Sai Gon lane dividers called a failure

From WIRE REPORTS


 


            Sai Gon has made a costly effort to separate cars and motorbikes on several busy roads but it has only worsened the congestion.


            The city Transport Department has set up about 25 miles of street dividers worth nearly $2.5 million on big streets such as Truong Chinh, Xo Viet Nghe Tinh, Nguyen Van Linh and parts of National Highways 13 and 22, separating motorbikes and cars.


            But the planners failed to account for the fact that there are many more motorbikes than cars, and the plan to install dividers has failed, Sai Gon drivers said.


            During peak hours, traffic police can no longer direct motorbikes into other lanes which are almost empty.


            The city spent around $200,000 to separate lanes with dividers on nearly two miles of Truong Chinh Street. When the new arrangement opened on May 3, motorbikes and public buses had to use the same lane. The buses were shifted to the car lanes later, but the motorbikes are still squeezed into a narrow portion of the road.


            Tan, 52-year-old motorbike taxi driver, called the separation “unreasonable.”


            “Every day at around 7 a.m. or 5 p.m., the area is stuck for hours. The two ends of the separation are jammed and no one can move,” he said.


            Dr. Pham Xuan Mai, a college lecturer in the city, told a local newspaper: “It’s right to separate cars and motorbikes, but the city has to calculate the real demands of the city residents who use many more motorbikes than cars.”


            Similar congestions have also occurred on the Xo Viet Nghe Tinh Street, which connects the city’s outskirts to District 1.


            The two-way street tends to be crowded in one direction as people flock the city’s downtown areas in the morning and return in the evening. And people have so far flexibly encroached into the opposite lane to smooth out the traffic.


            But since the separation, commuters are crushed into a single lane, and the other side is mostly unused at peak hours.


 

Garden Grove students place second in state contest

            Aspiring student engineers from Garden Grove High School earned runner-up honors at the California MESA National Engineering Design Competition Wind Energy Challenge UC Santa Barbara.


            The team of sophomores Michael McDonald Tran, Severin Zaluzec and Sam Gregory from the school’s MESA (Math, Engineering, Science Achievement) Club placed second overall in the rigorous contest against three other high school teams representing their respective state regions.


            In the state finals, the trio’s model windmill faced top regional entries from high schools in Stockton, Santa Paula, and Inglewood. Stagg High School from Stockton, the Northern Region winner, claimed the state title and will advance to the national championships next month in Seattle.


            For the state event, each team designed and constructed a windmill from simple household materials and captured wind power to demonstrate the effectiveness of their projects. The contestants subjected their models to a series of rigorous tests, such as using the energy produced to raise weight and measuring the power generated following a change in wind direction. Along with windmill performance, all teams were judged on a technical paper, academic display, and oral presentation.


            The state MESA windmill challenge teams were drawn from four regions – Northern, Central, Southern, and Los Angeles. The local students qualified for the state contest after winning the regional preliminaries in February at UC Irvine and capturing first-place in the high school Southern Region finals last month at Chapman University.


            Hon Shiu “Sunny” Costello, a district math teacher on special assignment, serves as the advisor to the Garden Grove High MESA Club.


            MESA is an academic development program administered by the University of California supporting high school students so they can excel in math and science studies and graduate college with degrees in engineering, science, and technology. MESA Southern Region schools, of which Orange County is a part, is served by UC Irvine’s Henry Samueli School of Engineering.


 


 

Vietnamese fare, New Orleans style


Photo courtesy of Getty Images


 


           


 


You think food in New Orleans, you think gumbo and po-boys, jambalaya and king cakes, muffulettas and Cajun crawfish.


 


Start thinking Vietnamese fare.


 


Vietnamese restaurants started cropping up in the 1970s to feed the immigrants who arrived in Louisiana post-war. There’s never been a shortage of Vietnamese fare.


 


But just in the past six months, five Vietnamese restaurants have opened in the triangle-shaped area of the city bordered by Magazine Street, St. Charles Avenue and Lee Circle.


 


 Le Viet Cafe, Lilly’s Cafe, Pho Noi Viet, Magasin and Tamarind each set up shop within an Uptown-Downtown triangle bordered by Magazine Street, St. Charles Avenue and Lee Circle. Restaurant columnist Susan Langenhennig of The Times-Picayune in New Orleans shares the story of the restaurants and the chefs who run them: http://www.nola.com/dining/index.ssf/2012/05/post_11.html

‘Hội & Ngộ’ – Nơi gặp gỡ của những ân tình

 


Ngọc Lan/Người Việt


 


WESTMINSTER (NV) –“Chú Hội! Chú Hội!” Người phụ nữ có tên Ðào Mừng, cư dân thành phố Westminster, kêu lên một cách mừng rỡ khi vừa biết chân vào hội trường nhật báo Người Việt dự lễ ra mắt sách “Hội & Ngộ” của Trịnh Hội hôm sáng Thứ Bảy.









Ðộc giả chờ Trịnh Hội ký tên lưu niệm tại buổi ra mắt sách “Hội & Ngộ.” (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)


Thái độ vừa trìu mến, vừa kính trọng, vừa chân tình, gần gũi như của bà Ðào Mừng và chồng bà khi nhìn thấy tác giả của “Hội & Ngộ” không phải là hiếm hoi, duy nhất xảy ra tại buổi này. Trong số khách đến tham dự, có người sống ngay tại Little Saigon, có người ở Virginia, có người ở tận Úc Châu. Họ nhận mình là “fan” của Trịnh Hội cũng có. Nhận mình là người tò mò về Trịnh Hội cũng có. Và nhận mình là “người chịu ơn” của Trịnh Hội cũng có, bởi “nhờ có chú Hội mà gia đình tôi, các con tôi mới được sang đến Mỹ sau mười mấy năm trời sống ở Philippines.”


Khác với các tác giả từng ra mắt sách trước đây, người tham dự đến với buổi ra mắt quyển sách đầu tay của Trịnh Hội phần nhiều vì những cảm tình đặc biệt với anh, bên cạnh sự tò mò về “Hội & Ngộ.” Thế nên, thật thú vị khi chứng kiến cảnh người sắp hàng chờ tác giả ký tên lưu niệm vào sách, đều có một điều gì đó muốn nói với Trịnh Hội. Và Trịnh Hội cứ vừa cười rạng rỡ, vừa phải cố nhớ xem con người/sự việc/nơi chốn mà người đối diện đang nhắc tới là gì, vừa tỏ ra bối rối vì lần đầu được làm nhân vật chính của một chương trình như thế này.


Ba diễn giả của buổi ra mắt “Hội & Ngộ” gồm có cô Ðỗ Bảo Anh, phó tổng giám đốc nhật báo Người Việt, người đã có công nhìn ra khả năng và khuyến khích Trịnh Hội bắt tay vào chuyện viết lách từ nhiều năm về trước; có Luật Sư Nguyễn Quốc Lân, chủ tịch Hội Ðồng Giáo Dục học khu Garden Grove, người từng làm việc cùng Trịnh Hội trong những ngày tháng ở Philippines để giúp đỡ đồng bào tị nạn, cũng là người “ngỡ ngàng chứng kiến sự tiến bộ trong cách viết tiếng Việt” của Trịnh Hội; và có nhà văn Huy Phương, người viết “column” như Trịnh Hội trên cùng tờ báo Người Việt, cũng là người cho rằng “Hội & Ngộ” không phải là những mảnh vụn của một tập du ký mà là ý tưởng, suy nghĩ và trăn trở của một con người đối với con người, quê hương và đất nước.”


Nếu như trong phần giới thiệu của mình, nhà văn Huy Phương cho rằng Trịnh Hội là người “lựa chọn sự tự do,” “thích đi nhiều” nên “có lẽ không ai ở đây thích có một đứa con như Trịnh Hội” và “tôi sợ rằng cũng không ai muốn làm vợ Trịnh Hội” bởi “Ðối với cha mẹ, Trịnh Hội đã nhận mình là đứa con bất hiếu, đối với con ruột của mình thì Trịnh Hội nhận mình là người cha thiếu bổn phận.” Thì trong phần phát biểu, một vị thính giả đã lên tiếng phủ nhận điều này. Vị thính giả này cho rằng “nói vậy thì tội cho em Trịnh Hội quá! Nếu tôi có một đứa con như Trịnh Hội, có lẽ gương mặt tôi sẽ rạng rỡ hơn.”


“Trịnh Hội là người sáng tạo đạo đức chứ không mô phỏng theo đạo đức cổ điển” Người phụ nữ này nói.


Trong khi đó, một vị khách lớn tuổi khác nói một cách trịnh trọng, “Cuộc đời ông quá phong phú. Ông đã làm những điều mà lương tâm bảo ông làm.”










Trịnh Hội, tác giả của “Hội & Ngộ.” (Hình: DanHuynh/Người Việt)


Cũng trong buổi ra mắt quyển sách đầu tay này, thính giả được nghe Trịnh Hội kể lại những kỷ niệm mà anh đã có, đã thu nhận được để ghi vào các trang sách của mình, qua những bước rong ruổi khắp nhiều miền, nhiều nơi trên trên thế giới, đặc biệt là ở Việt Nam.


Cách điều khiển chương trình hóm hỉnh của MC Vũ Quý Hạo Nhiên, phụ tá chủ bút nhật báo Người Việt, cùng cách nói chuyện hóm hỉnh, tự nhiên, và gần gũi của Trịnh Hội đã tạo nên không khí kể chuyện tâm tình cho buổi ra mắt “Hội & Ngộ.”

Tại sao cần học tiếng Việt?

 


Nguyễn Hưng Quốc (Blog VOA)


 


Ðể duy trì tiếng Việt ở hải ngoại, một trong những câu hỏi quan trọng nhất cần được trả lời là: Tại sao trẻ em Việt Nam cần học tiếng Việt?









Các em học tiếng Việt tại một trung tâm Việt ngữ tại Quận Cam, California, Hoa Kỳ. (Hình: Linh Nguyễn/Người Việt)


Câu hỏi ấy không những chỉ nảy sinh ra từ các em học sinh mà còn từ chính các bậc phụ huynh, tức những người thuộc thế hệ thứ nhất, sinh ở Việt Nam và chỉ ra sống ở nước ngoài khi đã trưởng thành hẳn.


Trẻ em (ví dụ trẻ em ở Úc/Mỹ) thường lý luận: Con sinh ở Úc/Mỹ, con sẽ sống suốt đời ở Úc/Mỹ. Ngôn ngữ thứ nhất của con là tiếng Anh. Mà tiếng Anh lại là ngôn ngữ quốc tế; ở đâu cũng sử dụng được. Con đâu cần phải học thêm tiếng Việt làm gì nữa?


Cha mẹ thì lý luận: Ờ, cũng phải. Con cái bây giờ đã là người Úc/Mỹ rồi. Tiếng Anh mới quan trọng. Tiếng Việt thì biết cũng được; không biết cũng chả sao. Ngay cả khi biết tiếng Việt thì cũng chỉ để giao tiếp với người thân, chủ yếu với ông bà, thôi. Chứ làm được gì?


Những kiểu lý luận như vậy rất phổ biến.


Tuy nhiên, chúng lại sai.


Sai trên tất cả phương diện: kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục và nhận thức.


Về phương diện kinh tế, đã đành tiếng Việt không được xem là một ngôn ngữ thương mại như nhiều thứ tiếng khác (chẳng hạn, tiếng Nhật hay tiếng Hoa); tuy nhiên, việc thành thạo tiếng Việt ở mức độ nào đó, chắc chắn không phải vô ích trong một xã hội đa văn hóa và đa ngôn ngữ như Úc hoặc Mỹ (hoặc bất cứ một quốc gia hiện đại nào khác). Ðối với rất nhiều nghề nghiệp, cộng đồng người Việt gồm trên 200,000 người ở Úc, và trên 1.6 triệu ở Mỹ là một thị trường to lớn. Cứ nhìn vào số phòng mạch, văn phòng luật sư hay kế toán ở các khu người Việt thì thấy ngay. Hoặc hãy vào các ngân hàng ở các khu đông người Việt mà xem: Có phải có rất nhiều nhân viên người Việt hoặc biết nói tiếng Việt? Ðể xin việc, bất cứ là việc gì, từ của chính phủ đến tư nhân, ở các khu nhiều người Việt định cư, khả năng tiếng Việt đều trở thành một trong những ưu tiên hàng đầu.


Nhưng ý nghĩa kinh tế của tiếng Việt không chỉ nằm ở những công việc có liên quan trực tiếp đến người Việt như thế. Tại hầu hết các nước Tây phương, càng ngày người ta càng hiểu và đánh giá cao ý nghĩa và giá trị của các nhận thức liên văn hóa, tức khả năng cảm nhận được những khác biệt giữa các nền văn hóa và khả năng đồng cảm với suy nghĩ của những người thuộc các nền văn hóa khác. Ví dụ, trong xu hướng toàn cầu hóa hiện nay, bất cứ một sản phẩm nào của Tây phương cũng đều được sản xuất để bán cho những người tiêu thụ thuộc nhiều quốc gia khác nhau, có khi ở tận Châu Á, Châu Âu hay Châu Phi xa xôi. Muốn bán được, người ta phải nghĩ đến chuyện đáp ứng thị hiếu của những người đó. Ai có khả năng làm được những việc như thế? Về phương diện chuyên môn, họ phải được học. Tuy nhiên, về phương diện tâm lý: những người ấy thường phải là những người song ngữ (bilingual) hoặc song văn hóa (bicultural). Nếu được đa ngữ (polyglot) hoặc đa văn hóa nữa thì càng tốt. Ý thức được điều đó, ở Tây phương, hầu hết các trường đại học đều khuyến khích sinh viên học một ngôn ngữ thứ hai hoặc nếu không, tham gia vào các chương trình trao đổi để có dịp đi nước ngoài một thời gian, ít nhất một học kỳ, để có cơ hội phát triển sự hiểu biết liên văn hóa (intercultural understanding) và kỹ năng giao tiếp liên văn hóa (intercultural communication); ở cấp tiểu học và trung học, việc dạy ngôn ngữ thường đi kèm với việc rèn luyện ý thức liên văn hóa (intercultural awareness).


Về phương diện xã hội, nhiều bậc phụ huynh cứ nghĩ miễn con cái có thể bập bẹ được chút tiếng Việt để nói chuyện trong nhà là đủ rồi. Nhưng thật ra, với việc giao tiếp trong gia đình, mức độ thông thạo một ngôn ngữ, kể cả tiếng Việt, khó xác định thế nào là đủ. Khi con cái còn nhỏ, nhu cầu còn đơn giản, việc trao đổi và chuyện trò giữa bố mẹ và con cái thường chỉ dừng lại ở những đề tài căn bản trong đời sống hàng ngày, kiểu: Con đói không? Con muốn ăn gì? Phở nhé? Hoặc: Con học bài đi; con đi ngủ đi, v.v… Khi con cái lớn lên, đặc biệt ở giữa những năm trung học, khi, về phương diện tình cảm, các em bắt đầu biết yêu, biết vấn vương trước người khác phái; và về phương diện tâm lý, có những cuộc khủng hoảng về vấn đề bản sắc và ý nghĩa của cuộc đời, đề tài các em cần tâm sự càng ngày càng phức tạp hơn. Chính những lúc ấy, việc giao tiếp giữa bố mẹ và con cái trở thành một vấn đề, hơn nữa, vấn đề lớn: nếu nói bằng tiếng Việt thì các em không đủ từ vựng để diễn tả; nếu các em nói bằng tiếng Anh thì bố mẹ thường không hiểu hết. Một lúc nào đó, các em không còn tâm sự với bố mẹ được nữa. Quan hệ giữa bố mẹ và con cái, do đó, càng ngày càng xa cách dần. Khi con cái xa cách bố mẹ như thế, chúng đối diện với rất nhiều nguy cơ, trong đó, nguy cơ quan trọng nhất là rất dễ bị bạn bè lôi kéo vào con đường xấu.


Về phương diện văn hóa, tiếng Việt – cũng như bất cứ ngôn ngữ thứ hai nào – có rất nhiều ý nghĩa. Thứ nhất, nó bảo vệ được bản sắc (identity) của các em. Với những người lớn tuổi, dù sống ở bất cứ quốc gia nào trên thế giới, chúng ta vẫn biết chúng ta là người Việt. Ðó chính là căn-cước-tinh-thần của chúng ta. Trẻ em, lúc còn bé, dễ có ý nghĩ mình là một người Úc hoặc một người Mỹ. Nhưng, lớn lên, các em biết ý nghĩ đó chỉ là một ảo tưởng. Mái tóc, làn da, màu mắt và kích thước của các em luôn luôn tố giác một điều ngược lại: Các em vẫn là người Việt. Nếu biết tiếng Việt, ý thức về bản sắc sẽ dễ được củng cố. Nhưng nếu không, các em sẽ trở thành những kẻ thất cước, bơ vơ. Ðiều đó rất dễ dẫn đến những khủng hoảng về tâm lý. Thứ hai, biết tiếng Việt, trở thành người song ngữ, các em dễ trở thành bao dung hơn trước các nền văn hóa khác, do đó, dễ hội nhập vào đời sống xã hội càng ngày càng toàn cầu hóa với tốc độ cực nhanh như hiện nay. Trước mắt, sự hội nhập ấy có thể thấy ngay ở việc hội nhập vào đời sống gia đình, đại gia đình (với ông bà và bà con, họ hàng) cũng như với cộng đồng.


Về phương diện giáo dục, nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới cho thấy học sinh và sinh viên biết hai thứ tiếng trở lên thường học giỏi hơn học sinh và sinh viên chỉ biết một thứ tiếng. Có lẽ điều đó tương đối dễ hiểu. Thứ nhất, học hai thứ tiếng cùng lúc (ví dụ tiếng Anh và tiếng Việt), trí nhớ của các em thường xuyên được luyện tập, do đó, các em thường cường ký hơn các trẻ em khác. Thứ hai, biết hai thứ tiếng, thường xuyên chuyển dịch và so sánh tiếng này và tiếng kia, khả năng so sánh của các em có nhiều cơ hội để phát triển. Mà so sánh lại là một khía cạnh quan trọng của lý luận: Trẻ em biết hai thứ tiếng, do đó, thường nhìn vấn đề từ nhiều góc độ khác nhau, do đó, tránh được bệnh phiến diện, hẹp hòi và cực đoan. Riêng với trẻ em Việt Nam, cũng như hầu hết trẻ em di dân khác, việc tiếp tục học và học giỏi tiếng mẹ đẻ, giúp các em thêm tự tin hơn trong học vấn: Ðó là môn học các em dễ đạt điểm cao, do đó, dễ chứng tỏ mình giỏi hơn hẳn người ngoại quốc.


Cuối cùng, về phương diện nhận thức, càng ngày càng có nhiều công trình nghiên cứu cho thấy việc biết hai thứ tiếng làm cho người ta thông minh hơn (being bilingual, it turns out, makes you smarter.) Trong số các công trình nghiên cứu ấy, đáng kể nhất là cuộc nghiên cứu của hai nhà tâm lý học Ellen Bialystock và Michelle Martin-Rhee vào năm 2004: Họ chia các học sinh mẫu giáo thành hai nhóm; một nhóm chỉ biết nói tiếng Anh và một nhóm nói được hai thứ tiếng, tiếng Anh và một thứ tiếng nào khác. Họ cho các em một số vật tròn màu xanh và một số vật vuông màu đỏ rồi yêu cầu các em bỏ vào hai thùng, một thùng vuông màu xanh và một thùng tròn màu đỏ. Trước hết, họ yêu cầu các em chọn theo màu: vật xanh bỏ vào thùng xanh; vật đỏ vào thùng đỏ. Tất cả các em đều làm được. Sau đó, họ yêu cầu các em sắp xếp cách khác, theo hình dạng: vật vuông bỏ vào thùng vuông và vật tròn bỏ vào thùng tròn. Ðến lúc ấy, các em chỉ biết một ngôn ngữ lúng túng hẳn vì thấy các vật cùng hình dạng thì không cùng màu sắc. Trong khi đó, với các em biết hai ngôn ngữ, công việc ấy được hoàn tất rất nhanh chóng. Người ta lý giải hiện tượng này như sau: các em biết hai thứ tiếng thường biết rõ là mình biết hai thứ tiếng. Ví dụ, đang nói chuyện với anh chị em bằng tiếng Anh; quay sang nói chuyện với bố mẹ, các em sử dụng tiếng Việt. Tất cả diễn ra một cách tự phát. Ðiều đó vô tình giúp phát triển chức năng điều hành trong bộ óc của các em. Các em phân biệt được dễ dàng những công việc hay những vấn đề có nhiều khía cạnh khác nhau. Ví dụ, trong thí nghiệm kể trên, các em song ngữ hiểu ngay là sắp xếp theo màu thì khác và theo hình dạng thì khác; còn các em chỉ biết một thứ tiếng thì khi được yêu cầu sắp các vật theo hình dạng lại cứ loay hoay về màu sắc, do đó, không dám bỏ các vật tròn màu xanh vào cái thùng tròn màu đỏ; và ngược lại: nói cách khác, nếp suy nghĩ của các em được định hình có một chiều.


Gần đây, nhiều nhà nghiên cứu thuộc nhiều quốc gia khác nhau, từ Tây Ban Nha đến Ý và Mỹ, trong nhiều cuộc thí nghiệm với những người thuộc nhiều lứa tuổi khác nhau, từ trẻ sơ sinh đến trẻ em bậc tiểu học, trung học, đại học và cả những người luống tuổi, đều đi đến những kết luận tương tự: khả năng song ngữ làm cho người ta suy nghĩ nhanh, chín chắn và toàn diện hơn việc chỉ biết một ngôn ngữ duy nhất.


Những lý do nêu trên đủ để chúng ta khuyến khích trẻ em học tiếng Việt chứ?


Tôi hy vọng vậy.

Cộng Sản Hà Nội sửa đổi Hiến Pháp?

 


Võ Long Triều


 


Cộng Sản Hà Nội chủ trương sửa đổi Hiến Pháp, do đó ngày 6 tháng 8 năm 2011, Quốc Hội thành lập một ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến Pháp gồm 30 thành viên, trong đó có 8 thành viên thuộc Bộ Chính Trị. Ðó là: Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Sinh Hùng, Thường Trực Ban Bí Thư Lê Hồng Anh, Bộ Trưởng Quốc Phòng Phùng Quang Thanh, Bộ Trưởng Công An Trần Ðại Quang, Phó Chủ Tịch Quốc Hội Tồng Thị Phóng, Phó Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc, Trưởng Ban Tổ Chức Tô Huy Rứa, Trưởng Ban Tuyên Giáo Ðinh Thế Huynh.


Tiếp theo, ngày 5 tháng 9 năm 2011, Viện Nghiên Cứu Lập Pháp của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội tổ chức một cuộc hội thảo tại Hà Nội để các học giả pháp lý của chế độ họp bàn việc lập hiến.


Tại sao Hà Nội cần phải sửa đổi Hiến Pháp trong thời điểm và giai đoạn nầy? Giữa lúc nông dân phẫn uất vì bị cướp đất, công nhân đình công vì lương không đủ sống, tôn giáo bị ngăn cấm, giới hạn, đàn áp, lòng dân bất mãn tột cùng. Trong khi các đảng viên tiếp tục làm giàu bất chính, tham nhũng trở thành quốc nạn, công an lộng hành đánh chết người một cách vô tội vạ!


Vì tình thế có nguy cơ trở thành bất lợi cho chế độ, nên trong kỳ hội nghị Trung Ương Ðảng lần thứ 4 khóa 11, Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng khuyến cáo: “Chỉnh đốn đảng là việc mang tính sống còn đối với đảng và chế độ.” Nhưng trên thực tế cho đến ngày nay sự chỉnh đốn đó chỉ dựa vào “phê và tự phê,” một bản hát nhàm chán, thuộc lòng, không có giá trị gì đối với các quan tham đảng viên và các tổ chức phe nhóm ăn chia có hệ thống đã hình thành từ lâu trong nội bộ đảng. Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng đã từng tuyên bố không bài trừ được tham nhũng ông sẽ từ chức. Kết quả tham nhũng trở thành “một bầy sâu trong đảng,” dư luận trong nước còn cho rằng chính Nguyễn Tấn Dũng là con sâu đầu đàn nên mới được tiếp tục nhận thêm một nhiệm kỳ và đưa ba đứa con của ông vào guồng máy cai trị để tiếp tục vơ vét.


Bây giờ Hà Nội bày thêm việc sửa đổi Hiến Pháp chỉ là một chiêu bài nhằm xoa dịu dư luận quần chúng, một xảo thuật tuyên truyền, một cách phô trương rầm rộ để cho mọi người nuôi chút hy vọng là chế độ độc tài đảng trị sẽ thay đổi cho hợp tình, hợp lý, hợp lòng dân.


Sự thật người ta thấy gì? Hiến Pháp 1946 đã sửa đổi và tu chính năm 1992 nhưng có khi nào được áp dụng đâu? Bằng cớ các học giả Việt Nam cho là bản Hiến Pháp đầu tiên năm 1946 đã trải qua “tám lần ban hành hoặc sửa đổi, nhưng cũng không bao giờ được thực thi. Hãy nhìn lại các quyền tự do báo chí, quyền được thông tin, quyền được lập hội, quyền biểu tình, bãi công, tự do tín ngưỡng, thì đủ biết Hiến Pháp của cộng sản Hà Nội chỉ là tài liệu tham khảo của một quốc gia trong đó mọi thứ quyền hành đều do Bộ Chính Trị quyết đoán và định đoạt buộc phải thi hành, bất kể Hiến Pháp hay luật lệ có quy định như thế nào!”


Trong bài diễn văn khai mạc hội nghị Trung Ương Ðảng Cộng Sản lần thứ 5 ngày 7 tháng 5, 2012, Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng chỉ thị các ủy viên Trung Ương khi bàn việc sửa đổi hiến pháp phải theo một số nguyên tắc như sau:


– “Phải bám sát việc tiếp tục khẳng định bản chất của thể chế chính trị.”


– “Nhà nuớc pháp quyền Xã Hội Chủ Nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.”


– “Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước dưới sự lãnh đạo của đảng.”


– “Quyền lực nhà nước là thống nhất sẽ không có chuyện tam quyền phân lập.”


– “Vấn đề đất đai bàn theo hướng đảm bảo hài hòa các lợi ích của nhà nước, người dân, nhà đầu tư và giữ vững ổn định chính trị.”


Với năm điều yêu cầu của Nguyễn Phú Trọng, chúng ta có thể suy diễn một cách rõ ràng hơn: Thể chế chính trị của nhà nước là cộng sản chủ nghĩa, đảng mượn danh nhân dân cai trị một cách độc tài. Vấn đề đất đai phải bảo đảm lợi ích của nhà nước và giữ vững ổn định chính trị, vậy thì lợi ích của nhân dân đương nhiên trở thành hàng thứ yếu.


Làm sao có thể hài hòa được ba thứ lợi ích tương phản nhau: Lợi ích nhà nước có ẩn chứa tham nhũng lộng quyền, lợi ích nhà đầu tư là giành phần lợi tối đa về mình với khả năng đút lót, mua chuộc người cầm quyền, vậy thì lợi ích của người dân nghèo nàn cô thế, chỉ còn phương cách duy nhứt là chống đối đòi quyền sinh sống cho cá nhân và gia đình. Nguyễn Phú Trọng và Ðảng Cộng Sản của ông không thể giữ vững ổn định chính trị cho tới khi nào đảng công nhận quyền tư hữu đất đai, khi nào đảng viên không còn lạm quyền để cưỡng chế đất của dân mà không bồi thường xứng đáng theo luật tự nhiên, thuận mua vừa bán. Chừng đó mới có hy vọng ổn định xã hội.


Ngoài ra ông Trọng còn chỉ thị phải soạn thảo một Hiến Pháp không có tam quyền phân lập, nghĩa là chỉ có độc quyền cai trị duy nhứt của đảng. Luật Sư Trần Ðình Triển nhận xét quyền hành quá lớn như vậy sẽ dẫn đến tệ nạn quan liêu, tham nhũng, hách dịch, xa rời quần chúng. Theo ông Hiến Pháp phải quy định trách nhiệm và nghĩa vụ của nhà nước đối với nhân dân bởi vì quyền lực là của nhân dân.


Quyền lực của nhân nhân là một thứ xảo ngữ, bởi vì nếu thật sự nhân dân có quyền thì nhà nước phải cho họ có quyền tự do sử dụng lá phiếu của họ, biểu hiện quyền lực của người dân. Cái xảo thuật dối trá của cộng sản là giao hết mọi quyền lực, mọi sở hữu cho nhân dân trong khi đảng chỉ giành độc quyền quản lý thôi. Cũng như đất đai, rừng núi, sông ngòi là của nhân dân nhưng do nhà nước quản lý. Nhà nước muốn cho phép dân sử dụng bao nhiêu và bao lâu tùy quyết định của nhà nước. Không khác nào nhà của anh đang ở chính anh là sở hữu chủ, nhưng do tôi quản lý, tôi muốn đuổi anh ra khỏi nhà bất cứ lúc nào với chức năng quản lý của tôi. Tiền của anh nhưng quyền tiêu xài là của tôi. Tôi cho anh hưởng được bao nhiêu tùy quyền định đoạt của tôi. Thật là phi lý, phi nhân, phi chính trị, một sự quỷ quyệt trắng trợn chỉ cộng sản mới sáng chế ra được điều đó.


Tiến Sĩ Dương Thị Thanh Mai, viện trưởng Viện Khoa Học Pháp Lý cho biết các đại biểu tham dự hội thảo đã đặt vấn đề “phải có sự kiểm soát” các cơ quan quyền lực của nhà nước. Hiến Pháp hiện hành chỉ quy định việc tổ chức hoạt động, phân công, phối hợp mà thôi, rõ ràng là chưa đủ. Bà Mai khẳng định: “Việc kiểm soát phải được hiến định như một nguyên tắc.”


LS. Trần Ðình Triển phát biểu rằng: “Không thể để xẩy ra tình trạng một nhóm người lợi dụng độc quyền thao túng mọi thứ.”


Nhưng thử hỏi cơ quan nào có quyền kiểm soát nhà nước? Nếu không phải là tư pháp và lập pháp phân lập? Trong khi Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ thị không thể có tam quyền phân lập!


Dư luận trong nước thắc mắc từ lâu về Ðiều 4 Hiến Pháp viết rằng: Ðảng Cộng Sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội… nghĩa là độc đảng, độc quyền. Ðiều mà ông Nguyễn Minh Triết, cựu chủ tịch nước công khai tuyên bố: “Bỏ Ðiều 4 Hiến Pháp là tự sát.” Tuy nhiên ý kiến của ông Nguyễn Văn An, nguyên chủ tịch Quốc Hội là “chúng ta cần hiểu bản chất của thể chế dân chủ cộng hòa là quyền lập pháp thuộc về nhân dân, mà trực tiếp là cử tri cả nước.” Ông An cũng đã từng nói 14 đảng viên trong bộ chính trị là 14 ông vua tập thể của thời phong kiến.


Về phần GS Nguyễn Minh Thuyết, cựu đại biểu Quốc Hội trả lời phỏng vấn đài BBC khi hỏi ông điều 4 phải được sửa chi tiết ra sao?


Ông trả lời: “Có thể xem Trung Ương đảng là thượng nghị viện, còn quốc hội do dân bầu ra là hạ nghị viện. Rồi qui định những việc gì chỉ cần thượng viện quyết, những việc gì chỉ cần hạ viện quyết là được.”


Riêng bộ trưởng Tư Pháp, ông Hà Hùng Cường khẳng định: “Ðã đến lúc thời điểm chín mùi phải sửa đổi hiến pháp và tư tưởng pháp quyền theo đúng nghĩa một nhà nước pháp quyền.”


Thực tế cho thấy hiện tại có rất ít đảng viên cao cấp dám nhận thức một cách khách quan là phải từ bỏ điều 4 hoặc giảm thiểu độc quyền cai trị thì đất nước mới có sự hài hòa và ổn định mong muốn. Tuy nhiên đa số đảng viên cầm đầu còn bám víu quyền lợi riêng tư, bất chấp lợi ích của nhân dân và sự phát triển đất nước. Phải chờ đến khi nào xuất hiện một công dân, một đảng viên nào sáng suốt, can đảm, đứng ra lãnh đạo nhân dân vất bỏ điều 4, thay đổi chế độ, viết lại hiến pháp thuận với lòng dân, thì mới hy vọng bảo tồn độc lập quốc gia, đem lại tự do dân chủ cho toàn dân.


Trong khi chờ đợi dân chúng cũng như Luật Sư Trần Quốc Thuận, nguyên phó chủ nhiệm Thường Trực Văn Phòng Quốc Hội dự đoán về hiệu quả của lần tu chính Hiến Pháp nầy “sẽ còn nhiều hạn chế và không đáp ứng được nhu cầu cải tổ và đổi mới theo kỳ vọng của nhân dân và nhiều tầng lớp trong xã hội.”


Sự rầm rộ cổ võ việc sửa đổi Hiến Pháp, việc tham khảo ý kiến nhân dân chỉ là một cách thay bình mới đựng rượu cũ, rồi hô hào, dối gạt dư luận rằng Ðảng Cộng Sản khoản đãi nhân dân loại rượu tối ưu, nhưng nó vẫn đắng, vẫn cay, vẫn độc hại không kém rượu ngâm trong bình từ năm 1946 và hâm lại năm 1992.

Chủ tịch Tối Cao Pháp Viện Philippines bị tố ‘giàu bất chánh’

 


MANILA (NYT) – Các công tố viên trong vụ truy tố chủ tịch Tối Cao Pháp Viện Philippines, Renato C. Corona, hôm Thứ Hai cho hay ông này từng ký gửi $28.7 triệu vào nhiều trương mục khác nhau trong khi lãnh lương chưa tới $935 một tháng.









Ông Renato C. Corona trong buổi nghe luận tội tại Thượng Viện Philippines ngày 16 Tháng Giêng, 2012. (Hình: Jay Directo/AFP/Getty Images)


Công tố viện nói rằng ông Corona có 82 trương mục trong 5 ngân hàng ở Philippines bằng tiền dollar Mỹ và từ Tháng Tư năm 2003 đến Tháng Mười Hai năm 2011 ông gửi vào những nơi này số tiền tổng cộng $28,740,497.93, trong khi lãnh lương Thẩm Phán Tối Cao Pháp Viện khoảng $935 mỗi tháng.


Thẩm Phán Corona bị Hạ Viện Philippines đồng ý buộc tội hồi Tháng Mười Hai năm ngoái và sau đó bị Thượng Viện đưa ra xét xử, nếu bị coi là có tội ông sẽ bị bãi chức.


Các công tố viên chấm dứt việc trình bày luận cứ buộc tội ông Corona hôm 28 Tháng Ba nhưng không đưa ra được chứng cớ về các trương mục bằng dollar Mỹ của ông này. Theo luật của Philippines, chỉ có Hội Ðồng Chống Rửa Tiền của quốc gia này là được quyền xem các hồ sơ ngân hàng về trương mục cá nhân.


Ðiểm tai hại là phía luật sư của ông Corona đã lầm lẫn khi gọi người đứng đầu cơ quan nói trên, bà Conchita Carpio-Morales, ra làm chứng trước tòa với hy vọng là bà sẽ khai rằng hoàn toàn không có các trương mục nào của ông Corona. Tuy nhiên, khi ra trước tòa, bà Carpio-Morales lại xác nhận là có các trương mục nói trên và số tiền $28.7 triệu. (V.Giang)

Built Green California

Boehner cảnh cáo Obama: Muốn trần nợ, phải giảm chi

 


WASHINGTON (McClatchy) – Chủ tịch Hạ Viện Mỹ, ông John Boehner, hôm Thứ Ba lên tiếng cảnh cáo chính phủ Obama rằng ông chỉ đồng ý nâng trần nợ nếu có các cắt giảm chi tiêu.









Chủ Tịch Hạ Viện Mỹ John Boehner tại Hội Nghị Thượng Ðỉnh Ngân Sách, 15 Tháng Năm, 2012, Washington D.C. (Hình: Brendan Hoffman/Getty Images)


Giới quan sát cho đây là dấu hiệu sẽ lại có đối đầu giữa Tòa Bạch Ốc và Quốc Hội về chính sách thuế khóa và chi tiêu vào cuối năm nay.


Ông Boehner cũng hứa hẹn sẽ có cuộc bỏ phiếu trước ngày bầu cử vào đầu Tháng Mười Một để xem có nên gia hạn đạo luật miễn thuế có từ thời Tổng Thống George W. Bush hay không.


Lời phát biểu của ông Boehner tại một cuộc hội thảo về ngân sách ở Washington làm người ta nhớ lại cuộc đối đầu năm 2011 về việc tăng mức trần nợ, gây bất ổn trong thị trường chứng khoán, dẫn đến việc giảm chỉ số trị giá tín dụng liên bang và đe dọa làm phần lớn các cơ quan trong chính phủ Mỹ ngưng hoạt động.


Một cuộc bỏ phiếu khác để nâng mức trần nợ dự trù sẽ diễn ra vào cuối năm nay, có thể sau ngày bầu cử 6 Tháng Mười Một. Ông Boehner hôm Thứ Ba hứa hẹn sẽ buộc có hành động “ở nơi bị tai tiếng là chẳng chịu có hành động gì.”


Trưởng khối thiểu số Dân Chủ tại Hạ Viện, Dân Biểu Nancy Pelosi, thuộc tiểu bang California, chỉ trích rằng phía đảng Cộng Hòa “một lần nữa lại có quyết định chọn giới triệu phú giàu có thay vì thành phần trung lưu” và tạo ra cuộc khủng hoảng gây nguy hại cho các gia đình người dân Mỹ.


Ông Boehner thẳng tay bác bỏ các đề nghị tăng thuế hay chấm dứt giảm thuế trong trường hợp đạo luật giảm thuế của cựu Tổng Thống George W. Bush, nói rằng tăng thuế trong thời gian này chỉ có hại cho nền kinh tế Mỹ. (V.Giang)

Không Quân Mỹ giới hạn bay F-22 Raptor

 


WASHINGTON (NYT) – Bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ, ông Leon E. Panetta, hôm Thứ Ba ra lệnh giới hạn ngay lập tức các chuyến bay của loại chiến đấu cơ F-22 Raptor sau khi chương trình truyền hình điều tra “60 Minutes” nêu việc hai phi công Mỹ từ chối không bay loại phi cơ này vì các trở ngại cung cấp dưỡng khí trong phòng lái.









Một chiếc F-22 Raptor bay biểu diễn ngày 23 tháng 10, 2011 tại Alabama. (Hình: Jason Smith/Getty Images)


Giới chức Ngũ Giác Ðài cho hay giới hạn này đòi hỏi tất cả các phi cơ F-22 chỉ được bay trong khoảng cách an toàn gần phi đạo, dù rằng họ từ chối không nói rõ các phi công phải bay gần căn cứ ở khoảng cách nào. Tuy nhiên, ông George Little, đặc trách liên lạc truyền thông của Ngũ Giác Ðài, nói rằng các chuyến bay tuần tiễu xa ở Alaska nay sẽ do các loại phi cơ khác thực hiện.


Ông Panetta cũng ra lệnh cho Không Quân Mỹ phải sớm gắn thêm hệ thống cung cấp dưỡng khí phụ trên các phi cơ F-22 và hàng tháng phải báo cáo về tiến triển trong việc tìm kiếm và giải quyết vấn đề trở ngại dưỡng khí trên phi cơ F-22.


Các phi công lái F-22, và ngay cả các chuyên viên bảo trì dưới đất, đã nhiều lần báo cáo là thiếu dưỡng khí trong phòng lái từ khi bắt đầu sử dụng vào Tháng Mười Hai năm 2005 đến nay. (V.Giang)

Ðảng viên lão thành đòi cách chức trùm an ninh Trung Quốc

 


BẮC KINH (AFP) – Một nhóm đảng viên Cộng Sản Trung Quốc lão thành vừa đưa ra bức thư ngỏ, kêu gọi bãi chức trùm an ninh Trung Quốc, Chu Vĩnh Khang (Zhou Yongkang), một điều cho thấy đang có bất ổn chính trị trước ngày có cuộc chuyển đổi lãnh đạo ở Trung Quốc.









Chu Vĩnh Khang, trùm an ninh và là nhân vật quyền lực thứ chín trong hệ thống quyền lực Trung Quốc, vừa bị một nhóm đảng viên lão thành của Bắc Kinh viết thư, yêu cầu cách chức. (Hình: Liu Jin/AFP/Getty Images)


Lời kêu gọi bãi chức Chu Vĩnh Khang, một trong chín nhân vật lãnh đạo cao cấp nhất ở Trung Quốc, liên hệ tới vụ tai tiếng Bạc Hy Lai (Bo Xilai), nguyên bí thư thành ủy Trùng Khánh và cũng là người được Chu Vĩnh Khang đỡ đầu, tạo ra các chấn động chính trị lớn nhất ở Trung Quốc từ nhiều thập niên qua.


Zhao Zhengrong, một giới chức hồi hưu ngành kiểm tra Ðảng, thuộc thành phố Zhaotong ở tỉnh Hồ Nam, nằm về phía Tây Nam Trung Quốc, cho giới truyền thông Tây phương hay ông ta và 15 đảng viên khác đã gửi đề nghị bãi chức Chu Vĩnh Khang lên giới lãnh đạo.


“Chúng tôi đòi hỏi điều này vì Chu Vĩnh Khang chỉ đạo ‘mô hình Trùng Khánh’ và hỗ trợ Bạc Hy Lai,” theo ông Zhao, ám chỉ việc Bạc Hy Lai điều hành nơi này với bàn tay sắt và khơi dậy phong trào tả khuynh khiến nhiều người lo sợ sự phục hồi của Vệ Binh Ðỏ thời Mao Trạch Ðông.


Các phân tích gia chính trị Trung Quốc nói rằng việc bãi chức Thành Ủy Trùng Khánh của Bạc Hy Lai và sau đó đuổi ra khỏi Bộ Chính Trị, cơ quan quyền lực cao cấp với 25 ủy viên, cho thấy có sự chia rẽ lớn lao trong hàng ngũ lãnh đạo Trung Quốc.


Họ cho rằng phía kêu gọi quay trở lại các giá trị bảo thủ của thời Mao Trạch Ðông, như Bạc Hy Lai và Chu Vĩnh Khang đã làm, và phía thúc đẩy có cải cách chính trị để tiến tới chế độ pháp trị, đang đấu đá với nhau trước ngày có sự chuyển tiếp lãnh đạo như dự trù.


Ðòi hỏi đưa Chu Vĩnh Khang ra khỏi chức vụ Bí Thư Ủy Ban Các Vấn Ðề Luật Pháp và Chính Trị xảy ra trong lúc có các tin đồn cho hay ông ta thực ra đã mất chức vụ này.


“Ðiều gọi là trấn áp mafia ở Trùng Khánh của Bạc Hy Lai chỉ có thể thực hiện được dưới hệ thống pháp luật do Chu Vĩnh Khang lãnh đạo, bao gồm công an, tòa án và viện kiểm sát nhân dân,” theo lời cựu Giáo Sư Ðại Học Sơn Ðông Sun Wenguang.


“Phương thức họ sử dụng để dẹp mafia cũng đồng thời phá hủy sự độc lập và công bằng của hệ thống pháp luật. Ðiều này đưa đến nhiều phiên xử bất công và tạo thêm sự sợ hãi trong quần chúng.” (V.Giang)

Nam Phi tịch thu 10 sừng tê giác, bắt một người Việt

 


JOHANNESBURG (AP) – Phát ngôn viên cảnh sát Nam Phi cho hay, nhờ vào nguồn tin mật báo, họ ập vào một căn chung cư ở Johannesburg, tịch thu 10 sừng tê giác, một ngà voi và bắt giữ một người đàn ông gốc Việt.



Một con tê giác ở Nam Phi bị giết để lấy sừng. (Hình: AFP/Getty Images)


Phát ngôn viên Vish Naidoo hôm Thứ Tư cho hay người này sẽ phải ra trình diện trước tòa hôm Thứ Sáu để nghe cáo trạng về các tội trong đó có cả việc oa trữ bất hợp pháp sừng tê giác. Phát ngôn viên Naidoo cho hay người đàn ông gốc Việt này không chịu mở cửa cho cảnh sát vào khám nhà nên họ phải phá cửa xông vào lúc chiều tối ngày Thứ Ba.


Trung Quốc và Việt Nam là hai thị trường lớn cho sừng tê giác, vốn được cho là có khả năng giúp tăng cường sinh lực.


Trong năm nay đã có hơn 200 con tê giác bị giết hại ở Nam Phi, gần bằng nửa con số kỷ lục là 448 con năm ngoái. Tuy nhiên, con số bắt giữ cũng tăng cao, vào khoảng 165 vụ trong năm nay so với 232 cho cả năm ngoái.


Hôm 5 tháng Tư 2012, chính phủ Nam Phi ra lệnh cấm người có quốc tịch Việt Nam đến quốc gia này để săn tê giác, kể cả những ai đã được cấp giấy phép trước đó.


Nam Phi ban hành lệnh cấm này vì muốn bảo đảm rằng người ta sẽ không đem bán sừng con vật có giá trị cao hơn cả vàng, bạch phiến, hay bạch kim.


Bộ Môi Trường và Nước của chính phủ Nam Phi cho biết tất cả 23 đơn xin tới Nam Phi săn tê giác trong năm nay đã bị từ chối.  (V.Giang)

Bội chi, tiểu bang lấy tiền trợ cấp nhà bù ngân sách

 


WASHINGTON (NYT) – Hàng trăm triệu dollars đáng lẽ ra được dùng vào việc trợ giúp các chủ nhà đang gặp khó khăn tại nhiều tiểu bang trên nước Mỹ, nay lại được dùng vào việc bù đắp thiếu hụt ngân sách.


Trong đề nghị ngân sách đưa ra tuần này, Thống Ðốc Jerry Brown của tiểu bang California đã đi theo đường hướng của khoảng hơn một chục tiểu bang khác là thay vì dùng số tiền bồi thường theo thỏa thuận với các ngân hàng lớn để giúp ngăn ngừa việc tịch thu nhà, lường gạt tài chánh và giảm thiểu ảnh hưởng xấu của cuộc khủng hoảng địa ốc, lại dùng trả các món nợ của tiểu bang.


Số tiền này nằm trong tổng số tiền $25 tỉ được thương thảo giữa các tiểu bang và 5 ngân hàng lớn nhất nước Mỹ trong vụ kiện về vô số sai trái trong thiết lập hồ sơ nợ mua nhà cũng như tiến trình tịch thu nhà.


Thỏa thuận này, đạt được hồi Tháng Hai năm nay sau một năm thương thảo và có sự can dự của chính phủ Obama, là thỏa thuận tài chánh lớn thứ nhì trong lịch sử Mỹ liên hệ đến các tiểu bang, chỉ thua có vụ thỏa thuận bồi thường của kỹ nghệ thuốc lá.


Cho tới nay, chỉ có 27 tiểu bang dùng số tiền có được vào các chương trình liên quan đến nhà cửa. Khoảng 15 tiểu bang khác cho hay họ sẽ dùng cho các mục tiêu khác.


Ở tiểu bang Texas, có $125 triệu được đổ ngay vào quỹ điều hành. Missouri sẽ dùng $40 triệu có được để giảm bớt việc cắt giảm ngân sách giáo dục. Indiana dùng hơn một nửa số tiền để trả chi phí năng lượng cho các gia đình có lợi tức thấp, trong khi Virginia sẽ dùng phần lớn số tiền $67 triệu để giúp các chính quyền địa phương trong hoàn cảnh túng thiếu trầm trọng. (V.Giang)

Dân Hy Lạp rút gần $1 tỷ ra khỏi ngân hàng

 


ATHENS (AP) – Lo ngại Hy Lạp có thể rút khỏi khu vực đồng euro, nội trong một ngày dân chúng nước này đã rút ra khoảng $900 triệu từ các ngân hàng.









Ðồng 1 drachma, đơn vị tiền tệ cũ Hy Lạp trước khi chuyển qua dùng đồng euro. (Hình: Philpie Huguen/AFP/Getty Images)


Thống Ðốc Ngân Hàng Trung Ương Hy Lạp George Provopoulos cho biết những người có tiền gởi ngân hàng đã rút 700 triệu euros từ đầu tuần này và dự kiến sẽ còn rút thêm 100 triệu euros nữa.


Tổng Thống Karolos Papoulias cảnh cáo các nhà lãnh đạo chính trị rằng tình trạng này có thể đưa tới sự hoảng sợ trong dân chúng về đồng tiền mất giá nếu Hy Lạp bỏ euro quay về dùng đồng drachma cũ.


Dân Hy Lạp đã rút ra 72 tỷ kể từ tháng 1 năm 2010 và tiền ký thác trong các ngân hàng chỉ còn lại 165 tỷ euros tính cho đến tháng 3. Tuy nhiên những tin từ Athens không xác nhận việc dân chúng đứng xếp hàng đông đảo trước các máy ATM để rút tiền và tin đồn cho là các ngân hàng sẽ giới hạn chỉ được rút 50 euros ở mỗi trương mục. Hôm Thứ Tư, các ngân hàng Hy Lạp khẳng định là không nhận thấy tình trạng hoảng sợ và dân chúng xếp hàng nối đuôi trước máy rút tiền.


Mario Draghi, chủ tịch Ngân Hàng Trung Ương Âu Châu, hôm Thứ Tư tuyên bố ở Frankfurt, Ðức, là ngân hàng mong Hy Lạp sẽ tiếp tục ở lại trong khu vực đồng euro. Thủ Tướng Ðức Angela Merkel và chủ tịch Liên Âu cũng đồng quan điểm ấy.


Giám đốc Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF), bà Christine Lagarde, nói: “Trên quan điểm của IMF, chắc chắn là chúng tôi không mong Hy Lạp rút khỏi khu vực đồng euro. Tuy nhiên về mặt kỹ thuật, chúng tôi phải chuẩn bị mọi trường hợp.” (HC)

Ngô Tất Tố (1894 – 5.1954) và tình sử

 


Viên Linh


 


Một trong các danh sĩ của Việt Nam, được cả hai miền Nam Bắc trên hay dưới vĩ tuyến 17 trọng vọng, ca ngợi, là Ngô Tất Tố, người đỗ đầu xứ bằng ngọn bút lông, nhưng mưu sinh thành công bằng ngọn bút sắt, viết tiểu thuyết lịch sử “Vua Hàm Nghi với việc kinh thành thất thủ” (1935), nhưng nổi tiếng về các bản dịch “Tình sử Trung Hoa,” dịch thơ Ðường, hay viết khảo luận về Thơ Văn Lý Trần…




Nhà văn Ngô Tất Tố (1894 – tháng 5, 1954). (Hình: Tác giả cung cấp)


Lý do giản dị, nhưng cũng đáng buồn, là vì ông không đứng về phe nào, vì không có dịp trình chính công khai: ông tử nạn vào tháng 5, 1954, trước khi đất nước phân đôi. Miền Bắc cố gắng chứng minh rằng ông đứng về phe kháng chiến chống Pháp, và tử nạn vì bị phi cơ Pháp bỏ bom trên Việt Bắc, hay từng tham gia phong trào Truyền Bá Chữ Quốc Ngữ, song “kháng chiến chống Pháp” không có nghĩa là theo cộng sản, tham gia phong trào Truyền Bá Chữ Quốc Ngữ không có nghĩa là Việt Minh. Có một đôi trường hợp chết sớm lại là may mắn, nếu nhà thơ Hàn Mặc Tử còn sống, có thể ông cũng đã như Chế Lan Viên, bạn thân của ông, người làm những bài thơ vong thân một thời. Nhà thơ, nhà biên khảo Ngô Tất Tố đã từ trần hai tháng trước Hiệp định Geneve, cho nên ông hoàn toàn là một danh sĩ Tiền chiến, nguyên vẹn là một học giả, nhà văn, nhà thơ của Việt Nam, với những tác phẩm để đời như Tắt Ðèn (1939), Ðường Thi (1940), Lều Chõng (1941), Thơ Văn Bình Chú (1941), và dịch Tình Sử Trung Hoa hay dịch Hoàng Lê Nhất Thống Chí… của Ngô Thì Sĩ trong Ngô Gia văn phái.


Bài Tự Thán tương truyền là của Nguyễn Trãi, song người ta chỉ thấy qua bản dịch theo thể thơ lục bát của Ngô Tất Tố, tin trong Thơ Văn Bình Chú:


 


Tự Thán


 


Chiếc thuyền lơ lửng bên sông


Biết đem tâm sự ngỏ cùng ai hay?


Chắc chi thiên hạ đời nay


Mà đem non nước làm rầy chiêm bao?


Ðã buồn về trận mưa rào


Lại đau về mối rào rào gió đông.


Mây trôi nước chảy xuôi dòng (dòng)


Chiếc thuyền hờ hững trên sông một mình.


Nguyễn Trãi


(Theo Ngô Tất Tố trong Thơ Văn Bình Chú, Mai Lĩnh, 1952, tr. 17)


 


Dịch Ðường Thi nổi tiếng nhất là hai người: Tản Ðà và Ngô Tất Tố, song dịch Tình Sử Trung Hoa thì dẫn đầu là Ngô Tất Tố. Một dịch giả thành công hay một bản dịch thành công, thì yếu tố thành công quan trọng hơn cả là “bản dịch” là quan trọng, còn nguyên bản không quan trọng. Một bản dịch Anh Việt, Pháp Việt hay Hoa Việt thì phần Việt quan trọng hơn phần Anh Pháp hay Hoa. Ngô Tất Tố ngoài sở học uyên bác (đỗ đầu xứ thi Hương), còn có tài văn xuôi, mà tiểu thuyết Tắt Ðèn của ông là một minh chứng; bản dịch cuốn lịch sử tiểu thuyết Hoàng Lê Nhất Thống Chí của ông thì văn chương đối thoại thật là gần gũi với mọi người, nghĩa là ông dùng ngôn ngữ thời đại, ngôn ngữ mọi người dùng, thoát khỏi ngôn ngữ văn tự sách vở.


Sau đây mời bạn đọc thưởng thức một truyện tình sử do ông dịch:


 


Tình sử – Ngô Tất Tố dịch


Cây ngọc vườn sau


 


Hậu Chủ nhà Trần có tiếng là vị phong lưu thiên tử, hậu cung lúc nào cũng độ vài nghìn người. Người được ông ta yêu dấu hơn hết là Khổng Quý Tần và Trương Quý Phi. Quý Phi tóc đen như mun, có thể soi gương, hai mắt lóng lánh như hai làn nước, mỗi khi nhìn ngó, muốn xiêu cả người bên cạnh. Hậu Chủ sai người dựng ở trước điện Quang Chiếu ba tòa gác lớn, đặt tên là gác Lâm Xuân, gác Kết Ỷ và gác Vọng Tiên. Cửa lớn, cửa sổ của những gác ấy đều làm bằng gỗ trầm hương, dát toàn vàng ngọc, ngoài che rèm châu, trong có trướng gấm. Những đồ bài trí, đều là những thứ quý lạ, từ xưa chưa có. Dưới gác đều có chất đá làm núi, tháo nước làm ao, và trồng các thứ hoa thơm cỏ lạ ở khắp chung quanh. Hậu Chủ tự ở trong gác Lâm Xuân, cho Trương Quý Phi ở gác Kết Ỷ, còn gác Vọng Tiên thì là phần của Khổng Quý Tần. Những lúc Quý Tần trang điểm chải chuốt, đứng ở phía trong lan can trong cung trông ra, chẳng khác gì một nàng tiên.


Mỗi lần Hậu Chủ họp các cung nhân uống rượu tại mấy nơi đó thường bắt phi, tần, học sỹ và các khách quen tức cảnh, ngâm thơ, tặng đáp lẫn nhau. Rồi thì ông ta lựa riêng những bài bóng bẩy, bay bướm, phổ vào đàn sáo, chọn độ hơn nghìn cung nữ bắt phải tập hát. Những khúc hát ấy, Hậu Chủ đặt tên là Nghênh Xuân Nhạc, Ngọc Thụ, Hậu Ðình Hoa, đại để đều là những lời tán dương vẻ đẹp của các phi tần. Mỗi lần yến ẩm múa hát, vua tôi say be say bét từ tối đến sáng. Hậu Chủ có chế ra khúc Hậu Ðình Hoa như vầy:


Rừng thơm, lầu, gác chon von,


Nghiêng thành là vẻ phấn son nuột nà.


Lững lờ trong cửa bước ra,


Ðón nhau, vén bức màn hoa mỉm cười,


Người đâu móc đượm hoa tươi,


Long lanh cây ngọc sáng soi sau vườn.


Cách đó ít lâu quân Hán Cầm Hổ kéo vào Ðài Thành, Hậu Chủ toan chạy, quần thần có người khuyên ngài nên ra đầu hàng. Hậu Chủ không nghe và nói:


“Ta đã có giếng!”


Rồi ngài dắt luôn hơn chục cung nhân ra điện Cảnh Dương, cùng nhẩy xuống một cái giếng gần đó. Quân sĩ nghé vào trong giếng, gọi không thấy thưa, họ bèn bảo nhau lấy đá ném xuống. Chợt nghe dưới giếng có tiếng người kêu. Bọn quân tức thì lấy thừng gióng xuống, khi kéo thừng lên, thấy nặng, cả bọn đều lấy làm lạ. Thì ra cả Trương Quý Phi và Khổng Quý Tần cùng bám ở dưới đầu thừng. Vì vậy người ta mới gọi giếng ấy là giếng Son Phấn.

Tướng lãnh trong Cộng Ðảng Trung Hoa


LTS –
Thời sự dồn dập hàng ngày trên cả địa cầu có thể giúp chúng ta biết được là chuyện gì đang xảy ra trên thế giới. Tuy nhiên, nhiều khi chúng ta không hiểu được vì sao lại xảy ra một biến cố như vậy, và hậu quả sau này sẽ ra sao… Cũng vì lý do ấy, nhật báo Người Việt mở thêm một tiết mục và lưu trữ trên trang mạng Người Việt Online để quý độc giả tham khảo. Ðó là mục “Hồ Sơ Người-Việt,” xuất hiện Thứ Năm mỗi tuần, với nội dung trình bày khung cảnh khách quan của một vấn đề và, nếu có thể, một số dự báo về tương lai hầu độc giả khỏi ngỡ ngàng khi sự biến xảy ra. Xin trân trọng giới thiệu cùng quý độc giả…


 


 


Hùng Tâm/Người Việt


 


Sau ba hồ sơ liên tiếp về Ðảng Cộng Sản Trung Hoa, tuần này “Hồ Sơ Người-Việt” tìm hiểu về hàng ngũ tướng lãnh Trung Quốc.


Kỳ trước, người ta thấy hai trọng điểm là 1) đảng mới lãnh đạo quân đội và 2) muốn quân đội chú ý đến yêu cầu bảo vệ an ninh nội địa và yểm trợ lực lượng công an và cảnh sát võ trang.


Nhưng như trong mọi tập thể, giới chỉ huy nào cũng có nhu cầu và đòi hỏi riêng, tướng lãnh cũng vậy, nên đảng luôn luôn phải điều chỉnh tầm nhắm của khẩu súng và nhắc nhở các tướng. Trong khi ấy, dư luận quốc tế thì e ngại sự lớn mạnh của quân đội Trung Quốc và ảnh hưởng của các tướng lãnh lên đường hướng lãnh đạo của đảng.


Hồ Sơ Người-Việt kỳ này sẽ trình bày hai mặt có vẻ như mâu thuẫn đó về các tướng lãnh.


 


Từ Việt Nam đến hiện đại hóa


 


Sau 10 năm hoảng loạn cuối thời Mao, Ðặng Tiểu Bình giành lại quyền bính và thật sự lãnh đạo sau Hội nghị kỳ 3 của Ban Chấp Hành Trung Ương khóa 11 vào cuối năm 1978. Hai tháng sau, chính cuộc chiến với Việt Nam-Bắc Kinh gọi là… “Ðối Việt Tự Vệ Phản Kích Chiến” – mới là bước ngoặt cho Trung Quốc.


Vì Giải Phóng Quân bị tổn thất quá nặng, các tướng lãnh bảo thủ trên thượng tầng mới ý thức được tình trạng lạc hậu quân sự nên ủng hộ chủ trương cải cách của Ðặng để hiện đại hóa. Nhưng do hậu thuẫn chính trị vào thời điểm chiến lược ấy mà quân đội lại mở rộng ảnh hưởng vào công nghiệp và kinh doanh.


Chiều hướng ấy khiến các tướng giữ vai trò quan trọng trong đảng ủy địa phương và mở ra hệ thống “quân doanh,” doanh nghiệp của quân đội. Lý do chính đáng là để bù vào ngân sách do trung ương chu cấp không đủ. Cuối cùng thì đảng lo ngại là hệ thống quân doanh sẽ cấu kết với doanh nghiệp nội địa và nước ngoài rồi vượt khỏi tầm kiểm soát của trung ương để sẽ rồi nạn lãnh chúa sẽ tái xuất hiện như trong thời nội chiến.


Sau khi Giang Trạch Dân lên cầm quyền từ vụ khủng hoảng Thiên An Môn năm 1989, đảng cải cách quân đội: tái cấu trúc và hiện đại hóa theo hướng giảm quân số Bộ Binh, tăng cường các quân chủng khác và nâng mức ngân sách, mà quân đội phải ra khỏi doanh trường. Các tướng mà thiếu gì thì đảng cung cấp, nhưng phải giải thể các cơ sở quân doanh. Việc bán chác tài sản doanh nghiệp này cũng đem lại lợi lộc cho nhiều đảng viên và thân tộc ở địa phương, y như tại Liên Bang Nga dưới thời Boris Yeltsin. Cũng từ đó, không có tướng nào được vào Thường Vụ Bộ Chính Trị.


Kế hoạch hiện đại hóa từ năm 1990 trở về sau đem lại cho quân đội một động lực mới, với ba quân chủng Hải Quân, Không Quân và Ðệ nhị Pháo Binh – Tây phương lần lượt gọi là PLAN (Navy), PLAAF (Air Force) và SAC (Second Artillery Corps) – đã giữ vị thế quan trọng hơn thay vì chỉ có Lục Quân như thời nội chiến và cách mạng.


Ngày nay, Giải Phóng Quân được đảng cho bốn sứ mạng lịch sử sau đây:


Trước hết, bảo vệ an ninh nội địa (nội an là một mục tiêu của quốc phòng theo phép PAP trên PLA mà Hồ Sơ Người-Việt đề cập kỳ trước). Quân đội được phái đi cứu trợ thiên tai rất thường xảy ra trong xứ này (như động đất hay lũ lụt vào các năm 1998, 2008, 2010) hoặc đi dẹp loạn tại Tân Cương, Tây Tạng đằng sau các lực lượng cảnh sát võ trang. Hình ảnh bộ đội đi cứu hộ và dẹp loạn cũng là lợi khí tuyên truyền mà đảng rất biết khai thác.


Thứ hai, bảo vệ dòng hải lưu vì Trung Quốc có nền kinh tế lớn thứ nhì thế giới và cần trao đổi với bên ngoài. Khủng bố, hải tặc, xung đột giữa các nước hoặc âm mưu phong tỏa của các “thế lực thù địch” (như Hoa Kỳ, Ấn Ðộ hoặc Nhật Bản) là những mối nguy khiến Hải Quân phải có phương tiện và kỹ thuật hiện đại hơn.


Thứ ba, xây dựng khu vực “hạch tâm quyền lợi” ngoài biển Hoa Nam (Trung Nam Hải mà ta gọi là Ðông Hải), nơi cũng có tính cách chiến lược như Tân Cương và Tây Tạng trong nội địa. Quan niệm quyền lợi cốt lõi ấy được chính thức công bố từ năm 2010 và quân đội có nhiệm vụ kiểm soát khu vực này như một vùng trái độn quân sự (buffer zone) để… tự vệ.


Thứ tư, cải tiến khả năng tác chiến, với chiến cụ và trang bị tối tân hơn trên cả bốn địa bàn là ngoài biển, trên không gian, bên ngoài không gian và cả không gian điện toán (cyberspace). Mục đích là để thu ngắn khoảng cách lạc hậu so với các nước tiên tiến và khai triển khả năng “chiến tranh bất cân xứng.” Dùng siêu kỹ thuật để lấy yếu đánh mạnh là một phương châm.


Khi có thêm phương tiện nhờ kinh tế và có thêm động lực tinh thần nhờ sứ mạng được gọi là lịch sử, Giải phóng quân cũng có thêm tiếng nói. Trên diễn đàn của quân đội như tờ “Giải Phóng Quân Báo” (PLA Daily), nhiều tướng lãnh đã có bài quan điểm làm dư luận chú ý. Nội dung các bài này đôi khi gây lo ngại vì luận điệu duy chủng (Hán tộc là nhất) và hiếu chiến, nhưng cũng có những bài tiến bộ khi kêu gọi cải cách chính trị. Tuy nhiên, như trên nhiều diễn đàn khác của giới trí thức dân sự, tác giả có quyền nêu ý kiến và thậm chí tranh luận, nhưng vẫn trong vòng “phải đạo,” là không nêu vấn đề về quyền lãnh đạo tuyệt đối của đảng.


Khi ấy, người ta cần nhìn ra ảnh hưởng của các tướng lãnh qua hai cơ chế dồn làm một, là Quân Ủy Trung Ương.


 


Trung Ương Quân Ủy Hội


 


Trung Quốc có hai cơ chế quân sự tối cao của đảng và của nhà nước là “Trung Quốc Cộng sản đảng Trung ương Quân sự Ủy viên hội” và “Trung Hoa Nhân dân Cộng hòa quốc Trung ương Quân sự Ủy viên hội,” được gọi chung là “Trung Ương Quân Ủy Hội” với cùng thành phần nhân sự hiện nay là 12 người. Lãnh đạo Quân Ủy Trung Ương đương nhiên là tổng bí thư kiêm chủ tịch Nhà nước, một nhân vật dân sự.


Chủ tịch Quân Ủy Trung Ương hiện là Hồ Cẩm Ðào và có ba phó chủ tịch, theo thứ tự thâm niên trong cơ chế này là Tướng Quách Bá Xương (sinh năm 1942, vào Quân Ủy từ 2002), Tướng Từ Tài Hậu, sinh 1943, vào Quân Ủy từ 2004), và Phó Chủ tịch nước Tập Cận Bình, bí thư Ban Bí Thư Trung Ương và vào Quân Ủy từ tháng 10 năm 2010. Sau khi lên làm tổng bí thư và chủ tịch nước như dự trù, Tập Cận Bình sẽ thay thế Hồ Cẩm Ðào làm chủ tịch Quân Ủy Hội, nhưng không ngay vào năm tới. Chi tiết này đáng chú ý nhưng xin nói sau.


Ngoài bốn người cao cấp nhất, Quân Ủy Hội còn tám thành viên khác, toàn là tướng lãnh chỉ huy tám bộ phận quân sự quan trọng. Theo thứ tự thâm niên khi họ vào Quân Ủy là Bộ Quốc Phòng (Lương Quang Liệt, 2002), Tổng Cục Chính Trị (Lý Kế Nại), Tổng Cục Hậu Cần (Liêu Tích Long), Bộ Tổng Tham Mưu (Trần Bỉnh Ðức, 2004), Ðệ Nhị Pháo Binh (Tĩnh Chí Viễn, 2004), Tổng Cục Tiếp Tế (Thường Vạn Toàn 2007), Hải Quân (Ngô Thắng Lợi, 2007), Không Quân (Hứa Kỳ Lượng, 2007).


Nhìn lại thì đây là chuyện quan trọng: 10 tướng lãnh cao cấp nhất thường gặp hai nhân vật dân sự cao nhất đảng trong các buổi họp của hai Quân Ủy mà không có sự hiện diện của các lãnh tụ còn lại trong Bộ Chính Trị. Quân Ủy Hội không chỉ là cơ chế lấy quyết định về quân sự mà còn là nơi các tướng trực tiếp nói chuyện với lãnh đạo đảng.


Họ nói chuyện gì, làm “công tác tư tưởng” hay “động viên” nhau ra sao, ai thuyết phục ai, cho chuyện gì?


Theo nguyên tắc về tuổi tác, người đến 68 tuổi (sinh vào năm 1944 về trước) phải về hưu. Trong số 10 tướng lãnh, chỉ có Thường Vạn Toàn (1949) và Hứa Kỳ Lượng (1950) là hy vọng ở lại. Sau Ðại Hội 18, có 8 tướng sẽ ra về, may lắm thì Ðô Ðốc Ngô Thắng Lợi sinh năm 1945 sẽ ở thêm một nhiệm kỳ. Tầm quan trọng của Ðại Hội 18 vì vậy cũng bao trùm lên lãnh vực quân sự.


Trước khi ra về, các tướng khuyến nghị những gì với Hồ Cẩm Ðào và Tập Cận Bình, và họ cất nhắc những ai lên thay thế, theo tiêu chuẩn nào?


 


Ðộng viên nhau theo hướng nào?


 


Nhớ lại thì sau khi rời hai chức vụ tổng bí thư và chủ tịch nước từ Ðại Hội 16 vào năm 2002, Giang Trạch Dân vẫn giữ ghế chủ tịch Quân Ủy thêm hai năm để vận động các sĩ quan theo vây cánh của mình. Nhiều phần thì Hồ Cẩm Ðào cũng vậy. Chủ tịch Tập Cận Bình trong tương lai vẫn có lãnh đạo cũ kè ở bên trong Quân Ủy Hội cho đến 2014.


Như Giang Trạch Dân về hưu mà vẫn có ảnh hưởng qua tay chân được gài lại, Hồ Cẩm Ðào, Ngô Bang Quốc hay Ôn Gia Bảo, v.v… cũng tiếp tục có mặt sau hậu trường. Vì thế, ngoài các phe phái đã trình bày kỳ trước, Trung Quốc còn có cánh “Thái thượng hoàng” là các lão đồng chí làm cố vấn ngầm. Nếu Tập Cận Bình (Thái tử đảng và Thanh Hoa phái) được Giang Trạch Dân cất nhắc lên vị trí lãnh đạo, ông vẫn phải thỏa hiệp với vị tiền nhiệm là Hồ Cẩm Ðào, người cầm đầu “Ðoàn phái” và có truyền nhân Lý Khắc Cường sẽ là thủ tướng trong năm tới.


Lãnh đạo Cộng Ðảng ở vào thế “cài răng lược” và dưới vẻ đồng thuận thống nhất, khi đa số đều là dân sự và tranh thủ (hay tranh đấu) với nhau bên sau hậu trường, họ vẫn cần đến quân đội. Ngược lại, các tướng cũng có dịp tác động hoặc mặc cả về đường hướng và nhân sự.


Hồ Sơ Người-Việt không điểm danh các tướng đang hy vọng tiến vào Quân Ủy Hội hoặc đang được Hồ Cẩm Ðào hay Tập Cận Bình vận động vì bài viết sẽ quá dài. Nhưng xin tóm lược một số đặc tính của các tướng, vẫn là địa phương và phe phái, mà được hiện đại hóa.


Xưa kia, các lãnh tụ quân sự đều xuất thân từ các địa phương thành đồng của đảng, như Sơn Ðông, Hà Bắc, Hà Nam, Thiểm Tây và Liêu Ninh. Ðịa phương tính đó có phản ảnh trong thành phần ủy viên của Quân Ủy, nơi có ít tướng lãnh xuất thân từ Thượng Hải hay Quảng Ðông, Tứ Xuyên hoặc các tỉnh miền Tây. Ngày nay, đặc tính ấy vẫn còn và sẽ có thể chi phối sự chọn lựa sau Ðại Hội 18.


Ðiều mới hơn là sự xuất hiện của các tướng trong “Thái tử đảng.” Họ là con cháu của các đại công thần thời cách mạng, sinh khoảng 1940-1950 trở về sau.


Nếu các nhân vật dân sự trong “Thái tử đảng” chỉ là một tập thể ô hợp và cơ hội, ngẫu nhiên có chung một gốc tích là quý tộc cách mạng, các tướng lãnh lại hơi khác. Do kỷ luật của tổ chức quân đội, họ gắn bó với nhau và dễ có chung một nhận thức nên cũng có ảnh hưởng cao hơn khi cần tác động vào hệ thống chính trị.


Trong số này, nên chú ý đến Hứa Thắng Lợi, Trương Hải Dương, Mã Hiểu Thiên, và Chương Thấm Sinh. Kế tiếp là các tướng đang lên như Lưu Nguyên, con trai Lưu Thiếu Kỳ mà rất bảo thủ, hay một sĩ quan kêu gọi cải cách chính trị là Lưu Á Châu.


Trong vụ Trùng Khánh, nhiều tướng lãnh phe Thái tử đảng bị liên lụy vì gia đình quá thân với Bạc Hy Lai, như Trương Hải Dương hay Lưu Nguyên, nên họ ra sức chứng tỏ sự trung thành với đảng. Ngược lại, nhiều tướng khác thuộc Thái tử đảng mà gần với Hồ Cẩm Ðào thì lại thêm cơ hội thăng tiến, như Ðề Ðốc Trương Hải Dương, con rể Hồ Diệu Bang và Chính ủy Học viện Quân sự Trung ương, Thiếu tướng Không quân Lưu Á Châu, con rể Lý Tiên Niệm.


Lồng trong hai đặc tính địa phương và phe phái nói trên, Giải Phóng Quân ngày nay còn có tầm quan trọng rất lớn của Hải Quân, Không Quân và Ðệ nhị Pháo Binh, ba quân chủng đang được ưu tiên trang bị cho thế kỷ 21. Ðấy cũng là một tiêu chuẩn khác để ước đoán về hậu vận của các tướng sau Ðại Hội 18.


Nhưng dù vai trò của tướng lãnh có tăng hay chuyện vận động có thêm yếu tố bất định về phe phái, quân đội Trung Quốc vẫn phục tùng đảng, ngay cả trong giả thuyết là sau đại hội này sẽ có một hai tướng ngồi trong Bộ Chính Trị thay vì chỉ có Tướng Từ Tài Hậu sẽ về hưu.


 


Ghi chú: Bài “Phe phái trong Cộng đảng Trung Hoa” có hai danh tính bị gõ sai là Trương Cao Lệ và Tập Trọng Huân, xin quý độc giả sửa lại cho. Về Tập Cận Bình, năm 1985 ông đã qua Mỹ nghiên cứu về canh nông và sống tại thị trấn Muscatine của Iowa trong một gia đình bình dân. Khi chính thức thăm viếng Hoa Kỳ vào tháng 2, ngay sau vụ Vương Lập Quân, ông thăm lại gia đình này. Trung Quốc có thêm cơ hội tuyên truyền về tính bình dân và trọng thị của lãnh đạo.

Khánh Trường, những hò hẹn bất ngờ với định mệnh

 


Du Tử Lê


 


Cuối tuần qua, một bằng hữu ở gần tôi – ÐTB, chở một người bạn chung – NXH, ở xa về, đi thăm cựu chủ biên và, cũng là người sáng lập tạp chí Hợp Lưu: Họa sĩ Khánh Trường.










Hành trình giác ngộ (oil on canvas 40 x 60 in) – Tranh Khánh Trường.


Buổi trưa, tôi gặp hai bạn tôi ở quán cà phê. NXH nói với tôi về trường hợp lành bệnh của Khánh Trường, tựa điều gì giống như một “phép lạ!”


Ông giải thích, sau khi các bác sĩ Tây y cho biết, lần này (sau nhiều lần,) họ bó tay trước biến cố tai biến mạch máu não của Khánh Trường. Và, cho gia đình đón bệnh nhân về nhà, chờ… chết! Người bạn đời của Khánh Trường, như bất cứ một phụ nữ Việt Nam thương chồng nào khác, với truyền thống “còn nước, còn tát,” bà tìm tới Ðông y.


NXH, kết luận:


“Thật kỳ diệu, bây giờ, tuy vẫn còn phải ngồi xe lăn, nhưng Khánh Trường đã có thể làm việc, vẽ liên tiếp nhiều giờ không mệt…”


ÐTB khoanh tay, im lặng. Nơi cuối tia mắt xa xăm của ông, tôi bắt được tín hiệu liên quan tới những game màu trong sáng. Những tấm canvas lớn, dù đã được đóng khung lại, nhưng đường nét và, màu sắc vẫn vượt qua lằn ranh biểu kiến, đi tới những chân trời tâm thức, không giới hạn.


Không biết có phải khi nghe NXH, nói về trường hợp “kỳ diệu” của Khánh Trường, khiến tôi liên tưởng tới cuộc triển lãm cá nhân, đầu tiên của Khánh Trường, sau nhiều ngày dũng mãnh chống lại tật bệnh, với niềm tin ngoại lệ và, ngoại khổ?


Nếu tôi không hiểu lầm thì ÐTB cũng đang nhớ tới cuộc triển lãm cá nhân đầu tiên của Khánh Trường, sau nhiều ngày dũng mãnh chống lại tật bệnh với một niềm tin ngoại lệ và, ngoại khổ. Hay chỉ vì tôi đang nghĩ tới cuộc triển lãm đã diễn ra cách đây gần nửa năm, của Khánh Trường?


Tuy nhiên, điều quan trọng với tôi (cũng như với ÐTB?) là chủ đề của cuộc triển lãm vừa kể, đã hiển lộ một xác định lớn, rất lớn: Sự chuyển hóa thân/tâm của họa sĩ:


– Ðáo bỉ ngạn. Vượt qua, để đến được bờ kia trí tuệ. Thăng hoa.


Tôi nhớ, tôi đã ghi lại đâu đó, trong một bài viết khá lâu của tôi, một phát biểu ngắn về Khánh Trường với 30 tác phẩm làm thành cuộc triển lãm “Ðáo Bỉ Ngạn” của ông, rằng:


“Nhẹ nhàng, thoải mái, giữ cho tâm thân lúc nào cũng an bình. Với cá nhân tôi, Thiền chỉ giản dị thế thôi.


“Nên khi vẽ những bức tranh liên quan đến chủ đề Thiền, tôi luôn tự nhủ sẽ tuyệt đối trung thành với ý niệm trên. Vì vậy 30 bức tranh trong lần triển lãm này đều được gạn lọc, hạn chế tối đa từ đường nét, màu sắc đến đề tài; cũng như không để mình bị cuốn vào những lãnh địa mới, lạ mà hầu hết họa sĩ đều mong thử nghiệm, khai phá.


“Cũng có nghĩa tôi dùng một bút pháp rất chân phương, mộc mạc để chuyển tải những giáo lý cơ bản nhất của Phật giáo với mong ước ai cũng có thể tiếp cận và hiểu dễ dàng.” (1)


“Nhẹ nhàng, thoải mái, giữ cho tâm thân lúc nào cũng an bình…” cụm từ phản ảnh tính an nhiên, tự tại, hay sự đã tới được bờ bên kia của Khánh Trường, chúng ta đọc/nghe chỉ trong một chớp mắt…


Nhưng để sống/vẽ/viết được “chỉ trong một chớp mắt” ấy, thực tế, người họa sĩ tài hoa này, đã trải qua nhiều lần lột da. Nhiều lần tưa máu. Nhiều chết đi, sống lại!


“Nhẹ nhàng, thoải mái, giữ cho tâm thân lúc nào cũng an bình…” là cách nói của họa sĩ – Một con người theo tôi, đặc biệt, hiếm hoi, đã đạt tới một định lực tương hòa giữa thân và tâm, trong thực giới bất toàn của thân thể. Tôi muốn nói tới sự giới hạn mọi hoạt động của Khánh Trường trong chiếc xe lăn.


Tôi muốn nhấn mạnh tới cái tâm thái, cái tuệ-lực trong thân tứ đại của Khánh Trường xương thịt, khi ông không thể đứng lên, vẽ những bức tranh lớn.


Tôi muốn kể với NXH, rằng, bạn có biết, để hoàn thành 30 bức tranh, chủ đề “Ðáo Bỉ Ngạn,” Khánh Trường đã phải vẽ bằng cách nhìn sự vật theo chiều nghịch đảo?!


Nói cách khác, dễ hiểu hơn thì, Khánh Trường không thể có phòng tranh “Ðáo Bỉ Ngạn,” nếu ông không thể vượt, thoát khỏi giới hạn ba chiều không gian: Trên/dưới, trái/phải, xa/gần.


Mặt khác, tôi cũng muốn kể với NXH, rằng, theo cảm nhận của tôi, từ sự vượt, thoát ấy, Khánh Trường cũng đã xóa bỏ được cái nhìn của những cập đối đãi nhị nguyên, như: Ðúng/sai; còn/mất; đi/về; hợp/tan; thành/bại…Vốn là thuộc tính căn để của mỗi chúng ta, giữa thế gian này. Trong đó, hệ trọng nhất là cái tâm phân biệt hình/tướng. Khánh Trường cho thấy ông tỏ bày nỗ lực trở về nhất nguyên. Trở về cái Một.









(Từ trái qua) hàng đứng: Ðinh Cường, Lữ Quỳnh; hàng ngồi: Nguyễn Ðình Toàn, Khánh Trường, Phạm Phú Minh. (Hình: Sáng Tạo)


Khi đem được tâm trở về nhất nguyên, trở về cái Một, cũng đồng nghĩa với sự kiện Hiền giả/Saga, kẻ thức ngộ đã vượt qua biển đối đãi, để tới được bờ kia.


Với tôi, Khánh Trường, qua hội họa của mình, ông là kẻ thức ngộ ấy.


Bởi thế, qua một phát biểu khác, khi giới thiệu bức tranh “Bát Nhã Tâm Kinh của mình, Khánh Trường viết:


“Ngoài cây Bồ đề, Vô ưu cũng là loại cây rất được tôn quí trong Phật giáo. Cây Vô ưu nở hoa quanh năm, đặt biệt từ tháng 2 đến tháng 5, cũng là mùa Phật đản, màu hoa rất rực rỡ. Hoa Vô ưu màu cam đỏ, hương thơm dịu, nở thành từng chùm. Theo kinh điển, Hoàng hậu Mahamaya khi mang thai, năm 564 TCN, đã rời hoàng cung về quê sinh nở như tập tục của quê hương bà thời bấy giờ. Trong lúc ghé vườn Lâm Tỳ Ni bà đã hạ sinh thái tử Tất Ðạt Ða, tay vịn cành Vô ưu. Khi trưởng thành, nhìn thấy con người mãi trầm luân trong vòng sinh lão bệnh tử, ngài muốn tìm đường giải thoát cho tất cả, nên quyết định lìa xa vợ con, cung vàng điện ngọc, ra đi tầm chân lý. Trải qua bảy năm với nhiều biến cố, có khi rất nghiệt ngã, cuối cùng ngài chứng ngộ, dưới cội Bồ đề.


(……)


“Bát nhã tâm kinh hiển thị qua ngôn ngữ màu sắc bằng tư duy hội họa…” (2)


Tôi biết tôi dường còn muốn nói với NXH, nhiều hơn nữa, những cảm nhận của cá nhân tôi về trường hợp Khánh Trường. Nhưng, khi thấy những dãi nắng đã trải thấp hơn bên kia bức tường dài phân chia hai khu vực, tôi chọn sự im lặng.


Và, tới lúc phải chia tay hai bạn, tôi lại chợt thấy thêm rằng, rồi đây, với một người như Khánh Trường, có thể ông sẽ còn có những hò hẹn bất ngờ khác, với định mệnh của riêng ông!?!


Du Tử Lê


(14 tháng 5, 2012)


 


Chú thích:


(1), (2) Trích Brochure triển lãm Khánh Trường tại Thiền viện Sùng Nghiêm, Nam Cali, ngày 22 tháng 1 năm 2012.

Vàng Ðen (Kỳ 99)


“Vàng Ðen” là tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Dũng Tiến, được xây dựng trên những tư liệu cùng huyền thoại liên quan tới vùng “Tam Giác Vàng,” một trong những nguồn sản xuất và cung cấp thuốc phiện (“vàng đen”) lớn nhất thế giới. Ngoài việc viết văn, tác giả Nguyễn Dũng Tiến cũng là một trong những người Việt Nam đầu tiên có công gầy dựng vườn cây ăn trái cho người Việt ở xứ người. Ông hiện là chủ nhân vườn cây LA Mimosa Nursery, 6270 East Allston Street, Los Angeles, CA 90022-4546. Tel: (323) 722-4543. Ðược sự cho phép của tác giả, Người Việt hân hạnh giới thiệu tiểu thuyết “Vàng Ðen” trên mục truyện dài của Nhật Báo Người Việt cũng như Người Việt Online.


 


Kỳ 99


 


-Phản đối làm sao được, chính quyền Miến cũng thừa hưởng sự lợi ích của trục lộ này. Hàng hóa của ba bên đều được qua lại dễ dàng.


-Hai bên chứ.


-Còn hàng hóa của tôi nữa, có phải ba bên không? Bên nào cũng lợi cả. Quốc vương Thái phải nhắm mắt cho lúa gạo, thuốc men, nhu yếu phẩm được thong thả đưa vào Hồ Mông. Tôi cũng không phải là người không biết điều. Tôi cung cấp lại những tin tình báo từ mọi phía cho Thái Lan.


-Sao ông chắc rằng D.E.A. trả Miến Ðiện bằng vũ khí để quân đội Miến Ðiện tấn công ông?


-Trong nghề này, nếu không có đàn em khắp nơi, tôi cũng không thể thọ dai.


-Ông gài được người trong chính phủ Miến Ðiện?


-Tôi cũng không chắc lắm, nhưng nguồn tin, tôi luôn luôn có.


-Ngay cả ở Mỹ?


-Không hiểu tay tôi có đủ dài như vậy không.


Hắn có thêm cái duyên nói chuyện. Cách nói của hắn lôi cuốn người nghe một cách lạ kỳ. Lộ rõ chân tướng của một kẻ lãnh đạo giỏi. Phong thật sự thích thú nói chuyện với hắn, dù nhiều chuyện biết thừa là hắn không muốn nói. Chậm rãi, nhìn thẳng vào mắt hắn, Phong hỏi:


-Ông biết gì về -La Diabla?


Hắn chỉ biến sắc nhưng không hấp tấp trả lời ngay, dường như hắn suy nghĩ, thả hồn mông lung mãi tận một phương trời nào đó. Mồi một điếu thuốc mới, hắn kéo một hơi thật đẫy vào lồng ngực, ém khói bằng nguyên nửa ly Woo Liang Zi còn lại.


-Ðừng nên đụng vào hắn.


-Ông biết hắn.


-Tôi chưa bao giờ thấy mặt, nhưng gã đứng sau tất cả những vụ buôn bán vũ khí quanh vùng. Anh là một cảm tử quân, anh có sợ chết không?


-Dĩ nhiên là có. Nhưng nhào vào cuộc chơi, tôi đã chấp nhận trước rồi.


-Anh nghĩ sao nếu đổi ngược vị thế. Ví dụ như hiện giờ anh đang ở trong tay của tôi. Tôi sẽ không giết anh, tôi sẽ ra lệnh cắt hết chân, tay anh, móc mắt, cắt lưỡi, chọc thục màng nhĩ và để anh sống…


Phong rùng mình khi nghĩ đến xác của Na, chẳng lẽ hắn dám chơi dã man đến thế sao. Hay chính hắn là “La Diabla.”


-… Như thế đó, “La Diabla” đã làm như vậy với tất cả nạn nhân trong vùng này. Hơn thế nữa, gã cắt hết dương vật của những kẻ đó.


-Lý do nào ông khẳng định “gã,” “La Diabla” là giống đực, trong khi ông chưa thấy qua mặt.


-Vì đôi khi, một vài người đàn bà nạn nhân bị hiếp dâm.


-Tại sao không gọi là quỷ đực, lại gọi là quỷ cái?


-Tôi không biết.


Lăn lộn quá nửa đời người trong chốn giang hồ, Phong có cái linh tính rất bén nhậy về sự thật, giả. Hắn chắc chắn biết về con quỷ cái, nhưng có lẽ cũng dưới vòng ảnh hưởng của con quỷ cái nên không dám nói. Bỗng Phong toát mồ hôi nhìn lại Phong Sương. Không lẽ nào lại chính cô nàng. Quỷ cái ngồi ngay đó, làm sao Khun Sa dám nói sự thật. Chuyện hiếp dâm đàn bà nạn nhân cũng có thể dễ hiểu. Tay chân, bộ hạ của quỷ cái có thể làm chuyện đó vậy.


-Ông chỉ biết “La Diabla” dính líu vào những vụ buôn bán súng đạn, ngoài ra ông có biết được địa bàn hoạt động của nó ở những đâu không?


-Tất cả những gì dính dáng đến buôn lậu, từ thượng vàng, hạ cám đều đã va chạm với hắn, chứ không chỉ riêng vụ vũ khí. Ðường dây vũ khí từ đâu đến, ma túy từ đâu ra thì anh cũng đủ hiểu hắn hoạt động ở những đâu. Trong mọi trường hợp né thì hay hơn. À, bất cứ quyết định gì về cá nhân của tôi là quyền của anh, nhưng tôi cần ngủ một chút. Ðược không?


Hắn né rõ ràng. Liếc nhìn đồng hồ, không ngờ đã gần năm giờ sáng. Phong cũng rũ người. Ngủ cái đã. Sau khi dặn dò Rật những gì cần phải làm nếu có chuyện xẩy ra. Quay lại, Khun Sa đã ro ro ngáy. Bên ngoài, trời có vẻ sáng hơn, sương mù lãng đãng của buổi sáng đã nhìn thấy được, vài tiếng chim sớm đã lóc chóc ngoài hiên.


 


Chương 15


 


Tiếng chim ríu rít bên ngoài ngôi nhà kiên cố của Khun Sa tại Hồ Mông đã không là một chút phiền hà nào cho giấc ngủ của Khun Sa.


Nhưng tại một nơi khá xa Hồ Mông, Viên Chắn, cô Lụa đang khó chịu với những tiếng chim sẻ ồn ào gọi nhau.


-Này Chắn, đóng cho bà cái cửa, hay đuổi đám chim ngoài hiên đi cho bà, nhức đầu không chịu được.


Chị bếp nhanh nhẩu thưa:


-Dạ, thưa bà.


-Chúng nó đã gọi lâu chưa mà chẳng thấy thằng chết tiệt nào lại cả.


-Thưa bà, họ đã đến rồi, họ sợ bà còn ngủ nên chỉ đợi ở ngoài cổng.


-Cho chúng nó vào.


-Dạ, thưa bà.


-Nhớ đuổi đám chim đi đấy nhé.


Quả đám chim ồn ào thật, khi chúng nghe tiếng động do chị bếp gây nên, cả bầy hơn mấy chục con bay vụt cả lên nóc. Chúng lại tiếp tục léo nhéo chửi nhau, khiến Chắn phải ném một hòn sỏi nhỏ để đuổi chúng đi.

Trung Tâm Oculofacial PRS

 


Khai trương 26 tháng 5 năm 2012, 11AM-2PM


 


Chuyên trị bệnh về mí mắt, giải phẫu để có đôi mắt đẹp


 


Bác Sĩ Nhãn Khoa Elizabeth Hoài Hương V. Nguyễn, D.O.


Kiến thức – Kinh nghiệm – Yêu nghề – Tinh thần phục vụ


 


Bài: Linh Nguyễn/Người Việt


Hình: Dan Huynh/Người Việt


 


Sự quan trọng của đôi mắt


 


Ðôi mắt còn gọi là “cửa sổ của tâm hồn,” là phương tiện chính giúp bạn nhận xét minh bạch thế giới xung quanh. Nhờ có đôi mắt mà chúng ta cảm nhận được cuộc sống muôn màu muôn sắc.










Bác Sĩ Elizabeth Hoài Hương tại phòng mạch ở Westminster.


 Sự thương yêu, hờn giận, đố kỵ trong đời người cũng là do sự quan sát của đôi mắt ấy.


Tuy nhiên không phải ai cũng may mắn có được đôi mắt đẹp bẩm sinh. Ngày nay nhờ sự tiến bộ của ngành y học, kỹ thuật và cả về năng khiếu chuyên biệt của các bác sĩ thẩm mỹ, sự thay đổi phần ngoài của đôi mắt có thể làm cho chúng ta trở nên đẹp hơn, duyên dáng hơn, trẻ trung và yêu đời hơn.


“Trung tâm Oculofacial PRS được thành lập cũng không ngoài mục đích giúp đồng hương Việt Nam thực hiện giấc mơ đó. Trung tâm Oculofacial PRS hiện nay tọa lạc tại số 210 Hospital Circle, Suite C, thành phố Westminster, CA 92683,” Bác Sĩ Elizabeth Hoài Hương chia sẻ với phóng viên nhật báo Người Việt.


Trung tâm Oculofacial PRS mong được tiếp đón quý khách và ra mắt cộng đồng vào ngày khai trương, Thứ Bảy 26 Tháng Năm, từ 11AM-2PM. Có thức ăn nhẹ.


 


Chuyên trị các bệnh về mí mắt, chung quanh mắt, tuyến lệ và hốc mắt


 










Bác Sĩ Elizabeth Hoài Hương giải thích về giải phẫu và cho thấy một con mắt giả.


Phải công nhận Oculofacial PRS là một trung tâm đặc biệt được chính Bác Sĩ Elizabeth Hoài Hương điều trị các bệnh về đôi mắt. Vị bác sĩ trẻ và khả ái này chuyên trị và giải phẫu các bệnh về mí mắt và chung quanh mắt như mí mắt sụp, bật mí, mí quặp, ung thư mí mắt, lông mi quặm, và chân mày bị sụp; bệnh về tuyến lệ như mắt khô, tuyến nước mắt bị nghẹt, bị rách hoặc bị viêm; và bệnh về hốc mắt như ung thư hốc mắt hoặc hốc mắt bị ảnh hưởng của bệnh bướu cổ làm cho con mắt lồi ra.


 


Chuyên giải phẫu về mắt


 


Bác Sĩ Elizabeth Hoài Hương cho biết: “Không chỉ chuyên điều trị các bệnh về mắt, bác sĩ còn chuyên giải phẫu về con mắt cho quý ông, quý bà và các lứa tuổi khác…”










Ghế hiện đại.


Trả lời câu hỏi thời gian bao lâu vết mổ sẽ lành, bác sĩ nói: “Nếu bệnh nhân chịu chườm nước đá sẽ bớt vết bầm và có thể cắt chỉ sau một tuần. Thường thì bệnh nhân bình phục tùy theo phẫu thuật và cơ thể mỗi người khác nhau.”


 


Phòng mạch khang trang – Máy móc tối tân – Nhận các loại bảo hiểm


 



Cô Diane Trần, office manager.


Phòng mạch khang trang, sạch sẽ, trang bị các máy móc tối tân và ghế tiêu chuẩn hiện đại. “Chúng tôi nhận các loại bảo hiểm PPO, HMO, Medicare, Medi-Cal, và MSI nếu có bác sĩ giới thiệu. Khách nên gọi điện thoại lấy hẹn trước để tránh chờ đợi. Bãi đậu xe rộng, an toàn.” Cô Diane Trần, quản lý phòng mạch, vui vẻ cho biết thêm: “Bác Sĩ Elizabeth Hoài Hương thường tham gia sinh hoạt cộng đồng khi còn là sinh viên nên sẽ không có điều gì trở ngại khi tiếp xúc với bệnh nhân người Việt.”


 


Giúp đỡ và phục vụ cộng đồng


 



Phòng mạch khang trang.


Bác Sĩ Nhãn Khoa Hoài Hương tâm tình với báo Người Việt: “Một trong những lý do tôi trở lại California là để được gần đại gia đình, chăm sóc bố mẹ già và các cháu nhỏ có điều kiện đến trường trau giồi tiếng Việt. Cha mẹ tôi sanh tôi tại Hoa Kỳ nên đặt tên cho tôi là Hoài Hương là có ý nhắc nhở anh em chúng tôi luôn luôn nhớ đến quê hương đất nước Việt Nam. Ước nguyện lớn nhất của tôi là được phục vụ đồng hương trong lãnh vực chuyên môn của tôi.”


 


Lược thuật về Bác Sĩ Elizabeth Hoài Hương



 Bác Sĩ khả ái Elizabeth Hoài Hương.


Ðậu cử nhân khoa học ngành Neurobiology, Physiology và Behavior tại Ðại Học UC Davis, và tốt nghiệp bác sĩ y khoa đại học Western University of Health Sciences – College of Osteopathic Medicine of the Pacific ở Pomona, California. Bác Sĩ Elizabeth Hoài Hương hoàn tất chương trình thực tập nhãn khoa tại bệnh viện Metro Health Hospital – có quan hệ với đại học Michigan State University. Sau thời gian nội trú, hoàn tất chương trình hai năm chuyên khoa về các loại bệnh chung quanh con mắt, phẫu thuật mắt và thẩm mỹ khuôn mặt ở Grand Rapids, Michigan, bác sĩ trở về tiểu bang California và hiện đang hành nghề tại thành phố Westminster.


 


Hội viên



 


Bác Sĩ Elizabeth Hoài Hương V. Nguyễn là tác giả nhiều bài tham khảo đăng trên các tạp chí y khoa và là hội viên của các tổ chức danh tiếng:


-American Academy of Ophthalmology (Học Viện Nhãn Khoa Hoa Kỳ).


-American Osteopathic Colleges of Ophthalmology & Otolaryngology – Head and Neck Surgery (Cao đẳng Osteopathic Hoa Kỳ về nhãn khoa tai mũi họng).


-American Osteopathic Association (Hội Osteopathic Hoa Kỳ).


-California Academy of Eye Physicians and Surgeons (Học viện Bác sĩ Nhãn khoa và Bác sĩ Phẫu thuật mắt ở California).


-Orange County Society of Ophthalmology (Hội Bác Sĩ Nhãn Khoa Orange County).


 





Trung Tâm Oculofacial PRS


Giải phẫu và săn sóc đôi mắt đẹp


210 Hospital Circle, Suite C


Westminster, CA 92683


Ðiện thoại: (714) 890-6000


Fax: (714) 890-6004


Giờ làm việc: Thứ Hai – Thứ Sáu


Từ 9 giờ sáng đến 5 giờ chiều


Website: www.oculofacialprs.com


Xin vui lòng điện thoại để lấy hẹn trước.



 

Wife of political prisoner seeks top-level intervention

            The wife of a California resident detained in Viet Nam last month, held on terror charges, on Tuesday asked Secretary of State Hillary Clinton and other high-ranking officials to help him gain his freedom.


            State-run media in Viet Nam said Nguyen Quoc Quan was taken into custody April 17 at the airport in Sai Gon. The government has accused him of trying to create trouble in advance of the remembrance of the fall of Sai Gon, remembered each April 30.


            “I come here to appeal for your assistance in securing my husband’s release from arbitrary detention in Viet Nam,” Mai Huong Ngo told the U.S. House of Representatives’ Tom Lantos Human Rights Commission.


            Ngo also appealed to David Shear, the U.S. ambassador to Viet Nam, to secure her husband’s release. She additionally asked for assistance from Michael Posner, the assistant secretary of state for democracy, human rights and labor. He testified on Tuesday before the house subcommittee, expressing concern about what he called an “unacceptable” human rights situation in Viet Nam.


            Ngo said her husband has dedicated his life to promoting democracy in Viet Nam.

Tin mới cập nhật