọi đó là một thông cáo; chỉ đưa ra dưới hình thức một bản tin, ký tên một phóng viên. Bản tin cho thấy cuộc đấu vẫn chưa ngã ngũ. Như đã phân tích trong bài trước, những điểm kết luận đưa nghe giống như những khuyến cáo, hoặc như các khẩu hiệu nghe cho vui tai nói phải làm gì nhưng không biết phải làm như thế nào. Cũng không thấy có ràng buộc nào để bắt phải thi hành hay không; rồi mai sau người thi hành có thể nói mình đã làm đúng; người chống đối sẽ bảo vẫn làm sai, cũng không có tiêu chuẩn nào để đánh giá cả. Nhìn vào văn từ của “bản tin kết thúc” chúng ta thấy toàn những điểm mập mờ muốn thi hành sao cũng được. Thí dụ, cuộc họp 15 ngày bảo các doanh nghiệp nhà nước mỗi năm phải được kiểm toán (nghe như dạy trẻ con trước khi ăn phải rửa tay!) Nhưng cả hệ thống kinh tế và chính trị ở nước ta chưa hề có những tổ chức chuyên nghiệp và độc lập làm công việc kiểm toán. Như vậy thì có bắt phải kiểm toán hàng tháng, hàng ngày cũng vậy thôi! Bao nhiêu điều khuyến cáo khác cũng tương tự! Cho nên, cuộc đấu chưa ngã ngũ, tức là vẫn như cũ, mạnh ai nấy đá banh theo lối của mình. Nguyễn Tấn Dũng không hề hấn gì hết! Có nhà quan sát đoán là sau 6 tháng hay một năm nữa, họ có thể họp lại để đánh giá việc thi hành. Ðó là cách suy nghĩ hoàn toàn lý thuyết, không hề nghĩ đến quyền hành thực sự nằm trong tay ai. Họ đã họp 15 ngày chẳng đi tới đâu, một năm nữa họp lại cũng chỉ thế thôi.


Cơn khủng hoảng bắt nguồn từ từ trong cơ cấu của chế độ, khi cải tổ kinh tế mà vẫn giữ nguyên hệ thống chính trị xơ cứng như cũ. Toàn thể hệ thống đã hết sức sống; mất ngay cả khả năng tự thay đổi. Tình trạng rạn nứt kéo dài sẽ đưa tới nhu cầu thay đổi toàn diện, không cách nào khác.

John Saito, MD – Pulmonary and Sleep Disorder

 

‘Yes on 34’ kêu gọi sự ủng hộ của người gốc Việt


Thiên An/Người Việt


 


WESTMINSTER (NV) – Tổ chức ủng hộ Dự luật 34 mở cuộc họp báo với cộng đồng Việt vào Thứ Hai, ngày 23 Tháng Mười, để kêu gọi lá phiếu của người gốc Việt, trong nỗ lực vận động cộng đồng người Mỹ gốc Á Châu bỏ phiếu “CÓ” cho dự luật này.










Clarissa Hermosillo, đại diện tổ chức “Yes on 34” tại hội trường tòa soạn báo Người Việt. (Hình: Thiên An/Người Việt)


Dự luật 34 nhằm chấm dứt án tử hình, thay vào đó sẽ là án tù chung thân không có cơ hội được phóng thích.


Tiểu bang và các quận hạt được dự đoán sẽ tiết kiệm khoảng $130 triệu mỗi năm từ việc bớt các hoạt động tòa án và phí tổn nhà tù sẽ thấp hơn. Ở California, đa số các án tử hình kéo dài hàng chục năm trong các nhà giam đặc biệt và nhiều vụ xét xử ở tòa án trước khi có quyết định hành quyết. Những phạm nhân bị kết án tử hình có phí tổn cao hơn rất nhiều so với người ở tù chung thân. Từ năm 1978 khi tiểu bang thông qua luật cho phép xử tử, 900 người đã nhận án tử hình và chỉ có 13 người là đã bị hành quyết.


Dự luật 34 sẽ có hiệu lực tức thời với các phạm nhân hiện đang ở trong phòng giam dành cho tử tù. Với số tiền $130 triệu mỗi năm được dự tính, Dự luật 34 sẽ lập ra một “Quỹ An Toàn cho California” để cung cấp $100 triệu mỗi năm cho các cơ quan thực thi pháp luật địa phương trong vòng 4 năm để đẩy nhanh tiến trình khởi kiện các vụ giết người và hiếp dâm.


Những người phản đối Dự luật 34 nói, “Những kẻ phạm tội độc ác sẽ trốn thoát khỏi sự trừng phạt tối đa.” Nhiều người trong số họ e ngại dự luật này vì số tiền tiết kiệm được hứa hẹn không có gì là chắc chắn trong khi dự luật này sẽ chi $400 triệu từ ngân sách của tiểu bang.


Clarissa Hermosillo, đại diện tổ chức “Yes on 34” trả lời phóng viên báo Người Việt, nói:


“Những kẻ phạm tội không được thả về, tù chung thân sẽ cầm giữ họ khỏi xã hội. Thay vì ưu tiên ở các phòng tù đặc biệt như hiện nay, họ phải làm việc và ở tù với các phạm nhân khác. Kế hoạch số tiền chi từ ngân sách được viết rõ trong dự luật và trở thành luật buộc các tổ chức thi hành đúng đắn.”


Thoa Trần, một người có kinh nghiệm làm việc với tù nhân, phát biểu tại buổi họp báo, “Chính những người thảo ra luật tử hình vào năm 1978 nay đề xướng Dự luật 34 để bác bỏ luật này. Chúng ta không nên giết những tên giết người, vì làm vậy, chúng ta đâu có tốt hơn gì họ. Những người có đạo còn khuyên không nên giết một con kiến, huống chi tiểu bang chúng ta có một luật để giết người. Tôi ủng hộ Dự luật 34 vì tôi không muốn tay mình dính máu của luật tử hình.”


Phần lớn cử tri không có cơ hội và thời gian nghiên cứu tận tường các dự luật, việc một dự luật cần đến ngân sách của tiểu bang khiến cho hầu hết các cử tri e dè. Nhiều người tuy ủng hộ việc bãi bỏ án tử hình nhưng không an tâm với sự điều hành của tiểu bang. So với phe chống, phe ủng hộ Dự luật 34 có được sự tham gia mạnh mẽ hơn từ nhiều thành phần, tổ chức trong tiểu bang.


Một điều đáng chú ý là theo ký giả Bob Egelko của tờ San Francisco Chronicle, 725 tử tù hiện bị giam giữ tại California’s Death Row, cho biết nếu được phép đi bầu, họ sẽ bỏ phiếu “KHÔNG” cho Dự luật 34.


Lý do, ký giả Bob Egelko trích lời Luật Sư Robert Bryan, chuyên bào chữa cho tù nhân tại Death Row giải thích:


“Không phải là họ (tử tù) muốn chết, họ chỉ muốn tiếp tục nuôi dưỡng niềm hy vọng là một ngày nào sẽ có cơ hội chứng minh là mình vô tội, bị kết án oan, và được thả. Khi là tử tù họ được quyền có luật sư bào chữa miễn phí, một đặc quyền mà Dự luật 34 sẽ hủy bỏ. Dĩ nhiên chính quyền tiểu bang hiện đang phải cung ứng những dịch vụ pháp lý này miễn phí.”

Giáo Sư Lê Mạnh Hùng ra mắt tập III ‘Nhìn Lại Sử Việt’

 


Nguyên Huy/Người Việt


 


Chiều hôm Chủ Nhật, 21 Tháng Mười vừa qua, tại Viện Việt Học trên đường Brookhurst, Nam California, Giáo Sư Lê Mạnh Hùng cùng nhà xuất bản “Tổ Hợp Xuất Bản Miền Ðông” do Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích chủ trương đã ra mắt tập III cuốn “Nhìn Lại Sử Việt.”










Khách tham dự buổi ra mắt sách chen nhau mua sách trong buổi ra mắt sách “Nhìn Lại Sử Việt” của GS Lê Mạnh Hùng.


Ðây là một bộ sử Việt được nhìn lại do Giáo Sư Lê Mạnh Hùng biên soạn, đã ra được hai tập đầu và nay là tập thứ ba trong tổng số 5 tập.


Giải thích tổng quát về bộ sử này, tác giả cho biết: “Bộ Nhìn Lại Sử Việt của chúng tôi gồm 5 cuốn đề cập từ thời tiền sử đến cận đại của dân tộc VN. Hai cuốn đầu từ thời tiền sử đến thời Hậu Trần đã xuất bản. Hôm nay chúng tôi xin được ra mắt cuốn thứ ba từ thời Lê Lợi đến Gia Long 1802. Bộ sử còn hai cuốn nữa, một từ 1802 đến 1945 và cuốn sau cùng là từ 1945 đến 1975.”


Tại sao lại chỉ đến 1975 mà không tiếp tục cho đến hiện tại? Tác giả giải thích: “Khi học sử ở bên Anh, một bà giáo sư người Anh có nói rằng ‘chuyện xẩy ra trong vòng 35 năm thì chưa là lịch sử. Vì, sau 35 năm những cảm tính đều đã lắng chìm nên cái nhìn sẽ khách quan hơn.”


Ðề cập đến quan niệm viết sử, tác giả cho rằng, “Lịch sử không chỉ là đưa ra sự kiện mà phải là giải thích sự kiện. Theo một sử gia đầu tiên ở phương Tây thì viết sử có hai trường phái, một là từ những người hùng tạo ra chiến tranh làm thay đổi cái thời đang sống của con người. Và hai là do định mệnh. Ðó là những làn sóng, chiều hướng xã hội cuốn đi không lệ thuộc vào con người. Tôi nhìn lại sử Việt theo thuyết định mệnh.”


Sau khi đã trình bày khái quát về quan niệm viết sử, tác giả nêu ra một vài sự kiện trong lịch sử được nhìn lại.


Trước hết tác giả nhận định rằng thế giới ngày xưa không nước nào có “họ.” Những “họ” của người Việt như ngày nay ta thấy là do sự Hán hóa của người Tầu áp đặt qua cả ngàn năm người Việt bị lệ thuộc. Riêng dân tộc Chàm tách ra sớm nên đã đi vào văn hóa của Ấn Ðộ nên không có họ theo kiểu người Việt.


Nhận định thứ hai tác giả nêu ra là sử Việt Nam không thấy đề cập đến những thương buôn, kỹ thuật. Ðó là vì từ thế kỷ 15, Việt Nam phải chịu sự cai trị của nhà Minh, xã hội đã bị phân chia thành những giai cấp trong đó tinh thần trọng “sĩ” được nêu cao do đó mà sử không chép đến các giai cấp khác ngoài giai cấp nho sĩ.


Nhận định thứ ba, tác giả đưa ra là xã hội Việt Nam đã manh nha tinh thần dân chủ khá sớm. Ðó là vào thời nhà Trần với hai hội nghị có một không hai trong lịch sử, Hội Nghị Bình Than cho vương hầu và Hội Nghị Diên Hồng cho thứ dân. Theo tác giả, nếu như tinh thần ấy được duy trì thì nước Việt Nam có thể cũng là một nước Nhật thứ hai ở Ðông Nam Á.


Nhận định thứ tư là vào thời nhà Nguyễn, vua Minh Mạng đã có ý thức canh tân nhưng lại không triệt để. Chẳng hạn như đã cấp cho quan binh triều đình súng ống mà so với quân lính của Pháp lúc bấy giờ không thua sút. Nhưng chỉ ít năm sau khi Pháp đem quân đến xâm chiếm, thì súng của quân Pháp đã bỏ xa loại súng của quân binh triều đình vì kỹ nghệ súng đạn phương Tây đã cải tiến rất nhiều không chỉ dừng lại một chỗ. Cũng vào thời Minh Mạng, nhà vua đã mua hẳn lại một chiến thuyền của phương Tây về tháo dỡ từng phần để bắt chước đóng những chiến thuyền cho thủy quân của triều đình. Nhưng chương trình này đã sớm chấm dứt.


Với những tìm tòi và dựa trên nhiều tài liệu khoa học xã hội của thời đại, việc nhìn lại sử Việt, theo tác giả Lê Mạnh Hùng, đã cho chúng ta rất nhiều cái nhìn mà những bộ sử trước đây còn thiếu, trống.


Không kể những bộ cổ sử của Việt Nam từ các đời Trần, Nguyễn-Gia Long, trong khoảng thời gian cận đại, nhiều bộ sử đã được các nhà nghiên cứu sử viết ra. Bộ sử được nhiều người biết đến và đã được dùng trong chương trình giáo dục quốc gia từ trước 1945 đến nay là bộ “Việt Nam Sử Lược” của học giả Trần Trọng Kim. Trong khi đó các nhà viết sử như Phạm Văn Sơn với “Việt Sử Tân Biên” (7 tập), “Việt Sử Toàn Thư” và gần đây như Giáo Sư Phạm Cao Dương với “Lịch Sử Dân Tộc Việt Nam” (mới ra được quyển I), Giáo Sư Trần Gia Phụng với “Việt Sử Ðại Cương” (đã ra đến tập V) cũng đã bỏ công viết về lịch sử của dân tộc Việt. Nhìn chung thì hầu hết các nhà viết sử thời cận đại đều có một quan niệm chung là “Sử là sách không những chỉ để ghi chép những công việc đã qua mà thôi, nhưng lại phải suy xét việc gốc ngọn, tìm tòi cái căn nguyên những công việc của người ta đã làm để hiểu cho rõ những vận hội trị loạn của một nước, những trình độ tiến hóa của một dân tộc. Chủ đích là để làm cái gương chung cổ cho người cả nước được đời đời soi vào đấy mà biết cái sự sinh hoạt của người trước đã phải lao tâm lao lực như thế nào mới chiếm giữ được cái địa vị ở dưới bóng mặt trời này” (Trần Trọng Kim trong tựa của bộ Việt Nam Sử Lược).


Nhưng với thời đại tiến hóa nhanh chóng ngày nay đã giúp cho người viết sử thêm nhiều phương tiện để nhìn lại lịch sử. Những khám phá mới trong các lãnh vực khảo cổ, nhân văn, xã hội đã giúp cho người viết sử ngày nay soi rọi được rõ nét hơn vào những diễn biến trong lịch sử để suy ra được khách quan về lịch sử của một dân tộc. Chính những khám phá mới này đã giúp cho người viết sử Việt Nam phân định được những sai biệt giữa sử Trung Hoa và sử Việt khi viết về Hai Bà Trưng, viết về bà Triệu, viết về vua Quang Trung v.v…


Trong phần đàm thoại sau phần ra mắt sách, tác giả Lê Mạnh Hùng cũng có nêu ra một sự khác biệt khi sử Tầu đề cập đến Hai Bà đã không nhắc gì đến Thi Sách cho việc Hai Bà chỉ là một cuộc nổi lọan. Trong khi sử Việt nhắc đến Thi Sách như là một trong hai nguyên nhân chính khiến Hai Bà dấy quân đánh quân Ðông Hán để giữ yên bờ cõi (thù nhà nợ nước). Về việc giữ yên bờ cõi (nợ nước) là cái nhìn của hậu thế mà vào thời đại ấy quan niệm về Quốc Gia Dân Tộc chắc cũng còn mờ nhạt chưa được hình thành hẳn.










GS Lê Mạnh Hùng trình bày về quan niệm viết sử trong buổi ra mắt sách “Nhìn Lại Sử Việt.”


Một điểm khác nữa là sử Việt cho đến nay, phần lớn đều dựa vào sách sử của cha ông để lại do những vị quan trong triều được vua ủy nhiệm đứng ra ghi chép (không phải là soạn thảo) nên không tránh được “ảnh hưởng tư tưởng thời phong kiến, đế quốc” (Phạm Văn Sơn trong lời tựa cuốn “Việt Sử Toàn Thư” hay “Nhà làm sử lại là người làm quan, vua sai coi việc chép sử, cho nên dầu thế nào sự chép sử cũng không được tự do, thường có ý thiên vị về nhà vua, thành ra trong sử chỉ cần chép những chuyện quan hệ đến nhà vua hơn là những chuyện quan hệ đến sự tiến hóa của người dân trong nước” (Trân Trọng Kim-đã dẫn).


Nên, sử Việt Nam cần được viết lại càng nhiều càng tốt miễn là người viết hay một nhóm người viết, kể cả Viện Sử Học ở trong nước hiện nay không có ý định bẻ cong lịch sử như việc coi Vua Quang Trung nêu “ngọn cờ Ðào” là đã có ý thức cộng sản.

Hội Nhiếp Ảnh Việt Nam Bắc California vinh danh 5 nhiếp ảnh gia

 


Dân Huỳnh/Người Việt


 


SAN JOSE (NV) – Hội Nhiếp Ảnh Việt Nam Bắc California vừa tổ chức lễ trao tước hiệu “Master” cho năm thành viên có nhiều thành tích về nghệ thuật nhiếp ảnh nhất.









Nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh (trái) và các học trò của ông, vừa được tuyên dương “Nhiếp Ảnh Gia Bậc Sư.” (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)


Ðó là các nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Kim Phụng,Trần Nhật Khánh, Trần Thanh Lịch, Nguyễn Khải, và DucTe Le.


Buổi lễ vinh danh được tổ chức trang trọng tại Hội Nhiếp Ảnh Việt Nam Bắc California, San Jose, vào ngày 14 Tháng Mười, với sự hiện diện của nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh, sáng lập viên hội và là người đào tạo nhiều thế hệ nhiếp ảnh gia Việt Nam, trong đó có những người được vinh danh lần này.


Nữ nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Kim Phụng rất hạnh phúc khi nói về người thầy của mình: “Ngày hôm nay tôi thật sự hạnh phúc khi được tước hiệu Master, một tước hiệu cao quý nhất trong Hội Nhiếp Ảnh Việt Nam Bắc California. Tôi là một trong những học trò khóa đầu tiên của thầy Hạnh. Ngoài vấn đề kỹ thuật học được ở thầy, tôi còn học được tâm hồn cao quý của thầy, trong các tác phẩm của thầy có lòng yêu nước rất là cao đó có ẩn chứa những giọt nước mắt. Ông luôn nghĩ về quê hương và chính học trò của thầy cũng đều có ước mơ đến ngày quê hương tự do để cùng về sáng tác trên chính quê hương của mình. Mặc dù không sinh ra tôi, nhưng thầy chính là người sinh ra tôi trong nghệ thuật.”


Nhiếp ảnh gia Trần Thanh Lịch chia sẻ thêm: “Tôi đến nghệ thuật nhiếp ảnh với thầy Nguyễn Ngọc Hạnh được 22 năm. Tôi học được thầy ở hai điểm chính. Một là lòng đam mê, thầy là người có niềm đam mê mãnh liệt đối với nhiếp ảnh thầy bỏ hết công sức và tài sản để sống với nghệ thuật. Từ đó tôi hiểu được người thành công nhiều cũng song song với niềm đam mê rất lớn. Ðiều thứ hai là thầy có cái nhìn về nghệ thuật khác lạ, thầy có quan niệm dù khung cảnh xấu, không đẹp, kể cả khi chụp model cũng vậy, kỹ thuật và góc cạnh nghệ thuật của người chụp sẽ quyết định sẽ có một tác phẩm đẹp.”


Nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh nói trong nghẹn ngào: “Hôm nay là ngày tôi hạnh phúc nhất, ngày mà tôi được sự yêu thương đền đáp của những học trò trên 20 năm gắn bó với tôi trong nghệ thuật nhiếp ảnh nói chung và Hội Nhiếp Ảnh Bắc California nói riêng. Tôi muốn nói lên tài năng nghệ thuật đáng trân trọng của những nhiếp ảnh gia người Việt Nam lưu vong ở hải ngoại dù định cư ở đâu trên thế giới này, ai cũng đều có những ký ức và kỷ niệm đẹp về hình ảnh quê hương của mình và trong tâm hồn của người nghệ sĩ ai cũng đều có ước mơ một ngày trở về quê cha đất tổ khi không còn chế độ cộng sản cai trị.”


Ngoài việc sáng lập Hội Nhiếp Ảnh Bắc California, một trong những hội nhiếp ảnh đầu tiên của cộng đồng người Việt Nam ở hải ngoại, nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh cũng là phóng viên chiến trường hàng đầu của quân đội Việt Nam Cộng Hòa, cấp bậc trung tá.


Ông là người có nhiều giải thưởng nhiếp ảnh quốc tế nhất trước năm 1975.


Những tác phẩm “Thương Tiếc,” “Tấn Công,” “Cứu Bạn”… trước năm 1975, và cho đến hôm nay là tác phẩm “Vá Cờ,” của ông đã khẳng định tên tuổi và tài năng của nhiếp ảnh gia này.


Sau khi miền Nam thất thủ năm 1975, ông Nguyễn Ngọc Hạnh bị đi tù cộng sản như bao nhiêu đồng đội khác. Ðến năm 1983, Ủy Ban Committee of German Advocates Amnesty can thiệp cho ông được trả tự do, với 63 chữ ký vận động của nhiều cá nhân và tổ chức tại nhiều quốc gia khác nhau.


Ông vượt biên nhiều lần, đến Hoa Kỳ năm 1989 và thành lập Hội Nhiếp Ảnh Việt Nam tại San Jose năm 1990. Sau đó hội trở thành Hội Nhiếp Ảnh Việt Nam Bắc California vào năm 2000.


Trên 20 năm định cư tại Hoa Kỳ, ông Hạnh đã đào tạo hàng trăm nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp. Nhiều học trò của ông được nhận làm hội viên danh dự Hội Nhiếp Ảnh Hoàng Gia Anh và các hội nhiếp ảnh chuyên nghiệp ở Hoa Kỳ, và đoạt được rất nhiều giải thưởng, huy chương quốc tế.









Nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh (trái) trao giải thưởng cho nhiếp ảnh gia DucTe Le. (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)


Qua một thời gian dài phát triển không ngừng, Hội Nhiếp Ảnh Việt Nam Bắc California đã chọn lọc được năm nhiếp ảnh gia để vinh danh “Nhiếp Ảnh Gia Bậc Sư” (Master), qua tài năng, tác phẩm và sự cống hiến của họ cho nghệ thuật nhiếp ảnh Việt Nam ở hải ngoại.


Còn rất nhiều những tâm tình kính mến thầy của các học trò ông trong ngày vinh danh hôm nay. Ai cũng thật sự hạnh phúc. Tước hiệu “Master” được nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh tuyên dương, vinh danh là một sự kiện đáng trân trọng trong sinh hoạt văn hóa của cộng đồng người Việt ở hải ngoại.


Hy vọng trong tương lai sẽ có nhiều nhiếp ảnh gia Việt Nam của các câu lạc bộ và các hội ảnh khác sẽ được trao tước hiệu cao quý như vậy.

CMS và HICAP thuyết trình về Medicare 2013




Trung Tâm Phục Vụ Y Tế, thuộc Bộ Y Tế Hoa Kỳ và tổ chức HICAP, với sự bảo trợ của nhật báo Người Việt, sẽ tổ chức một buổi thuyết trình về Medicare.


Thời gian: 12:30 PM, Thứ Sáu, 26 Tháng Mười


Ðịa điểm: Phòng sinh hoạt nhật báo Người Việt, 14771 Moran Street, Westminster, CA 92683


Diễn giả: Herb Schultz, Giám Ðốc Khu Vực Miền Tây, Bộ Y Tế Hoa Kỳ.


Thông dịch tiếng Việt: Yến Tuyết, Cố Vấn HICAP


Buổi thuyết trình sẽ nói về nhiều đề tài rất quan trọng cho người cao niên, liên quan đến bảo hiểm y tế, Medicare, MediCal, ghi danh cho chương trình bảo hiểm y tế năm 2013.


Sau thuyết trình sẽ có giải đáp thắc mắc.







Ba ngày, 5 vụ nổ súng, 9 người chết ở Stockton


STOCKTON (AP) –
Chỉ trong vòng 51 giờ kể từ trưa Thứ Bảy, 20 tháng 10, đã có 9 người bị bắn chết tại thành phố Stockton miền Trung California trong 5 vụ giết người khác nhau.










Cảnh sát điều tra vụ nổ súng tại Burkett Avenue, Stockton lúc đêm sáng Thứ Hai. (Hình: AP/Recordnet.com)


Trưa Thứ Bảy, một người đàn ông bị bắn chết bên ngoài một tiệm ăn fast-food.


Lúc 10.49 giờ tối, kẻ lạ mặt nổ súng vào một cặp vừa đậu xe tại một parking gần Mist Trail và Paintbrush Drive ở Weston Ranch. Người đàn ông thoát chết nhưng người phụ nữ 27 tuổi chết ngày hôm sau. Một người dân trong khu vực này kể lại rằng nghe thấy ít nhất là 8 tiếng súng nổ. Theo lời cảnh sát trên xe lúc đó có 4 người và đây là nơi thường xuyên lui tới của bọn buôn bán ma túy.


Sau đó lúc nửa đêm qua sáng Chủ Nhật, một thanh niên 23 tuổi bị bắn tại bãi đậu xe khu phố 8100 đường North West Lane. Nạn nhân được đưa vào bệnh viện cấp cứu nhưng chết ngày Thứ Hai. Trước đó đã có một vụ đánh lộn trong một quán rượu gần đó và có lẽ hai chuyện này có liên quan.


Lúc 0.46 giờ sáng Thứ Hai, hai người khác bị bắn chết tại chỗ, một thanh niên 23 tuổi trong một apartment ở Burkett Avenue phía Nam thành phố, và một người đàn ông 31 tuổi bên ngoài. Thanh niên có hồ sơ lý lịch thuộc băng đảng còn người đàn ông là một phạm nhân vừa được ân xá. Cảnh sát khám xét căn phòng apartment tìm thấy một khẩu súng dài nhưng chưa xác định được có phải là vũ khí gây án mạng hay không…


Chiều Thứ Hai, thêm 4 người chết trong một vụ có lẽ là giết người rồi tự sát. Án mạng bắt đầu lúc 3.06 phút, cảnh sát tìm thấy xác một phụ nữ 64 tuổi bị bắn chết trong một căn nhà ở đường North Regent Street.


Các nhân chứng trông thấy một người đàn ông da trắng rời khỏi hiện trường trên một chiếc xe van. Ít phút sau cảnh sát tìm thấy chiếc xe đậu trước O’Connor Woods Senior Living, một khu nhà an dưỡng cao cấp của người cao niên cách đó 6 dặm. Trong một phòng có hai xác chết, một phụ nữ 88 tuổi và một người đàn ông 45 tuổi tình nghi là thủ phạm nổ súng. Trên xe van còn có một phụ nữ cuốn trong tấm vải nhựa xanh, nhân viên cứu hỏa đã cố gắng làm hô hấp nhân tạo trong nhiều phút nhưng không có kết quả.


Chưa có nghi can nào bị bắt giữ cho đến chiều Thứ Hai. Stockton là nơi thường xuyên xảy ra nổ súng tuy nhiên 9 người chết trong vòng 3 ngày là con số ít thấy. Trong năm 2011 có 59 án mạng và năm 2012 đến nay đã có 59. (HC)

Phản ứng thế giới trước tranh luận tổng thống Mỹ tối Thứ Hai

 


WASHINGTON (TH) –Bầu cử tổng thống Hoa Kỳ thu hút sự quan tâm quốc tế và cuộc tranh luận Obama-Romney lần cuối cùng được truyền thông các nước chú ý vì đề tài đối ngoại có liên quan đến hầu hết thế giới.










Hình: MANDEL NGAN/AFP/Getty Images)


Tuy nhiên nhận định và phản ứng rất khác nhau, bao gồm cả những bất mãn vì nhiều vấn đề quan trọng đã không được đề cập đến như kinh tế Âu Châu, bạo động ở Mexico, hay tình trạng môi trường…


Omar R. Quraishi, bình luận gia tờ nhật báo tiếng Anh Express Tribune ở Karachi, Pakistan, cho rằng Tổng Thống Obama rõ ràng nắm ưu thế hơn nhưng ông Mitt Romney cũng chứng tỏ được bản lãnh. Quraishi viết: “Tổng Thống Obama vững vàng và quả quyết, còn Romney cố gắng không thể hiện là một người Cộng Hòa hiếu chiến.”


Tuần báo Der Spiegel ở Ðức vốn thường mạnh mẽ chỉ trích phái bảo thủ Hoa Kỳ nói “Obama rõ rệt thắng trong cuộc tranh luận” nhưng “Romney đã vô hiệu hóa được nhiều tấn công của tổng thống.” Một bình luận viên của báo này phàn nàn không ứng cử viên nào nói đến thách thức đối với các cường quốc lớn là sự biến đổi thời tiết Ðịa Cầu.


Báo Thanh Niên ở Việt Nam nhận xét: “Dù hai bên đều ăn miếng trả miếng nhưng Tổng Thống Barack Obama vẫn lấn lướt đối thủ Mitt Romney trong cuộc tranh luận lần cuối trên truyền hình.”


Ngược lại dư luận báo chí Anh không cùng nhận định ấy. Mark Mardell, chủ biên Bắc Mỹ của BBC cho là Romney “đã có một buổi tối khá nhất.” Theo ông: “Cuộc tranh luận cuối cùng không làm thay đổi ý kiến trong các thăm dò dư luận nhưng Romney đã cho thấy sự chú trọng đến chính sách đối ngoại. Với ông có rủi ro là sẽ bị gợi lại sự chỉ trích về quan điểm bất nhất, nhưng đồng thời cũng thể hiện được niềm tin mới rằng ông ta thuyết phục được dân chúng về khả năng lãnh đạo.”


Những người khác cho rằng bất cứ thành tích nào của Obama cũng chỉ đủ để quân bình lại kết quả cuộc tranh luận đầu tiên mà ông cũng đã nhìn nhận là kém cỏi.


Tim Stanley của The Telegraph tờ báo trung hữu ở Anh cho rằng Romney thắng cuộc tranh luận vì chứng tỏ có tác phong tổng thống hơn là Obama “chỉ có nhạo báng, châm chích đối thủ chứ không đưa ra lập luận xây dựng.”


Yosi Mekelberg, giám đốc chương trình về bang giao quốc tế của Regent’s College ở London không giống ý kiến này. Ông nói: “Romney phê phán Obama không làm được gì cho tiến trình hòa bình Trung Ðông nhưng chính ông ta không đề ra sáng kiến nào. Tôi tin rằng phát biểu của Romney khi đến thăm Israel không cho thấy ông ta có thể là người điều giải Israel và Palestine nếu như đắc cử… Câu hỏi mà chúng ta đều muốn đặt ra là liệu trong nhiệm kỳ 2, Obama có thể xác định được là người có quyết tâm làm nên điều đúng để thúc đẩy tiến trình hòa bình ở Trung Ðông hay không.” Nhưng Mekelberg cũng nhận xét là cuộc tranh luận tập trung đến tính cách cá nhân hơn là thảo luận đường lối, và trong hoàn cảnh này “Obama hoàn toàn chứng tỏ tư cách tổng thống so với Romney thiếu kinh nghiệm về ngoại giao.”


Nhưng thiếu sót nổi bật nhất trong cuộc tranh luận là không nói đến Âu Châu với cuộc khủng hoảng tài chính còn kéo dài có thể đưa một số nước ở đây tới bờ sụp đổ về kinh tế. Nhiều quan sát viên tin rằng làm thế nào để duy trì quan hệ đối tác với các quốc gia Âu Châu là một điều rất quan trọng đã không được đề cập tới.


Said Sadek, nhà chính trị xã hội học ở Cairo, Ai Cập, nói: “Ai ủng hộ cuộc cách mạng Ai Cập sẽ muốn có Obama. Ai chống lại và không chấp nhận tình trạng Muslim Brotherhood nắm được chính quyền sẽ tán thành Romney. Ðó là khác biệt lớn giữa hai ứng cử viên.”


Chính quyền Palestine thì không hài lòng với câu trả lời của cả hai người. Nabil Abu Rdeneh, phát ngôn viên của Tổng Thống Mahmoud Abbas tuyên bố: “Nếu không có giải pháp minh bạch, chính sách của Hoa Kỳ ở Trung Ðông không thể thành công.”


Yitzhak Benhorin viết trên báo điện tử Do Thái YnetNews.com: “Obama nắm vững sự kiện hơn Romney và định đưa đối thủ vào bẫy và mô tả ông ta không có đủ tính cách của vị tổng tư lệnh, một người muốn đưa Hoa Kỳ vào cuộc chiến tranh thứ ba ở Trung Ðông. Nhưng Romney không sụp bẫy và còn tỏ ra đồng ý với tổng thống về một số vấn đề.”


Ruthie Blum viết trên Israel Hayum rằng Romney đã có thể rọi ánh sáng vào thất bại của Obama trong sự đương đầu với ban lãnh đạo Iran.


Dan Russell, 50 tuổi, giảng viên đại học Anh cho rằng kết quả cuộc bầu cử Hoa Kỳ có tầm ảnh hưởng toàn cầu quan trọng vì “chúng ta cùng ở trong một thế giới lớn.” Ông nói: “Tôi hy vọng cuối cùng Obama thắng dù ông ta chưa phải là hoàn hảo.”


Tại Trung Quốc, nhiều ý kiến đưa lên Internet phê bình rằng, “Hoa Kỳ được hưởng lợi từ Trung Quốc nhưng dân Mỹ vẫn cho là bị đối xử bất công và các chính trị gia Mỹ chiều theo định kiến ấy của họ.”


Wang Feng, giám đốc Brookings-Tsinghua Center ở Bắc Kinh cho rằng người nào đắc cử cũng không khác nhau nhiều đối với Trung Quốc, “Cả hai đều xác nhận coi Trung Quốc là một đối tác và muốn hành xử theo luật lệ.” Tuy vậy Wang phàn nàn rằng với lời lẽ hoa mỹ mà Romney nói thì Trung Quốc “chỉ là kẻ làm giá đồng tiền.” Nhưng ông ca ngợi ý kiến Romney là không nên có chiến tranh mậu dịch với Trung Quốc.


Tân Hoa Xã khuyến cáo hai ứng cử viên nên hạ bớt luận điệu “cứng rắn với Trung Quốc” đã nói ra trong suốt cuộc tranh cử và hãy có quan niệm thực tế “với một nước Trung Hoa đang thăng tiến.” (HC)

Thêm đụng độ giữa tín đồ Hồi Giáo và Phật Giáo tại Myanmar


YANGON, Myanmar (AP) –
Các vụ đụng độ mới giữa tín đồ Hồi Giáo và Phật Giáo lại bùng ra ở khu vực Tây Myanmar, làm ít nhất 3 người chết và hàng trăm căn nhà bị thiêu rụi, theo giới hữu trách hôm Thứ Ba.









Một vị sư sau cuộc bạo động. Mâu thuẫn giữa Phật Giáo và Hồi Giáo xảy ra tại Myanmar từ năm ngoái. (Hình: Sakchai Lalit/AP)


Vụ bạo loạn mới nhất, bùng ra tối hôm Chủ Nhật vừa qua, được coi là trầm trọng nhất kể từ khi có các cuộc đụng độ hồi Tháng Sáu giữa người Hồi Giáo Rohingya và sắc dân thiểu số theo Phật Giáo Rakhine, khiến khoảng 70,000 người phải ra đi lánh nạn.


Giới hữu trách vùng Rakhine cho hay cuộc đụng độ mới nhất xảy ra tại thị trấn Minbyar, nằm cách thủ phủ Sittwe chừng 25 km về phía Bắc. Bạo loạn sau đó lan đến Mrauk-U. Cả hai đều là thị trấn hẻo lánh, chỉ có thể đến được qua các con đường mòn.


Các cuộc bạo loạn hôm Chủ Nhật làm một người đàn ông theo Phật Giáo và hai phụ nữ Hồi Giáo thiệt mạng. Có hơn 340 căn nhà bị đốt cháy. Giới hữu trách ban hành lệnh giới nghiêm hôm Thứ Hai và sang đến ngày Thứ Ba tình hình trở lại yên tĩnh. (V.Giang)

Cụ ông đốt viện dưỡng lão: 12 người chết, 60 bị thương


TAIPEI, Taiwan (AP) –
Cảnh sát Ðài Loan cho hay một cụ ông đã thú nhận gây ra đám cháy tại viện dưỡng lão vào lúc rạng sáng hôm Thứ Hai, thiêu rụi nơi này và làm 12 người chết cùng 60 người khác bị thương, phần lớn quá già yếu không chạy kịp khỏi giường.










Nhóm điều tra đang xem xét tình hình bệnh viện sau vụ cháy. (Hình: Sở Cứu Hỏa Tainan/AP)


Cảnh sát không nêu danh tánh nghi can, tuy nhiên các đài truyền hình Ðài Loan cho hay người này nổi lửa đốt lúc 3 giờ sáng vì buồn bực tình trạng đau bệnh triền miên của mình. Họ trích dẫn phát biểu của một số cảnh sát viên cho hay nghi can được tìm thấy trong tình trạng trần truồng, trốn trong một kho chứa hàng ở bệnh viện Hsinying sau khi tự đốt hết quần áo của mình.


Viện dưỡng lão này nằm trên tầng thứ nhì của bệnh viện tại thành phố Tainan, nằm về phía nNam Ðài Loan. Các hình ảnh ghi nhận qua máy thu hình an ninh và được chiếu trên đài truyền hình cho thấy các điều dưỡng viên vội vã cấp cứu bệnh nhân và đưa họ đến nơi an toàn.


Phát ngôn viên Tsai Ming-shih của bệnh viện cho hay các nạn nhân chết vì bị ngộp khói và đa số quá yếu sức để ra khỏi giường chạy trốn ngọn lửa.


Ông Tsai cho hay đám cháy được dập tắt khoảng 40 phút sau khi bùng ra và nhân viên cứu nạn di tản được hơn 100 người. (V.Giang)

Ðường cao tốc khánh thành 2 ngày, đã có 2 người chết


HÀ NỘI (NV) –
Chỉ sau hai ngày khai trương, tai nạn giao thông cướp đi hai sinh mạng trên đường cao tốc được gọi là đường ‘Vành đai 3’ ở vùng ngoại vi Hà Nội.










Ðường cao tốc vừa khánh thành được hai ngày thì đã có hai người mất mạng. (Hình: VNExpress)


Theo phó chủ tịch Ủy Ban An Toàn Giao Thông Quốc Gia, ông Nguyễn Hoàng Hiệp, “đường đi càng tốt thì tai nạn giao thông càng tăng vọt.”


Ông này còn dẫn chứng thí dụ cho thấy quốc lộ 6 vừa mới được khánh thành nối tỉnh lỵ Hòa Bình với tỉnh Ðiện Biên đã đẩy số vụ tai nạn giao thông lên gấp đôi trong năm 2011.


Ông Nguyễn Hoàng Hiệp đã đổ lỗi cho các đơn vị tuyên truyền không lo “giáo dục” để “nâng cao nhận thức của người dân.”


Tuy nhiên, theo dư luận, việc điều hành kém cỏi của bộ máy nhà nước mới là nguyên nhân để xảy ra tai nạn giao thông thảm khốc liên tiếp trong thời gian qua.


Ðường cao tốc Hà Nội mới khánh thành chỉ dành cho xe hơi lưu thông với tốc độ ấn định tới 80km/giờ nhưng công an giao thông đã để cho người cỡi xe gắn máy ung dung qua lại dẫn tới tai nạn đáng tiếc.


Một số nhân chứng còn cho biết số người lái xe gắn máy còn đua cả với xe hơi trên đường cao tốc. Có người còn tiên đoán có thể sắp tới các đoàn đua sẽ dùng cả đường cao tốc để thực hiện các trận “bão đêm.”


Tai nạn đầu tiên xảy ra trên đường Vành đai 3 lúc 11 giờ đêm 21 tháng 10, chỉ sau 10 tiếng đồng hồ khánh thành ở đoạn thuộc địa phận quận Thanh Xuân, Hà Nội. Một người đàn ông cỡi chiếc xe gắn máy tông phải một chiếc xe hơi chạy chiều ngược lại. Ông này chết liền tại chỗ. Tai nạn thứ hai làm chết một người đi xe gắn máy trong tình cảnh tương tự.


Theo báo Tiền Phong, một phúc trình của Ủy Ban An Toàn Giao Thông Việt Nam cho biết chín tháng đầu năm 2012 xảy ra 24,000 tai nạn giao thông làm 7,000 người chết, và 25,000 người bị thương. Số người thiệt mạng nói trên tương đương với quân số của một sư đoàn. (PL)

Giận vợ, cục phó Cục Thuế Cần Thơ nhảy lầu tự vận


VIỆT NAM (NV) –
Khoảng 9 giờ sáng ngày 23 tháng 10, ông cục phó Cục Thuế thành phố Cần Thơ đột ngột chọn cái chết bi thảm: nhảy lầu. Nơi ông quyết định từ bỏ cõi đời lại là một trường tư thục mầm non do vợ của ông làm hiệu trưởng.









Ông Nguyễn Viết Thân đến ngôi trường mầm non tư thục do vợ làm hiệu trưởng nhảy lầu tự vận. (Hình: Báo Tuổi Trẻ)


Theo báo Tiền Phong, người tự vận là ông Nguyễn Viết Thân 54 tuổi, cục phó Cục Thuế thành phố Cần Thơ đã từ sân thượng tầng thứ 5 trường mầm non Tân Triều nhảy xuống đất vào sáng ngày nói trên. Trường mầm non này tọa lạc tại quận Ninh Kiều, Cần Thơ, cách sở làm của ông Thân khoảng 3 cây số.


Theo báo Tuổi Trẻ, ông Nguyễn Viết Thân đến trường mầm non Tân Triều nói để tìm gặp vợ. Sau đó, ông dùng thang máy lên sân thượng ở độ cao 27m, gieo mình xuống đất. Vợ của ông là bà Hà Thị Kim Thoa định gọi xe cứu thương nhưng ông đã chết.


Báo mạng VNExpress cho biết, các thầy cô giáo và nhân viên trường mầm non đã chứng kiến nhiều cuộc cãi vã kịch liệt giữa bà hiệu trưởng và chồng tại trường. Trước khi xảy ra vụ nhảy lầu, ông Thân cãi nhau với vợ một hồi.


Còn theo báo Tiền Phong, hai vợ chồng ông Thân hiện có với nhau hai mặt con. Dư luận cho rằng mặc dù cuộc sống gia đình có phần khá giả nhưng họ lại không có hạnh phúc. Người nhà của ông Thân còn khẳng định rằng thời gian gần đây bà Thoa chỉ lo làm ăn kiếm tiền, không để ý gì đến gia đình riêng.


Dư luận còn nói rằng chỉ có em trai của ông Thân săn sóc trong khi ông nằm bệnh viện cả tháng trời.


Trước đó khoảng hai tuần lễ, một công chức phường Hiệp Bình Chánh, Thủ Ðức cũng đã uống thuốc trừ sâu tự tử. Ông này tên Châu Thanh B. 30 tuổi, cán bộ tư pháp. Báo Dân Trí cho biết, rất may ông này được người đi đường đưa vào bệnh viện cứu sống kịp thời.


Ngày 14 tháng 6 vừa qua, ông trưởng phòng Quản Lý Thương Mại-Sở Công Thương thành phố Cần Thơ, Nguyễn Trung Mãn, đã tìm lấy cái chết bằng cách treo cổ tại nhà riêng.


Tính ra chỉ trong vòng bốn tháng có đến hai cán bộ cao cấp của thành phố Cần Thơ chán sống. (PL)

Hơn 800 căn nhà dân nứt vì động đất ở Sông Tranh 2


QUẢNG NAM (NV) –
Ít nhất đã có khoảng 820 căn nhà bị nứt trong vùng dân cư ở huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam, vì các trận động đất quanh khu vực đập thủy điện Sông Tranh 2.










Nhà bị nứt vì động đất. (Hình: báo Tiền Phong)


Trong khi đó, động đất tiếp diễn từng ngày tại huyện Bắc Trà My khiến số cư dân hoảng loạn bỏ chạy khỏi nhà lên tới hàng ngàn, đặc biệt là vào tối 22 tháng 10 vừa qua.


Báo Tiền Phong dẫn lời đại diện chính quyền huyện Bắc Trà My cho hay trận động đất xảy ra khoảng 9 giờ đêm 22 tháng 10 có cường độ “mạnh chưa từng có.” Nhiều cư dân cho biết, trận động đất được báo hiệu bằng một tiếng nổ lớn và đợt rung chuyển mọi thứ trên mặt đất kéo dài trong 3 giây đồng hồ.


Ông Nguyễn Hồng Phương, phó giám đốc Trung Tâm Ðộng Ðất và Sóng Thần nói rằng trận động đất đo được 4.6 độ Richter xảy ra vào đêm 22 tháng 10, so với trận động đất xảy ra trước đó đo được 4.1 độ Richter.


Một phúc trình của chính quyền huyện Bắc Trà My được báo Tiền Phong trích dẫn cho biết có gần 250 nhà ở trong các khu dân cư bị nứt. Như vậy, tính tổng cộng đến nay, số nhà bị nứt vì các trận động đất xảy ra liên tiếp thời gian gần đây lên tới 820 căn.


Mặt khác, chính quyền tỉnh Quảng Nam – vùng ra động đất liên miên có liên quan đến đập thủy điện Sông Tranh 2 – xác nhận người dân trong vùng hiện nay hết sức hoảng loạn.


Thiệt hại về nhà cửa sau trận động đất tối 22 tháng 10 được ước lượng khoảng 1.2 tỉ đồng, tương đương 60,000 đô la. (PL)

Trung Quốc tận mua cá cơm, ngành nước mắm Việt Nam nguy cơ sập tiệm


VIỆT NAM (NV) –
Trung Quốc đang tăng sản lượng nhập cảng cá cơm khiến ngành chế biến nước mắm của Việt Nam đang đứng trên bờ vực phá sản.










Việt Nam bán sạch cá cơm cho người Trung Quốc. (Hình: Báo Người Lao Ðộng)


Theo Hội Nước Mắm Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang, hầu hết các làng chế biến và sản xuất nước mắm từ cá cơm – loại nguyên liệu duy nhất để làm nước mắm của tỉnh này đang bị tê liệt.


Theo báo Người Lao Ðộng, chỉ trong vài tháng qua, các công ty thương mại của tỉnh Kiên Giang đã cử người lùng sục để mua hết cá cơm của ngư dân. Giá cá cơm trên thị trường tỉnh Kiên Giang được đẩy lên cao gấp ba lần giá bình thường, từ 6,000 đồng vọt lên 18,000 đồng, tương đương 90 cent mỗi ký


Bà Nguyễn Thị Tịnh, chủ tịch Hội Nước Mắm Kiên Giang còn tiết lộ tin nói rằng các công ty Việt Nam mua sạch cá cơm trên thị trường, hấp chín rồi đóng gói để chở sang giao cho phía Trung Quốc.


Bà Tịnh còn cho biết, hầu hết các xưởng sản xuất nước mắm của tỉnh Kiên Giang đều “méo mặt” vì ngư dân không chịu giao cá cho mình, mặc dù đã nhận đủ tiền mua cá từ nhiều tuần lễ trước. Bà Tịnh cũng nói rằng, điều nghịch lý chắc chắn sẽ xảy ra gây xáo trộn thị trường nước mắm trong thời gian tới vì hội sẽ buộc phải nhờ chính quyền can thiệp.


Theo bà, chính quyền Kiên Giang có thể áp dụng “biện pháp cưỡng chế,” ép ngư dân bán cá với giá cũ. Người ta tiên đoán một cuộc đối đầu mới lại diễn ra giữa ngư dân và Hội Nước Mắm Kiên Giang vì kế hoạch này. Theo bà Tịnh, nếu không áp dụng biện pháp mạnh này thì ngành sản xuất nước mắm của tỉnh Kiên Giang có nguy cơ đóng cửa.


Tại tỉnh Bình Thuận mới đây, một số xưởng làm nước mắm nổi tiếng của thành phố Phan Thiết cũng đã lên tiếng tố cáo thương buôn Trung Quốc giả dạng khách du lịch đi mua hết cá cơm trong vùng. Cán bộ phường Mũi Né, xác nhận tin này khi cho rằng, “thương buôn Trung Quốc đậu xe sẵn, thanh toán tiền mặt tại chỗ rồi khuân cá lên xe chở đi ngay.”


Báo Người Lao Ðộng cũng cho hay, thương lái Trung Quốc xuất hiện tại vùng biển huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi cách nay hơn một tuần lễ, ra giá mua cá cơm cao gấp đôi giá thị trường. Ngư dân Quảng Ngãi lập tức quay lưng với cơ sở làm ăn cũ, ùn ùn chở cá đến bán cho người Trung Quốc ngay tại bãi biển.


Hiện nay, giá cá cơm nội địa tăng vọt mà không tìm đâu ra được nguồn cung ứng. Dư luận đang lo Việt Nam rồi sẽ phải bỏ đô la ra nhập cảng nước mắm của… Thái Lan cho người dân dùng. (VN)

Người đói khổ ở miền núi phía Bắc Việt Nam tăng vọt


VIỆT NAM (NV) –
Một phúc trình của Bộ Lao Ðộng-Xã Hội Việt Nam công bố sáng 23 tháng 10, báo động đỏ về tình trạng tăng vọt số người đói khổ ở các vùng miền núi phía Bắc.









Những phụ nữ người Dao ở Sapa, miền núi phía Bắc Việt Nam, nhiều người trong số họ lặn lội quanh năm vẫn không đủ ăn. (Hình: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)


Ðây là phúc trình kết luận về tính “hiệu quả” của một chương trình mang tên “Ðầu tư và phát triển kinh tế-xã hội tại các vùng dân cư của người thiểu số ở miền núi phía Bắc.”


Chương trình này được gọi tắt bằng bí số 135 đã được thực hiện từ năm 1998 cho đến năm 2010 tại Việt Nam.


Tác giả của bản phúc trình này cho biết, Chương trình 135 này bao gồm các dự án phát triển cơ sở hạ tầng, “cải thiện và nâng cao mức sống người dân” để nhằm làm giảm số gia đình nghèo đói tại vùng núi phía Bắc. Tuy nhiên, phúc trình này kết luận, nhà nước Việt Nam đã không đạt được mục tiêu “giảm nghèo.”


Báo Người Lao Ðộng cũng cho rằng, sau 12 năm thực hiện Chương trình 135, người dân thiểu số ở các vùng núi miền Bắc vẫn sống trong tình trạng “cơm ăn không đủ no, áo mặc không đủ ấm.”


Các viên chức của Vụ Chính Sách Dân Tộc còn xác nhận rằng các vùng dân cư thiểu số tại xã Phú Mỡ thuộc huyện Ðồng Xuân, tỉnh Phú Yên; xã Trà Xinh thuộc huyện Tây Trà, tỉnh Quảng Ngãi; xã Ngư Thủy Chung thuộc huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình… đã bị đói. Nhiều vùng khác như Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai… cũng đã bắt đầu bị nạn đói đe dọa.


Một viên chức của Vụ Chính Sách Dân Tộc thú nhận: “Nhiều thôn, nhiều bản một số xã thuộc tỉnh Cao Bằng không có đất sản xuất, thiếu cả nước tắm giặt. Người dân khổ đến mức tôi không biết dùng từ ngữ gì để diễn tả.”


Ông này còn nhận định: “Bài toán giảm nghèo là vô vọng và xem ra ngày ‘thoát nghèo’ của người dân các vùng khốn khổ nêu trên vẫn còn xa lắc xa lơ…” (PL)

Tin mới cập nhật