
Truy nã cục trưởng Hàng Hải Việt Nam
Công an: ‘Xem xét có lộ thông tin điều tra’
HÀ NỘI (NV) – Cơ quan điều tra của Bộ Công An Việt Nam vừa ban hành lệnh truy nã đối với ông Dương Chí Dũng, cục trưởng Cục Hàng Hải, thuộc Bộ Giao Thông Vận Tải vào hôm 22 tháng 5.
Ông Dương Chí Dũng. (Hình: Ngôi Sao)

Lệnh này được ban hành 5 ngày sau khi có lệnh bắt giam nhưng ông Dương Chí Dũng bỏ trốn.
Trong hai ngày 17 và 18 tháng 5, công an đã khởi tố, ra lệnh bắt tạm giam ông Dương Chí Dũng cùng hai thuộc cấp là Mai Văn Phúc, vụ phó Vụ Vận Tải (nguyên tổng giám đốc Vinalines); Trần Hữu Chiều (phó tổng giám đốc Vinalines) vì cáo buộc “Cố ý làm trái quy định nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng.”
Thời điểm đó, ông Phúc và ông Chiều đã bị bắt giữ. Riêng ông Dũng, báo chí Việt Nam ban đầu nói ông “đã bị bắt” nhưng sau đó lại loan tin “ông Dũng bỏ trốn.”
Vnexpress trích lời ông Trần Duy Thanh, cục trưởng Cục Cảnh Sát Ðiều Tra Tội Phạm về tham nhũng thuộc Bộ Công An, thừa nhận, “ông Dũng đã bỏ trốn” và nói thêm rằng “đang xem xét có lộ, lọt thông tin hay không, việc này sẽ làm sáng tỏ khi bắt được bị can.”
Ông Trần Duy Thanh cũng chính là người ký lệnh truy nã ông Dương Chí Dũng.
Một giới chức cao cấp của công an Việt Nam, Trung Tướng Phan Văn Vĩnh (tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát Phòng chống Tội phạm) nói với báo Tuổi Trẻ là, đã “kiểm soát tại các cửa khẩu nhằm ngăn chặn bị can bỏ trốn ra nước ngoài.”
Theo ông Vĩnh, “Sau khi xác định lần cuối cùng tất cả các biện pháp mà không tìm ra manh mối của bị can hoặc khi phát hiện bị can đã bỏ trốn ra nước ngoài thì mới truy nã quốc tế, nhờ đến Interpol.”
Ông Dương Chí Dũng được bổ nhiệm chức cục trưởng Hàng Hải vào tháng 2 năm 2012. Người bổ nhiệm ông Dũng chính là Bộ Trưởng Giao Thông Ðinh La Thăng.
Trước đó, ông Dũng từng là tổng giám đốc, chủ tịch Hội Ðồng Quản Trị Tổng công ty Hàng hải Việt Nam (Vinalines).
Kể từ năm 2005 đến 2010, theo thanh tra chính phủ Việt Nam, “thời kỳ ông Dương Chí Dũng làm tổng giám đốc, chủ tịch Hội Ðồng Quản Trị Vinalines từ năm 2005-2010 đã vung 22,853 tỉ đồng (khoảng 1 tỷ 150 triệu đô la) mua 73 tàu cũ trong đó có rất nhiều chiếc không sử dụng được.”
“Số tiền mua tàu trên gồm vay ngân hàng thương mại hơn 943 triệu đô la và 348.7 tỉ đồng. Trong đó có 17 tàu trên 15 tuổi, thậm chí tàu Lively Falcon 30 tuổi. Tất cả các tàu này không đủ điều kiện đăng ký tại Việt Nam mà phải treo cờ ngước ngoài như Mông Cổ, Panama…”
Vẫn theo thanh tra chính phủ Việt Nam, “Trong số 77 tàu cũ được mua từ nước ngoài đã qua sử dụng, công ty mẹ-Vinalines trực tiếp mua 14 tàu, với tổng vốn đầu tư trên 7,569 tỉ đồng. Bảy công ty cổ phần có vốn chi phối của Vinalines mua 41 tàu, tổng vốn đầu tư 14,480 tỉ đồng. Còn lại bảy công ty liên kết đã chi ra 804 tỉ đồng mua 18 tàu cũ.”
Ðể xảy ra thực trạng trên, theo báo Tuổi Trẻ, “giới kinh doanh vận tải biển nhận định việc kiểm soát đầu tư, mua sắm tàu biển cũ của Bộ Giao Thông Vận Tải đối với Vinalines quá lỏng lẻo.”
Cụ thể, theo “Thanh tra Chính phủ,” Vinalines có tới 36 tàu mua từ năm 2005-2010 bị lỗ nặng. Trong đó Vinalines và hai chi nhánh Sài Gòn, Hải Phòng có 100% vốn nhà nước mua 11 tàu cũ với giá 6,358.9 tỉ đồng. Kết quả kinh doanh tính đến hết năm 2010 lỗ 606.7 tỉ đồng. Các doanh nghiệp thành viên và có cổ phần chi phối của Vinalines đã mua 17 tàu với giá 6,643.2 tỉ đồng. Kết quả kinh doanh cũng bị lỗ 941.4 tỉ đồng. Ngoài ra, một số công ty khác có dưới 50% vốn nhà nước như Công ty Cổ phần Vận tải biển Hải Âu (Vinalines góp 26.26% vốn cổ phần) mua một tàu, kinh doanh đến hết năm 2010 lỗ 4 tỉ đồng, công ty cổ phần hợp tác lao động với nước ngoài Inlaco Hải Phòng mua 5 tàu, kinh doanh lỗ 19.3 tỉ đồng.”
Báo Tuổi Trẻ dẫn lời một vị nguyên là lãnh đạo Cục Ðăng Kiểm Việt Nam nhận xét, “Trong giai đoạn 2005-2010, Vinalines đã mua tàu cũ theo kiểu chơi chứng khoán! Sử dụng tiền vô tội vạ và thiếu tính toán nên hậu quả là nhiều tàu mua về khai thác bị thua lỗ. Chưa kể nhịp độ hoạt động thị trường kinh doanh vận tải biển quốc tế nên giá thị trường tàu cũ tháng này hạ 20-30% nhưng tháng sau có khi tăng đến 30-40% hoặc ngược lại.”
Lệnh truy nã ông Dương Chí Dũng. (Hình: VNE)
Trước vụ khởi tố 3 ông nói trên, một loạt cán bộ, viên chức của tổng công ty quốc doanh Vinalines, đã bị tống giam với các cáo buộc “tham ô tài sản” gồm Trần Hải Sơn (52 tuổi, cư trú tại Sài Gòn – tổng giám đốc công ty TNHH sửa chữa tàu biển Vinalines), Trần Văn Quang (37 tuổi cư trú tại tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu – trưởng phòng kế hoạch công ty TNHH sửa chữa tàu biển Vinalines). Ngoài ra còn có hai bị can Trần Bá Hùng (33 tuổi, trú tại tỉnh Khánh Hòa – phó trưởng bộ phận vỏ của công ty TNHH Hyundai Vinashin); Phạm Bá Giáp (40 tuổi, trú tại tỉnh Khánh Hòa – giám đốc công ty TNHH Nguyên Ân) cũng bị truy tố vì tội “tham ô tài sản.”
Bốn ông sau này đều dính vào vụ tham ô “trong quá trình sửa chữa ụ nổi No83M do xông ty TNHH sửa chữa tàu biển Việt Nam nhập về.” Theo đó, các ông này “đội giá” nguyên vật liệu, “khai khống” số sắt hàn, thông đồng với nhau để rút ruột nhà nước.
Sau vụ Vinashin và vụ tập đoàn Sông Ðà, đây là vụ bê bối thứ ba trong thời gian gần đây dính tới các tập đoàn quốc doanh được điều hành trực tiếp bởi chính phủ Việt Nam, mà người đứng đầu là Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng. (KN)
Người không nhận tội
* Duy Nhân
1. Tôi biết anh khi cùng đến trình diện “học tập” tại trường Pétrus Ký ngày 24 tháng 6 năm 1975. Anh sinh năm 1942, tốt nghiệp khóa 1 Chánh Trị Kinh Doanh Ðà Lạt.

Nguồn: Google
Sau khi ra trường anh bị động viên khóa 9/68 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Ðức, rồi được biệt phái làm việc ở Kỹ Thương Ngân Hàng, tức Ngân Hàng Quân Ðội ở đường Nguyễn Huệ,Sài Gòn. Anh là một thanh niên khỏe mạnh, to cao, chưa lập gia đình. Vì cận thị nên lúc nào cũng mang kính trắng. Trông anh ai cũng dễ nhận ra anh là một trí thức giàu tiềm năng, nhiều nghị lực. Anh có người chú ruột là kỹ sư làm bộ trưởng Bộ Công Nghiệp Nhẹ của chế độ Cộng Sản Bắc Việt. Sở dĩ tôi biết nhiều về anh là do khi bị đưa vào trại tập trung ở Thành Ông Năm, Hốc Môn, cũng như khi ra Phú Quốc tôi lúc nào cũng được “biên chế “cùng tổ, đội với anh, chỗ nằm cũng sát bên anh, vì người ta căn cứ theo thứ tự A, B, C của tên mỗi người khi lập danh sách. Tên anh rất lạ và dễ nhớ: Kha Tư Giáo.
Khi mới vào trại tập trung, ngoài giờ lao động khổ nhọc, các “cải tạo viên” còn phải học mười (10) bài chánh trị. Sau mỗi bài học là những buổi thảo luận trong tổ, đội. Mỗi người phải viết “bài thu hoạch” những gì mình “tiếp thu” được sau những bài giảng của cán bộ tuyên truyền, được gọi là giáo viên. Sau bài học đầu tiên đề tài thảo luận đưa ra là mọi người phải “liên hệ bản thân,” xác định mình là người có tội với nhân dân, với “cách mạng.” Người cầm súng thì giết bao nhiêu cách mạng trong từng trận đánh. Bác sĩ thì chữa trị cho binh sĩ lành bệnh để đánh phá cách mạng như thế nào. Người làm ngân hàng (như tôi và anh Kha Tư Giáo) thì có tội phục vụ cho nền tài chánh, dùng tiền nuôi dưỡng chiến tranh. Cảnh sát thì đàn áp nhân dân ra làm sao, vân vân… Trại của chúng tôi đa số là sĩ quan biệt phái. Họ nói biệt phái là phái làm công tác đặc biệt. Thí dụ giáo viên biệt phái là những người lãnh lương hai đầu, một bên là quân đội, một bên là giáo dục, được phái về dạy học để đánh rớt học sinh, buộc học sinh phải đi lính, biệt phái ngân hàng là sĩ quan được đưa về làm công tác ngân hàng, kiếm thêm thu nhập cho người lính để có thêm sức cầm súng. Do đó, sĩ quan biệt phái là những người có tội rất nặng với cách mạng và nhân dân hơn những người khác. Anh KTG thì cho rằng anh và các bạn anh không ai là người có tội. Các chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa cầm súng chống lại bộ đội Bắc Việt và quân nằm vùng là để tự vệ mà không hề chống lại nhân dân, đồng bào ruột thịt trong Nam cũng như ngoài Bắc. Riêng bản thân anh, sanh ra và lớn lên ở miền Nam, học hành và làm công tác chuyên môn ngân hàng để sống và phục vụ cho đất nước thì sao gọi là có tội. Lập trường anh Giáo không đáp ứng yêu cầu của Việt Cộng. Ðó là tấn thảm kịch của anh. Anh bị bắt làm kiểm điểm liên tục còn những người khác thì cũng bị bắt phải “giúp đỡ” anh nhìn thấy được tội lỗi của mình để được cách mạng và nhân dân khoan hồng. Càng kiểm điểm anh càng thấy mình là người vô tội. Bài viết lúc đầu thì dài, về sau chỉ còn bốn chữ thật to chiếm hết trang giấy: TÔI KHÔNG CÓ TỘI. Việt Cộng hỏi, anh trả lời những gì cần phải nói anh nói hết rồi. Bạn bè trong đội thấy anh giữ lập trường như thế thì rất nguy hiểm cho anh mà bạn bè cũng khổ. Vì sau giờ lao động cực nhọc đáng lẽ được nghỉ ngơi, lại phải ngồi kiểm điểm với anh đến mỏi mệt, chán chường. Nhiều người trách anh sao không biết “nín thở qua sông,” họ khuyên anh cứ viết đại vào giấy là mình có tội một cách chung chung, miễn là thực tế không làm gì hại nước, hại dân là được. Anh bảo như vậy là mắc lừa cộng sản và lương tâm không cho phép.
Khi tất cả cán bộ ở trại đều bất lực thì cán bộ cao cấp từ Sài Gòn được cử xuống. Những người này tỏ ta có tay nghề hơn. Nghe đâu là sư trưởng VÐG từng là thành viên của phái đoàn đàm phán Bắc Việt tham dự hội nghị Paris năm 1973, cùng với một đại tá chánh ủy sư đoàn (?).Họ không trấn áp anh mà tỏ ra lắng nghe và chịu đối thoại. Anh Giáo đã chứng tỏ bản lĩnh của mình bằng những câu hỏi đặt ra mà họ không trả lời được. Ngược lại, anh còn phản công, vạch trần tội ác của họ. Từ vai một người tù, một tội nhân anh trờ thành một công tố viên trước tòa, luận tội Việt Cộng. Bằng một giọng đầm ấm và trầm tĩnh, anh Giáo nói: “Chúng tôi là những người sanh ra và lớn lên ở miền Nam. Nhờ hạt gạo của đồng bào miền Nam nuôi lớn và trưởng thành từ nền văn hóa và giáo dục khoa học, nhân bản và khai phóng. Chúng tôi có lý tưởng của chúng tôi cũng như các anh có lý tưởng của các anh. Lý tưởng của các anh là dùng bạo lực để lật đổ chánh phủ hợp hiến, hợp pháp Việt Nam Cộng Hòa để bành trướng chủ nghĩa Cộng sản. Lý tưởng của chúng tôi là bảo vệ Tự Do, Dân Chủ. Các anh từ miền Bắc vào xâm lăng miền Nam, buộc lòng dân quân miền Nam phải cầm súng tự vệ. Chúng tôi có câu ‘giặc đến nhà đàn bà phải đánh.’ Chẳng lẽ một công dân cầm súng chống lại kẻ thù để bảo vệ bà con mình, gia đình mình, tổ quốc mình thì có tội?”
Hai cán bộ Việt Cộng im lặng, chỉ gật gật cái đầu. Một lúc sau, viên đại tá chính ủy lên tiếng: “Các anh chỉ là tay sai đế quốc Mỹ. Ở đâu có Mỹ, có bom đạn Mỹ thì chúng tôi đánh. Ðất nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một…”
Anh Giáo ngắt lời: “Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi, chớ gì? Các anh chỉ biết lặp lại mà không biết gì về quốc tế công pháp. Tôi nhắc lại, hiệp định Genève năm 1954 mà các anh đã ký ngày 20 tháng 7, 1954 quy định từ vĩ tuyến 17 trở ra là nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, từ vĩ tuyến 17 trở vào là nước Việt Nam Cộng Hòa của chúng tôi, được Liên Hiệp Quốc và quốc tế công nhận.”
Tên sư trưởng phản ứng: “Các anh là công cụ đế quốc Mỹ âm mưu chia cắt vĩnh viễn đất nước. Còn chúng tôi đánh Mỹ là để thống nhất đất nước, mang lại độc lập cho tổ quốc, tự do, hạnh phúc cho đồng bào.”
Anh KTG: “Nên nhớ, các anh mới là người âm mưu cùng thực dân Pháp chia cắt đất nước bằng hiệp định Genève năm 1954. Chúng tôi không hề ký vào hiệp định đó. Ðồng minh chúng tôi không phải chỉ có Mỹ mà có Ðại Hàn, Phi Luật Tân, Tân Tây Lan, Úc Ðại Lợi và tất cả quốc gia yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Các anh mới là tay sai Liên Xô và Trung Cộng. Chủ nghĩa cộng sản chủ trương bành trướng, xâm lược, nhuộm đỏ toàn thế giới chớ không riêng gì Việt Nam.”
Tên sư trưởng: “Người Cộng Sản làm cách mạng là để giải phóng các dân tộc khỏi áp bức, bóc lột mà đầu sỏ là đế quốc Mỹ để mang lại công bằng xã hội, ấm no, hạnh phúc cho mọi người.”
“Tôi thiết nghĩ những người cần được giải phóng là nhân dân miền Bắc đang thiếu tự do, dân chủ, đang sống đời lầm than cơ cực. Chúng tôi không cần các anh giải phóng.”
Bất ngờ, tên đại tá chánh ủy đập tay xuống bàn cái rầm. Ly nước trước mặt hắn ngã đổ tung tóe:
“Quân phản động!”
Anh KTG vẫn giữ điềm tĩnh và im lặng. Thời gian trôi qua nặng nề. Tên sư trưởng dịu giọng: “Các anh ôm chân đế quốc, bị đầu độc bởi vật chất xa hoa và văn hóa đồi trụy của chủ nghĩa tư bản thối tha nên không nhìn thấy tội lỗi của mình.”
Bằng một giọng ôn tồn mà cương quyết, anh Giáo trả lời: “Chúng tôi là người Việt quốc gia, không theo chủ nghĩa nào cả. Chủ nghĩa chỉ là lý thuyết, là giáo điều do con người đặt ra để phục vụ cho những mục tiêu chánh trị nhất định trong một giai đoạn lịch sử nhất định. Ðến lúc nào đó nó sẽ bị đào thải do không theo kịp sự tiến hóa không ngừng của xã hội. Còn chủ nghĩa cộng sản chỉ là chủ nghĩa ngoại lai, duy vật và sai lầm khi chủ trương vô gia đình, vô tôn giáo, vô tổ quốc, đi ngược lại bản chất con người, ngược lại truyền thống duy tâm , trọng đạo và nền văn hóa cổ truyền của người Việt. Nó quá tàn nhẫn và sai lầm khi chủ trương đấu tranh giai cấp bằng chuyên chính vô sản. Tôi cho rằng nó sẽ không tồn tại lâu dài.”
Thấy hai tên Việt Cộng vẫn im lặng, anh Giáo nói tiếp: “Trong thời gian Tết Mậu Thân năm 1968 các anh đã đồng ý hưu chiến để đồng bào an tâm vui đón ba ngày lễ cổ truyền của dân tộc. Vậy mà các anh lại tấn công vào các đô thị miền Nam, gieo rắc kinh hoàng, chết chóc cho người dân vô tội. Khi các anh rút lui khỏi Huế lại nhẫn tâm sát hại, chôn sống hàng ngàn dân lành. Các anh ký hiệp định Paris năm 1973 để chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam. Lúc nào các anh cũng giương cao ngọn cờ chống Mỹ cứu nước như chánh nghĩa đấu tranh của mình, nhưng khi Mỹ rút đi rồi thì các anh dốc toàn lực đánh chiếm miền Nam. Vậy mà các anh nói được là hòa bình, hòa giải dân tộc!”
Nói tới đây anh Giáo ngừng lại trong giây phút, rồi bất ngờ anh chỉ tay về phía hai cán bộ Việt Cộng: “Vậy thì giữa chúng tôi và các anh, ai mới là người có tội?”
Bấy giờ thì hai tên Việt Cộng giận run, nét mặt đanh lại, xám ngắt. Chúng không trả lời câu hỏi của anh Giáo mà đuổi anh ra khỏi phòng.
Bằng đủ mọi cách đấu tranh buộc anh Giáo nhận tội không kết quả, bọn Việt Cộng để cho phong trào lắng xuống. Ai cũng hồi hộp, lo lắng, không biết điều gì sẽ xảy đến cho anh KTG. Việt Cộng có thể mang anh ra bắn công khai về tội phản động như họ đã từng làm ở trại này mà anh Giáo cũng như mọi người trong trại đều biết. Thời gian này anh Giáo cho biết các em của anh đi học tập cùng đợt đã được ông chú bảo lãnh về hết, trong đó có người em ở trại kế bên, chỉ cách nhau một hàng rào dây thép gai. Ngày hai anh em chia tay nhau bên hàng rào, anh Giáo dặn em hãy về lo cho mẹ và gia đình và đừng lo gì cho anh, chắc là lâu lắm anh mới được về. Phần anh vẫn vui vẻ sống cùng anh em với tinh thần bình thản, một đôi khi còn tiếu lâm, khôi hài nữa. Anh thường hay hát những bài như Hà Nội, Niềm Tin và Hy Vọng, Anh lính quân bưu vui tính… Tôi hỏi sao không hát những bản nhạc của mình, anh nói hãy cố giữ nội quy của họ để họ không nói được mình. Anh Giáo là thế, lúc nào cũng tự trọng. Mười bài học chánh trị rồi cũng qua. Chúng tôi có nhiều giờ rảnh hơn vì lúc này không còn phải ngồi hàng giờ để thảo luận và “giúp đỡ” anh Giáo nữa. Nghĩ lại,Việt Cộng dùng từ cũng ngộ, như từ “giúp đỡ” được dùng trong trường hợp này. Chúng tôi xét thấy chẳng có ai đủ tư cách để giúp đỡ anh Giáo, ngược lại rất nể trọng anh và được anh giúp đỡ rất nhiều .
Vào những buổi chiều sau khi cơm nước xong, anh và tôi thường hay đi bách bộ dưới tàng những cây sứ có hoa màu trắng, tỏa hương thơm ngát. Chúng tôi thường trao đổi với nhau về chuyện ngân hàng và những vấn đề mà cả hai cùng quan tâm.
Thấy anh nhặt rất nhiều bông sứ, tôi hỏi: “Chi vậy?”
“Mai mốt về tặng người yêu.” Anh trả lời.
“Chắc là cô bạn rất thích hoa này?”
“Vì nó trắng tinh khiết và thơm dịu dàng.”
“Sợ tới chừng đó nó sẽ phai màu đi.” Tôi e ngại.
“Không sao. Dù hoa có phai màu nhưng chắc sẽ giữ được tình cảm của mình trong đó!”
“Anh lãng mạn quá.” Tôi nhận xét.
Anh Giáo cười để lộ hai cái răng khểnh và một đồng tiền dưới khóe miệng bên phải. Trông anh dễ thương hơn bao giờ hết!
Có lần trong lúc trò chuyện anh nói hiện nay anh ghét nhất là cái khẩu hiệu “Yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội.” Bản thân chủ nghĩa xã hội không ra gì thì làm sao mà yêu cho được. Theo anh Giáo, yêu nước là yêu nước. Không thể và không nên gán ghép nước Việt Nam với bất cứ một chủ nghĩa nào, dù là Chủ Nghĩa Xã Hội, Cộng Sản hay Tư Bản. Nếu những chủ nghĩa này sụp đổ thì không yêu nước nữa hay sao?
2. Ðêm 21 tháng 6 năm 1976 chúng tôi được chở bằng Motolova đến Tân Cảng xuống tàu há mồm 503 ra Phú Quốc. Chuyến đi thật kinh hoàng như địa ngục trần gian mà con người có thể tưởng tượng được. Hàng ngàn người bị dồn trên con tàu đóng kín cửa. Ăn uống, ói mửa, tiểu tiện chỉ có một chỗ, cho vào thùng phuy. Khi tàu cập bến Phú Quốc có nhiều tù nhân bị xỉu, những người còn lại đều kiệt sức. Tù nhân phải dùng chính những thùng phuy này để nấu cháo ăn ngay trong đêm. Cho tới hôm nay là ba mươi bốn năm, hình ảnh hãi hùng này vẫn còn ám ảnh tôi. Tôi ghi vào nhật ký:
Ðau đớn thay những linh hồn cháy lửa
Suốt đêm ngày tắm rửa với mồ hôi
Với cao tay quờ quạng chút hơi người
Miệng gào thét những âm thanh khiếp đảm
Ở Phú Quốc ngoài việc trồng rau để “cải thiện” bữa ăn, việc lên rừng đốn củi là công tác thường xuyên và cực nhọc nhất. Nhiều anh em nghe lời Việt Cộng, đi tìm vác những cây to để chứng tỏ mình là người “tiến bộ.” Anh Giáo thì không. Lúc nào anh cũng ung dung, tự tại. Anh chỉ tìm vác những cây vừa sức mình. Khi thấy cần phải nghỉ thì anh dừng lại nghỉ, mặc cho bọn vệ binh ôm súng canh giữ cho tới lúc hết mệt anh mới đứng lên đi tiếp. Anh khuyên anh em phải biết giữ gìn sức khỏe vì thời gian “học tập” hãy còn dài. Giờ đây ngồi ghi lại những dòng này, cảnh tượng của năm nào lại hiện ra trước mặt: Trong một buổi chiều ảm đạm, gió thổi ào ào. Một bên là biển, một bên là rừng. Ðoàn tù cả trăm người, dài hơn cây số, xếp hàng đôi, áo quần lôi thôi lếch thếch, vai vác những thân cây nặng nề, mồ hôi lã chã, chậm chạp lê bước trên những con dốc ngoằn ngoèo, trơn trợt. Nhiều người té lên té xuống. Hai bên và phía sau là những tên vệ binh ôm súng AK thúc giục.
Tới đầu một con dốc, anh Giáo đặt thân cây xuống, ngồi trên đó nghỉ mệt. Khi một người không đi nổi thì cả đoàn phải dừng lại chờ. Ðiều này bọn cai tù Việt Cộng không muốn. Tên chỉ huy đến chỗ anh Giáo bắt phải đứng lên đi tiếp Anh Giáo trả lời mệt quá nên phải nghỉ. Tên cán bộ không chịu. Thế là cuộc đấu trí bắt đầu. Ðến khi đuối lý, tên cán bộ rút khẩu K 54 ra khỏi vỏ. Cả đoàn tù hồi hộp. Cả khu rừng như nín thở. Tên cán bộ đến bên anh, nghiêm sắc mặt:
“Anh có đứng lên không?”
“Tôi còn mệt.”
“Anh không chấp hành lệnh phải không?”
“Tôi đã nói là tôi còn mệt. Bao giờ hết mệt tôi sẽ đi.”
Tên cán bộ hướng khẩu K54 về phía anh Giáo:
“Anh không đứng lên tôi bắn.”
Anh Giáo vẫn ngồi bất động, lạnh lùng đáp:
“Anh cứ bắn đi!”
Tên cán bộ Việt Cộng bóp cò. Hai tiếng nổ chát chúa vang động cả khu rừng. Một bầy chim bay lên tán loạn, kêu quang quác… Nhiều người tù gục xuống, ôm ngực:
“Lạy Chúa tôi.”
Sự việc diễn ra chỉ trong vài giây ngắn ngủi nhưng đã nói lên tất cả nét bi hùng của cuộc chiến sau “hòa bình” mà kẻ có vũ khí trong tay đã thua, đồng thời tính chất anh hùng của người chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trong hoàn cảnh sa cơ thất thế vẫn sáng ngời, chói lọi. Người tù đã thắng! Không biết vì sợ hãi hay run tay mà đường đạn nhắm vào anh Giáo đã đi trượt một bên tai, làm bể nát phần thân cây mà anh Giáo đang ngồi trên đó. Tôi thì sửng sốt, bàng hoàng, tưởng như mình vừa trải qua một giấc mơ, vừa chứng kiến một cảnh chỉ có thể xảy ra trên màn ảnh, truyền hình!
Anh Giáo thường hay kể truyện Tam Quốc, truyện Thần Ðiêu Ðại Hiệp, truyện Tây Du Ký cho chúng tôi nghe. Hết truyện Tàu đến truyện tiếu lâm, làm cho đời sống tù tội bớt căng thẳng. Sau một thời gian ở Phú Quốc,Việt Cộng nhiều lần cho họp liên trại, phát động lại chiến dịch đấu tranh bắt anh Giáo nhận tội, nhưng rồi không thể nào lay chuyển được tư tưởng của anh.
Riêng đám tù binh chúng tôi bấy giờ rất thoải mái chớ không còn căng thẳng như lúc ở Hốc Môn. Người ta chỉ tổ chức đấu tranh với anh Giáo cho có lệ. Những lần như thế chúng tôi khỏi phải lên rừng vác củi, được nghỉ lao động, lại thích hơn.
Nhưng thời khắc định mệnh đã tới! Một hôm trong lúc xếp hàng điểm danh cuối ngày, cán bộ Việt Cộng ra lệnh cho anh Giáo phải bỏ kính ra. Anh trình bày vì cận thị từ lâu nên không bỏ ra được. Chỉ chờ có thế, chúng ra lệnh nhốt anh vào cũi sắt làm bằng dây thép gai, thứ mà chúng ta hay gọi là chuồng cọp, diện tích rất hẹp, nằm không được mà ngồi cũng không được. Chuồng cọp để giữa trời, không có mái che mưa che nắng. Ngay từ năm 1930, khi thành lập đảng Cộng Sản, họ đã có chính sách “Trí, Phú, Ðịa, Hào, đào tận gốc bốc tận rễ.” Anh KTG là một trí thức mặc dầu thua trận vẫn cương quyết giữ vững lập trường chống Cộng và quyết tâm bảo vệ chánh nghĩa Quốc Gia thì sẽ bị tiêu diệt là điều khó tránh khỏi. Tiến sĩ toán ÐXH, cá nhân tôi và biết bao anh em khác cùng đội cũng mang kính trắng giống như anh KTG mà không hề bị làm khó dễ. Ðiều này được giải thích như thế nào đây? Mỗi ngày Việt Cộng chỉ cho anh Giáo nửa chén cơm lạt. Anh lại tuyệt thực để đấu tranh và phản đối chính sách dã man và sự trả thù hèn hạ của chúng. Ngoài tuyệt thực, anh Giáo còn dùng lời ca, tiếng hát để làm vũ khí đấu tranh. Bài hát anh Giáo sử dụng là bài Ðêm Nguyện Cầu, trong đó có những câu: “Con tim chân chính không bao giờ biết đến nói dối… Nghẹn ngào cho non nước tôi, trăm ngàn ưu phiền…”
Có lẽ trong giờ phút đó,anh Giáo biết rằng mình đã ở vào thế hoàn toàn tuyệt vọng và chỉ có thể nguyện cầu mà thôi. Ðây là lần đầu tiên mà có lẽ cũng là duy nhất trong đời, tôi nhìn thấy một người hát bằng tất cả linh hồn như vậy. Anh Giáo thường cất tiếng hát của mình vào những đêm khuya thanh vắng. Giọng hát của anh bay vào không gian, vào từng lán, trại, có lúc thật cảm xúc, có lúc nghe rợn người như âm thanh phát ra từ cõi chết. Nhiều người nghe anh hát thì ngủ không được, nhiều người đang ngủ thì bừng tỉnh dậy và khóc nức nở. Bài Ðêm Nguyện Cầu là của Lê-Minh-Bằng. Anh Bằng năm nay vẫn còn sống ở Mỹ, chắc anh không ngờ sáng tác của anh lại có người sử dụng trong hoàn cảnh đắng cay như vậy. Giờ đây mỗi lần nghe lại bài hát này tôi không cầm được nước mắt vì nhớ tới người bạn của mình. Lời ca của anh Giáo rồi thì cũng yếu dần và tôi không nhớ cho đến khi nào thì tắt lịm. Anh bị xuống sức rất nhanh. Từ một thanh niên khỏe mạnh cao hơn một thước bảy, chỉ trong vòng một tháng anh chỉ còn là một bộ xương, duy có đôi mắt là còn tinh anh, sáng ngời, khiến cho nhiều người không dám nhìn thẳng vào mắt anh, nhất là cán bộ Việt Cộng.
Ngày 20 tháng 6 năm 1977 Việt Cộng cho di chuyển một số tù nhân từ Phú Quốc về Long Giao, Long Khánh. Anh Giáo di chuyển đợt đầu, tôi thì đi đợt kế tiếp. Trong lúc di chuyển, anh Giáo bị còng tay, lúc nào cũng có vệ binh ôm súng canh chừng. Ngay khi về tới Long Giao tôi vội đi tìm anh Giáo. Khi gặp được anh thì anh đang hấp hối. Tôi nắm tay anh, bàn tay lạnh ngắt. Lời nói cuối cùng anh nhắn lại với tôi là khi nào được về thì nói tất cả sự thật cho gia đình anh biết. Tôi hỏi địa chỉ ở đâu thì anh thều thào trong hơi thở rất yếu. Hình như anh thốt ra hai chữ Huyền Trân. Sau này khi đi lao động tình cờ tôi gặp được nấm mộ của anh, phủ đầy cỏ dại ở một góc sân banh hoang vắng. Trên mộ có tấm bảng gỗ nhỏ có đề tên anh, nét chữ nhạt nhòa.
3. Tôi được tha về cuối năm 1977. Mặc dầu phải đương đầu với biết bao khó khăn trong đời sống hàng ngày đối với một người vừa mới ra tù, tôi vẫn để tâm đi tìm gia đình anh Kha Tư Giáo. Theo quyết định ra trại, tôi chỉ được tạm trú ở nhà một tháng, sau đó phải chịu sự điều động của địa phương đi “Kinh Tế Mới.” Nhờ may mắn, tôi xin được giấy chứng nhận là thuộc diện sử dụng vào công việc của thành phố. Từ đó tôi xin được việc làm và dần dần ổn định được đời sống. Tôi đã tìm khắp mọi nẻo đường, từ Sài Gòn vô Chợ Lớn, Bà Chiểu, Phú Nhuận, nhất là đường Huyền Trân Công Chúa, đường có hai chữ Huyền Trân mà tôi đã nghe anh Giáo thốt ra trong lúc lâm chung. Nhưng con đường này toàn là biệt thự, có vẻ là công sở hơn là nhà tư nhân. Tôi cứ đi qua, đi lại con đường này không biết bao nhiêu lần. Khi tôi vào hỏi đều nhận được cái lắc đầu của chủ nhà. Cũng có lần tôi cầu may lên Thành Ủy Sài Gòn ở đường Trương Ðịnh, quận Ba để hỏi thăm về đồng chí KVC, bộ trưởng Bộ Công Nghiệp Nhẹ nhưng tôi không qua được cổng bảo vệ vì khi được hỏi quan hệ như thế nào với đồng chí bộ trưởng thì tôi trả lời quanh co mà không chứng minh được gì cả.
Trong suốt hai mươi năm ở Sài Gòn không tìm được gia đình anh Giáo thì tôi được người em vợ bảo lãnh đi Mỹ, định cư ở Chicago vào cuối năm 1997.
Sang Mỹ tôi vẫn tìm cách thực hiện nguyện vọng cuối cùng của người bạn quá cố. Tôi cố gắng dò hỏi trong số bạn bè mà tôi liên lạc được xem có ai biết gia đình họ Kha ở đâu không. Một lần nữa tôi không có tin vui. Ðiều tôi làm được là cuối tháng 12 năm 2001 tôi viết lại câu chuyện về anh Kha Tư Giáo, đặt tựa đề Người Không Nhận Tội và gửi cho tờ Việt Báo ở California, mục “Viết về nước Mỹ.” Tôi chọn mục này vì đây là diễn đàn có số độc giả rất lớn, ở khắp nơi trên thế giới, biết đâu gia đình anh Giáo sẽ đọc được. Hy vọng của tôi rất mong manh vì bài của tôi không nói gì về nước Mỹ mà chỉ viết về người bạn của mình đã ngã gục trong tù Cộng Sản. Vậy mà không ngờ, bài viết cũng được chọn đăng và được phổ biến trên hệ thống thông tin toàn cầu. Tôi lại hồi hộp chờ đợi bài viết của mình đến với gia đình anh KTG. Ngày 23 tháng 1 năm 2002 tôi nhận được email của Ban Chủ Nhiệm Việt Báo chuyển cho cùng với bức điện thư của anh KTC, em của anh KTG gửi từ Autin, Texas, báo tin gia đình anh đã đọc được bài viết của tôi. Bức điện thư ngắn ngủi nhưng đã gây cho tôi một cảm xúc mạnh, một niềm vui lớn. Bạn hãy tưởng tượng cũng biết được là tôi hạnh phúc như thế nào khi nỗi niềm đã được giải tỏa, khi ước mơ 25 năm đã thực hiện được, nhất là ước mơ đó là của người quá cố, nên có tính cách linh thiêng.
Chiều Chủ Nhật, 27 tháng 1 năm 2002, tôi đang ở nhà thì nhận được điện thoại từ Texas:
“Hello! Tôi là KHT, em ruột anh Kha Tư Giáo. Xin lỗi có phải…”
“Tôi, Duy Nhân đây.”
“Chào anh Duy Nhân! Có phải anh là tác giả bài viết Người Không Nhận Tội?”
“Tôi đây chị.”
“Hân hạnh được nói chuyện với anh. Gia đình tôi đọc được bài viết của anh trên Internet. Không ngờ sự thật như vậy…”
Tới đây thì tiếng nói đứt quãng.
Tôi nghe được cả sự nghẹn ngào bên kia đầu dây.
Chị HT quá xúc động. Tôi cũng vậy. Tôi giữ được im lặng trong một phút, rồi nói:
“Ðây là giây phút mà tôi chờ đợi suốt hai mươi lăm năm nay.”
“Gia đình chúng tôi cám ơn anh nhiều lắm.”
“Tôi chỉ làm nhiệm vụ đối với anh Giáo, một người bạn của tôi.”
“Bài viết của anh nói lên được nhiều điều. Qua đó, gia đình tôi hiểu rõ sự thật về anh Giáo, về cộng sản mà nhiều cán bộ cao cấp theo cộng sản suốt đời cũng không hiểu được.”
Tôi lại nghe tiếng nức nở bên kia đầu dây. Chị HT lại khóc. Sau đó chị kể cho tôi nghe những sự kiện tiếp theo cái chết của anh Giáo. Chín tháng sau khi anh Giáo chết thì Việt Cộng mới báo tin về gia đình, Họ có hoàn lại cho gia đình một số vật dụng cá nhân, trong đó có cặp kính trắng. Bây giờ tới phiên tôi đau lòng và xót xa khi nghe nhắc tới cặp kính trắng. Ðó chứng tích của sự trả thù hèn mọn và một chính sách sai lầm đối với trí thức, đối với người thuộc chế độ cũ mà tôi là nhân chứng từ đầu tới cuối. Khi gia đình nhận được giấy báo tử của anh Giáo thì mẹ và các em đi gặp cán bộ có chức quyền để hỏi tin tức. Họ nói anh Giáo nhịn ăn cho tới chết. Mẹ anh hỏi lý do gì khiến anh Giáo phải tuyệt thực, anh Giáo có tội gì phải biệt giam, đề nghị cho xin bản án hoặc biên bản về cái chết của anh Giáo. Việt Cộng không trả lời. Mặc dầu uất ức nhưng mẹ anh cố kiềm nước mắt không bật khóc trước mặt Việt Cộng. Ðến khi mẹ anh Giáo đề nghị được dẫn đi tìm mộ thì bọn Việt Cộng lại tỏ ra khó chịu và đòi hối lộ. Cuối cùng, bà và các em phải đi tìm một mình và dĩ nhiên là không thể nào tìm được! Vì quá đau buồn, mẹ anh Giáo qua đời sau đó ít lâu. Khi tôi nhắc đến tên Huyền Trân thì chị nói đó không phải là tên đường mà là tên của chị. Có lẽ trong lúc lâm chung anh Giáo gọi tên chị mà tôi tưởng là tên đường. Chị HT nói cho tới bây giờ gia đình chị không ai biết anh Giáo nằm ở đâu. Tôi thì biết rất rõ. Ngôi mộ quay đề về hướng Ðông ở một góc sân banh. Trên mộ có xuất hiện một cây hoa dại có bông rất lạ. Ngày xưa mỗi lần đi lao động về ngang qua ngôi mộ tôi đề bứt vài bông đem về cắm trong lọ mà tưởng tượng anh Giáo như còn sống. Anh Giáo đã chết một cách vô danh mà anh hùng như loài hoa kia đã dũng cảm vươn lên giữa khô cằn và gai góc.
Sau chị HT thì anh KTH, em kế anh Giáo từ bên Pháp đã liên lạc với tôi bằng thư và nói chuyện qua điện thoại. Anh cho biết rõ hơn về tính tình ngay thẳng, cương trực của anh Giáo. Anh H tỏ ra rất hãnh diện và tự hào về người anh của mình, đã chọn cái chết mà không phải ai cũng làm được. Anh đã thanh thản đi vào trang sử bi hùng của Quân Lực VNCH và dân tộc.
Anh Kha Tư Giáo ơi! Ở một nơi nào đó chắc là anh đã mãn nguyện vì ước muốn sau cùng của anh đã được thực hiện, dầu có muộn màng. Bài mà tôi viết về anh người ta đã lấy dựng thành kịch (1), cho phổ biến, trình chiếu khắp nơi mà không xin phép tác giả. Thôi thì hãy ngậm cười mà tha thứ cho họ, tha thứ tất cả. Tha thứ cho những kẻ đã hành hạ anh, những kẻ bỏ đói anh, tha thứ luôn cho cái chuồng cọp nhốt anh đêm ngày và cái còng sắt siết chặt tay anh rớm máu! Bây giờ đã là ba mươi bốn năm, vậy mà tôi tưởng như mới ngày nào… Lịch sử vẫn đang ghi nhận những sự thay đổi, những bước tiếp diễn lạnh lùng của nó. Có những điều anh nhận định, anh mong mỏi bây giờ đã là sự thật, ngoại trừ Tự Do và Hạnh Phúc cho mọi người. Gia đình anh có nhiều thay đổi: Mẹ anh đã qua đời, ông chú anh cũng đã ra đi. Người ta dùng tên chú anh để đặt tên một con đường nhỏ ở Thủ Ðức nhưng lại viết sai chính tả! Anh còn lại những người thân nhưng đã phân tán mỗi người mỗi ngã. Có người còn ở Việt Nam, có người ở Pháp, ở Mỹ… Tôi vẫn đang liên lạc với họ, vẫn nghe tiếng họ nói mà chưa một lần gặp mặt. Vậy mà cảm thấy như đã thân quen tự thuở nào. Về phần tôi, khi nào điều kiện cho phép tôi sẽ về lại Việt Nam. Tôi sẽ đi tìm ngôi mộ của anh, sẽ thắp lên đó một nén hương và trồng bên cạnh đó một cây sứ có bông màu trắng.
(Nguồn: [email protected])
Ghi chú:
(1) Bài viết Người Không Nhận Tội đã được Trung Tâm Băng Nhạc Asia dàn dựng với cùng tựa đề, do ban kịch Sống-Túy Hồng trình diễn trong cuốn Asia số 36 (chủ đề Người Lính) tưởng niệm 27 năm tháng 4 đen (30/4/1975-30/4/2002).
Bài này được viết lại tháng 4 năm 2010 để tưởng niệm 35 năm ngày mất nước.
Biện lý quận Cam đề nghị án tử hình nghi can giết 6 người
SANTA ANA (OCR) – Ông Tony Rackauckas, biện lý Orange County, hôm Thứ Hai cho biết sẽ đề nghị án tử hình cho một lính Thủy Quân Lục Chiến can tội giết hai mẹ con và 4 người không nhà (homeless) khác.

Thư viện và viện bảo tàng Richard Nixon ở Yorba Linda. Nghi can Itzcoatl “Izzy” Ocampo đã giết một người homeless 57 tuổi phía sau thư viện này cuối năm ngoái. (Hình: Gabriel Bouys/AFP/Getty Images)
Itzcoatl “Izzy” Ocampo, 24 tuổi, ở Yorba Linda, cựu chiến binh Thủy Quân Lục Chiến phục vụ một nhiệm kỳ ở Iraq, đã bị đại bồi thẩm đoàn truy tố, sẽ phải ra trước tòa án ngày 10 tháng 9 về hành động sát nhân. Nghi can hiện bị giam không được đóng tiền bail tại ngoại.
Theo cáo trạng Ocampo đã đâm chết bà Raquel Estrada 53 tuổi, và người con trai trưởng Juan Herrera 35 tuổi, tại nhà ở Yorba Linda hồi tháng 10 năm ngoái. Nhân viên diều tra chỉ khám phá ra sự việc này sau khi nhận thấy có những dữ kiện tương đồng với cái chết của 4 người homeless do Ocampo hạ sát hai tháng sau đó, từ ngày 20 tháng 12, 2011.
Biên bản của đại bồi thẩm đoàn họp tháng 3 vừa qua ghi nhận Ocampo đã thú nhận tội trạng giết 6 người qua những cuộc hỏi cung của nhân viên điều tra. Tờ O.C. Register cho biết Ocampo khai đã gia nhập Thủy Quân Lục Chiến nhằm học biết cách giết người và bất mãn khi không được chỉ định vào nhiệm vụ chiến đấu. Ðương sự khai đã giết 4 người homeless vì họ dễ bị tấn công, còn việc giết hai mẹ con bà Estrada là vì họ đã coi rẻ mình. Bốn người homeless, tuổi từ 42 đến 64 đã bị Ocampa giết trong những hoàn cảnh và nơi chốn khác nhau, thời gian từ 20 tháng 12 đến 30 tháng 12. (HC)
Làm sao gây tinh thần trách nhiệm
Ngô Nhân Dụng
Tại thành phố Vũ Hán, trên đường Phiên Dương có ngôi nhà sáu tầng, được cất lên vào đầu thế kỷ 20, đặt tên là Cảnh Minh Ðại Lâu.
Sau năm 1997, những người quản lý ngôi nhà nhận được một bức thư gửi từ Anh quốc gửi sang. Trong lá thư viết rằng: “Công ty chúng tôi phụ trách xây dựng Cảnh Minh Ðại Lâu vào năm 1917. Theo bản thiết kế thì thời hạn sử dụng ngôi nhà này chỉ được 80 năm. Nay đã đến thời hạn đó cho nên chúng tôi gửi thư này nhắc quý vị chú ý, và có những hành động cần thiết.”
Bức thư này chắc chắn làm những người đang sống tại Cảnh Minh Ðại Lâu phải ngạc nhiên, họ không biết phải làm gì! Một tác gia người Trung Quốc kể lại câu chuyện trên, nêu cao tinh thần trách nhiệm của người ngoại quốc để làm gương cho dân nước ông. Ông Hà Tông Tư, trong cuốn “Người Trung Quốc và những căn bệnh trong nhân cách” đã tự hỏi, “không biết cái gì khiến cho một nhóm người trong công ty trên vẫn lo làm tròn trách nhiệm của họ,” về một công trình xây cất ở một nước xa xôi, từ 80 năm trước, trong khi các chủ nhân cũ của ngôi nhà cho tới những người ký hợp đồng, những người vẽ đồ án, những người làm công việc xây dựng đã chết hết cả rồi!
Vậy yếu tố nào đã tạo nên những con người có tinh thần trách nhiệm cao như ở công ty Anh quốc này? Người ta có thể giải thích là người Anh vốn có tinh thần trọng danh dự và trách nhiệm cao (hơn người Trung Hoa). Nhưng chúng ta không thể dễ dàng tin rằng một dân tộc nào lại tốt hơn dân tộc khác. Loài người sinh ra đều như nhau, dân tộc nào cũng có người tốt hay người xấu. Chỉ có cuộc sống trong xã hội đã tạo ra những thói sống khác nhau. Các thói quen được lập lại mãi, lâu ngày sẽ tạo thành tập quán, muốn bỏ cũng không được. Tập quán được phổ biến cho một số đông người, ai cũng thấy nên theo, sẽ trở thành một đặc tính của dân tộc. Khi chúng ta nói người Ðức, người Nhật tôn trọng lợi ích chung; người Việt Nam hiếu khách; hay người Canada giữ nhà cửa sạch sẽ; thì đó là vì họ đã được tập huấn các thói quen này từ lâu, nhiều đời lâu hơn các dân tộc khác.
Người Anh quốc có thói quen tôn trọng luật pháp. Khi tôn trọng luật lệ thì người ta tự nhiên làm đúng các hợp đồng mình đã ký kết; vì các hợp đồng đều dựa trên pháp luật. Bản Ðại Hiến Chương (Magna Carta) là một bản hợp đồng giữa vua Anh và các nhà quý tộc được ký kết vào thế kỷ 13 để giới hạn quyền hành của ông vua. Nó trở thành nền tảng bản Hiến Pháp bất thành văn và các luật lệ của dân tộc này. Cứ như thế, họ có hơn 700 năm tập thói quen sống theo luật lệ. Vào năm 1917, luật lệ về xây cất ở nước Anh có thể đã quy định bổn phận một người, hay một công ty xây cất là phải thông báo đầy đủ các điều kiện của ngôi nhà mình xây lên, tránh cho người cư ngụ trong ngôi nhà khỏi bị tai nạn vì không biết các nhược điểm trong cơ cấu. Cho nên, 80 năm sau, một công ty xây cất bên Anh đã làm bổn phận báo cho những người cư ngụ trong ngôi nhà mình xây, cho họ biết là ngôi nhà có thể bị hư vì đã qua thời hạn hữu dụng. Không cần ai giảng đạo lý làm người cho các vị giám đốc công ty trên. Chỉ cần một người thư ký trong công ty xây dựng giữ đầy đủ sổ sách, là có thể thấy ngay phải gửi lá thư đó, đúng ngày, đúng tháng.
Sau khi kể mấy câu chuyện như trên, ông Hà Tông Tư cũng nhận xét rằng người Trung Hoa xưa nay thiếu tinh thần trách nhiệm. Và ông cũng tìm ra nguyên do là vì chế độ chuyên chế ở nước Tàu, suốt mấy ngàn năm lịch sử: “Trốn trách nhiệm, tìm kẻ chịu tội thay cho mình, là truyền thống lâu đời ở Trung Quốc… nếu ông vua mà sai lầm thì đó là vì bọn gian thần hay yêu nữ xúi bẩy… người ta trút bỏ tội lỗi lên đầu kẻ khác. Thượng bất chính hạ tắc loạn. Cái tật trốn trách nhiệm đó được truyền xuống cho toàn dân Trung Quốc!” Tất nhiên, người Việt Nam cũng bị nhiễm những thói quen vô trách nhiệm do chế độ chuyên chế gây nên, không khác gì người Trung Quốc!
Hà Tông Tư phân tích thấy trong mỗi người Trung Hoa có hai nhân vật, một ông chủ và một người nô lệ. Tiêu biểu là nhân vật A Q. của Lỗ Tấn. Khi đóng vai ông chủ thì xưng hùng xưng bá, ngang ngược tàn bạo, tự coi mình như thần thánh, nịnh trên đạp dưới, ngoan cố không chịu thay đổi. Nhưng lúc đóng vai anh nô lệ thì tự khinh rẻ mình, nhẫn nhịn phục tùng, gian xảo dối trá, lười biếng vô lại, nhẹ dạ tin mê, khép kín bảo thủ.
Cả ông chủ lẫn thằng nô lệ không ai cần đến tinh thần trách nhiệm cả. Nó thành một tập quán ăn sâu vào cả xã hội. Nhà nước càng chuyên chế thì những thói quen vô trách nhiệm càng nhập vào sâu thêm. Những thói xấu truyền thống của người Trung Hoa không cần phải đem các vụ làm trứng vịt giả, hay làm đĩa nhạc lậu ra để chứng minh. Nó đã thể hiện rõ ràng trong vụ Luật Sư Trần Quang Thành, người mới được đưa gia đình sang tị nạn ở Mỹ với danh nghĩa đi học luật!
Ông Trần Quang Thành đã từng được chính quyền xã, tỉnh tuyên dương như một anh hùng khi ông tranh đấu cho quyền bình đẳng của những người bị khuyết tật, như chính ông mắt đã bị mù từ thủa nhỏ. Nhưng khi ông bắt đầu bênh vực các phụ nữ bị cưỡng bách phá thai, thì chính quyền phản ứng ngay bằng cách đe dọa, đánh đập, bỏ tù ông. Cũng như nhiều người Trung Hoa khác, ông Trần Quang Thành cứ nghĩ rằng nếu mình khiếu kiện lên cấp cao hơn, thì chắc các khó khăn sẽ được “ở trên” giải quyết. Ngay sau khi trốn từ Sơn Ðông lên Bắc Kinh ông còn thu một băng video gửi cho Thủ Tướng Ôn Gia Bảo để trần tình xin “đèn trời soi xét” điều tra những việc lạm quyền ức hiếp do chính quyền huyện Lâm Nghi (Linyi) bắt gia đình ông phải chịu.
Nhưng tất cả đều vô vọng. Bởi vì một chế độ chuyên chế không thể nào “tự chặt chân chặt tay” của họ được. Bằng cớ là Lý Quần (Li Qun), bí thư huyện Lâm Nghi không những hoàn toàn được cấp trên bảo vệ mà còn được thăng thưởng! Lý Quần cai quản xã này từ năm 2002; đến năm 2004 đã ra lệnh thi hành chương trình kiểm soát sinh sản triệt để hơn, bắt các bà phải phá thai và triệt sản sau khi đã sinh số con theo nhà nước quy định. Trần Quang Thành bênh vực các phụ nữ nạn nhân này, khiếu nại lên quận, lên tỉnh không được, năm 2005 đã lên tận Bắc Kinh. Thử tưởng tượng một người khiếm thị đi đường xa 650 cây số như vậy, phải hy sinh chịu cực khổ như thế nào. Tại Bắc Kinh, Trần Quang Thành đã bị một bọn “khuyển ưng, khuyển phệ” bắt cóc, trói bỏ vào xe, chở thẳng về và tống giam. Một năm sau mới chính thức bị truy tố về một tội danh bịa đặt, dựng đứng. Luật sư đến thăm để làm hồ sơ bào chữa cho ông cũng bị đánh trong lúc bị tra hỏi. Năm 2010 Trần Quang Thành mới được thả.
Trong khi đó thì Bí Thư Lý Quần được thăng thưởng. Năm 2007 anh ta được lên chức làm trưởng khối tuyên truyền của tỉnh Sơn Ðông và được đưa vào Thường Vụ Tỉnh cho đến bây giờ! Năm 2010, Lý Quần được phong làm bí thư Thành Ủy Thanh Ðảo, một bến cảng và đô thị lớn nhất tỉnh, nơi sản xuất thứ bia nổi tiếng mang tên thành phố! Trong khi đó thì Trần Quang Thành tiếp tục bị chính quyền xã, huyện giam lỏng, đe dọa và gia đình anh bị sách nhiễu. Ðó là “chuyện hàng ngày ở huyện,” bất cứ huyện nào ở Trung Quốc hay ở Việt Nam!
Chế độ chuyên chế của đảng Cộng Sản không khác gì chế độ vua quan đời xưa. Những người như Trần Quang Thành ở Trung Quốc hay Ðoàn Văn Vươn ở Việt Nam đều là nạn nhân của chế độ “phủ bênh phủ, huyện bênh huyện,” khi tất cả các quan chức cấu kết với nhau bóc lột và đè nén dân chúng. Những người như Trần Quang Thành hay Ðoàn Văn Vươn đang cố phá vỡ guồng máy chuyên chế đó, và họ đã làm gương cho nhiều người bắt chước. Ở nước ta, đồng bào Văn Giang, Vụ Bản hay Thanh Hóa đang tiếp tục cuộc đấu tranh đòi quyền sống xứng đáng làm người. Phải lật đổ chế độ chuyên chế thì mới tập được thói quen sống có trách nhiệm.
Tại Trung Quốc, trong thời gian Trần Quang Thành tránh nạn trong Tòa Ðại Sứ Mỹ ở Bắc Kinh, khi anh nằm bệnh viện chờ đi Mỹ, guồng máy thông tin của đảng Cộng Sản Trung Quốc đã tìm cách bôi nhọ anh; nhưng họ thất bại. Nhiều nhật báo ở Bắc Kinh “chửi” Trần Quang Thành là quân “tốt” bị đại sứ Mỹ xúi giục và lợi dụng. Trái với ý muốn của ban tuyên huấn đảng, các bloggers ở Trung Quốc không chỉ trích Trần Quang Thành mà lại phê phán các tờ báo đó là bất công, đồng lõa với cường quyền. Ngày hôm sau, một trong các tờ báo “lề phải” của nhà nước là Tin Bắc Kinh đã nhận thấy trách nhiệm của họ, họ viết lời xin lỗi trên mạng. Sau khi hàng ngàn người phản ứng hoan hô tinh thần phục thiện của tờ báo, chính báo này lại được lệnh phải gỡ cả lời xin lỗi xuống! Chính quyền chuyên chế nuôi dưỡng đầu óc vô trách nhiệm!
Ngay cả việc chỉ trích ông Gary Locke, đại sứ Mỹ ở Bắc Kinh, cũng gây phản ứng ngược. Tờ Bắc Kinh Nhật báo viết một bài phê phán ông Locke (người Mỹ gốc Hoa, tên đọc lối Hán Việt là Lạc Gia Huy) và nêu ý kiến đòi ông Locke phải cho biết tài sản của ông có những gì, nhờ đâu mà có. Nhưng ngay sau đó, trên blog của một nhà báo Trung Quốc, người ta đã nói rằng ông Locke đã phải khai tài sản từ lâu, ít nhất từ khi ra ứng cử thống đốc tiểu bang Washington! Sau một làn sóng chỉ trích và chế nhạo của độc giả, Bắc Kinh Nhật báo phải bóc cả bài chỉ trích đi!
Hiện tượng trên cho thấy thanh niên trí thức Trung Quốc không ngu dốt như đảng Cộng Sản nghĩ. Họ không dễ bị lừa dối và lợi dụng như những con cừu làm nô lệ cho chế độ chuyên chế. Trong cuộc tranh chấp về vùng biển Scarborough với Phi Luật Tân, trong khi có hơn 300 người Phi đến biểu tình phản đối trước sứ quán Trung Quốc ở Manila thì chỉ có mươi thanh niên Trung Hoa hưởng ứng đến biểu tình trước sứ quán Phi Luật Tân tại Bắc Kinh! Vụ Trần Quang Thành đã “mở mắt” cho nhiều người Trung Hoa, cũng như biến cố Ðoàn Văn Vươn đã khích lệ nhiều nông dân Việt Nam dám đứng lên bảo vệ ruộng đất của mình.
Ðó là những bước đầu tiến tới tự do dân chủ. Ðó là hướng đi các dân tộc phải chọn, để chấm dứt chế độ chuyên chế. Có như vậy các thế hệ người Việt Nam cũng như người Trung Hoa mai sau mới tập được thói quen sống trong danh dự và tinh thần trách nhiệm.
Tôi sợ ngày lễ của Mẹ, Mother’s Day
Trang Hạ dịch
(Nguồn: duc tran huu; [email protected])
Từ khi tôi còn nhỏ, vì tôi chào đời chưa bao lâu đã bị mẹ tôi vứt bỏ.
Mỗi năm tới Mother’s Day, tôi lại thấy ngại ngần. Trước và sau dịp lễ của Mẹ, tivi thường chỉ phát những ca khúc ca ngợi tình yêu thương của mẹ. Ðài phát thanh cũng thế, có quảng cáo bánh quy đi chăng nữa, thì cũng cố lồng vào khúc nhạc ca ngợi tình mẹ mà đối với tôi, mỗi khúc ca lại gợi nỗi buồn.
Mẹ Teresa 1910-1997. (Nguồn: Google)

Tôi đầy tháng thì bị người ta bỏ rơi ở ga xe lửa Tân Trúc. Các bác cảnh sát trong đồn cạnh ga túm lại lo cho tôi. Những người đàn ông này tìm ra được một bà đang nuôi con bú, giá mà không tìm được bà, có phải tôi đã khóc tới mức phát bệnh không. Ðợi tôi bú no rồi ngủ ngon lành, các bác cảnh sát này mới nhẹ nhàng ẵm tôi tới trung tâm nuôi dưỡng trẻ Ðức Lan ở thôn Bảo Sơn, huyện Tân Trúc (Ðài Loan). Tôi được trao cho các bà sơ hay cười ở đó.
Tôi chưa từng gặp mặt mẹ tôi, hồi nhỏ tôi chỉ biết có các sơ nuôi tôi lớn. Mỗi tối, khi các anh các chị ngồi học bài, tôi chả có việc gì làm bèn túm lấy các sơ. Họ vào giáo đường đọc lễ tối, tôi cũng vào theo. Có lúc chui xuống gầm bàn lễ chơi đùa, có lúc làm mặt quỷ dọa các sơ đang hành lễ, thường xuyên nhất là tôi dựa vào một sơ nào đó ngủ gục, và bà sơ tốt bụng không đợi xong buổi lễ, khẽ bế tôi về đưa lên lầu đi ngủ. Tôi cứ cho rằng các bà sơ yêu tôi là bởi tôi giúp họ có cớ trốn sớm ra khỏi các buổi lễ.
Những đứa trẻ như tôi đều là con của những gia đình không may mắn, nhưng đa số họ đều còn gia đình. Tết đến, chú bác đều tới đón họ, chỉ có mỗi mình tôi, tôi không gia đình, nhà ở đâu tôi không biết.
Cũng vì thế, các nữ tu đối xử với đứa trẻ vô thừa nhận như tôi rất tốt, họ không bao giờ để cho ai bắt nạt tôi. Tôi học giỏi, các sơ vẫn tìm thêm người đến tình nguyện dạy tôi thêm.
Bấm đốt ngón tay, đã rất nhiều người làm gia sư cho tôi, đều là những nghiên cứu sinh, thậm chí giáo viên đại học các trường Thanh Hoa, Giao Thông quanh vùng, cả các kiến trúc sư, nên tôi từ nhỏ cũng rất giỏi tiếng Anh.
Các nữ tu ép tôi học đàn, năm lớp bốn tôi đã chơi phong cầm trong nhà thờ. Tôi tham gia các cuộc thi hùng biện, được làm đại diện học sinh của trường, nhưng từ nhỏ tôi không muốn tham gia bất kỳ chương trình nào kỷ niệm ngày Lễ Của Mẹ.
Tôi yêu đàn, nhưng tôi kỵ phải chơi những bài hát tặng mẹ. Có những lúc tôi cũng nghĩ, mẹ mình là ai? Tôi đọc tiểu thuyết, tôi đoán tôi chính là một đứa con hoang. Cha tôi chơi bời chán thì bỏ rơi mẹ, và mẹ tôi còn quá trẻ chỉ còn biết mang tôi đi vứt bỏ.
Tôi đỗ vào cấp ba trường Tân Trúc, rồi vào đại học, tôi đỗ khoa Xây Dựng của Ðại Học Thành Công (Ðài Nam).
Thời sinh viên, tôi vừa học vừa làm. Ðôi khi bà Tôn, người nữ tu nuôi tôi lớn cũng đến thăm tôi. Những cậu bạn cùng phòng thô lỗ của tôi vừa trông thấy bà đã vội trở nên lịch thiệp nhã nhặn. Rất nhiều bạn bè sau khi biết câu chuyện cuộc đời tôi đều an ủi, nói rằng, nhờ được các bà sơ nuôi dạy, tôi mới lịch lãm, bặt thiệp và giỏi giang như bây giờ. Ngày tốt nghiệp, bạn bè ai cũng có cha mẹ tới mừng. Tôi chỉ có một người thân duy nhất là bà sơ họ Tôn, chủ nhiệm khoa, vì thế tôi đến chụp ảnh chung với bà.
Khi tôi đi lính nghĩa vụ, tôi tranh thủ về thăm trung tâm Ðức Lan. Lần này bà Tôn bỗng đột ngột trở nên nghiêm trang, bà gọi tôi ra, lấy từ ngăn kéo một phong bì, bảo tôi hãy xem bên trong có gì.
Trong phong bì có hai chiếc vé. Bà Tôn cho tôi biết, khi cảnh sát ẵm tôi đến, trong áo tôi nhét hai tấm vé tàu này. Rõ ràng mẹ tôi đã dùng hai chiếc vé này để đi từ nhà tới ga Tân Trúc, một vé là đi từ phía Nam lên Bình Ðông, tấm vé tàu còn lại là đi từ Bình Ðông lên Tân Trúc. Ðó là một tấm vé tàu chợ, tôi bỗng hiểu ra mẹ tôi là một phụ nữ nghèo.
Bà Tôn cho tôi biết, các bà sơ thường không thích đi dò hỏi tìm hiểu về gia cảnh những em bé sơ sinh bị vứt bỏ, vì thế họ cứ giữ hai tấm vé này, chờ bao giờ tôi lớn sẽ tính. Họ đã quan sát tôi rất lâu, cuối cùng kết luận tôi là người lý tính, đã có đủ năng lực để giải quyết ổn thỏa việc này. Họ đã từng đi qua thị trấn ấy, thấy nơi đó rất nhỏ, nếu thực lòng tôi muốn tìm người thân, có lẽ sẽ không khó khăn.
Tôi luôn mơ ước được gặp cha mẹ tôi một lần, nhưng giờ đây cầm hai tấm vé, tôi lại do dự. Giờ đây tôi đang sống rất tốt, có bằng đại học, có một cô người yêu sắp tính chuyện trăm năm, vì sao tôi lại phải đi ngược về quá khứ, đi tìm kiếm một quá khứ hoàn toàn xa lạ? Hơn nữa tới tám chín phần là sẽ tìm được một sự thật không vui vẻ gì.
Bà Tôn ngược lại đã khích lệ tôi. Bà cho rằng tôi đã có một tiền đồ xán lạn, không lẽ nào để bí ẩn về cuộc đời tôi trở thành một bóng đen u tối phủ lên tâm hồn. Bà khuyên tôi nên chuẩn bị sẵn cho tình huống xấu nhất, cho dù phát hiện ra sự thật là những gì tồi tệ, cũng nên giữ lấy niềm tin vào bản thân mình trong cuộc đời phía trước.
Và tôi đã lên đường.
Ðó là một thị trấn bé xíu trên vùng núi, tôi chưa từng nghe qua tên gọi. Từ Bình Ðông còn phải ngồi ô tô hơn một tiếng mới tới. Dù là phương Nam nhưng vì đang mùa Ðông, nơi đây lạnh lẽo. Thị trấn đúng là rất nhỏ, chỉ có một con đường nhựa, một đôi cửa hàng tạp hóa, một đồn cảnh sát, một văn phòng của chính quyền thị trấn, một trường tiểu học, một trường trung học, ngoài ra không có gì nữa.
Tôi chạy đi chạy lại giữa đồn cảnh sát và văn phòng chính quyền. Rốt cuộc cũng tìm thấy hai thông tin có vẻ liên quan, một là dữ liệu của một đứa trẻ sơ sinh, một là thông tin gia đình báo mất tích con trai, thời gian mất tích là ngày thứ hai sau khi tôi bị bỏ rơi, đứa bé ra đời trước đó một tháng. Theo ghi chép của các sơ, khi tôi được phát hiện tại ga Tân Trúc, tôi cũng chỉ khoảng đầy tháng tuổi. Xem ra đây có vẻ là thông tin về tôi.
Vấn đề là: Bố tôi đã chết rồi, bố tôi qua đời sáu năm trước, mẹ tôi cũng chết cách đây mấy tháng. Tôi có một anh trai, anh đã bỏ thị trấn, không biết đi đâu.
Dù sao cũng là thị trấn nhỏ, ai cũng quen biết nhau. Một cảnh sát trong đồn bảo tôi, mẹ tôi làm nhân viên trong trường tiểu học, rồi ông dẫn tôi tới gặp hiệu trưởng.
Hiệu trưởng là một người đàn bà vô cùng nhiệt tình. Bà nói, đúng là mẹ tôi đã phục vụ lâu năm tại trường, là một người đàn bà vô cùng tốt bụng, còn bố tôi thì vô cùng lười biếng. Tất cả đàn ông trong thị trấn đều ra ngoài kiếm việc làm, bố tôi không chịu đi xa, chỉ quanh quẩn trong thị trấn làm thuê công nhật, mà thị trấn nhỏ lấy đâu ra việc mà thuê người làm, vì thế cả đời bố tôi chỉ ăn bám vào tiền mẹ tôi làm nhân viên tạp vụ. Vì không chịu làm việc, tâm trạng ủ rũ, ông đành mượn rượu giải sầu, say rồi có lúc đánh đập mẹ tôi, đánh anh tôi. Tỉnh rượu thì cũng hối hận đấy, nhưng thói xấu quen rồi, mẹ tôi và anh tôi khổ sở cả đời vì ông. Anh trai tôi lúc học lớp bảy đã phẫn chí bỏ nhà ra đi, từ đó không bao giờ quay trở lại đây.
Người đàn bà này rõ ràng có đẻ đứa con trai thứ hai, nhưng được một tháng tuổi thì đã mất tích bí ẩn.
Bà hiệu trưởng hỏi tôi mọi chuyện, tôi tình thực kể hết. Khi bà biết tôi được lớn lên trong một cô nhi viện ở miền Bắc, bà bỗng xúc động lấy từ ngăn kéo ra một phong bì. Ðây là phong bì bà tìm thấy sau khi mẹ tôi mất, giấu dưới gối mẹ tôi. Bà cho rằng những thứ trong đó chắc chắn phải có ý nghĩa rất quan trọng, nên bà quyết định giữ lại, đợi người thân của mẹ tôi tới nhận.
Tôi run rẩy mở ra, thấy bên trong có rất nhiều vé tàu, từng tập vé tàu khứ hồi đi từ thị trấn miền Nam này tới Tân Trúc, tất cả được giữ gìn cẩn thận.
Bà hiệu trưởng cho tôi biết, nửa năm một lần mẹ tôi xin nghỉ đi miền Bắc thăm họ hàng, chả ai biết họ hàng nào, chỉ thấy mỗi khi về bà vui lắm. Cuối đời mẹ tôi theo đạo Phật, điều bà hạnh phúc nhất là đã quyên góp các tín đồ Phật giáo được một triệu Ðài tệ để tặng cho cô nhi viện của đạo Thiên Chúa. Ngày trao tiền bà cũng đích thân đi.
Tôi nhớ lại, có lần một chiếc xe bus lớn đưa một đoàn thiện nam tín nữ từ phía Nam lên cô nhi viện. Họ trao tấm séc trị giá một triệu Ðài tệ, quyên góp cho trung tâm Ðức Lan chúng tôi. Các bà sơ cảm động vô cùng, bắt tất cả bọn trẻ mồ côi phải đứng vào chụp ảnh kỷ niệm, tôi đang đánh bóng rổ cũng bị gọi vào chụp với mọi người một tấm ảnh. Giờ đây tôi bỗng dưng tìm thấy tấm ảnh ấy trong chiếc phong bì của mẹ. Tôi hỏi mọi người mẹ tôi là ai, họ chỉ vào người đứng cách tôi không xa.
Nhưng làm tôi cảm động hơn là cuốn sổ lưu niệm ngày tốt nghiệp của lớp tôi, có một trang được photocopy lưu lại trong phong bì này. Ðó là trang chúng tôi đội mũ áo tốt nghiệp, có hình tôi ở trong đó.
Mẹ tôi, người mẹ đã vứt bỏ tôi, đã vẫn cứ đến thăm tôi, thậm chí có thể bà đã từng tham dự lễ tốt nghiệp của tôi.
Giọng hiệu trưởng nhẹ nhàng: “Anh nên cảm ơn mẹ anh, bà đã vứt bỏ anh, là để anh được sống một cuộc sống tốt đẹp hơn. Nếu anh vẫn ở đây, cùng lắm là hết phổ thông anh lên thành phố làm thuê, ở đây hầu như rất ít người đỗ được vào trung học. Mà nếu không may, không chịu nổi đòn roi của người cha, biết đâu anh cũng đã sớm bỏ nhà đi phiêu bạt như người anh trai, ra đi mãi mãi, chả biết lưu lạc phương nào nữa.”
Những giáo viên khác trong trường cũng đến, đều chúc mừng tôi đã tốt nghiệp đại học Quốc lập. Họ nói thị trấn này từ xưa tới nay chưa từng có học sinh nào thi đỗ được vào trường đại học Quốc lập.
Tôi bỗng nhiên rưng rưng, tôi hỏi bà hiệu trưởng ở đây có cây đàn nào không. Bà nói, có đàn piano nhưng không tốt lắm, chỉ có đàn phong cầm thì mới mua.
Tôi mở nắp cây đàn, tôi hướng ra vừng mặt trời mùa Ðông ngoài cửa sổ, tôi chơi bản nhạc dành tặng mẹ trong những dịp Lễ Của Mẹ. Tôi muốn mọi người biết rằng, tôi tuy là một đứa trẻ mồ côi lớn lên trong trại mồ côi, nhưng tôi không mồ côi, vì tôi có những bà sơ tốt bụng nuôi dưỡng tôi như mẹ, vì tôi có một người mẹ đẻ ra tôi luôn thương tôi. Bà quyết đoán và bà hy sinh để tôi có môi trường tốt lớn lên, để tôi có tiền đồ sáng sủa.
Những thầy cô trong trường hát theo tôi. Tiếng đàn lan tỏa trong không trung, trong thị trấn vùng núi lạnh lẽo, trong ánh mặt trời chiều. Những cư dân trong thị trấn nhất định sẽ ngạc nhiên hỏi, vì sao hôm nay lại có giai điệu ngợi ca người mẹ?
Vì hôm nay với tôi là ngày Lễ Của Mẹ. Chiếc phong bì đựng những tấm vé tàu cũ này làm tôi từ hôm nay không còn là một đứa trẻ mồ côi sợ hãi ngày Lễ Của Mẹ nữa.
Sách mới: Bông Hồng Tạ Ơn
Tác giả: Nguyễn Ðình Toàn
Tập I: 560 trang, giá 20 MK
Tập II : 576 trang, giá 20MK
Email: [email protected]
Với trên một ngàn một trăm trang sách, Nguyễn Ðình Toàn viết về những nghệ nhân Việt Nam (trong đó có những nhà thơ, nhà văn, nhạc sĩ sáng tác, ca sĩ, nghệ sĩ tạo hình…), qua cảm quan của một người thưởng ngoạn.
Nội dung cuốn sách này cho người đọc nhận thấy một cách rõ rệt rằng ông không viết với tư cách của một nhà biên khảo, một phê bình gia, người viết về lịch sử văn học nghệ thuật Việt. Ông viết với tư cách một nhà văn. Ðối tượng viết của ông là những người hoạt động trong các ngành văn học nghệ thuật Việt, là những câu thơ, bài văn, tiếng nói, giọng hát, bức họa, bức tượng( hay gì gì đó nữa)… của họ đã từng được cống hiến cho sinh hoạt văn nghệ mà ông có cơ hội tiếp cận và cảm nhận được.
Do đó, Bông Hồng Tạ Ơn dứt khoát là tác phẩm mới nhất của Nguyễn Ðình Toàn.
Như chúng ta đã từng được thưởng thức các sáng tác và hoạt động trước đây của nghệ nhân đa tài này. Như các cuốn sách Chị Em Hải, Áo Mơ Phai. Như chương trình Nhạc Chủ Ðề hàng tuần trên làn sóng phát thanh ở miền Nam VN trước 75. Như những bản tình ca và những ca khúc cho thân phận do ông đã và còn đang sáng tác, trước và sau 1975.
Nếu chỉ tính theo số lượng gần 240 nhân vật không thôi thì quả là ít so với tổng số những nghệ nhân Việt; nhưng Bông Hồng Tạ Ơn vốn là tác phẩm mà Nguyễn Ðình Toàn muốn bày tỏ lòng cảm tạ của cá nhân ông đối với những ai tiêu biểu đóng góp vào nền văn chương nghệ thuật Việt Nam một thế kỷ nay mà ông đã từng yêu mến, lưu luyến, hay ít ra là các nội dung hoạt động văn nghệ của họ đã tạo cho ông một ấn tượng khó phai trong tâm tưởng của ông. Ðọc vào bộ Bông Hồng Tạ Ơn, người thưởng ngoạn có thể nhận ra đâu đó những nét độc đáo của từng nghệ nhân, những nhận xét tinh tế về tác giả-tác phẩm, hoặc ít ra là những lời lẽ hóm hỉnh tưởng rằng vu vơ nhưng lại gợi cho chúng ta một cảm nghĩ vương vấn nào đó rất là đời thường, mà cũng rất là phóng khoáng, đối với một chiều sâu phức tạp của xã hội Việt Nam…
Tất cả đều như muốn vẽ ra trước mắt chúng ta một môi trường sinh hoạt phong phú, đa dạng đến không ngờ, của nền văn chương nghệ thuật Việt.
Ít nhất là đọc Bông Hồng Tạ Ơn, chúng ta như đặc biệt liếc sơ qua những khuôn mặt ẩn hiện của sinh hoạt văn nghệ Việt Nam một thế kỷ nay. Ðây là tác phẩm tạ ơn đời của Nguyễn Ðình Toàn. Còn giới thưởng ngoạn thì đọc tác phẩm đồ sộ này cũng là một cách cảm tạ những gì mà Nguyễn Ðình Toàn muốn cống hiến.
* Hà Châu
Thơ Lại Phương Hạnh
Xếp kín một góc tủ…
Biển xanh ngắt một màu
Mắt em buồn đêm thâu
Mong ngày Anh về lại
Bên nhau mùa Hè ấy
Chim ríu rít gọi bầy
Ðôi mươi Anh vừa chớm
Em mười tám tròn trăng
Mộng đẹp như đêm rằm…
___________________
Mùa Hè ngồi ở Great America
Tôi nhớ mãi những mùa hè
Thưở bé thơ
Tràn đầy mơ mộng
“Hạ đỏ có chàng tới hỏi”
Lớn lên dần
Khói lửa ngập quê hương
Những mùa hè đỏ lửa ngập máu xương
Ðại lộ kinh hoàng người dân tôi bỏ xác
Và mùa hè chim bỏ đàn ngơ ngác
1975 tan tác lầm than
Tóc thề Trưng Vương chân lấm bụi đường
Kinh tế mới nông trường tràn nước mắt..
Người em tôi tự sát,
“Mình hạc sương mai” còn lại một nấm mồ
35 năm sau lại một mùa hè
Ngồi ở Great America tôi im lặng đợi chờ
Con trai tôi đang quay tròn vòng chơi ngày bé dại
Biết bao giờ cho tôi tìm lại…
Quay một vòng tròn trở lại những ngày thơ
Tháng 4, 2012
(Nguồn: [email protected])
Thơ Phan Nghĩa
Mưa Huế
Chiều mùa đông mưa dầm rét buốt
Nước vây quanh khắp nẻo sông hồ
Hàng sầu đông nỗi buồn đứng đợi
Hương em về tạt ngõ bay qua
Thương khóc ai trường thành câm lặng
Mái tóc thề che khỏa nhớ mong
Gác tía lầu cao buồn sương phụ
Cánh sen tàn rơi rụng đêm thâu.
___________
Nỗi buồn
Giọt mưa nghe đọng hồn trong lá
Có ai buồn khi đất nước mất đi
Hồn ngọc đong đưa cõi Niết Bàn
Bao man khổ đầy quanh bếp lửa.
Huyền diệu đâu hỡi người dân Việt
Sao cúi đầu nhục nhã dưới manh nhân
Chí hiên ngang coi mạng sống gió đùa
Còn đâu nữa uổng công lao Tiên Tổ
Hèn hạ lót mình chịu gót nhục
Thản nhiên cười khi đất nước mạt vong
Nhìn cảnh xa hoa lòng đời thất vọng
Mất hết rồi, dân Việt quá hèn nhỉ
Bao con tim, bao khối óc huyết thề
Cuối cùng rồi cũng là cơm áo
Nỗi hằn nhục suốt đời không rửa sạch
Ðớn đau này khổ mãi cùng ai!
California schools under more stress

Photo courtesy of Getty Images
By VIVIAN PO, New
LOS ANGELES—A new education report finds that
The first report by EdSource to analyze school stress factors, “Schools under Stress: Pressures Mount on
“Unless you are a parent or a student, you don’t know what is going on in schools,” EdSource executive director Louis Freedberg told reporters from ethnic media outlets at a recent briefing in downtown Los Angeles co-organized by New America Media.
“What we really try to do with this report is to bring together a list of factors that are often reported on but not in a comprehensive, holistic way,” he said.
Freedberg, who worked as an education reporter with California Watch before joining the education research organization, said the stress factors allow the media and the general public to gain greater understanding of the accumulative impact on schools after five sustained years of cuts, which amount to an average loss of $530 per student.
The report was compiled by surveying
The eight stress factors identified are: teacher layoffs, larger class sizes, fewer instructional days, fewer counselors, reduced summer programs, declining enrollment, increasing child poverty and high unemployment.
Lasting effects of pink slips
Of all of the factors, Freedberg described teacher layoffs as the most stressful because it affects teachers, students and parents, and changes the school climate.
“Not only were the layoffs stressful, but the fear of layoffs [created stress],” added Freedberg.
All school districts in
Last year, more than one-third of the 30 largest school districts issued preliminary layoff notices to nearly 11,000 teachers. In the end, only 2,200 teachers were not rehired.
Freedberg said advocates are looking to legislators to see if they can push back the deadline to give out pink slips to August, when school districts have a better idea of their budget and thus avoid giving out unnecessary pink slips.
School counselors are also losing their jobs as personnel expenses represent the biggest cost to school district. According to the report, more than two-thirds of the surveyed school districts have laid off counselors since the recession, leaving only 2,400 counselors serving more than 2 million children in K-12 schools. This represents a 20 percent decrease from the 2007-08 school year, when
“That means there is one counselor to 800 students,” Freedberg said. As one-on-one counseling becomes limited or unavailable, students may end up missing out on the classes they need in order to be prepared for college.
Drop in enrollment
But what most surprised reporters from
More than half of the school districts surveyed said they have experienced declining enrollments since 2005, which reflects a reversal of a two-decade trend of rising enrollment rates since the 1980s. Statewide, enrollment in K-12 public schools declined by 58,000 students from 2007-08 to the 2010-11 school year.
“I thought it would be the other way ― I thought schools were getting more crowded,” said Esmeralda Fabian, education report with
Since a large part of school district funding comes from attendance, a district sustains a financial loss of between $5,000 and $6,000 for each student who leaves the district, and the resulting funding shortage leads to more layoffs and school closures.
According to Freedberg, the decline in enrollment is the result of a combination of factors, including a decline in the birth rate, housing and foreclosure problems, and the rising trend of parents choosing to transfer their children to private or charter schools.
The role of parents
For reporters from the city’s ethnic media, the report findings are an alarming signal for parents to act.
Cesar Arredondo, a Spanish-language editor at Amigos805, a news site providing information for Latino communities in
“They have to participate in their local districts, PTA, elections, in all aspects,” said Arredondo, who has seen Latino parental involvement in schools remain low over the years. “Or else, they have to live with the consequences for having others make the decisions for them,” he said.
Tang Sripipat, a reporter with the Thai newspaper Siam Media, said the stress factors give parents a new tool to use when talking about the effects budget cuts have on their children’s education. He said parents should cite these stress factors when sending letters to city council members and other elected officials.
But it isn’t only up to parents.
“Most people who vote do not have kids in the public education system,” noted Freedberg, who hopes the report will allow voters to understand the bigger picture that cutbacks have brought to basic education for all
Rights group calls for release of activists
Human Rights Watch is asking Vietnamese authorities to immediately release four Catholic activists accused of conducting propaganda against the state and drop the charges against them. Their case is set to be heard on Thursday.
The four – Dau Van Duong, Tran Huu Duc, Chu Manh Son and Hoang Phong – come from the Catholic community of Vinh in Nghe An province. Authorities arrested them for allegedly distributing pro-democracy leaflets.
“It’s absolutely shameful that the Viet Nam government is putting these Catholic activists on trial and may send them to prison for years for nothing more than expressing their views and distributing leaflets,” said Phil Robertson, deputy Asia director at Human Rights Watch. “Prosecuting these four activists shows the contempt
In the past, the four activists had participated in volunteer activities, including encouraging women not to have abortions, donating blood and volunteering to help orphans and victims of natural disasters. Authorities arrested Dau Van Duong, 24, a student at the Nghe An Trading and
The Vietnamese government often uses Article 88 of the penal code, “Conducting propaganda against the Socialist Republic of Viet Nam,” to imprison bloggers, critics and activists in an arbitrary fashion, according to the rights group. Article 88 calls for punishment of between three and 20 years in prison for such acts as “propaganda,” “circulating documents or cultural products,” or “psychological warfare” against the government.
In 2011, Vietnamese courts used this provision to convict at least 10 bloggers and activists for expressing their views.
In March 2012, the People’s Court of Nghe An convicted two other Catholic activists, Vo Thi Thu Thuy and Nguyen Van Thanh, under Article 88. State media reported that the two were affiliated with Father Nguyen Van Ly and were accused of distributing anti-government leaflets. Vo Thi Thu Thuy was sentenced to five years in prison, and Nguyen Van Thanh to three years.
Three prominent bloggers also have been indicted under Article 88. The three are founding members of Club for Free Journalists, established in September 2007 to promote independent journalism and freedom of expression.
At least another 12 Catholic bloggers and activists, including the prominent bloggers Ta Phong Tan and Le Van Son, are in detention pending investigation or waiting trial. Many of those arrested are affiliated with the Redemptorist Thai Ha church in Ha Noi and Ky Dong church in Sai Gon. Over the past year, both churches have regularly held prayer vigils calling for the safety of activists in prison or in detention. Earlier this week, Thai Ha held a vigil for the four activists who will be tried on Thursday.
“Article 88 is the equivalent of a legal buzz-saw, designed to cut down those who freely criticize or question the government,” Robertson said. “
Người khiếm thị kiếm sống bằng ‘nghề’ tụng kinh
Phi Khanh/Người Việt
QUẢNG NAM – Tôi gặp những người khiếm thị là hội viên của Hội Người Mù Ðiện Bàn, tỉnh Quảng Nam, sau khi họ không còn chỗ để bán hàng rong trên thành phố Ðà Nẵng đã chọn cách dắt nhau đi tụng kinh kiếm cơm.
Những người khiếm thị dắt nhau vào một ngôi chùa tụng kinh. (Hình: Phi Khanh/Người Việt)
Họ nương nhờ vào cửa Phật để kiếm chén cơm độ nhật, để giữ lương tâm mình trong sạch và để thấy, để tin cuộc sống này còn điều gì đó tốt đẹp dành cho họ.
Họ chừng ba mươi người, dường như không quen tụng kinh nên có người tụng bè cao, có người tụng bè trầm, có người ấp a ấp úng, có người ngồi một chút lại đổi tư thế vì đau nhức trong người… Nhưng dường như ở họ có sự tập trung và niềm tin cao độ để chú nguyện một điều gì đó.
Trước đây, họ là những người đi bán chổi, đi bán hàng rong, và hiện giờ họ cũng vẫn đi bán nhưng không còn đắt đỏ như trước bởi cái thành phố Ðà Nẵng “màu mỡ” mà hằng ngày họ đón xe bus mấy chục cây số mang bó chổi/hàng rong ra bán dạo đã tuyệt nhiên cấm đoán và đón họ bằng công an, xe bịt bùng và trại tế bần.
Thu nhập của họ vốn đã eo hẹp giờ càng eo hẹp hơn. Thời gian trở nên dư thừa, họ rủ nhau tìm đến cửa Phật.
Cứ mỗi Chủ Nhật, họ rủ nhau cả nhóm chọn một ngôi chùa để xin phép các sư trụ trì cho họ tụng kinh, cầu nguyện thế giới an lành, chúng sanh an lạc. Cứ như vậy, từ chùa này sang chùa khác. Và, họ chỉ xin một yêu cầu duy nhất, sau buổi tụng kinh, nhà chùa hãy mở lượng từ tâm mà bố thí cho họ một bữa cơm chay tịnh, với họ như vậy đủ ấm lòng lắm rồi.
Một người tên Mơ, trong nhóm người mù, tâm sự: “Chúng tôi đi tụng kinh, dường như không hẳn để kiếm bữa cơm. Vì nếu vì một lý do nào đó, nhà chùa không thể bố thí cho nhóm một bữa cơm thì chúng tôi vẫn lấy làm hoan hỉ bởi mình đã làm được một việc có ý nghĩa”.
“Chúng tôi là những người kém may mắn hơn người khác về khả năng nhìn thấy, và trong một nghĩa khác thì chúng tôi ít phước duyên, phải trải qua nhiều thăng trầm, đau khổ trên đường đi kiếm cơm mỗi ngày, hết đụng tai nạn xe cộ thì lại đụng tai nạn điều cấm của một ai đó ở một nơi nào đó, đôi khi thấy tuyệt vọng. Chính việc tụng kinh cầu nguyện cho đồng loại, cho chúng sinh đã mang lại cho chúng tôi sự bình an và tin yêu đời sống.”
Một người khác, tên Ngọc, cho chúng tôi biết thêm: “Anh chị biết không, bữa đầu tiên đi tụng kinh, được nhà chùa cho thức ăn và ân cần hỏi thăm, tặng quà, chúng tôi ai cũng cảm động, riêng tôi đã khóc rã riêng vì chuyện này, tự dưng vừa vui mà cũng vừa buồn tủi, khó tả lắm…”
“Trong nhóm chúng tôi, có người từng đi lính trước 1975, có người bị đưa đi ‘kinh tế mới’ những năm sau 1975, đang lành lặn bỗng dưng bị mìn nổ, bom nổ chậm, lựu đạn, có người mất xác, có người đui mù, trở nên tàn tật như vậy đây. Nhưng chúng tôi có chung niềm tin về lòng tốt của mọi người…”
Thời buổi vàng thau lẫn lộn
Một ni sư yêu cầu giấu pháp danh, cho biết: “Trong xã hội bây giờ, có những người cho dù thân thể mang bệnh tật nhưng lại có lòng tự trọng, sống tử tế và sòng phẳng, lấy tâm từ bi chú nguyện cho chúng sinh, cho những sinh linh nhỏ bé để đổi bữa cơm độ nhật như nhóm bạn mù này quả là hiếm hoi.”
“Tôi xuất gia hơn ba mươi năm rồi, ngấm mùi đạo pháp cũng nhiều mà ngấm nỗi đời, cảnh chùa chiền cũng không ít, tôi biết, hiện tại có những ông sư quốc doanh trá hình, phải nói là thiên hình vạn trạng, họ đi tu mà giàu còn hơn giám đốc… Thậm chí bây giờ còn nảy sinh những loại dịch vụ tụng kinh thuê, có tính chuyên nghiệp, có giọng hay, thu nhập khá cao…”
“Có nhiều người nói vui, chỉ cần trụ trì một ngôi chùa, xem như đã là giám đốc một công ty, chuyện này, trong chừng mực nào đó không sai, hiếm người xả thân vì đạo pháp lắm. Phần nhiều mang tâm lý thỏa hiệp với một chủ trương nào đó không liên quan đến đạo pháp để kiếm chỗ đứng trong đạo pháp, để qua đó mà mưu cầu riêng tư… A Di Ðà Phật!”
“Hôm nay tôi đến đây để thuyết pháp cho những người bạn mù nghe, và tôi cũng mang một ít quà tặng họ, tự tay nấu một bữa cơm cúng dường cho những người bạn này. Trong cuộc đời tu hành của tôi, bữa cơm này thật là ý nghĩa… Họ cao đẹp thật sự… Tôi đã gặp nhiều nhóm bạn mù như vậy trên khắp từ Nam chí Bắc.”
Nói đến đây, vị ni sư rươm rướm nước mắt dọn từng dĩa rau để chuẩn bị cho một bữa ăn ấm áp tình người và nhìn những người bạn mù đang ngồi im lặng lau từng chiếc đũa, chuẩn bị vào bữa ăn. Trước khi ăn, họ không quên niệm Phật danh A Di Ðà ba lần để cảm tạ, hồi hướng công đức của người mang cho họ bữa cơm ấm áp tình người.
Một bữa cơm thơm thảo lòng ái từ. (Hình: Phi Khanh/Người Việt)
Nhìn họ từ tốn ăn từng sợi mì, muỗng cơm cùng nụ cười nhẹ trên môi, tự dưng chúng tôi thấy nao nao khó tả! Nghĩ đến Chủ Nhật tuần sau, họ lại dắt díu nhau đến một ngôi chùa nào đó, rồi lại xin được tụng kinh, xin một bữa cơm, có ai tốt bụng thì mang cho họ vài gói mì ăn liền làm quà…
Nghĩ đến cuộc đời trôi dạt của họ từ quê ra thành phố, rồi lại từ thành phố về quê, và rồi những bữa cơm chùa, những chén cơm chan nước mắt… Một mối cảm hoài về thân phận làm người trên đất nước này đau đáu điều gì đó thật khó tả!
Richmond could become first U.S. city to tax soda

Photo courtesy of Getty Images
Under the ordinance, grocery stores, markets, and other vendors that sell beverages would pay the business license fee and monitor ounces sold per year. If residents approve the measure,
“I would like us to use the tax revenue in programs that prevent childhood obesity, like healthy school gardens and nutrition classes and cooking classes in the schools,” said Richmond City Councilman Jeff Ritterman, who led the push for the tax and is also a doctor. “We’d also like to provide adequate sports fields and teams for our children as well as programs that fight against childhood obesity.”
Ritterman even brought in props to the meeting to support his point about the damage done to the body by high fructose corn syrup and refined sugar. Pointing to a water cooler container near the front podium that was filled almost entirely with sugar, he stressed Americans’ annual intake contributed directly to higher rates of heart disease, high blood pressure and blocked arterial passages.
With more than 200
“I see more and more kids with Type-2 diabetes being admitted to the hospital,” said Dr. Lydia Tinajero-Deck, who works at Oakland Children’s Hospital. “I also see more 11-year-olds that weigh over 200 pounds, and we’ve had two deaths over the last few years that were linked to childhood obesity.”
Local business owners in the audience, however, expressed concern over the difficulty of monitoring how many ounces of sugar-sweetened beverages are sold per year and how much tax should be paid to the city. The measure could generate between $2 million and $8 million in additional annual revenue, according to a city staff report.
“The increased costs of soft drinks would adversely affect employment in
Council members Corky Booze and Nat Bates also oppose the tax, arguing that it will have little effect on consumption and will primarily target African American and Latino communities.
“It’s clear that African Americans are being used as a stepping stool to get this tax approved,” Booze said. “Are we going to start taxing Twinkies and cakes too because they aren’t good for us?”
Audible booing from opponents of the tax could be heard in the audience as Ritterman spoke about how the funds raised from the tax would go toward health awareness and sports programs.
The Rev. Kenneth Davis of
“This tax is a poor folks’ tax and a racist ploy to steal money for the slush fund,” said
Since 2009, Pepsi, Coca-Cola, and the American Beverage Association have spent more than $70 million on lobbying and issuing ads against the soda tax initiative. Coca-Cola went so far as to publish a report: http://www.thecoca-colacompany.com/citizenship/obesity-position-statement_december2011.pdf, “Our Position on Obesity,” which cited scientific evidence contradicting claims that soda is a primary cause of the epidemic.
According to statistics, two-thirds of adults and one-third of children in the
So far, more than 30 states are working on levying their own soda taxes. In
Reactions among audience members at Tuesday’s meeting were mixed.
“It’s a complex issue,” said Melvin Willis, a local resident. “Coke tastes good, but it’s not good for you and it’s also not food. This should be about whether or not an individual has a healthy relationship with food.”
“I think when people go into the stores and see that the price is higher for soda, it might make them think twice about getting it,” said
Món chay ở Việt Nam cũng đầy hóa chất
VIỆT NAM (NV) – Các món ăn chay ở Việt Nam hiện nay không chỉ “bắt mắt” nhờ được chế biến hệt như món mặn, mà còn “bắt miệng” nhờ được tẩm đầy hóa chất, gia vị gây bệnh.
Món chả giò chay có mùi thịt heo. (Hình: Bee.net.vn)

Mới đây, dư luận ồn ào chỉ trích việc bày bán tràn lan các món chay giả mặn đầu độc sức khỏe con người. Thế là sau thịt heo, xí muội Thái Lan, các loại mứt trái cây Việt Nam,… món ăn chay giờ đây được coi là thực phẩm độc hại.
Báo mạng Bee.net.vn dẫn lời tu sĩ Thích Giác Tấn ở Bình Ðịnh chỉ trích một số nhà hàng sử dụng quá nhiều hương liệu, hóa chất để “tạo mùi mặn” cho các món ăn chay.
Theo ông, thực phẩm chay giả mặn xuất hiện ngày càng nhiều trên bàn ăn của con người là dấu hiệu hết sức đáng tiếc. Ông cho rằng thay vì tránh xa – khi nhận ra mùi vị hóa chất độc hại của các món chay giả mặn mang những cái tên cầu kỳ như ngan quay, gà quay, cá kho, tôm chiên… thực khách lại tỏ thái độ “ủng hộ hết mình.”
Tình trạng này, theo báo Sài Gòn Tiếp Thị, đang lan tràn trong thói quen ăn uống của nhiều giới ở Việt Nam. Họ thường xuyên đến các tiệm chay có bán các món chay giả mặn nhìn y như thật. Gọi là chay nhưng những món ăn này cũng mang tên “thịt ba chỉ,” “thịt bò hầm,” “ragu sườn,” “đùi gà cà ri,” “cá rô xốt chua cay” v.v…
Nhờ sử dụng hương liệu, các đầu bếp nhà hàng biến các món chay thành món mặn bắt mắt và mắt cả miệng.
Một số thực khách cư dân Sài Gòn tâm sự: “Tôi đã được dùng món heo quay ở tiệm cơm chay. Mình ăn chay mà ngon như ăn mặn. Ăn chay kiểu này thì tôi dư sức dùng trường trai.”
Trong khi đó, theo đại đức Thích Nhật Từ của Hội Phật Giáo tại Sài Gòn, người ta không thể phân biệt thức ăn chay thật và giả. Ông cũng quả quyết rằng một số nhà hàng sử dụng nhiều loại hóa chất tạo mùi, tạo màu… biến thức ăn chay chỉ có tàu hũ thành những món có mùi thịt heo, thịt bò, thịt gà… y như thật. Ông nói: “Vì vậy mà thức ăn chay giả mặn hiện nay không còn là thực phẩm chay tịnh thuần khiết, giúp thực khách thanh lọc cơ thể.”
Theo Bee.net.vn, Dược Sĩ Quách Hiệp Hưng, cư dân quận 12, Sài Gòn cho rằng con người đã tự đầu độc mình nếu thường xuyên ăn chay giả mặn đầy hương liệu, hóa chất tạo màu, tạo mùi như thế. (PL)
‘Cà phê hóa chất,’ uống nhiều chết sớm
VIỆT NAM (NV) – Năm mươi sáu ngàn tấn cà phê không đủ, giới buôn bán đã pha thêm gần 20,000 tấn hương liệu tạo bọt, tạo màu và tạo mùi cho hàng triệu người nghiện cà phê nhâm nhi mỗi sáng ở Việt Nam.
Hóa chất chế nước lã thành cà phê. (Hình: Infornet)

Tiết lộ này thật ra chỉ là lời xác nhận tin đồn rải rác từ hàng chục năm nay về loại cà phê vỉa hè chứa đầy hóa chất chết người.
Theo Phòng Quản Lý Ngộ Ðộc Thực Phẩm thuộc Cục Vệ Sinh-An Toàn Thực Phẩm, các bà chủ quán cà phê đã không ngần ngại pha thêm một loại hóa chất để làm “tăng mạnh” nồng độ cafein trong lưỡi và mũi của người tiêu thụ. Nhiều người xác nhận rằng nhờ uống loại cà phê “đậm đặc” cafein hóa chất này mà họ cảm thấy tỉnh táo lạ thường.
Theo báo mạng Infornet, tiết lộ của Phòng Quản Lý Ngộ Ðộc Thực Phẩm cho hay, một số nơi còn pha thêm loại hóa chất có tên là sodium lauryl sunfate để tạo bọt. Loại hóa chất được dùng để sản xuất xà bông và bị cấm sử dụng trong ngành chế biến thực phẩm vì có thể làm tổn hại gan, bộ máy tiêu hóa của con người.
Cũng theo Infornet, giới buôn bán mạnh tay sử dụng các loại hóa chất tạo màu, tạo mùi, tạo bọt… khi pha chế bán cho dân nghiện cà phê chỉ vì lợi nhuận.
Một bà chủ sạp bán hóa chất ở chợ Kim Biên, quận 5 mới đây thú nhận: “Mỗi kí lô hóa chất có thể được dùng để làm ra hàng ngàn ly cà phê, lời gấp vài chục lần dùng cà phê thật. Muốn quán cà phê của mình sống vững, không thể không áp dụng biện pháp này.”
Sự thật này được ông Ðoàn Triệu Nhạn, chuyên viên Hiệp Hội Cà Phê-Ca Cao Việt Nam xác nhận. Theo ông, Việt Nam tiêu thụ mỗi năm khoảng 56,000 tấn cà phê. Trong số này có khoảng 20,000 tấn được pha chế với hóa chất các loại. Ông Nhạn nói: “Muốn ly cà phê có mùi thơm và vị béo, người bán cho một ít bơ và hạt đậu nành rang. Ðể ly cà phê có vị ‘gắt ở cổ hấp dẫn,’ người ta trộn thêm đậu đỏ. Người ta còn sử dụng cả tinh dầu cà phê để tạo mùi… Nhờ vậy mà càng bán chạy thì lời càng nhiều.”
Thực tế cho thấy ở chợ Kim Biên bày bán đủ loại hóa chất có mùi cà phê của Anh, Mỹ, Pháp, Ðức…
Theo một ông chủ sạp chợ Kim Biên, một chấm nhỏ bằng đầu tăm tinh dầu này cũng đủ giúp một ký cà phê có mùi thơm lừng xa vài ba thước. Còn loại hóa chất tạo bọt là một thứ bột trắng, chỉ cần cho vào ly cà phê một tí thôi cũng đủ làm nổi bọt “thèm chảy nước miếng,” theo lời của một bà chủ sạp khác ở chợ Kim Biên.
Chưa hết, chợ Kim Biên có đủ “phụ gia” biến ly nước lã thành cà phê ngon gồm màu caramel, đậu nành, thuốc quinine, tinh bột, chất tạo đặc, vani mùi, đường hóa học, bơ công nghiệp v.v…
Theo tiết lộ của một chủ phân xưởng xay cà phê ở quận 12, Sài Gòn, giá bán mỗi ký cà phê hạt trên thị trường hiện nay là 55,000 đồng, tương đương 2 đô la và mỗi ký hạt chỉ xay được 0.5kg cà phê bột.
Cà phê hóa chất đầy dẫy ở Sài Gòn. (Hình: Infornet)

Trong khi đó, giá mỗi ký cà phê bột mà chủ tiệm cà phê mua vào cũng chỉ với giá đó. Theo Infornet, chắc chắn trong ký cà phê bột đó chỉ có một tí cà phê thật, còn lại toàn là hóa chất.
Ðáng lo là tin đồn gây chấn động dư luận về sự xuất hiện của loại cà phê “dởm” nói trên hầu như không đánh động được những người có trách nhiệm về sự an nguy của người dân.
Tại Sài Gòn, các viên chức lãnh đạo thú nhận rằng “rất khó dẹp các sạp bán cà phê hóa chất tại chợ Kim Biên.” Ông này cho biết: “Làm gì thì làm, chúng tôi khó mà giải quyết được gốc rễ vấn đề.” (PL)
Bí thư Tỉnh Ủy Hải Dương: Nhà vườn triệu đô là ‘của con trai’
HẢI DƯƠNG (NV) – Ðáp trả dư luận xôn xao về khu nhà vườn triệu đô được xây trên đất nông nghiệp, Bí thư Tỉnh ủy Hải Dương Bùi Thanh Quyến đáp tỉnh bơ: “Ðó là nhà của con trai tôi, chứ không phải của tôi.”
Hòn non bộ khổng lồ xây trước căn nhà. (Hình: Báo Giáo Dục Việt Nam)

Khu nhà vườn triệu đô trước đó được cho là của ông Bùi Thanh Quyến mọc lên tại thôn Ðông Tân, xã Ninh Thành, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương đã gây xôn xao dư luận những ngày qua.
Theo báo Giáo Dục Việt Nam, khu nhà vườn này tọa lạc trên hơn 5,000 m2 đất cùng với những thước gỗ quý vài trăm năm tuổi và các khối đá quý đồ sộ trị giá vài triệu đô la Mỹ.
Bài báo này còn cho rằng ở đó có một ngôi nhà ba tầng được xây dựng giữa một khu vườn rộng lớn gồm toàn những loại cây gỗ quý như sưa, tùng la hán, thị… của rừng công viên quốc gia Việt Nam và được đưa về từ ngoại quốc.
Dư luận không chỉ xôn xao về giá trị khổng lồ mà còn hoang mang về tính pháp lý của khu vườn nhà ông bí thư tỉnh ủy Hải Dương đương chức. Dư luận cho rằng ông Bí thư Tỉnh ủy Hải Dương Bùi Thanh Quyến đã ngang nhiên xây nhà trên đất nông nghiệp, tức là hành vi phi pháp.
Tuy nhiên, theo báo Lao Ðộng, chiều ngày 22 tháng 5, người đứng đầu huyện Ninh Giang là ông Nguyễn Xuân Thuấn đã thay lời người lãnh đạo tỉnh Hải Dương bác bỏ và cho rằng nguồn tin trên là “không chính xác.”
Khu nhà vườn triệu đô ở Hải Dương đang gây xôn xao dư luận. (Hình: báo Lao Ðộng)

Theo ông Nguyễn Xuân Thuấn, khu đất vườn nói trên không thuộc sở hữu của ông Bùi Thanh Quyến mà là của ông Bùi Thanh Tùng, con trai của ông Quyến. Ông Thuấn cũng giải thích rằng lô đất 4,152m2 của ông Tùng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tức đã có chủ quyền hợp lệ.
Theo báo Lao Ðộng, ông Nguyễn Xuân Thuấn hứa hẹn sẽ “kiểm chứng” thông tin nói rằng ông Quyến xây nhà lớn trị giá hàng triệu đô la để phúc trình sau. (PL)










