Baltimore rúng động vì cảnh sát tham nhũng

 


BALTIMORE (Washington Post) – Cơ Quan Ðiều Tra Liên Bang Mỹ (FBI) khám phá một đường dây tham nhũng trong sở cảnh sát thành phố Baltimore, liên hệ tới hàng chục cảnh sát viên nơi này và được coi là vụ tham nhũng lớn nhất trong lịch sử thành phố này.


Theo cáo trạng, các cảnh sát viên liên hệ đã tìm cách đưa các xe cộ hư hại trong các tai nạn xe cộ về một xưởng sửa xe để nhận hoa hồng từ nơi này.


Tuần này, cảnh sát viên thứ 10 trong 14 người nhận tội sẽ bị tuyên án tù. Trong khi đó, còn ít nhất 14 cảnh sát viên khác đang bị tạm thời cho nghỉ việc để điều tra và có thể bị các biện pháp kỷ luật cũng như bị truy tố ra tòa.


Vụ tham nhũng ở sở cảnh sát Baltimore được coi là bất thường vì số cảnh sát viên liên hệ quá cao. Trong các vụ tham nhũng khác của giới chức công lực ở Mỹ, thường chỉ có một số nhỏ cảnh sát viên can dự.


Các cảnh sát viên này bị cáo buộc là khi đến điều tra nơi xảy ra tai nạn thay vì gọi xe kéo có phép hoạt động của thành phố đến để kéo xe đi, lại gọi xe của một tiệm sửa xe tư nhân để được trả món tiền hoa hồng lên tới cả trăm dollars. Hồ sơ tại tòa cho hay có thể ít nhất là 51 cảnh sát viên ở Baltimore liên hệ trong đường dây tham nhũng này.


Trong đợt bắt giữ đầu tiên, một số cảnh sát viên được gọi đến học viện cảnh sát, với lý do là để tham dự một buổi lễ. Nhưng ở nơi đây, họ bị tịch thu thẻ hành sự và còng tay trước sự chứng kiến của đại diện khóa đàn em. (V.Giang)

Ðạo chích vào nhà thờ ăn cắp Thánh Giá


Fresno, California (AP) –
Kẻ trộm kim loại dùng búa đập bể kính một nhà thờ ở trung bộ tiểu bang California để vào đánh cắp cây Thánh Giá và các vật dụng khác có tính cách tôn giáo.


Cảnh sát tại thành phố Fresno cho hay đã thu hồi được phần lớn các món đánh cắp từ nhà thờ Công Giáo St. Therese.


Linh Mục Michael Burchfield cho hay kẻ trộm đột nhập vào nhà thờ hồi đầu tháng này và lấy mang đi các món kim loại, kể cả giá mắc áo lễ của các linh mục.


Kẻ trộm cũng đem đi một Thánh Giá trên có nạm một mảnh gỗ lấy từ cây thập tự mà Chúa Jesus từng bị đóng đinh.


Tờ báo Fresno Bee cho hay kẻ trộm dùng búa đập bể kính màu làm từ Pháp để đột nhập vào nhà thờ. (V.Giang)

DB Bachmann thành công dân Thụy Sĩ

 


MINNEAPOLIS (AP) – Nữ dân biểu Minnesota, Michele Bachmann, nhân vật lãnh đạo nòng cốt của phong trào Tea Party, vừa được chứng nhận trở thành công dân Thụy Sĩ.









Dân Biểu Hoa Kỳ, Michele Bachmann (giữa), nay có thêm quốc tịch Thụy Sĩ. (Hình: AP Photo/Charlie Neibergall)


Phát ngôn viên Becky Rogness của bà Bachmann nói rằng vị dân biểu này được phép có song tịch do ông chồng có gốc Thụy Sĩ vào năm 1978. Phát ngôn viên Rogness cũng cho hay một số người con của hai vợ chồng này muốn sử dụng quyền có song tịch nên họ cùng thực hiện điều này.


Bà Bachmann đại diện cho khu vực số 6 của tiểu bang Minnesota tại Hạ Viện Mỹ và dự trù sẽ tái tranh cử sau khi thất bại trong việc tranh cử đại diện đảng Cộng Hòa trong kỳ bầu cử tổng thống tới đây. (V.Giang)

Tù nhân West Virginia chia phiếu của TT Obama

 


CHARLESTON, West Virginia (AP) – Ở một số khu vực tại Mỹ, Tổng Thống Barack Obama bị mất lòng dân chúng đến nỗi ngay cả cử tri đảng Dân Chủ cũng không muốn bỏ phiếu cho ông.









Tổng Thống Barack Obama trong một chuyến vận động tranh cử tại College of Nanoscale Science and Engineering, Albany, New York, 8 Tháng Năm, 2012. (Hình: Spencer Platt/Getty Images)


Chẳng hạn, ở tiểu bang West Virginia, nơi một người đang bị giam trong nhà tù liên bang tại Texas được đến 40% số phiếu trong cuộc bầu cử sơ bộ của đảng Dân Chủ tiểu bang West Virginia.


Tù nhân Keith Judd, hiện bị giam trong nhà tù liên bang ở Texas về tội có hành vi đe dọa ở trường Ðại Học New Mexico năm 1999 đã được 41% số phiếu, trong khi Tổng Thống Barack Obama được 59%.


Ðối với một số cử tri Dân Chủ ở tiểu bang West Virginia, chỉ cần ra đối đầu với ông Obama là xứng đáng để được lá phiếu của họ rồi.


“Tôi bỏ phiếu chống ông Obama,” theo lời Ronnie Brown, một thợ điện 43 tuổi ở thành phố Cross Lanes, cho hay mình là thành viên đảng Dân Chủ có khuynh hướng bảo thủ. “Tôi không thích ông ta. Ông ấy không thắng ở tiểu bang này kỳ vừa qua và tôi sẽ không để ông ấy thắng nơi đây lần tới.”


Ông Judd đã được đưa tên vào danh sách tranh cử tổng thống của tiểu bang West Virginia sau khi trả số tiền lệ phí là $2,500 và điền mẫu đơn loan báo ý định tranh cử.


Có được ít nhất 15% số phiếu thường sẽ cho một ứng cử viên có một người đại diện ở Ðại Hội Toàn Quốc Ðảng Dân Chủ. Tuy nhiên Ðảng Bộ Dân Chủ địa phương nói rằng ông Judd hiện chưa có ai làm đơn đại diện ông ta.


Tổng Thống Barack Obama hiện gặp nhiều chống đối từ các tiểu bang được coi là bảo thủ, như Oklahoma, Tennessee, Alabama và Louisiana. (V.Giang)

Nam Hàn đòi Bắc Hàn ngưng phá sóng GPS

 


SEOUL (AFP) – Chính phủ Nam Hàn hôm Thứ Tư sẽ chính thức gửi công hàm ngoại giao đến Bắc Hàn và các cơ quan Liên Hiệp Quốc để phản đối việc Bình Nhưỡng phá sóng máy định vị (GPS), ảnh hưởng tới hàng trăm chuyến bay dân sự.


Ủy Ban Viễn Thông Nam Hàn sẽ gửi thư phản đối tới Bình Nhưỡng trong khi các cơ quan khác sẽ liên lạc các tổ chức quốc tế liên hệ, theo Bộ Giao Thông Nam Hàn trong bản thông cáo gửi tới báo chí.


Nam Hàn nói rằng Bắc Hàn khởi sự việc phá sóng từ cuối Tháng Tư, ảnh hưởng các tín hiệu GPS của phi cơ sử dụng phi trường Incheon và Gimpo của Nam Hàn hay bay ngang vùng trung bộ bán đảo Triều Tiên.


Giao thông hàng hải cũng bị ảnh hưởng do việc phá sóng của Bắc Hàn. Tuy nhiên, các giới chức Seoul nói rằng tàu bè và phi cơ có thể sử dụng các phương tiện hải hành và không hành khác mà không lo ngại về an toàn.


Chính phủ Seoul cho hay sẽ than phiền với Liên Hiệp Viễn Thông Quốc Tế (ITU) và Tổ Chức Hàng Không Dân Sự Quốc Tế (ICAO).


“Hành động phá sóng GPS là sự vi phạm quy chế của ITU và là mối đe dọa cho an toàn hàng không quốc tế được bảo đảm theo quy định của ICAO.” (V.Giang)

Phiến quân Afghanistan phục kích giết 9 người


KABUL (AFP) –
Chín nhân viên an ninh, kể cả bốn cận vệ có nhiệm vụ bảo vệ một giới chức ngành giáo dục, bị giết chết trong hai cuộc phục kích của Taliban tại Afghanistan, theo giới hữu trách hôm Thứ Tư.









Một trẻ em Afghanistan nhìn người đứng đầu chương trình cứu trợ nhân đạo của Liên Hiệp Quốc (không có trong hình), Valerie Amos, trong chuyến thăm Kabul hôm 9 Tháng Năm, 2012 của nhân vật này. (Hình: AP Photo/Musadeq Sadeq)


Có năm cảnh sát viên thiệt mạng vào chiều tối Thứ Tư khi một quả bom phát nổ lúc xe tuần tiễu của họ đi qua trong tỉnh Farah ở về phía Tây Afghanistan, theo phát ngôn viên tỉnh, ông Abdul Rauf Ahmandi.


Trong khu vực Ðông Afghanistan, gần biên giới Pakistan, một giám đốc sở học chánh tỉnh bị thương tích trầm trọng vụ phục kích bằng bom và súng cá nhân của Taliban khiến bốn cận vệ của ông ta thiệt mạng. Có bốn người khác trong ngành giáo dục tỉnh cũng bị thương.


Ông Atta Mohammad Qaneh đang trở về văn phòng ở thủ phủ Sharana của tỉnh Paktika sau khi đi thanh tra trường học trong quận Urgun, một khu vực nguy hiểm ở vùng biên giới, theo phát ngôn viên Bộ Giáo Dục Amanullah Eman. Thành phần Taliban cấm không cho nữ giới đi học khi nắm quyền ở Afghanistan từ năm 1996 đến năm 2001, và đưa trường học cùng các nhà giáo vào danh sách các mục tiêu tấn công. (V.Giang)

Phi cơ Nga mất tích, 50 người trên khoang

 


Bay biểu diễn ở Indonesia


 


JAKARTA (AFP) – Một phi cơ hàng không dân sự loại Sukhoi Superjet 100 với 50 hành khách mất tích hôm Thứ Tư trong khu vực núi non ở phía Nam thủ đô Jakarta của Indonesia khi đang trong chuyến bay biểu diễn, theo giới hữu trách.









Thân nhân hành khách trên chuyến bay Sukhoi Superjet 100 chờ tin tức tại phi trường Halim, Jakarta, hôm 9 Tháng Năm. (Hình: Romeo Gacad/AFP/GettyImages)


“Chiếc phi cơ biến mất trên màn ảnh radar trong khu vực Bogor. Chúng tôi vẫn đang tìm kiếm và không biết là phi cơ rớt ở địa điểm nào,” theo Gagah Prakoso, phát ngôn viên cơ quan cứu nạn quốc gia.


Khoảng 200 cảnh sát viên, binh sĩ và nhân viên cứu nạn đang trên đường đến khu vực xảy ra tai nạn và sẽ đi bộ vào khu vực rừng núi Salak, nơi chiếc phi cơ mất tích, ông Prakoso cho hay.


“Chúng tôi nghi rằng chiếc phi cơ bị rớt, nhưng không chắc chắn,” theo lời chỉ huy lực lượng cứu nạn Marsdya Daryatmo cho báo chí hay, ít giờ sau khi chiếc phi cơ mất tích.


“Chúng tôi có gửi hai chiếc trực thăng đi tìm… nhưng vì thời tiết xấu và gió mạnh, hai phi cơ này phải quay trở về,” ông Daryatmo cho biết.


Chiếc Superjet 100 là phi cơ dân sự mới do công ty Sukhoi của Nga chế tạo, đã bay một chuyến trước đó trong ngày nhưng khi bay lần thứ nhì vào buổi trưa thì gặp tai nạn.


Hãng thông tấn RIA Novosti của Nga cho hay có 8 người Nga và 36 người quốc tịch khác trên chuyến bay. Một danh sách ở phi trường Halim cho thấy trên phi cơ có một đại diện hãng chế tạo động cơ máy bay SNECMA của Pháp với tên Việt Nam. Tòa Ðại Sứ Pháp ở Jakarta xác nhận có một công dân Pháp trên chuyến bay này. (V.Giang)

Nevada cấp bằng lái cho Google chạy xe không tài xế


CARSON CITY, NV. (CNN) –
Nevada là tiểu bang đầu tiên đã cho phép chạy “xe không người lái” trên đường phố.










Bên trong một chiếc xe Toyota “không người lái.” (Hình: AP/DMV Nevada)


Tờ Las Vegas Sun cho biết Sở Lộ Vận (DMV) Nevada hôm Thứ Hai, 7 tháng 5, đã cấp chứng chỉ cho công ty điện tử Google ở Silicon Valley được phép thử nghiệm đội xe không người lái của họ trên đường phố giao thông công cộng ngay bây giờ. Sáu chiếc xe gắn dụng cụ điều khiển tự động của Google gồm 4 chiếc Toyota Prius, 1 chiếc Audi TT và 1 chiếc Lexus RX450h. Những xe này sẽ gắn một tấm bảng đỏ với dấu hiệu ‘infinity’ bên trái bảng số thường.


Ông Bruce Breslow, giám đốc DMV Nevada, nói: “Tôi cho ràng dùng biểu tượng ‘infinity’ là cách hay nhất để diễn tả xe hơi tương lai. Công chúng và cảnh sát dễ dàng nhận ra những bảng chỉ dùng với xe thử nghiệm.” Theo lời ông, Google chỉ được cấp giấy phép sau khi phái bộ đặc biệt của DMV đã duyệt xét tất cả các chương trình an ninh, huấn luyện nhân viên, hệ thống điều khiển, vận hành và cơ phận báo cáo tai nạn. Trên các xe có gắn nhiều sensors, video camera, trang cụ computer để nhận định chính xác các chướng gại vật, xe đạp, xe hơi khác hay rào cản.


Xe không người lái cũng có hệ thống phòng ngừa nếu một hacker muốn xâm nhập và giành quyền điều khiển. Google nói là trước đây đã thử nghiệm cho xe chạy 200,000 dặm với sự điều khiển bằng computer.


Theo Sky News thì xe không người lái thử nghiệm vẫn có tài xế. Ít nhất trên mỗi xe hai nhân viên Google có khả năng giành lại quyền điều khiển từ computer bất cứ lúc nào xảy ra tình huống bất thường.


Các xe được cấp giấy phép sẽ chạy thử nghiệm trên freeway của tiểu bang, các đường phố ở Carson City và Las Vegas, kể cả đại lộ nổi tiếng Las Vegas Strip trước mặt những casinos. (HC)

Luận về nhân phẩm



Bùi Tín (Blog VOA)


 


Thế là cô Bùi Thị Minh Hằng đã được trả lại tự do, sau khi ở trại phục hồi nhân phẩm Thanh Hà ở Vĩnh Phú hơn 6 tháng. Trại này chuyên làm nhiệm vụ gọi là “giáo dục cải tạo” những thành phần có hạnh kiểm xấu có hại cho cuộc sống xã hội, như móc túi, cướp giật, lừa đảo, nghiện hút xì ke ma túy, gái điếm, cờ bạc.










Bà Minh Hằng trong một cuộc biểu tình chống Trung Quốc tại Hà Nội. (Hình: hrw.org)


Cô Hằng không hề thuộc vào bất cứ một hạng người nào như thế. Cô sống ngay thật, lương thiện, được bạn bè tin cậy quý mến. Trước con mắt của một chính quyền “hèn với giặc, ác với dân,” cô Minh Hằng phạm tội “làm mất trật tự xã hội” khi cô luôn đi đầu trong các cuộc biểu tình và tuần hành chống bành trướng, luôn hô khẩu hiệu to nhất: Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam, luôn có mặt trong 11 ngày Chủ Nhật chống bành trướng, kiên trì đội nón có hàng chữ: Hoàng Sa-Trường Sa-Việt Nam.


Ðiều mỉa mai và trớ trêu nhất là chính con người bén nhậy về nhân phẩm, về phẩm chất làm con người chân chính, về phẩm giá làm người công dân Việt Nam mẫu mực lại bị đưa vào trại phục hồi nhân phẩm.


Trong khi tổ quốc lâm nguy, biên giới đất nước bị gậm nhấm, đảo và vùng biển quê hương bị lấn chiếm, phẩm giá cần thiết nhất của nam nữ công dân Việt Nam là yêu nước, bảo vệ tổ quốc bằng hành động, bằng tỏ thái độ dấn thân. Ðó chính là tư thế, là tình cảm, là hành động quả đoán của cô Minh Hằng, của nữ chiến sĩ yêu nước Minh Hằng.


Trong trại phục hồi nhân phẩm, cô Minh Hằng càng sáng chói thêm về phẩm giá làm người, khi cô kiên quyết từ chối viết đơn xin khoan hồng theo lời dụ dỗ của cán bộ trại, cô còn đòi có giấy bút để viết đơn kiện Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Hà Nội Nguyễn Thế Thảo đã ký quyết định sai lầm đưa cô vào trại cải tạo. Mặc dầu bị mất tự do, bị cô lập, xa bạn bè người thân, bị đày dọa cả về tinh thần và vật chất, nhân phẩm của cô Minh Hằng càng thêm rực sáng, khi cô một mực khẳng định, “tôi không có tội, tôi không phạm pháp, yêu nước chống bành trướng là nghĩa vụ công dân, không thể là tội.” Cô đã sụt mất 14 kilô trong trại cải tạo, người ốm yếu hẳn, bị thêm bệnh, nhưng phẩm giá con người càng thêm cao quý, ý chí thêm cứng cỏi, lý tưởng thêm rực sáng ngay khi bị mất tự do.


Chính do phẩm giá con người của Minh Hằng cao quý như thế nên cả dư luận xã hội trong và ngoài nước mến yêu, bênh vực, đòi công lý cho cô, nên dư luận báo chí, các tổ chức nhân quyền quốc tế, các chính phủ dân chủ từ Á sang Âu, từ Úc sang Mỹ đều lên tiếng mạnh mẽ đòi nhà cầm quyền phải trả tự do cho cô, và nay họ đã buộc phải để cô ra khỏi trại phục hồi nhân phẩm.


Mọi người vô cùng xúc động thương cảm nhìn thấy cô trở về nhà gầy yếu, tiều tụy, với những vết thương ở tay, những sợi tóc bạc trên trán, nhưng mọi người càng quý mến cô gấp bội khi thấy nghị lực cô vẫn tràn đầy, nhân phẩm cô thêm sáng chói.


Cô Minh Hằng được tự do, trở về với gia đình, tinh thần vững vàng, không lay chuyển là một tin vui lớn cho người thân, bè bạn xa gần, trong và ngoài nước. Xin gửi đến cô lời chúc mừng chân thành, thân ái nhất, chúc cô mau phục hồi sức khỏe để tiếp tục cuộc đấu tranh vì dân vì nước, vì hiện tại và các thế hệ mai sau.


Thân yêu chào mừng người phụ nữ kiên trung, có nhân phẩm cao quý tuyệt vời, đã đứng trên đầu những kẻ không có mảy may nhân phẩm lại ép buộc cô vào trại phục hồi nhân phẩm.


Chính họ đã vô tình góp phần đưa cô lên đỉnh cao mới về nhân phẩm, làm cho tấm gương sáng của cô lẫm liệt hơn, cao quý hơn, thu hút hơn trước gấp bội phần. Xin mạn phép người thân và bạn bè của cô, xin phép được tặng cô danh hiệu Minh Hằng – Nhân Phẩm, vừa để biểu dương cô, vừa để ghi lại thử thách tuyệt vời khi cô trải qua 6 tháng ở trại phục hồi nhân phẩm


Qua sự kiện đáng nhớ này, rất cần luận về nhân phẩm cho những người cầm quyền trong nước, đặc biệt là ngành công an, cho viên chủ tịch ủy ban gọi là “nhân dân” của Hà Nội.


Tại sao các người lại phải xích tay một người phụ nữ ốm yếu, vừa sụt 14 cân do sống trong trại của các người, lại còn cử cả một đơn vị đi xe to, xe nhỏ, tiền hô hậu ủng, súng to súng nhỏ, đi 2 ngày trời trên gần 2 ngàn kilomet, các người sợ ai, ra oai với ai vậy? Nhân phẩm các người ở đâu? Các người có còn chút tự trọng, tự tin nào nữa không?


Cả Bộ Chính Trị và chính phủ, Quốc Hội đang cai trị đất nước có biết Liên Hiệp Quốc đã yêu cầu họ đóng hết các trại cải tạo, phục hồi nhân phẩm ở trong nước, vì họ biết rất rõ các người đã dùng viện trợ chi tiêu vung vít cho các trại này mà không có kết quả. Những kẻ thật sự cần phục hồi nhân phẩm thì khi ra trại lại xấu hơn, tệ hơn, nguy hiểm cho xã hội, vì các người không hề phục hồi nhân phẩm cho họ, mà còn bóc lột, khinh miệt, đày ải họ, làm họ thêm cay đắng oán hận thêm cái xã hội này. Chưa nói đến chuyện những người lương thiện bị cố tình đưa “nhầm” vào các trại này; họ sẽ trở ra uất hận, căm giận chế độ độc ác này đến đâu.


Lẽ ra, chính phủ, Bộ Lao Ðộng Xã Hội, Ban Tuyên Giáo của đảng, Hội Liên Hiệp Phụ Nữ phải họp lại rút kinh nghiệm về các trại cải tạo và phục hồi nhân phẩm, nhưng tình hình ngày càng tệ hơn. Không một ai cảm thấy nhục, khi bị Liên Hiệp Quốc yêu cầu như trên. Thì ra chính cái chính quyền này, chính ngành công an, ngành công tác xã hội phải được phục hồi nhân phẩm trước hết và trên hết, vì ngành công an gần đây đã liên tiếp đánh đập, tra tấn, giết hại người dân trong trụ sở và trại giam của mình.


Hãy học cho kỹ thế nào là phẩm giá con người. Ông chủ tịch thành phố Hà Nội cũng phải học cho kỹ để biết tôn trọng người dân, để quý trọng những công dân kiên cường, yêu nước thương dân như cô Minh Hằng. Ở một nước văn minh, cô Minh Hằng có quyền kiện lại viên chủ tịch Thảo do đã ký một quyết định sai lầm, đòi bồi thường danh dự và thiệt hại về thân thể và cuộc sống tự do của công dân. Khi cô Minh Hằng xuống đường, bị giữ lại, cô là công dân Vũng Tàu, đang ở Sài Gòn, ông Thảo có cái quyền gì mà ra quyết định đưa cô vào trại phục hồi nhân phẩm của Hà Nội? Chẳng qua là ông được lệnh trả thù một công dân kiên cường chống bành trướng, theo nghiêm lệnh của quan thầy ở tận Bắc Kinh, là phải chấm dứt các cuộc tụ họp đông người chống bành trướng, và nhiều ủy viên Bộ Chính Trị đã cúi đầu cam kết thực hiện.


Chính các vị trên đây cũng rất cần được cải tạo để phục hồi nhân phẩm.


Và tấm gương Minh Hằng – Nhân Phẩm chính là bài học sống động cho những người như thế đứng thẳng dậy, để học làm người Việt Nam lương thiện, tử tế, biết làm việc tốt, việc thiện, tóm lại là học để biết làm người chân chính.


Cô Minh Hằng hãy tự hào là cô giáo quý hiếm cho những người như thế.

Nguyên Sa, tôi mới gặp



Du Tử Lê


 


(Tiếp theo và hết)


 


Không. Không thể. Rõ ràng, mới đây thôi, Nguyên Sa còn nói với tôi về một tương lai rất gần: Tương lai trở về Việt Nam, khi chế độ Cộng Sản không còn. Anh sẽ đòi lại ngôi trường Văn Học. (Chỉ ngôi trường này thôi. Những chỗ khác, cho hết!)



Nguyên Sa. (tranh Nguyên Khai)


Ngôi trường nằm trên một khúc đường Phan Thanh Giản. Nếu từ Ngã Bảy đi lên, qua bệnh viện Bình Dân chút xíu, phải chuẩn bị rẽ tay trái. Rẽ trái ngay, mới kịp. Rẽ trái vào con đường nhỏ. Một bên là những lớp học, tầng ba lầu cao. Một bên là nhà in. Nhà in ngay đầu ngõ, tay trái.


Con ngõ tôi đã vào nhiều lần. Nếu bước tới căn nhà cuối ngõ, bên tay phải, tôi sẽ bấm chuông. Tác giả “Tuổi Mười Ba” sẽ hiện ra, với chiếc mũ (luôn luôn mũ) trên đầu. Nếu tôi dừng xe ngay đầu ngõ, bên trái, là nhà in. Tôi cũng đã bước lên nhiều lần. Ðó là những năm tháng đầu thập niên 70, tác giả “Paris Có Gì Lạ Không Em,” đồng ý để tôi tái bản (không biết lần thứ bao nhiêu) cuốn “Thơ Nguyên Sa,” tập một, chỉ với một điều kiện, in tại nhà in đó. Tôi trở lại nhà in nhiều lần sau, để in bìa mầu, những cuốn sách riêng của tôi, mà, cuốn sau cùng là “Ðời Mãi Ở Phương Ðông” (1974).


Không. Không thể. Rõ ràng, mới đây thôi, anh còn bàn với tôi rằng:


“Lúc chúng ta về được Saigon, bà ấy không cần tôi phải dạy học dạy hành gì nữa. Tôi với ông sẽ đi khắp Việt Nam. Chúng ta sẽ đọc thơ cho đồng bào nghe. Nơi nào vui, chúng ta ở lâu. Nơi nào buồn, chúng ta đi ngay. Ai cấm? Phải không ông?”


“Dạ, ai cấm!”


“Ðọc thơ ở đây, không có người nghe. Họ chỉ thích nghe cái gì khác, không phải thơ ông ơi.”


“Dạ, một cái gì khác…”


Tôi nhớ những năm đầu tỵ nạn. Tôi nhớ những năm đầu thập niên 80, chúng tôi đi đọc thơ với nhau, ở nhiều nơi. Không khí, hoàn cảnh lúc đó, của người Việt, của người dân bản xứ rất khác. Nó không phải là không khí, điều kiện của ngày hôm nay. Tôi nhớ những lần chúng tôi đọc thơ tại các giảng đường đại học, tại Ðại Hội Thi Ca Thế Giới lần thứ 23, ở Los Angeles, ở quán Doanh Doanh của Thái Tú Hạp, ở café Tay Trái, ở Lup…


Phải rồi. Chúng tôi sẽ đi đọc thơ cho đồng bào nghe, từ Nam chí Bắc. Tôi sẽ giới thiệu với đồng bào tôi: “Ðây là nhà thơ Nguyên Sa, người tôi từng bị ảnh hưởng trong những năm làm thơ đầu đời.”


Tôi hình dung có nhiều tiếng reo hò, la hét của những người trẻ ở Cà Mau, ở Nam Quan. Những người trẻ, cũng như tôi thời trẻ, chúng tôi đều đi qua ngưỡng cửa lãng mạn của thơ Nguyên Sa. Chúng tôi đều lớn lên trong bóng mát cõi thơ, sinh phần thơ, của nhà thơ này.


Tôi hình dung tác giả “Tháng Sáu Trời Mưa” sẽ mỉm cười với chúng tôi. (Tôi rất thích nụ cười đôn hậu, đầy thương yêu, trìu mến của ông. Tôi chưa thấy một nụ cười hiền hậu nào, có thể làm cho gương mặt người đó sáng láng, rỡ ràng, đến như nụ cười trên gương mặt Nguyên Sa. Tôi vẫn cho Nguyên Sa thật nhất, Nguyên Sa không áo giáp, không phòng thủ, không gươm, không ngựa… nhất, khi ông… cười.)


Như vậy đó, cách gì, tôi có thể bảo tôi: Không bao giờ còn nữa, Nguyên Sa. Không bao giờ còn nữa, những cú điện thoại, mở đầu với câu nói thân tình “Có gì lạ không ông?” “Có gì vui không ông?”


Như vậy đó, cách gì, tôi có thể bảo tôi: Không bao giờ còn nữa, trong chiếc máy nhắn tin của tôi, “If you like to make a call, please hang up and try again…”


Không. Tôi không tin, chưa tới 100 ngày, mà, Việt Nam ngoài cũng như trong đất nước mất đi hai tài năng chói lói nhất, lớn lao nhất của hai mươi năm văn học miền Nam. Nó quá sức chịu đựng của tất cả chúng ta, (dù cho chúng ta đã quen, quá quen khứng nhận bất hạnh.) Nó quá sức chịu đựng của đất nước, (dù cho đất nước của chúng ta đã quen, quá quen tang chế.)


Không biết tôi đã điên chưa, khi tới hôm nay, tôi vẫn không thể tin: Nguyên Sa đã chết! (Như Mai Thảo đã chết!) Dù, chúng tôi đã nhận được tin dữ vào lúc 9 giờ tối, Thứ Bảy 18 tháng 4.


Ngay khi đặt chân vào tòa soạn Phương Ðông ở Seattle, thay lời chào hỏi, thay sự mừng rỡ cố hữu mỗi khi gặp nhau, Võ Thành Ðông kể, Orchid gọi lên, nhờ báo tin cho anh chị biết, anh Nguyên Sa mất rồi.


“Cái gì?”


“Anh Nguyên Sa mất rồi!”


“Mất rồi?”


“Mất rồi! Lúc 2 giờ hơn. Khi anh chị vừa mới rời nhà ra phi trường.”


“Ai báo tin đó cho Orchid?”


“Nguyễn Mạnh Trinh.”


Tôi hiểu. Nguyễn Mạnh Trinh cho tin, thì không thể sai được. Tôi hiểu. Hiểu. Hiểu. Tôi bảo T. gọi ngược về nhà. Bảo Orchid thông báo tin này tới K. Chinh ở quận Cam. (Tôi tin khi chị K. Chinh được hung tín, chị sẽ biết những bạn hữu nào cần được thông báo sớm…)


Căn phòng đột ngột đông lạnh. Ánh sáng đột ngột đông lạnh. Từ bàn máy của Ðông, tôi gọi cho BBTrúc, ở Hoa Thịnh Ðốn, NÐAn ở Florida, LVNinh, ở Dallas, Ð. Khánh và, TTTrác ở Houston,… nhờ họ thông báo tiếp cho các bạn… Tôi biết giọng tôi lạnh băng. Nhanh. Gấp. Tôi biết giọng tôi không hề bị dát mỏng. Bởi vì tôi chỉ thông báo cho bạn hữu, như từng thông báo tin Nguyên Sa đã có được tập “Thơ Nguyên Sa, Ba.” Như Nguyên Sa đang hoàn tất “Thơ Nguyên Sa, Bốn”…


Ðêm đó, trái với thường lệ, chúng tôi chia tay sớm. Ðông về phòng của Ðông. Chúng tôi chui vào căn phòng dẹp lép, vừa sẵn cho tấm nệm loại single bed. Tôi bảo T., Thứ Hai ta về sớm. T. im lặng. Tôi im lặng. Chúng tôi im lặng. Tôi nghe được tiếng gió thốc qua khe vách dán băng keo giấy. Tôi nghe được tiếng mưa đập trên mái thấp. Tôi nghe được tiếng chân lá chạy hoảng trong con hẻm phía sau ngôi nhà Ðông. Và tiếng hú vắng, xa của một con sói núi nào đó…


Trong im lặng, tôi nghe (tôi tin chắc chắn T. cũng nghe) được cái điệp khúc quen thuộc, tự động bật lên bởi chiếc cassette tape của công ty điện thoại: “If you like to make a call, please hang up and try again. If you need help, hang up, and then dial the operator…”


Niềm tin của chúng tôi, được thực chứng. Thực chứng đầu tiên là khi về lại nhà, trong máy nhắn của tôi có không dưới ba lời nhắn, “If you like to make a call, please hang up and try again…”



Nguyên Sa và phu nhân.


Và, trước khi ngồi vào bàn viết, viết những dòng chữ này, khi bấm máy, nghe lại những lời nhắn đêm qua, tôi lại bắt gặp lời nhắn: “If you like to make a call, please hang up and try again. If you need help, hang up and then dial the opearator.”


Tôi biết, đó là cú điện thoại của nhà thơ Nguyên Sa. Chỉ Nguyên Sa. Không thể một ai khác được!


Rất có thể ông đã gọi cho chúng tôi, từ một nơi khác hơn 10 Winterbranch, Irvine. Cái địa chỉ mà ông đã cư ngụ dài lâu, đời lưu vong của ông. Hẳn nhiên là một nơi rất xa. Nhưng dù xa mấy thì cũng vẫn trên mặt địa cầu này.


Cũng có thể ông gọi từ Paris. Từ nơi chốn ông viết những bài thơ tình đầu đời, trong số có bài “Nga.” Có thể. Có thể. Có thể…


Riêng tôi, tôi đoán, có thể, rất có thể, nhiều phần, ông đã gọi cho tôi, từ ngôi trường Văn Học, trên khúc đường Phan Thanh Giản, Saigon, xưa…


Có thể lắm chứ! Ai cấm? Ðúng thế. Ai cấm? Vĩnh viễn sẽ chẳng một ai có thể cấm cản, hoặc làm phiền Nguyên Sa được nữa!


Mừng anh. Mừng những dòng thơ của anh, được cởi bỏ khỏi anh, để, cả hai, cùng cất cánh bay vào vĩnh cửu.

Nhà văn Chu Thiên (1913-1992)

 


Những ông thầy thời niên thiếu


 


 


 


Viên Linh


 


Tháng 5, 1954. Thầy Chu Thiên, hiệu trưởng trường Trung học Phủ Lý hỏi học trò: “Em có thể chở thầy lên Hà Nội không?”… “Bao giờ em vào Nam?” “Dạ? “Mẹ em có tính đi Nam không? Về nói với mẹ em coi chừng kẻo trễ.”


Nhà văn Chu Thiên (1913-1992). (Hình: Từ Ðiển Văn Học, Hà Nội)


Nhà văn Chu Thiên (1913-1992). (Hình: Từ Ðiển Văn Học, Hà Nội)


Chu Thiên là tác giả những cuốn tiểu thuyết nổi danh như Bút Nghiên, Nhà Nho, mà Vũ Ngọc Phan trong Nhà Văn Hiện Ðại (1942) đã xếp vào chương các nhà văn viết tiểu thuyết phóng sự. Với toàn bộ sự nghiệp của ông cho tới khi từ trần năm 1992, ông xứng đáng là một tiểu thuyết gia lịch sử. Người viết những dòng này là học trò ông trong ba tháng hè ở Trung học Phủ Lý, 1954, những ngày xao động phân ly nhất của tuổi trẻ đất nước, khi những chữ “hội nghị Geneve,” “vô Nam hay ở lại” được mọi người nhắc nhở, bàn tán từ đồng quê tới phố phường, từ Hà Nội tới các tỉnh thành khác của Việt Nam.


Trước khi về Phủ Lý học khóa hè, những tháng cuối cùng của năm đệ lục ở Chu Văn An Hà Nội, tôi đã chứng kiến một kinh thành nhớn nhác qua đôi mắt của một cậu học trò trọ học. Mẹ và chị em còn ở hậu phương, song gia đình họ Nguyễn chúng tôi phần lớn đã ở Hà Nội. Lúc ấy, nghe mấy chữ Ðiện Biên Phủ ai cũng hiểu đó là nơi chiến tranh Pháp Việt đang xảy ra vô cùng ác liệt.


“Cuộc chiến đấu của quân đồn trú ở Ðiện Biên Phủ tiếp tục, và các hoạt động tiếp vận từ Hà Nội yểm trợ cho căn cứ vẫn được tiến hành. Ðêm 5 rạng 6 tháng 5 [1954], vào lúc 04:12 giờ chừng 10 chiếc máy bay vận tải C47 vượt lưới lửa phòng không thả thêm được 91 quân dù xuống Ðiện Biên Phủ. Ðây là đêm thứ tư thả các đơn vị của tiểu đoàn Nhảy Dù thuộc-địa số 1, và trong bốn đêm liền mới chỉ có 383 trong số 876 người của tiểu đoàn này chạm đất…” “…Ngày 7 tháng 5, vào lúc 10:00 giờ Tướng De Castries liên lạc về Hà Nội báo cáo với Tướng Cogny ÐBP đang trong tình trạng hấp hối. Khoảng 3:00 giờ chiều ở Bộ Chỉ Huy căn cứ ÐBP đã có một buổi hội chỉ huy lần chót… Họ đề nghị ngưng bắn vào lúc 17:30 giờ và thông báo cho đối phương biết.” “ÐBP thất thủ hôm trước thì hôm sau tức là ngày 8 tháng 5, 1954, chín đoàn đại biểu của Pháp, Quốc Gia Việt Nam, Miên Lào, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Anh Quốc, Liên Xô, Trung Cộng và Hoa Kỳ bắt đầu các cuộc thương thuyết nhằm chấm dứt cuộc chiến tranh Việt Nam trong khuôn khổ Hội Nghị Viễn Ðông đã khai mạc ngày 26 tháng 4, 1954 tại Giơ-ne, [Geneve] Thụy Sĩ.” (Bạch Hạc Trần Ðức Minh, Một Thời Nhiễu Nhương, 1945-1975, tr. 363-364.)


Quê quán Ðồng Văn của chúng tôi gồm có Phố Ga Ðồng Văn, một thị trấn chạy dài gần hai cây số trên Quốc lộ số 1, và thôn Ðồng Văn, chỉ cách Quốc lộ 1 bằng một con sông đào. Từ nhà đi Hà Nội cách 47 cây số ở hướng Bắc, đi Phủ Lý cách 11 cây số, ở hướng Nam. Ba tháng hè về quê, tôi đi Phủ Lý học, đi về bằng xe đạp mỗi lượt chỉ mất vài chục phút, nếu đường không bị đào xới, cắt khúc, chất chướng ngại vật. Hai bên đường đầy tăng-xê, cắt sâu vào mặt đường theo kiểu chữ chi (Z), đan nhau bằng cách không để xe hơi chạy nhanh được. Xe phải lượn ngoằn ngoèo tránh những khoảng lõm ăn sâu vào xương sống con đường. Lúc ấy tôi có một chiếc xe đạp Peugeot dura, loại nhẹ, chỉ cần cầm một tay giơ cao khỏi đầu được. Nhờ nó, tôi di chuyển dễ dàng, từ nhà tới Phủ Lý học đã đành, lại còn chạy chơi bên bờ sông Châu Giang, hay đôi khi cùng một người bạn trốn nhà phóng lên Hà Nội vào buổi trưa, đến tối đã có mặt ở nhà, có khi không ai biết.


Trường Chu Văn An ở Hà Nội và ngôi trường trung học ở Phủ Lý là hai chỗ không thể so sánh được. Nhưng mặt khác, hai ngôi trường đó đã cho tôi ba vị thầy không bao giờ cậu thiếu niên học trò có thể lãng quên, nhất là những ngày ngồi viết những dòng chữ này ở ngoài đất nước.


Ở Phủ Lý, tôi ngồi trong lớp đệ lục, thầy dạy Quốc Văn là thầy Chu Thiên. Thầy cũng dạy Việt Sử nữa. Tôi thấy thầy ở ngoài lớp, không nghĩ ngợi gì, mà tự dưng thấy băn khoăn. Hình ảnh còn nhớ tới bây giờ là một người đàn ông hom hem, mặc quần áo kaki bạc màu, áo cũng như quần, đều một màu vàng nhạt, bạc thếch, thầy đứng tựa lưng vào tường, lẫn vào màu vôi vàng nhạt cũng bạc thếch của ngôi trường đâu chỉ có hai hay ba căn. Thầy Chu Thiên ở Trung Học Phủ Lý không giống bất cứ ông thầy nào ở Chu Văn An. Thầy quá gầy yếu, đã đứng tựa vào tường mà còn không đứng thẳng. Hơi xiêu xiêu, hay thầy trùng một chân xuống, khuỵu một gối xuống, chỉ cho sức nặng của thân thể trì trên một chân. Thầy sẽ đổi chân, chuyển sức nặng qua trái hay phải tùy theo từng lúc. Thoáng thấy lần đầu, thầy đang ăn một khúc sắn trắng muốt. Tôi không biết ông sẽ là thầy tôi, cho đến một hai hôm sau. Hôm sau đó, vẫn hình ảnh ấy, chỉ khác là thầy không ăn sắn, mà ăn chuối. Thế rồi thầy lên lớp, bấy giờ tôi mới biết đó là thầy Chu Thiên, vừa là giáo sư, vừa là hiệu trưởng.


Chỉ trong khoảng vài tuần, tôi thương thầy. Và cứ từ thân xác mình suy ra, tôi đoán chừng thầy nặng khoảng 40 cân. Biết ông thầy gầy yếu, nhưng tôi không suy nghĩ gì, cũng chẳng tìm hiểu làm gì, cho đến một hôm thầy Chu Thiên tới gần tôi trong giờ chuyển lớp chuyển môn. Thầy hỏi: “Em có thể chở thầy lên Hà Nội không. Hay chỉ cần chở thầy lên Ðồng Văn cũng được. Thầy cũng có thể chỉ đến Ðồng Văn, rồi tìm cách đi Chợ Ðại hay Cống Thần, rồi đi Hà Nội sau.” Khi thầy ngồi lên cái khung ngang của chiếc xe đạp rồi, tôi đạp xe đi, mỗi tay một bên ghi-đông, mà không thấy thầy chạm vào tay tôi.


Tôi không còn nhớ những chuyện gì đã nói, song nhớ rất rõ thầy hỏi về gia cảnh của học trò. Tôi kể thành thật, kể hết, không giấu diếm gì. Tôi cũng cho thầy biết – vì thầy hỏi – về họ hàng chú bác, tất cả ở Hà Nội.


-Bao giờ em vào Nam?


-Dạ?


-Mẹ em có tính đi Nam không? Chú bác họ hàng ở Hà Nội chắc là đi Nam cả?


-Vâng.


Tới nhà tôi, Phúc Hưng Ðường, là ngôi nhà gạch nằm trấn trên ngã ba Phố Ga, cách mặt đường vài chục thước. Trước mặt là một con dốc mà dân nhiều làng phía châu thổ Sông Hồng sẽ phải đi qua để đáp tàu hỏa lên Hà Nội, các tỉnh phía Tây Bắc, hay xuôi Nam, vào Huế, hay Sài Gòn. Tôi chỉ ngôi nhà cho thầy biết. Sinh tiền, đó là tiệm thuốc Bắc của Bố tôi. Ðịa thế của nó hồi 1944 đã bị Nhật chiếm làm trụ sở.


Thầy đòi xuống, nói sẽ đi Hà Nội sau. Tôi gặng hỏi để chở thầy đi luôn, nhưng thầy nhất định thoái thác. Khi chia tay, thầy nhìn sâu vào mắt tôi:


-Về nói với mẹ em coi chừng kẻo trễ.


Ðó là tất cả những gì tôi nhớ về thầy khi còn niên thiếu; sau này mới đọc và tìm hiểu thêm về ông thầy nhà văn nổi tiếng.


 


Chú thích:


Chu Thiên tên khai sinh là Hoàng Minh Giám, sinh ngày 2 tháng 9, 1913, quê ở huyện Ý Yên, Nam Ðịnh, dòng dõi nhà Nho. Năm 1938 ông ở Hà Nội, bắt đầu bước chân vào làng văn, viết bài cho các báo thời ấy, như trên tờ Tri Tân ông viết rất nhiều, nghiêng về các đề tài lịch sử, tiểu thuyết lịch sử xoay quanh các nhân vật như Lê Thái Tổ (1941), Bà Quận Mỹ (1942), Bút Nghiên (1942), Nhà Nho (1943), Tuyết Giang Phu Tử (1945), Khí Tiết (1946). Trong thời kháng chiến, ông chuyên về dạy học, từng làm hiệu trưởng Trung Học Phủ Lý, sau năm 1954 về Hà Nội, ông dạy Ðại Học Tổng Hợp. Năm 1970 Chu Thiên nổi tiếng một lần nữa với tiểu thuyết Bóng Nước Hồ Gươm, gồm hai tập, viết về giai đoạn biến động của đất nước từ khi Pháp đánh chiếm Nam Kỳ và Hà Nội từ thế kỷ thứ XIX. Ðây là một tác phẩm đồ sộ cuối đời của ông. Ông từ trần năm 1992.

Ðấu tranh giai cấp trở lại Châu Âu

 


Lê Mạnh Hùng


 


Khi Thủ Tướng Anh David Cameron (vợ là bà con xa của nữ hoàng) và Bộ Trưởng Tài Chánh George Osborne (con của một nam tước) không thể nói với báo chí rằng lần chót mà họ ăn một cái “pasty” – một loại bánh nhân mặn thông dụng với dân chúng Anh – vừa bị chính phủ đánh thuế VAT (một loại sales tax) lên đến 20% thì lập tức bị chế diễu trên truyền hình và báo chí, với một ký giả giải thích một cách châm biếm cho họ biết là món đó “giống như một loại boeuf en croûte.”


Và khi Francis Maude, bộ trưởng Phủ Thủ Tướng Anh nói đến “kitchen suppers” thì báo chí Anh liền nhắc nhở ông Maude rằng hầu hết các cử tri Anh chỉ biết đến “dinner” (giai cấp trung lưu) hoặc “tea” (giai cấp công nhân) chứ không có mấy ai có thể có khả năng ngồi xuống ăn “supper.”


Ðối với người nước ngoài sống tại Anh, thì những chuyện này lại một lần nữa nhắc lại rằng cái ám ảnh quan trọng nhất của người Anh vẫn là chuyện “giai cấp.”


Chính sách khắc khổ và tình trạng thất nghiệp gia tăng đã làm tăng mạnh thêm cái hố sâu ngăn cách tầng lớp thượng lưu với đại đa số quần chúng tại hầu hết các quốc gia phát triển phương Tây. Tại Hoa Kỳ, Tổng Thống Obama nay đã lấy tiêu đề vận động tranh cử cho mình là chống bất công mà chính sách thực tế là làm sao cho những người giầu có phải đóng ít nhất 30% thu nhập của mình cho Sở Thuế. Tại Paris, ông François Hollande, người vừa thắng trong cuộc bầu cử tổng thống Pháp hôm Chủ Nhật tuần qua thì đã cam kết đánh thuế lợi tức cho những người có thu nhập trên một triệu Euro (khoảng 1.3 triệu đô la Mỹ) ở mức 75%.


Nhưng khái niệm giai cấp và đấu tranh giai cấp thì đặc biệt đáng chú ý tại Anh nơi mà bất công kinh tế ở mức cao nhất so với các nước Châu Âu khác trong lúc các chính sách khắc khổ gắt gao hơn. Anh cũng là nơi mà giới thượng lưu truyền thống vẫn còn khéo léo bảo vệ được tài sản và ảnh hưởng của mình cho đến thế kỷ thứ 21 này.


Trong lúc người Pháp tự hào rằng họ đã làm cách mạng và chặt đầu vua Louis XVI thì người Anh đang chuẩn bị kỷ niệm 60 năm ngày Nữ Hoàng Elizabeth II lên ngôi vào Tháng Sáu này. Trong khi không ai tại Ðức biết (hoặc thắc mắc) về Thủ Tướng Angela Merkel tốt nghiệp trường đại học nào chứ đừng nói đến trường trung học thì tại Anh bất kỳ một ông tài xế taxi nào cũng có thể cho bạn biết ông bộ trưởng nào là con nhà “posh” và học ở Eton – một trường trung học con trai nổi tiếng nhất nước mà học phí cao hơn thu nhập trung bình của một người dân Anh. Từ đồ ăn thức uống, cho đến ngữ vựng và giọng nói, sự khác biệt giữa giai cấp thượng lưu Anh và phần còn lại của xã hội mạnh đến nỗi ngay cả đối với những người Châu Âu tại lục địa cũng phải cảm thấy giống như thời Trung cổ. Trên một phần ba đất đai của nước Anh vẫn còn nằm trong tay những người quý tộc theo một cuộc khảo sát vào năm 2010. Và trong chính phủ liên hiệp hiện đang cai trị nước Anh, 15 trong số 23 vị bộ trưởng là tốt nghiệp Oxford hoặc Cambridge.


Âu Châu lục địa không hề có chuyện đó. Những cuộc chiến liên tiếp và cách mạng xã hội của thế kỷ 20 đã xóa sạch tầng lớp thượng lưu truyền thống của Ðức. Giai cấp quý tộc của Ðức là nạn nhân của cuộc cách mạng lật đổ đế chế sau Thế Chiến Thứ Nhất. Ðảng Quốc Xã tiêu hủy toàn diện giới trưởng giả Do Thái và giết hoặc đuổi đi lưu vong bất cứ những ai có một chút can đảm và tinh thần độc lập. Năm 2012, Ðức không có một trường đại học nổi bật. Hệ thống liên bang có nghĩa là quyền lực không bị tập trung. Và một cơ chế chủ thợ hợp tác với công nhân có đại diện trong hội đồng quản trị đã làm dịu những tranh chấp giữa chủ và thợ một cách mà nước láng giềng Pháp không thể tưởng tượng nổi.


Giống như Anh, giới thượng lưu Pháp được chuẩn bị qua một số rất nhỏ những trường đặc biệt – những trường được gọi là những “grandes écoles.” Việc tham dự vào giới quý tộc “cộng hòa” này trên nguyên tắc là mở cho tất cả những ai có khả năng. Học sinh các trường này được tuyển trên nguyên tắc thi tuyển gay go. Nhưng thực tế cho thấy giai cấp cai trị được tuyển chọn như vậy cũng xa rời quần chúng không kém gì tại Anh. Không những vậy, giai cấp này còn nhỏ hơn và vướng mắc vào những quan hệ nhiều hơn. Khoảng gần một nửa trong số 40 công ty lớn nhất của Pháp là do học sinh tốt nghiệp của một trong hai trường Ecole National d’Administration (ENA) và Ecole Polytechnique (X) điều khiển. Nói chung các trường này chỉ cho tốt nghiệp khoảng 600 học sinh một năm. Hiện chỉ có 6,000 người tốt nghiệp ENA còn sống so sánh với khoảng 160,000 người tốt nghiệp Oxford. Trên một phương diện nào đó Pháp còn phong kiến hơn là Anh. Thư ký tại một số công ty Pháp được chờ đợi là phải đứng lên chào khi ông sếp của mình đi qua. Theo Dominique Moisi, một chuyên gia của viện nghiên cứu các vấn đề ngoại vụ của Bộ Ngoại Giao Pháp tại Paris thì, “Giới thượng lưu Anh tự hào mình ưu tú hơn người khác là vì mình sinh ra vào giới thượng lưu trong khi giới thượng lưu Pháp tự hào mình hơn người là vì mình được học tại ENA.”


Ðiều mỉa mai là mặc dầu những biểu hiện bề ngoài, trên nhiều phương diện Anh quốc vào năm 2012 cởi mở hơn và đa dạng hơn là các nước tại Châu Âu đại lục. Giới quý tộc Anh có khả năng uyển chuyển hấp thụ những phần tử khác vào trong hàng ngũ mình. Trong Viện Quý Tộc Anh có các huân tước da đen, Hồi Giáo và “gay” (quả thật còn có một huân tước da đen, Hồi Giáo và “gay” cùng một lúc, Lord Alli). Harrod, một biểu tượng của sự phân biệt giai cấp này là tài sản của một ông hoàng Arab. Và trên đài BBC người ta có thể nghe thấy nhiều loại “accent” chứ không phải chỉ thuần túy “the Queen’s English.” Thành ra như Simon Johnson, một giáo sư người Anh tại MIT nhận xét, “Cái kiêu hãnh của giới thượng lưu Châu Âu nhiều khi còn cao hơn cả tại Anh.”


Ðã có một thời cách đây chẳng bao lâu, người ta đã nghĩ rằng thuộc giai cấp thượng lưu không phải là một ưu thế mà là một trở ngại. Năm 1979, bà Margaret Thatcher chứng minh rằng người ta có thể trở thành một vị thủ tướng của đảng Bảo Thủ không những là đàn bà mà còn là con gái của một ông chủ tiệm tạp hóa, học trung học ở trường công lập và vào Oxford với học bổng. Người thay thế bà, ông John Major xuất thân bán vé xe bus và không tốt nghiệp một trường đại học nào. Với kinh tế tăng trưởng mau lẹ trong những năm 80 và 90, ông Tony Blair, thủ tướng lúc đó đã tuyên bố “chúng ta ai cũng ở trong giai cấp trung lưu” và nói đến một xã hội không giai cấp.


Nhưng theo sử gia Timothy Garton Ash thì thời đại Thatcher/Blair tuy rằng tiêu hủy hệ thống giai cấp cũ nhưng lại tạo ra một hệ thống kinh tế mới trong đó bất công kinh tế được khuyến khích dẫn đến việc xuất hiện một “giai cấp mới đặc trưng bởi tiền bạc mà trong đó giai cấp thượng lưu cũ đã chiếm được một chỗ.”


Với tình trạng kinh tế suy thoái, giới thượng lưu cai trị tại Châu Âu nay đều chia sẻ một thách đố, đó là làm sao giải tỏa được cảm giác trong giới cử tri rằng khắc khổ chỉ dành cho người dưới chứ không phải người trên. Và như chính một trong những dân biểu Bảo Thủ của ông Cameron than phiền về hai ông Cameron và Osborne vì họ là “hai anh chàng nhà giầu không biết đến cả giá sữa.”

Khẩu súng của Cộng Ðảng Trung Hoa


Mục Hồ Sơ Người Việt


 


LTS. Thời sự dồn dập hàng ngày trên cả địa cầu có thể giúp chúng ta biết được là chuyện gì đang xảy ra trên thế giới. Tuy nhiên, nhiều khi chúng ta không hiểu được vì sao lại xảy ra một biến cố như vậy, và hậu quả sau này sẽ ra sao… Cũng vì lý do ấy, nhật báo Người Việt mở thêm một tiết mục và lưu trữ trên trang mạng Người Việt Online để quý độc giả tham khảo. Ðó là mục “Hồ Sơ Người Việt,” xuất hiện Thứ Năm mỗi tuần, với nội dung trình bày khung cảnh khách quan của một vấn đề và, nếu có thể, một số dự báo về tương lai hầu độc giả khỏi ngỡ ngàng khi sự biến xảy ra. Xin trân trọng giới thiệu cùng quý độc giả…


 


 


 


Hùng Tâm/Người Việt


 


Sau hai hồ sơ liên tiếp về Ðảng Cộng Sản Trung Hoa trước Ðại Hội 18 và về các phe phái cùng vây cánh bên trong, tuần này “Hồ Sơ Người Việt” sẽ nói đến “khẩu súng của đảng.”



Ðầu tiên xin nhớ rằng đảng có hai hệ thống quân sự. Một là “Trung Quốc Nhân Dân Giải Phóng Quân,” là quân đội theo nghĩa thông thường của các nước, mà họ gọi tắt là “Giải Phóng Quân,” PLA theo Anh ngữ. Hai là “Trung Quốc Nhân Dân Võ Trang Cảnh Sát Bộ Ðội,” họ gọi tắt là “Cảnh Sát Võ Trang,” PAP theo Anh ngữ, với cấp số còn cao hơn quân đội dù là thoát thai từ quân đội ra kể từ năm 1983. Chi tiết nên ghi là “Cảnh Sát Bộ Ðội.”


Kỳ trước, ta đã chú ý đến đặc tính của đảng là cực kỳ quan tâm đến tư tưởng, lý luận và kỷ luật bên trong đảng. Kỳ này, nói về sức mạnh trấn áp của đảng để duy trì kỷ luật đó thì nên chú ý đến sự kiện bất thường của Trung Quốc: ngân sách và quân số của lực lượng bảo vệ an ninh nội bộ, từ cảnh sát võ trang đến công an và “bộ đội nội an” lại cao hơn của quân đội.


Khi làm báo hay viết sách, nên thấy rằng chi tiết ấy phản ảnh một sự việc: lãnh đạo Bắc Kinh sợ nội loạn hơn ngoại xâm. Xin nhớ nằm lòng sự kiện ấy vì khẩu súng của đảng ưu tiên nhắm vào người dân bên trong hơn là kẻ thù hay đối thủ tiềm thế ở bên ngoài. Chuyện “Lưỡi Bò Ðông Hải” hay hỏa tiễn liên lục địa là có thật, nhưng không thể che giấu nguy cơ nội loạn mà Cộng đảng cho là ưu tiên hơn.


Bây giờ, xin hãy cùng nhìn từ trên xuống…


 


***


 


Khẩu súng nội an và quốc phòng


 


Mao Trạch Ðông đưa ra chân lý khét tiếng: “Vì ‘quyền lực đến từ họng súng’, đảng mới chỉ huy súng chứ súng không chỉ huy đảng.” Ai cũng có thể hiểu chuyện này.


Từ chân lý đó, ngày nay và cũng là tháng 3 vừa qua mà thôi, Hồ Cẩm Ðào nhấn mạnh đến nghĩa vụ của các lực lượng võ trang là “bảo đảm ổn định chính quyền, hệ thống chính trị và trật tự xã hội nhằm bảo vệ quyền lực đảng.” Ðó là ưu tiên thứ nhất, gọi là “hạch tâm quyền lợi” hay quyền lợi cốt lõi, trước khi quân đội nói đến “nghĩa vụ bảo vệ chủ quyền, an ninh quốc gia, sự toàn vẹn lãnh thổ và thống nhất toàn dân.”


Chúng ta cứ coi đây là khẩu hiệu, thường được nhắc nhở mỗi khi có kỳ họp của Quốc Hội, mới nhất là vào tháng 3 vừa qua, để các lực lượng võ trang bày tỏ sự tuyệt đối trung thành của họ, không phải với Nhân dân hay Quốc Hội, mà với đảng. Thời sự hàng ngày vẫn loan tin như vậy và người ta coi đó là sáo ngữ của tuyên truyền.


Nhưng đấy là đường hướng chỉ đạo của cả một hệ thống tổ chức chính trị.


Ðảng quan niệm, và Quốc Hội viết thành “Luật Quốc Phòng” ban hành năm 1997, hoặc Bộ Quốc Phòng công bố trong Bạch thư về Quốc Phòng, rằng các lực lượng võ trang của Trung Quốc gồm các đơn vị chủ lực và trừ bị của Quân Ðội Giải Phóng và của Cảnh Sát Võ Trang (báo Mỹ thì viết là PLA và PAP). Giải phóng quân thì “có nhiệm vụ bảo vệ an ninh tổ quốc” (với hàm ý hiếu hòa là phòng thủ chứ không phải là tấn công) nhưng cũng có nhiệm vụ “hỗ trợ trật tự công cộng.” Bảo vệ trật tự công cộng là phần vụ của Cảnh Sát Võ Trang.


Trên mặt nổi thì quân đội đứng trước cảnh sát hay công an, trong thực tế thì quân đội giữ vai trò yểm trợ cho công an bên trong lãnh thổ. Trên mặt nổi thì quân đội nằm dưới quyền điều động của Bộ Quốc Phòng, còn cảnh sát công an nằm dưới quyền điều động của Bộ Công An. Trong thực tế thì cả hai đều nằm dưới quyền lãnh đạo của đảng.


 


Nhưng làm sao đảng thể hiện cái quyền đó?


 


Trước hết, Bộ Quốc Phòng chỉ là một bộ phận của Trung Ương Quân Ủy Hội bên phía nhà nước do chủ tịch nước lãnh đạo. Một Trung Ương Quân Ủy Hội khác, có cùng tên và cùng thành phần nhân sự, nằm trong hệ thống đảng mà cũng do tổng bí thư là chủ tịch. Tổng bí thư cũng là chủ tịch nước và hai quân ủy này thực tế là một và đảng thực tế kiểm soát quân đội qua cơ chế đó. Các tướng có lên lon hay đeo sao thì cũng từ đấy mà ra.


Hồ Sơ Người Việt sẽ có dịp tìm hiểu sau về bộ phận này và về vai trò của các tướng lãnh.


Ngoài Bộ Công An, Trung Quốc còn có Bộ An Toàn Quốc Gia hay “Quốc An” có trách nhiệm về an ninh đối ngoại, tình báo và phản gián. Thế giới bên ngoài có thể hiểu lầm khi nghe nói hoặc viết về Ministry of Public Security là “Gongan bu” (Công An Bộ) và Ministry of State Security là “Guoan bu” (Quốc An Bộ). Cả hai Công An Bộ và Quốc An Bộ đều nằm trong vòng kiểm soát và lãnh đạo của Ban Chính Pháp Trung Ương (Chính trị và Pháp luật). Ðấy mới là bàn tay của đảng.


Một thí dụ khác, thời sự vừa nói đến vụ luật sư khiếm thị Trần Quang Thành muốn đào thoát và Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ phải xử lý với Bộ Ngoại Giao Trung Quốc. Nhưng Ngoại Trưởng Dương Khiết Trì mới chỉ là ủy viên Trung Ương Ðảng và người quyết định về ngoại giao là Ủy Viên Quốc Vụ Viện Ðới Bỉnh Quốc. Ông cầm đầu “Trung quốc Ngoại sự Công tác Lãnh đạo Tiểu tổ” – là mọi công tác đối ngoại – một bộ phận thuộc phạm vi trách nhiệm của Tổng Bí Thư Hồ Cẩm Ðào. Ðới Bỉnh Quốc có thẩm quyền ra lệnh cho ngoại trưởng, sau khi có ý kiến của Tổng Lý Quốc Vụ Viện (cầm đầu Hội Ðồng Chính Phủ tức là thủ tướng) Ôn Gia Bảo và trên cùng là của Tổng Bí Thư kiêm Chủ Tịch nước Hồ Cẩm Ðào.


Chi tiết ấy giải thích vì sao mà trong khuôn khổ “Ðối thoại về chiến lược và kinh tế,” Ngoại Trưởng Hillary Clinton lại nói chuyện với Ủy Viên Quốc Vụ Viện Ðới Bỉnh Quốc, chứ Ngoại Trưởng Dương Khiết Trì chỉ giữ vai phụ dù đã tốt nghiệp Ðại Học Luân Ðôn và có văn bằng tiến sĩ Sử học.


Như vậy, khẩu súng hay cái lưỡi về đối ngoại của Trung Quốc vẫn nằm trong tay đảng.


 


Ðiểm quân tính số


 


Bây giờ, hãy nói về quân số và tổ chức.


Bộ Công An điều động một lực lượng hơn ba triệu người, gồm một triệu chín trăm ngàn cảnh sát, một triệu cảnh sát võ trang được huấn luyện và trang bị để bảo vệ an ninh (dẹp loạn, phá vỡ biểu tình), và những cơ quan an ninh mà ta hiểu là công an, có đồng phục hay không, với số lượng là bao nhiêu thì bên ngoài không biết. Ngoài ra còn có nhân sự bảo vệ tòa án và quản lý các trại trù.


Lực lượng này được tổ chức từ trung ương xuống các địa phương là tỉnh, thành phố, quận, huyện, hương trấn, v.v… Ngân sách tài khóa 2012 của lực lượng này được tăng từ 629.3 tỷ đồng Nguyên lên tới 701.8 tỷ, tương đương với 111.4 tỷ đô la. Xin hãy nhớ con số 111 tỷ.


Bộ Quốc Phòng thì có ngân sách tương đương với 106.4 tỷ đô la để điều động một lực lượng binh lính là hai triệu ba hiện dịch và nửa triệu trừ bị (tổng cộng là hai triệu tám) qua hệ thống song hành là các quân khu và đảng ủy địa phương. Nhưng các sĩ quan phải làm việc cùng các đảng ủy và cơ quan nhà nước ở cùng cấp bậc, từ tỉnh, thành phố xuống quận huyện, hương trấn.


Trong công vụ thường nhật, Giải Phóng Quân tức là quân đội không nằm trong hệ thống chỉ huy về an ninh của Bộ Công An, nhưng lại được các đảng ủy lãnh đạo, từ cấp trung ương tới địa phương. Khi hữu sự, quân đội là sức mạnh có nhiệm vụ tưởng là thụ động, hiện diện trong trại để hỗ trợ cảnh sát và công an. Nhưng khi có yêu cầu về an ninh, thí dụ như cứu trợ động đất hoặc dẹp loạn, mà cảnh sát, cảnh sát võ trang và công an không giải quyết nổi, thì quân đội ra tay.


Quyết định về việc đó không nằm tại Bộ Quốc Phòng hay các quân khu mà nằm trong đảng, từ trung ương xuống.


Thí dụ như tháng 3 năm 2008, khi có vụ nổi loạn tại Lhasa trong khu Tự Trị Tây Tạng (Lhasa là thủ đô của nước Tây Tạng đã bị Trung Quốc thôn tính và hoàn toàn kiểm soát từ năm 1959), quân đội ra khỏi trại để yểm trợ cảnh sát về chuyển vận và kiểm soát các trục lộ giao thông. Quyết định ấy là do đảng ủy Lhasa yêu cầu sau khi có sự đồng ý của đảng bộ ở cấp cao hơn.


Quan niệm chỉ đạo và cách tổ chức này khiến giới quan sát bên ngoài tranh luận khá lý thuyết về định nghĩa của ngân sách quốc phòng hay quân phí của Trung Quốc. Ngân sách cho cảnh sát võ trang có được coi là quân phí về quốc phòng không?


Nhưng người ta nên nhìn ra một chuyện bất ngờ từ lề lối tổ chức đó.


Quân đội Trung Quốc có những biểu trưng ra ngoài qua hình ảnh chiến cụ tối tân như hỏa tiễn, chiến xa, pháo hạm, v.v… làm thế giới chú ý và lân bang e ngại. Ðấy là phần “danh” của hình ảnh qua các binh chủng như Bộ Binh, Hải Quân, Không Quân và Ðệ Nhị Pháo Binh (hỏa tiễn chiến lược là chữ dễ hiểu). Phần thực là khả năng tác chiến.


Tác chiến với ai khi mục tiêu và nhiệm vụ được ghi ngay trong văn bản là phòng thủ và nhất là bảo vệ an ninh quốc gia, tức là hỗ trợ cảnh sát và công an để dẹp loạn?


Khi ấy, người ta nên chú ý đến việc quân đội vừa mới được trang bị thêm và huấn luyện lại việc sử dụng trực thăng và thiết giáp để yểm trợ an ninh nội địa. Chính thức là để chống khủng bố, thực tế vẫn là để dẹp loạn. Lực lượng Cảnh Sát Võ Trang đã có kinh nghiệm và phương tiện hoàn thành nhiệm vụ này, và thực tế đã có những đơn vị bộ binh cơ động mà xứ khác có thể gọi là khinh binh hay light infantry. Bây giờ mới đến lượt Giải Phóng Quân được huấn luyện về chiến thuật dẹp biểu tình. Nó hơi khác với truy lùng khủng bố.


Từ sự thể ấy, người ta nên chú ý đến các bản tin liên quan đến loại quyết định về nội an.


 


Mối nguy đến từ đâu?


 


Tháng 3 vừa rồi, nhân kỳ họp Quốc Hội (Nhân Ðại), Tổng Bí Thư Hồ Cẩm Ðào hiệu triệu cả quân đội lẫn công an cảnh sát (PLA và PAP theo cách tường thuật của truyền thông quốc tế mà báo chí của ta dịch lại) là “phải quan tâm nhiều hơn đến bảo vệ trật tự xã hội, kể cả trật tự của lực lượng quân sự.” Khi báo chí phiên dịch mà quên mất thứ tự ưu tiên là nội an rồi mới đến quốc phòng, PAP trên PLA, thì người đọc không thấy ra mối lo của đảng. Và chẳng để ý đến lời căn dặn của Hồ Cẩm Ðào: “Ngần ấy nhiệm vụ, kể cả bài trừ tham nhũng, phải được hoàn thành với ưu tiên là công tác tư tưởng và chính trị nhằm đảm bảo quyền lãnh đạo tuyệt đối của đảng trên mọi lực lượng võ trang.”


Thời sự trong tháng 3 có nhắc đến vụ Bạc Hy Lai và tin đồn đảo chính quân sự do trưởng ban Chính Pháp Trung Ương là Chu Vĩnh Khang dự tính thi hành. Khi phiên dịch và bình luận mà quên mất lời phát biểu của Hồ Cẩm Ðào và ưu tiên công an trên quân đội, chúng ta không giúp độc giả và dư luận thấy ra nỗi lo xương tủy của lãnh đạo Bắc Kinh.


Kết luận ở đây là lãnh đạo Cộng đảng Trung Hoa đang lúng túng về nhận thức và tổ chức. Về nhận thức, họ e ngại nội loạn sẽ gia tăng còn hơn áp lực của Hoa Kỳ hay các nước vây quanh. Trong khi ấy, về tổ chức thì Tổng Cục Chính Trị của quân đội vẫn cho các sĩ quan, đều phải là đảng viên, học tập về yêu cầu đối phó với ngoại xâm. Khoảng cách tâm lý giữa nội an và quốc phòng khiến quân đội đã không cập nhật được khả năng dẹp loạn và đối phó với “các thế lực thù nghịch bên ngoài.” Báo chí quốc tế thì diễn giải thế lực thù nghịch là từ bên ngoài Trung Quốc, thật ra, lãnh đạo Bắc Kinh nói đến thế lực bên ngoài đảng.


Từ chuyện ấy mà suy diễn ra những lúng túng của đảng, ta có thể thấy nỗi khó khăn của Bắc Kinh khi phân bố phương tiện (ngân sách) và nhân sự cho hai lãnh vực quốc phòng và nội an. Bên quân đội thì nhấn mạnh đến mối nguy ngoại xâm qua lời phát biểu của tướng lãnh để vận động ngân sách cho yêu cầu hiện đại hóa lực lượng quân sự. Nhưng ở trên lại ưu lo về nội an và chống động loạn.


Ðảng Cộng Sản cầm súng trong tay mà khẩu súng chưa rõ là phải chĩa vào đâu.

Hội Báo Chí Thiểu Số

 



 


Mai Hoàng


 


Dựa theo tiêu chuẩn “Hợp tác để yểm trợ lẫn nhau để trường tồn và phát triển,” nhóm báo chí của người thiểu số tại tiểu bang Minnesota đã thành lập một tổ chức lấy tên là Minnesota Multicultural Media Consortium (MMMC) vào năm 1988.



 Liên tục từ đó đến nay tổ chức này đã tạo được nhiều thành quả đáng kể, cũng như phát triển mạnh mẽ.


Có thể nói MMMC là một tổ chức đặc biệt có sự hợp tác tương kính giữa 4 sắc dân Mỹ gốc Á Châu (Asian), Phi Châu (African), La Tinh (Hispanic) và Da đỏ (Native). Thành phần tham dự gồm đại diện của các cơ sở như Asian American Press, Insight News, Latino Midwest News, Circle và khoảng 12 tuần báo, nguyệt san khác.


Ngoài việc yểm trợ các hội viên về nguồn bài vở, quảng cáo – MMMC còn liên hệ đến 3 chương trình giúp người dân thiểu số. Trong lãnh vực giáo dục, MMMC cùng với Ðại Học Minnesota và 11 trung tâm điện toán công cộng nhận lãnh ngân khoản $2.9 triệu từ Bộ Thương Mại Hoa Kỳ dùng cho việc giảng dạy điện toán cho người có lợi tức thấp. Hội cũng có hợp đồng với thành phố St. Paul cho việc mời gọi tham gia các nhà thầu xây dựng và chuyên viên địa ốc thuộc thành phần thiểu số và nhất là mời người mua nhà nhắm vào những người có lợi tức thấp. Một dự án giúp huấn luyện và điều hành (capacity building) các tổ chức vô vụ lợi (Non- profit organizations) cũng được ST. Paul Foudation tài trợ.


Ðại diện tổ chức gồm 9 người thuộc Hội Ðồng Quản Trị, mà chủ tịch (Chairman) là ông Al McFarlane và Giám đốc Ðiều hành (President) là nhà báo Huỳnh Sĩ Nghị.


Ðịa chỉ của hội: MMMC


417 University Avenue W, St. Paul, MN 5510


Phone: 651-287-3091, Fax: 651-224-7032, Email: [email protected]


Websites: www.multiculturalmedia.orgwww.multiculturallife.org

Lá thư Chủ nhiệm: Bảo hiểm Nhân thọ

 



 


Trước năm 1975 người Việt mình ít khi để ý đến Bảo hiểm Nhân thọ (Life Insurance). Sống ở Hoa Kỳ, ai ai cũng được mời mua loại bảo hiểm này, Nhiều người trong chúng ta không nghĩ là cần thiết. Chúng tôi xin đơn cử vài điểm căn bản để góp ý cùng quý độc giả và đồng hương có thêm dữ kiện để có thái độ thích nghi.


Thông thường chúng ta có quan niệm chết là hết. Do đó việc mua bảo hiểm nhân thọ sẽ không quan trọng. Nhưng nếu nghĩ xa hơn, sau khi rời khỏi cuộc đời, người thân sẽ dối phó ra sao khi phải bị cảnh mất mát tình thương, thiếu người yểm trợ và còn phải chịu thêm tốn kém về việc ma chay, chôn cất.


Bảo hiểm nhân thọ sẽ mang lạii phần nào mất mát cho người thân còn sống. Trước nhất là phần tốn kém chôn cất và sau đó số tiền còn lại sẽ giúp cá nhân hay gia đình người sống có phương tiện duy trì và phát huy cuộc sống. Người Mỹ gốc Do Thái rất thực tế trong việc đầu tư vào bảo hiểm nhân thọ với những bảo hiểm cao hàng triệu đồng.


Chúng tôi mong rằng trước khi ra đi, quý vị cũng nên chuẩn bị để lại những an ủi cần thiết cho người thân thương. Có như thế thì tương lai cộng đồng cũng được giàu mạnh hơn.


Trân trọng


Huỳnh Sĩ Nghị


Chủ nhiệm

Sáng mắt


* Thanh Mai


 


Kể từ sau năm 1975, vì biến cố chính trị, số người Việt Nam lưu vong sống trên các đất nước tự do có thể tính bằng con số triệu.


 Có mọc rễ hay không trên xứ người nhưng phần đông Việt kiều trong thâm tâm luôn nhớ về quê hương nơi chôn nhau cắt rún, nơi chứa nhiều kỷ niệm từ nhỏ cho đến lớn, nơi có đồng bào cùng màu da, cùng tiếng nói. Nhất là những người lớn tuổi về hưu, con cái đã trưởng thành, đã nên người thay thế cha mẹ ra đóng góp cho xã hội thì họ lại thường cảm thấy cô đơn lạc lõng bên xứ người và muốn trở về để gởi nắm xương tàn trên quê hương mình mặc kệ những bất đồng chính kiến, mặc kệ ngày nào đã bất kể sống chết, bỏ lại tất cả để ra đi tìm tự do.


Ông Tâm là một trong số người muốn trở về cố hương đó. Ông là sĩ quan cấp tá của chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Sau năm 1975, dĩ nhiên cũng như các sĩ quan khác ông cũng phải đi học tập cải tạo một thời gian dài, nhà cửa bị tịch thu, con cái không được học đến nơi đến chốn vì lý lịch xấu. Ngày ông còn trong tù thì vợ ông đã mất vì quá lao lực, và suy dinh dưỡng. Ra tù ông lại phải sống thấp tha thấp thỏm lo sợ không biết một ngày đẹp trời nào đó bọn ác ôn bắt bỏ tù trở lại; rồi gia đình bị bắt đi kinh tế mới; cuộc sống dưới chế độ mới thiếu thốn, khổ cực trăm bề nên ông cố sống cố chết tìm cách đưa con cái vượt biển. Cũng may nhờ bạn tù giúp đỡ nên chuyến vượt biển thành công. Sau một thời gian ở trại tị nạn gia đình ông được sang định cư ở Hoa Kỳ.


Ông Tâm qua được xứ sở tự do thì ngã bịnh mất khả năng lao động nên được hưởng tiền bịnh do tiểu bang cấp cho. Bốn người con đứa đi học nghề, đứa ra làm việc và từ từ đều lập gia đình có cuộc sống ổn định bên xứ người. Nhưng vì công việc nên mỗi đứa con lại ở một tiểu bang, chỉ thi thoảng mới gặp nhau. Còn cô gái lớn thì ở cùng một tiểu bang với cha.


Ông Tâm ở riêng một mình. Ông không muốn làm phiền đứa con nào vì tính ông độc lập lâu nay, cứ ngại làm mất tự do và đời sống riêng tư của con cái, và ông cũng thích sống một mình cho thoải mái. Ông mua một cái mobile home giá rẻ, cho một hai người thuê phòng ở chung để có thu nhập trả tiền đất, và nhờ bạn bè làm mai giới thiệu cho ông một bà góa để đỡ phòng không chiếc bóng.


Bà góa này tên Tình, coi xấu người mà đẹp tính. Bà Tình hiền lành, dễ tính, biết chịu đựng, biết im lặng nghe ông nói mà không tranh cãi gì cả. Ông chỉ con chó mà nói là con gà thì bà cũng ừ cho đó là con gà; ông bắt bà im thì bà không dám hó hé lấy một tiếng mà nín thinh cả mấy ngày trời cho tới khi ông cho nói bà mới dám mở miệng… Con cái của ông đều quí mến bà mẹ kế này và nhiều khi còn binh bà để phản đối ông quá ăn hiếp:


– Sao cô hiền quá vậy? Ba con nói ngang nói ngược mà cô không cãi cứ để ổng ăn hiếp hoài.


Bà Tình cười hiền lành:


– Thì cô coi như ổng khùng, cãi làm chi với người khùng cho mệt.


Bà Tình làm ở nursing home săn sóc chiều chuộng người già, người bịnh cũng quen nên mới có thể ở chung với ông Tâm được. Tính tình hai người khác nhau như hai thái cực nên có lẽ ở với nhau để bù đắp cho nhau. Bà Tình dễ tính bao nhiêu thì ông Tâm khó bấy nhiêu. Ngày xưa sống trong quân kỷ quen, ông dùng kỷ luật sắt trị lính và trị cả gia đình. Con cái phạm lỗi là ông đét đít không tha. Ði thưa về trình, đúng giờ đúng giấc không được sai một phút. Chiều tối là cửa đóng then cài, nội bất xuất, ngoại bất nhập. Ra vào cửa phải đóng, quên là bị phạt mở ra đóng lại 100 lần cho quen. Ở xứ Mỹ, bạn bè con cái có bất thình lình ghé ngang nhà thăm ông mà không gọi điện báo trước chớ hòng ông mở cửa tiếp. Có ông bạn thân sẵn đi câu về ghé tặng ông ít cá tươi, gọi cửa hoài ông không mở, chỉ đứng trong nhà ngó ra nên người bạn phải treo bị cá trước cửa rồi bỏ đi. Nhiều, nhiều kỷ luật và nội qui được đặt ra lắm nên đám con không gần gũi cha cho mấy, đứa nào cũng sợ ông như sợ cọp. Bạn bè ai cũng lắc đầu, bảo ông là chướng.


Vậy mà bà Tình cũng hay, sống với ông được đến 4 năm mới chia tay vì có một ngày ông cấm không cho bà về thăm lo cho con cái và cháu ngoại riêng nữa. Lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng bà phản đối, chống lại ông. Ông Tâm muốn gì bà cũng chiều ngoài việc này. Tấm lòng người mẹ bao la như biển, lúc nào cũng lo lắng, bảo bọc, và hy sinh cho con thì ông Tâm chẳng thể nào mà chia cách được. Ông Tâm lâu nay quen ra lệnh và bà Tình thì quen tuân theo nên lần này nghe bà phân trần ông đã nổi giận mất khôn mà quát lên:


– Ở trong nhà này phải giữ kỷ luật, phải đi về cho đúng giờ giấc. Mấy hôm nay cứ tối mịt mới về nhà, cứ lấy cớ là về thăm cháu bịnh. Cháu bịnh thì có mẹ nó lo. Bà dẹp đi. Bà đi với thằng nào? Từ nay không có đi thăm cháu chiếc gì nữa. Còn không thì bà đi luôn đi. Nhà này không chứa đàn bà vô kỷ luật, thúi tha, mất dạy.


Bà Tình mở lớn mắt nhìn ông Tâm. Còn gì để nói nữa. Ðã biết rằng khi nổi giận thì ăn nói hồ đồ, nhưng bà không ngờ ông Tâm lại thốt những lời khó nghe và không tôn trọng bà như thế. Bà Tình lẳng lặng vào phòng thu xếp hành lý bỏ gọn trong cái va ly nhỏ. Không nói thêm một tiếng để chào từ giã ông Tâm đang mặt hầm hầm, bà xách va ly ra xe nổ máy chạy đi và không quên gọi cho đứa con gái của ông để báo cho nó biết:


– Chào con, cô chia tay với ba con rồi và sẽ không trở lại nữa đâu. Con nhớ ghé lại săn sóc cho ổng nhen.


– Cô đi luôn à? Con cũng lo sẽ có ngày này vì tính Ba nóng quá. Cô ơi, có gì cô bỏ qua cho vì con biết Ba thương cô lắm.


Cô Tình bùi ngùi nói:


– Cô biết Ba con tính nóng nên lâu nay nhịn và chiều ổng cho xong. Già rồi sống nương tựa với nhau cho vui. Con cái khôn lớn tách riêng thì mình lại càng phải dựa vào nhau để sống và an ủi cho nhau. Có điều Ba con không cho cô về thăm con cháu là không được. Lại còn ghen tuông nói bậy và không tôn trọng cô nữa nên cô buồn lắm. Thôi để tách nhau một thời gian xem sao.


– Cô ơi! Cô ráng giữ sức khỏe nhé. Mai con sẽ qua thăm Ba và khuyên ổng làm hòa lại với cô.


Hôm sau cô con gái đến thăm và khuyên cha:


– Cô Tình hiền và được quá mà sao Ba để cho cổ đi vậy? Ba làm hòa với cổ đi.


Ông Tâm sửng cồ:


– Hiền cái gì mà hiền. Bây giờ dám mở miệng cãi lại rồi còn bỏ đi nữa. Ba không cần thứ bà chằn đó. Ba chỉ thích loại đàn bà nghe lời ba 100 phần trăm, không được cãi mà nói gì cũng phải nghe.


Cô con gái bất mãn nghĩ thầm chứ không dám nói ra:


– Vậy thì ba đi kiếm người câm mà lấy đi. Mà phải vừa câm vừa điếc chứ nghe chửi mà không cãi được chắc họ đánh lại thôi.


Cô Tình bỏ đi không trở lại. Ông Tâm tự ái không làm hòa xin lỗi. Ông lại lủi thủi một mình sống kiếp độc thân góa vợ. Bạn bè cũng giúp ông đánh tiếng mai mối nữa nhưng không bà nào chịu đèn sống chung với ông được đến một tuần. Sức khỏe của ông lại chẳng được tốt cho lắm, bị cao máu, cao mỡ, phải thông tim, phải cắt túi mật, mà lại phải tự lo chợ búa nấu nướng một mình thật mệt mỏi và buồn chán. Cô con gái mỗi tuần chỉ ghé qua thăm cha chớp nhoáng được 1 vài lần vì còn phải đi làm, phải lo cho gia đình con cái. Nhiều khi ông ngồi đó, nỗi cô đơn gặm nhắm, nghĩ đến một ngày thình lình từ giã cõi đời mà con cái không hay để đến khi sình thối lên lối xóm mới biết. Rồi nghĩ đến quê hương bà con bạn bè đông đúc, ra ngõ là có hàng quán cơm tiệm khỏi lo miếng ăn nấu nướng hàng ngày, vui biết bao nhiêu. Ông nghĩ đến một ngày về quê hương, kiếm một miếng đất trồng cây ăn trái, trồng bông hoa cây kiểng, vui thú điền viên sống cho qua tuổi già, có gì chết chôn cạnh mộ bà vợ hiền cũng đỡ lạnh lẽo. Ông chỉ sợ tụi công an đỏ làm khó dễ, nhưng rồi lại tự an ủi mình hy vọng già rồi chắc tụi nó cũng để yên.


Lâu nay ông Tâm cũng thỉnh thoảng liên lạc với một ông bạn thân ở quê nhà tên Phan. Ông Phan có nhà đất ở vùng ngoại ô xa xôi, làm nghề thầy lang vườn, tính tình thuần hậu, chân chất. Ngày trước 75, ông Phan phá đất núi làm rẫy nên ngày nay ông có nhiều đất trên núi lắm. Ông Tâm ngày trước đã giúp đỡ ông Phan rất nhiều và thương tính tình ông Phan nên thường xuyên lui tới thăm nhau. Nay nghe ông Tâm than buồn và có ý trở về sống ở quê hương, ông Phan hăng hái bảo:


– Anh về đi, tôi sẽ tặng anh một mẫu đất sát cạnh nhà tôi để xây nhà ở cạnh nhau sớm hôm hủ hỉ cho vui.


Ông Tâm cảm động:


– Cám ơn anh nhiều. Nhưng tôi biết anh giờ cũng không khá giả gì mấy, tôi không dám nhận đâu. Cho tôi gởi tiền mua lại miếng đất đó để anh có tiền mà lo cho gia đình. Tôi về ở cạnh anh cuối đời anh em có nhau là vui rồi. Chỉ sợ về đó cộng sản làm khó dễ thôi.


Ông Phan đoan chắc:


– Chỗ tôi ở xa làng xa xóm, công an khu vực quen biết thân tình, dễ chịu lắm. Anh về đi không sao đâu. Với lại lớn tuổi rồi tụi nó không để ý làm khó dễ nữa đâu đừng lo. Thỉnh thoảng anh cho nó gói thuốc lá ba số 5 là nó cảm ơn anh lắm lắm, sai gì cũng được.


Bên đòi tặng, bên đòi mua, tình nghĩa tràn trề thật cảm động ứa nước mắt. Cuối cùng ông Phan cũng tặc lưỡi thở dài mà nhận tiền ông Tâm gởi về trả tiền mua miếng đất và xây nhà sẵn giùm để ông Tâm về có nhà ở ngay.


Cô con gái ông Tâm nghe cha đòi về Việt Nam ở thì phản đối:


– Ba à, về đó làm sao sống được với cộng sản. Tụi nó gian manh thấy Việt kiều có tiền không để yên cho Ba đâu. Ba đã liều thân ra đi mà trở về làm gì.


– Tụi con không hiểu đâu. Ai cũng có cội có nguồn, ba đã già rồi, sống nay chết mai. Ba muốn trở về bỏ nắm xương tàn trên quê hương chứ chết bờ chết bụi ở đây buồn lắm. Ba về ở cạnh bác Phan, có bạn có bè hủ hỉ với nhau đỡ buồn. Ba đã gởi tiền về mua đất xây nhà ở cạnh nhà bác Phan rồi. Bác Phan bảo công an khu vực ở đó dễ lắm mà dân tình cũng hiền lành.


Cô con gái cãi:


– Thì bác ấy muốn ba về ở cạnh nên nói sao cũng được mà. Tụi con đều ở bên đây, Ba về đó lấy ai coi chừng?


Ông Tâm cay đắng:


– Ba ở bên này các con cũng đâu thường xuyên tới thăm được. Con cái ở mỗi đứa một phương mỗi năm họa hoằn về thăm Ba được 1 lần. Còn con thì bận bịu, tất bật suốt ngày. Ba về đó có gia đình bác Phan sát vách, bác bảo sẽ chăm sóc cho Ba. Bác Phan tốt lắm, cho Ba miếng đất để xây nhà mà Ba không lấy đó.


– Ðiều này con không biết. Phải ở lâu mới biết lòng người. Ba về đó lỡ bịnh hoạn đi bác sĩ bệnh viện cũng khó khăn. Nhà bác Phan con nhớ là ở tuốt trên núi khô khan nóng nực, đường đất cheo leo, nhất là không có điện phải xài đèn dầu leo lét, và lại xa thành phố vừa buồn vừa bất tiện. Ba ở đó không tốt đâu.


Ông Tâm cãi:


– Hồi Ba chở tụi con lên nhà bác Phan đến nay cũng hơn chục năm rồi. Càng ngày càng thay đổi tiến bộ chứ. Nghe bác Phan nói đã có điện rồi, dân cư cũng đông đúc hơn nhiều, đã có đường cho xe hơi chạy tới tận nhà.


Cô con gái hỏi nhắc lại:


– Rồi đêm hôm lỡ lên cơn đau tim làm sao đi cấp cứu? Kêu được xe chở được đến nhà thương chắc cũng đã xong đời rồi. Ba bây giờ đâu còn khỏe nữa, ở đây được một nền y khoa tốt gần như là nhất thế giới phục vụ, chăm sóc thường xuyên không tốt hơn sao.


Ông Tâm nghe con gái cản đầu cản đuôi nêu đủ lý do đã không nghe ra mà lại đâm bực. Ông nghĩ chắc lũ con sợ mình về Việt Nam không còn được lãnh tiền già tiền bịnh nữa và sợ phải gởi tiền nuôi cha nên cứ ngăn cản thế kia. Ông bực bội nói:


– Ba đã quyết định rồi. Con đừng cản nữa. Ba về đó tự lo được không cần mấy đứa con phải gởi tiền về giúp mà cứ nói ra nói vào.


Thấy cha bực mình, cô con gái im lặng không cãi nữa. Cô biết tính cha ngang bướng ít khi chịu nghe lời ai khuyên nhất là lời khuyên của con cái mà ông lúc nào cũng nghĩ là con nít con nôi hỉ mũi chưa sạch. Cô hỏi giọng quan tâm:


– Ba tính khi nào thì đi? Ba có muốn con giúp đăng báo bán căn nhà này và đồ đạc không?


Một tuần sau ông Tâm bán được căn mobile home với giá gấp đôi ông đã mua 7 năm về trước. Nhờ đã trả off nên nay ông ôm trọn gói. Ông lại còn “được” hai lần tai nạn xe cộ vào mấy năm trước, chỉ ê ẩm và hư xe sơ sơ nhưng nhờ mua bảo hiểm hai chiều nên được bồi thường vài chục ngàn đô. Tổng cộng được một số tiền cũng khá. Ðã gởi ông Phan tiền mua đất và xây giùm cái nhà gần bằng tiền bán mobile home, vị chi ông còn được tiền đền bảo hiểm xe vài chục ngàn đô. Thời điểm bấy giờ ở Việt Nam tiền đô có giá trị, vật giá cũng rẽ nên theo ông Phan tính toán mỗi tháng ông Tâm chỉ cần tiêu 100 đô là đủ sống. Tằn tiện một chút ông tiêu đến nhắm mắt xuôi tay là vừa. Vậy là bán nhà xong, thu dọn đồ đạc cần dùng vào 2 thùng lớn, ông Tâm Việt kiều bái bai đất nước tự do Hiệp Chủng Quốc đàng hoàng lên máy bay hồi hương, chả bù ngày nào trốn chui trốn nhủi ra đi.


Cả nhà ông Phan gồm vợ con, dâu rể, cháu nội cháu ngoại gần 20 người thuê xe vào Sài Gòn đón bạn vàng hồi hương. Ai nấy cũng tươi như hoa, cười đón Việt kiều thật niềm nở, thân tình. Bà con xa không bằng láng giềng gần, từ nay có gì chạy qua chạy lại đỡ đần nhau cũng vui đấy chứ, hai bên cùng có lợi.


Xe chạy xuyên đêm đến trưa thì về tới quê ông Tâm ở Ninh Hòa. Thị trấn giờ tấp nập phồn vinh hơn hồi ông ra đi nhiều. Ông Tâm nhìn lại một số cảnh vật quen thuộc mà lòng bổi hổi bồi hồi nhớ lại những tháng ngày xa xưa với bao thăng trầm vinh nhục. Ngày bỏ quê hương ra đi ông đã thề với lòng chỉ trở về khi không còn Cộng sản, nhưng nay nào có đâu ngờ tự mình lại thất hứa phá bỏ lời thề. Ông như con cá hồi ngược dòng cố sống cố chết vượt bao gian nan bơi về nơi nó sinh ra. Ông đã từ bỏ nơi chốn bình yên có gia đình, sự tiện nghi và nhất là sự tự do để tìm về một chốn mà ông biết trước là địa ngục trần gian chỉ vì nỗi nhớ quê hương trong ông thật tha thiết, mãnh liệt, và nỗi ao ước muốn sau này được yên nghỉ trong lòng đất mẹ hiền.


Ðúng như lời ông Phan nói trước, chiếc xe trung 20 chỗ ngồi cũng len lỏi trên con đường đất gập ghềnh chạy đến tận ngõ nhà mới của ông Tâm. Căn nhà mới quét vôi xanh, mái tôn xám, trông gọn nhỏ và xinh xắn y như trong hình của ông Phan gởi qua. Nhưng xung quanh đất đai có vẻ khô rốc đầy sỏi đá, cây cối lưa thưa và còi cọc, trông thảm thiết như cây cối mọc ở sa mạc.


Ông Phan nói giọng phân bua:


– Cả tháng nay trời không mưa nên cây cối như vậy đấy. Anh dặn tôi mua ít cây ăn trái về trồng nhưng với thời tiết này ngó mòi mấy cây này khó lên nổi.


Ông Tâm an ủi bạn:


– Từ từ rồi tính. Trời không mưa chắc phải làm vòi tưới.


Ông Phan lắc đầu tỏ ý như chuyện này chắc khó rồi ông bảo tài xế đậu xe trước cửa nhà mới của ông Tâm để dỡ hành lý xuống. Vừa bước xuống xe, cái nóng hầm hập cháy bỏng của vùng núi táp vào người cộng thêm sự mệt mỏi của chuyến hành trình vượt đại dương làm ông Tâm choáng váng lảo đảo đứng không vững. Ông Phan vội đỡ ông Tâm bước lên thềm và sai thằng con lấy chìa khóa mở cửa ngay. Một lúc sau ông Tâm mới định thần lại và ngắm căn nhà mới của mình. Nhà chỉ có một phòng khách nhỏ, một phòng ngủ nhỏ đặt vừa cái giường 2 người nằm, một gian bếp nhỏ xíu cỡ 3 mét vuông và một phòng vệ sinh cũng nhỏ xíu. Tổng cộng cả căn nhà chắc khoảng 20 mét vuông. Ðồ đạc sơ sài mới chỉ có bộ bàn ghế gỗ cũ kỹ và cái giường gỗ trải chiếu hoa chắc ông Phan đem từ nhà ông ấy qua.


Ông Phan nói:


– Anh nằm nghỉ ngơi một chút, tôi biểu sắp nhỏ về bưng cái quạt máy qua cho anh và nấu cơm rồi mời anh qua xơi.


Mấy ngày đầu gặp nhau vui vẻ vô cùng. Quà cáp từ bên Mỹ mang về cái gì cũng lạ, đẹp, thơm, và giá trị. Gia đình ông Phan mọi người từ lớn tới nhỏ cứ rảnh ra là tìm tới ông Tâm để nghe kể chuyện hấp dẫn của cuộc sống bên Mỹ. Từ sớm đến tối rộn ràng vui lắm. Ông Tâm bắt đầu mua sắm thêm đồ đạc cần thiết bày biện cho căn nhà của mình. Ông cũng mua tặng bạn mình bộ sofa, cái bếp ga, và cái tủ lạnh. Gia đình ông Phan rất mừng cảm ơn rối rít và càng ân cần coi ông Tâm như thần tài trên trời rơi xuống. Coi vậy mà cũng không tốn kém chi lắm, từ cái lớn tới cái nhỏ, mua đủ thứ mà chỉ tốn xấp xỉ 1200 đô vì đồng đô la lúc này có giá lắm.


Người xưa có câu ca dao:


Thức lâu mới biết đêm dài,


Ở lâu mới biết lòng người thực hư.


Sau tuần lễ đầu tiên vui vẻ, ân cần là những phiền phức, khó chịu dần dần kéo tới. Vợ và con ông Phan thường qua mượn đồ không trả, bọn nhóc thường hay vô tư cầm nhầm món này món nọ nên đồ đạc trong nhà không cánh mà từ từ bay mất. Ông Tâm bực mình lắm nhưng ngại không nói ra. Tính ông cái gì ra cái đó. Xin thì ông cho mà mượn thì phải trả dù là một xu.


Thêm nữa ở lâu ông Tâm dần dần biết được giá cả, vật liệu xây dựng và trị giá đất thời điểm bấy giờ mới hay cái nhà của ông trị giá thật sự chỉ bằng một nửa số tiền ông đã chi. Vậy mà phải mang ơn nghĩa với người ta mới đau. Theo ông thấy ông Phan vẫn là con người đơn thuần, có lòng tốt với bạn bè nhưng vợ con dâu rể của ông thì trái ngược, thích lợi dụng, xin xỏ và có lòng tham không đáy. Căn nhà mới là do đứa con lớn của ông Phan lo liệu việc xây cất và có lẽ nó đã bỏ túi số tiền chênh lệch khi mua toàn vật liệu xấu và xây quá đơn giản, thiếu tiện nghi. Phòng vệ sinh với loại cầu tiêu trệt ngồi chồm hổm phải múc nước dội. Không có bồn rửa mặt và nhất là không có hệ thống nước máy. Nước dùng để nấu ăn, vệ sinh tắm rửa phải chứa trong hai thùng nhựa lớn mà mấy đứa con nhà ông Phan gánh đổ hàng ngày từ giếng nhà bên ấy. Thấy bất tiện quá nên ông Tâm lại bỏ tiền ra xây hồ chứa nước, bắt máy bơm để bơm thẳng vào nhà và dĩ nhiên là ông phải làm cho cả hai nhà. Ðã không biết đủ rồi chứ, vợ con ông Phan còn xin xỏ ông Tâm giúp đỡ sửa sang đủ thứ cho nhà của họ làm như ông Tâm mang nợ từ kiếp trước không bằng.


Ông Tâm không phải hạng người tính toán keo kiệt. Nhưng cái gì cũng có giới hạn, đâu phải ông là triệu phú và dễ bị dụ. Ông thấy rõ mình bị lợi dụng, bòn rút từng ngày từng ngày một cách trắng trợn. Nơi ông ở hơi vắng vẻ đìu hiu xa thị trấn, lỡ đêm hôm khuya khoắt bịnh hoạn thì phải nhờ hàng xóm láng giềng nên ông bấm bụng chịu đựng tạm thời. Ông đánh tiếng bà con ở thị trấn nhờ thuê một người giúp việc lo dọn dẹp nhà cửa cơm nước riêng cho ông để khỏi phải nhờ vả lệ thuộc nhà ông Phan nữa.


Cô con gái bên Mỹ biết được tình cảnh của ông Tâm thì nhắc cha:


– Ba liên lạc kêu cô Xuân ra ở với Ba để săn sóc cho Ba đi. Con biết cô Xuân vẫn chưa có chồng. Con nghĩ có cổ sẽ an tâm tin cẩn hơn và Ba sẽ có người hủ hỉ đỡ buồn.


Cô Xuân là… bồ nhí của ông Tâm thời ông còn ở trong quân đội phải đi biệt phái xa nhà tận miền Tây. Hai người dây dưa dan díu với nhau gần 2 năm thì ông được phân công tác trở về quê nhà, chia tay với nàng. Rồi nước mất nhà tan ông phải đi học tập cải tạo một thời gian dài. Cô Xuân vẫn chưa lấy chồng, thỉnh thoảng gởi thơ vào tù thăm ông. Sau khi vợ ông mất, cô đến nhà lạy bàn thờ xin lỗi ngày xưa đã phá hoại hạnh phúc của gia đình và xin phép mấy người con được thỉnh thoảng thăm nuôi ông trong tù. Con của ông tư tưởng cũng thoáng nên bây giờ đã gợi ý cho cha liên lạc với cô Xuân để nối lại tình xưa an ủi nhau lúc tuổi già.


Thật ra chẳng đợi con nhắc, ông Tâm cũng đã có ý định đó khi trở lại quê nhà. Cô Xuân thua ông đến 20 tuổi. Ngày ông quen cô thì cô mới 22 tuổi, không đẹp nhưng hiền lành. Cô là con nhà gia giáo nhưng chắc vì duyên nợ từ kiếp trước nên đã phải lòng và yêu ông dù biết ông đã có gia đình. Ðến lúc chia tay với nhau cô vẫn ở vậy không lấy chồng và nghe nói đến nay vẫn còn ở căn nhà cũ với gia đình người em.


Nhà cửa sắm sửa tạm ổn xong, ông Tâm viết thơ liên lạc mời cô Xuân đến ở với ông và cô bằng lòng ngay. Cô Xuân không muốn ông Tâm thuê người làm mà tự mình đảm nhiệm chợ búa, cơm nước và dọn dẹp nhà cửa. Sau hơn 20 năm xa cách cô mới được cơ hội ở chung với người yêu nên vui mừng lắm và tự nhủ sẽ hết lòng săn sóc chàng.


Vậy là gia đình ông Phan mất đi một nguồn thu nhập là lo ăn uống và coi sóc nhà cửa cho ông bạn vàng. Ðến khi ông Tâm từ chối không cho đứa con dâu ông Phan mượn tiền làm vốn đi buôn; không cho thằng Ba của ông Phan mượn tiền mua cái xe cúp đời mới; rồi còn thay ổ khóa và yêu cầu người của nhà ông Phan đừng tùy tiện vào ra nhà của ông mà không gõ cửa thì chiến tranh bắt đầu.


Mấy người đàn bà nguýt háy khi thấy bóng ông Tâm ra vườn:


– Già mà không nên nết! Vài bữa nó dụ hết tiền là sáng mắt.


Hoặc:


– Tưởng Việt kiều là ngon lắm. Ðúng là ở đời, trâu buộc thường ghét trâu ăn. Bạn bè anh em ai giàu sang ai cùng khổ cứ ở cách xa tít mù chẳng thấy mặt nhau thì thôi, nhưng nếu cái giàu và cái nghèo mà ở sát cạnh nhau thì trước sau cũng sinh ra rắc rối, đố kỵ, tị hiềm. Ông Phan mỗi ngày bị vợ con tác động, nói xấu ông bạn vàng nên cũng bị ảnh hưởng dần. Lại thêm thái độ ông Tâm khi bực dọc thường tỏ ra nét mặt lạnh lùng băng giá nên ông Phan cũng tự ái. Thế là chiến tranh giữa hai nhà càng ngày càng gây cấn. Láng giềng tốt ngày xưa giờ không cho nhà ông Tâm bơm nước giếng để xài, đóng cái cổng chung không cho dùng, phá cây không cho sống… Ðủ thứ cản trở… và cuối cùng đưa nhau ra tòa mới chỉ sau một năm hân hoan đón Việt kiều về nước tay bắt mặt mừng.


Ông Phan kiện đòi lấy nhà đất lại với lý do ông Tâm chiếm đoạt đất xây nhà trái phép. Nhưng cũng may từ khi nhờ vả ông Phan xây nhà, ông Tâm có lần viết thơ hỏi đã gởi tất cả bao nhiêu tiền và ông Phan đã viết thơ trả lời. Có bằng chứng giấy trắng mực đen và có cả thủ tục “đầu tiên” (tiền đâu) nên khi ra tòa ông Tâm đã thắng là ông không chiếm đoạt đất xây nhà trái phép. Nhưng ông Tâm là Việt kiều, đâu được phép mua nhà đất và cũng không được phép ở lâu thường trú trên đất nước Việt Nam. Ông có quốc tịch Mỹ, có visa về Việt Nam nhưng chỉ có thể ở Việt Nam trong vòng 2 năm thôi. Căn nhà này ông không được chủ quyền đứng tên làm chủ. Cuối cùng ông thỏa thuận sang tay để rẻ lại cho bà con của tòa án với giá trị tương đương 5 ngàn đô la Mỹ. Tính ra lỗ hơn hơn chục ngàn đô cho căn nhà và quan trọng nhất là lỗ mất trắng tình bạn.


Ông Tâm mua một căn nhà khác cũng ở xa thị trấn và nhờ cô Xuân đứng tên. Từ ngày về nước ông đã biết được cách chi tiền cho công an khu vực để mua hai chữ yên thân. Cứ mỗi tuần, họ tới thăm và mời “chú Ba” ra nhậu với tụi cháu. Dĩ nhiên chú Ba phải chi cho độ nhậu dù có tham dự hay không. Rồi Tết nhất, rồi mỗi dịp lễ lộc hoặc có chuyện gì trong gia đình họ ông cũng lì xì chút đỉnh. Thành thử ông không cần phải ra khỏi nước để làm lại visa nhập cảnh mà họ cũng không hỏi han làm khó dễ gì cả.


Ðủ thứ chi tiêu chứ không phải như trước kia ông dự trù chỉ cần mỗi tháng một trăm đô. Ăn uống chẳng bao nhiêu nhưng còn những khoản chi không tên mà ông không dự trù trước. Về sống ở đây, không những ông phải chi tốn cho công an mà còn chi cho bạn bè đàn em. Một vài người lính ngày xưa làm việc dưới quyền ông nay gặp lại đều có cuộc sống khó khăn nên nhờ ông giúp đỡ và ông không nỡ chối từ. Một số người nịnh hót nâng ông lên tận mây xanh rồi mượn tiền và hứa chắc như đinh đóng cột sẽ trả nhưng rồi lại trốn mất. Ông như con mồi béo bở, cứ gặp 10 người là đến 9 người xin tiền, mượn tiền nên sau một thời gian ông tránh ra đường sợ gặp người quen mất công từ chối.


Ra đường thì nghi ngại, phải tránh gặp mặt người quen. Ở nhà hoài thì bực mình, dễ gây nhau. Cô Xuân giờ đây không nhu mì hiền lành như ngày xưa nữa. Cô hay mỉa mai, cãi lại. Cô còn hay đi về không đúng giờ giấc, hay lê la nhà hàng xóm, hay giận hờn, và cũng hay xin tiền gởi về giúp đỡ các em của cô có vốn làm ăn. Ông sinh ra nghi ngờ không biết cô đến với ông vì tình hay vì tiền nữa.


Ðúng là “Tình chỉ đẹp khi còn dang dở. Lấy nhau rồi… chán quá cỡ người ơi.” Về phần cô Xuân thì ngày xưa chỉ nhìn thấy một ông Tâm oai hùng, đẹp trai, uy quyền hét ra lửa. Chàng dịu dàng, chiều chuộng nàng ra phết mỗi khi hẹn hò gặp nhau. Bây giờ thì là một ông lão hết xí quách, hom hem, nhăn nhó, cau có, lại còn khó chịu, độc tài, dễ nổi đóa, ngang như cua và chỉ coi cô như một bà quản gia kiêm đủ thứ hầm bà lằng. Người yêu của cô thay đổi nhiều quá, chẳng giống ngày xưa tí nào cả. Cô bất mãn, cãi lại thì bị ông mắng nhiếc đuổi đi. Cô về quê thì các em lại khuyên cô trở lại với “chồng.” Dầu gì cô cũng đã là một bà cô già, may phước lấy được Việt kiều mỗi tháng có tiền gởi về giúp đỡ gia đình thì đừng dại gì mà bỏ.


Hai người cứ làm hòa rồi lại giận nhau. Cô khăn gói về quê được mấy lần thì đi luôn. Kể ra hai người cũng ở với nhau được hơn 2 năm dài đủ để hát bài “Hai năm tình lận đận, hai đứa cùng xanh xao. Hai năm trời mùa lạnh, cùng thở dài như nhau. Hai năm tình lận đận, hai đứa cùng hư hao. Hai năm tình lận đận, hai đứa đành xa nhau…”*


Ông Tâm hết tình và tiền cũng không còn nhiều. Cũng may ông còn được mấy người con có hiếu, mỗi năm rủ nhau đóng góp gởi về cha già tiêu xài. Ông vẫn cương quyết không về lại Mỹ, không chấp nhận cái sai của mình. Ông tự đánh lừa mình vẫn không nhờ vả con cái khi ghi nợ số tiền các con gởi về coi như mượn tạm để sinh sống vì ngày xưa khi đòi về lại Việt Nam sống ông đã tuyên bố không cần các con gởi tiền về giúp đỡ. Ông cho là căn nhà ông đang ở lên giá gấp 10, khi ông mất con cái bán mà trừ nợ.


Ông Tâm bây giờ phải chi tiêu nhiều lắm. Ngoài tiền ngoại giao với con số không ít còn phải chi cho sức khỏe rất nhiều. Ngày còn ở Mỹ, ông mang đủ chứng bịnh trong người nhưng nhờ y tế của Mỹ rất tốt, lại miễn phí cho người già và bịnh nên ông đi bác sĩ và thuốc men thường xuyên. Nhờ vậy bịnh cao huyết áp, cao mỡ của ông không gì đáng lo ngại. Trở về Việt Nam, ông sống xa thị trấn, bác sĩ nông thôn chẳng có năng lực bao nhiêu, thuốc men không đầy đủ lại thêm ăn uống nhậu nhẹt không kiêng cữ nên sức khỏe của ông giảm sút hẳn. Ông phải nhờ người quen giới thiệu một bác sĩ giỏi ở thị trấn và bao tất cả chi phí để vị bác sĩ kia đến tận nhà khám cho thuốc khi ông trở bịnh. Tiền bác sĩ, tiền thuốc men, và cả tiền quà cáp cho bác sĩ ngốn của ông mỗi tháng rất cao mà bịnh thì chỉ khống chế được giai đoạn ngắn rồi tái đi tái lại. Ðau nhức vẫn hoàn đau nhức, đau tim vẫn hoàn đau tim, và… khó chịu vẫn hoàn khó chịu có khi còn nặng hơn xưa.


Phải, ông Tâm càng ngày càng khó tính. Từ ngày cô Xuân bỏ đi không trở lại, ông nhờ giới thiệu người làm tới nhà lo việc nội trợ và để phòng khi ông bị lên cơn tim bất thình lình thì kêu bác sĩ hoặc đưa đi cấp cứu nhưng không ai có thể ở với ông được hơn tuần. Ông cấm họ không được ra khỏi nhà ngoại trừ thời gian giới hạn cho đi chợ, dễ nỗi giận la mắng ầm ĩ và làm tình làm tội đủ điều nên không ai ở được. Cũng may ông thuê được người nấu ăn mang đến nhà hàng ngày và dọn dẹp sơ nhà cửa. Nhưng cũng vì vậy mà ông càng ở riệt trong nhà và càng ngày càng thu mình trong căn nhà nhỏ, chỉ khi nào rất cần thiết mới ra ngoài.


Con cái về thăm khuyên cha:


– Ba qua lại Mỹ sống với tụi con đi. Ba ở đây mà cứ ru rú trong nhà như vậy thì dễ bịnh lắm.


Ông bảo:


– Sức khỏe của Ba giờ không đi xa được đâu. Ba ở nhà quen rồi, buồn thì ra vườn chăm ngó mấy cây xoài, cây mít cũng vui.


– Nhưng Ba ở có một mình lỡ có chuyện gì bịnh hoạn bất tử ai biết mà cứu?


– Có chị đưa cơm mỗi ngày 2 lần ghé qua đưa cơm nước mà. Với lại Ba có thuê chồng của chỉ mỗi ngày qua nhổ cỏ làm vườn giùm. Không sao đâu, Ba có chuyện gì họ biết liền.


Cô con khuyên:


– Ba chịu khó đi đây đi đó cho thoải mái chứ cấm cung mãi như vầy à?


Ông Tâm lắc đầu:


– Ba ra đường mà cứ sợ gặp người lợi dụng mình thì càng không thoải mái hơn.


Nhưng đâu phải không ra đường cứ ru rú ẩn mình trong nhà là yên. Cứ mỗi tháng vài lần, công an khu vực lại tới hỏi thăm “chú Ba” một cách thân tình:


– Chú Ba ơi, có khỏe không ra quán nhậu vài chai bia với tụi cháu cho vui.


Lâu lâu bọn chúng nài nỉ quá ông Tâm phải ra quán uống 1 ly bia rồi lấy cớ sức khỏe yếu bỏ về, không quên trả trước tiền độ nhậu. Còn thì ông hay móc túi dúi cho chúng vài trăm ngàn cho yên:


– Chú hôm nay bị đau dạ dày. Cầm ít tiền ra đó uống giùm chú vài ly.


Nhiều khi bọn chúng đang nhậu ngoài quán cũng nhớ đến chú Ba gọi phone mời ra tham dự. Dĩ nhiên chú Ba không thể đến nhưng cũng phải biết ý cháu chắt mà hứa sẽ… tiền đi thay người. Vậy mà ông còn khoe với con gái:


– Chút ít tiền chi ra mà Ba sai gì tụi nó cũng làm.


Nói chữ sai là nổ cho vui vậy thôi chứ lâu lâu có rắc rối bên làng xóm cãi cọ ồn ào hoặc bọn lưu manh ở đâu tới phá làng phá xóm ông gọi phone kêu công an khu vực tới can thiệp. Có chú Ba chịu chi thưởng tiền đi nhậu nên khi chú Ba gọi phone là bọn chúng tới giải quyết ngay làm hàng xóm cũng nể nang ông lắm. Rồi có lần con chó cưng của ông chạy ra đường bị thất lạc cũng nhờ mấy cháu kiếm lại giùm. Dĩ nhiên cũng phải hậu tạ.


Chỉ một năm sau khi ông Tâm khoe với con gái về đám “cháu hờ dễ sai” của mình, chuyện xấu xảy ra. Ông nhận được giấy của Sở Nhà Ðất thông báo có đơn kiện ông chiếm dụng nhà ở trái phép của cô Trần Thị Xuân và đòi ông phải bàn giao nhà cho cô ta 10 ngày sau. Thơ đến trễ nên 10 ngày sau trong thơ tức là ngày mai. Ông Tâm giật mình nghĩ lại căn nhà mình đang ở ngày đó mua đứng tên cô Xuân chủ quyền vì cô là công dân của nước Việt Nam. Cô bỏ ra đi đã mấy năm nay, mỗi tháng ông đều gởi tiền cho cô sinh sống đã không biết ơn rồi chớ nay lại trở ngược kiện cáo đòi chiếm nhà.


Ông Tâm gọi điện thoại ngay cho cô Xuân nhưng phone reng không ai trả lời. Ông cố gắng gọi liên lạc với 1, 2 người em của cô Xuân nhưng mọi người hình như tránh mặt, không thể nào liên lạc được. Họ tránh mặt là phải vì đã thông đồng ép cô Xuân kiện Sở Nhà Ðất đòi lấy căn nhà ông Tâm đang ở để có tiền bù việc làm ăn thua lỗ. Và họ đã đi đêm với Sở Nhà Ðất, với công an khu vực nên ngay ngày hôm sau ông Tâm bị đám cháu hờ công an khu vực với những gương mặt lạnh lùng vô cảm cùng với nhân viên nhà đất trục xuất ra khỏi căn nhà ông đang trú ngụ.


Muốn được yên thân gởi nắm xương tàn trên quê hương đâu dễ với tình hình đất nước nhiễu nhương bất ổn, với bọn lãnh đạo bất lương thích đi đêm như hiện nay chuyên xài luật rừng. Ông Tâm đang trên máy bay trở về Mỹ sau khi được Việt Nam phẫu thuật mổ cho sáng mắt để biết rằng, dùng tiền đi mua lòng người mà nhất là bọn gian tham sẽ không được bền vững trước sau cũng bị phản bội. Và lâu nay cũng chính vì đồng tiền ông đã mất đi bạn bè, người yêu và nhất là sự tự do trên quê hương mình.


 


* Bài hát “Hai năm tình lận đận.” Thơ Nguyễn Tất Nhiên, nhạc Phạm Duy.

Người Việt khắp nơi: Ðại Lễ Phật Ðản 2556

 


Mai Hoàng


 


Gần 2,000 Phật tử ở Song Thành (Minneapolis/St. Paul) và phụ cận đã tham dự Ngày Phật Ðản năm nay. Buổi lễ được tổ chức vào lúc 10 giờ 30 sáng ngày Chủ Nhật, 16 tháng 4 năm Nhâm Thìn tức ngày 6 tháng 5, 2012, tại chùa Phật Ân thuộc thành phố RoseVille, bang Minnesota.



Thầy trụ trì chùa Phật Ân, Thượng Tọa Thích Hạnh Ðức chứng minh và chủ lễ bên cạnh Ðại đức Phụ tá Thích Thanh Hòa và chư tăng cùng Ban Trị Sự chùa Phật Ân. Trong dịp này ông hội trưởng Ban Trị Sự chùa Phật Ân, Phạm Anh Toàn, đã tuyên đọc thông điệp của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất ở Việt Nam.


Trước buổi lễ các em trong gia đình Phật tử đã trình diễn những bài đạo ca đầy ý nghĩa. Sau buổi lễ mọi người đọc kinh và nghe thuyết pháp. Cuối cùng là bữa cơm chay thanh vị đầy thân mật giữa các tham dự viên cho ngày Ðại lễ Phật Ðản năm nay.


Ðược biết chùa Phật Ân tháng vừa rồi đã bầu chọn Ban Trị Sự mới, nhiệm kỳ 2012-2014. Thành phần nhân sự như sau:


Ban Trị Sự:


 


Chủ tịch : Trí- Viên Phạm Anh Toàn


Phó chủ tịch:


Diệu-Kim Ðàm Thị Thanh Quý


Ðồng-Minh Hồ Ðình Sang


Minh-Phát Trương Thiện Minh


 


Tổng thư ký: Nguyễn Phước Hoàng Ðức Lộc


Phó tổng thư ký: Nguyễn-Diệu Lê Kim (Hồng)


Thủ quỹ: Phạm Xuân Cường


Phó thủ quỹ: Minh-Tịnh Nguyễn An


 


Kiểm Soát Viên:


Diệu-Lan Vũ Ngọc Chi


Thanh-Hòa Phạm Anh Tuấn


Tâm-Phước Lữ Mộng Phương


 


Hội Ðồng Hộ Trì Tam Bảo:


Nguyên-Ðức Ðàm Quang Hiển


Quảng-Nghiệp Trịnh Văn Nông


Nguyên-Kim Lữ Mộng Chi


Thanh-Hương Bùi Thị Yến


Tâm-Thành Lê Cảnh Di


Thanh-Ðức Nguyễn Ðình Trí


Chánh thư ký; Trí-Viên Phạm Anh Toàn

Cần sự giúp đỡ

Giới thiệu sách: Những Cánh Hoa Thơ – Tập 2

 


Trăng Vàng


 


Những Cánh Hoa Thơ – Tập 2


Giác Lượng Tuệ Ðàm Tử


 


Thân bé bỏng nhưng hồn không bé bỏng


Hòa tâm linh trong vũ trụ huy hoàng…


(Tuệ Ðàm Tử)


 


Tuệ Ðàm Tử là bút hiệu của Ðinh Ngọc Thanh, pháp danh Thích Giác Lượng. Sinh quán tại Ðập Ðá, An Nhơn, Bình Ðịnh, Việt Nam.


Trước 1975, thầy là trưởng ban Hoàng Pháp Giáo Hội Ðoàn Trung Phần năm 1970. Là trị sự trưởng Trị Sự Ðoàn GHTGKSVN-Giáo Ðoàn III tại Trung Phần từ 1971 đến khi vượt biên 1980. Thành lập trung tâm sinh hoạt Phật Giáo, Pháp Duyên Tịnh Xá tại San Jose từ năm 1982 đến nay.


Thầy là tác giả của nhiều tác phẩm đã xuất bản như: Cành Hoa Ðạo Lý, Ðất Việt Thơ Người Việt, Ðem Về Nguồn Hạnh Phúc, Những Cánh Hoa Thơ tập 2…


Trăng Vàng xin được giới thiệu đến quý độc giả tập thơ dày của tác giả Tuệ Ðàm Tử. Sách có tựa đề: Những Cánh Hoa Thơ Tập 2 – Giác Lượng Tuệ Ðàm Tử – Nguồn Sống xuất bản.


Ðây là nụ hoa tinh thần rộ nở chào đón thời Thượng Nguơn trao muôn người Phật tử hành “tam tụ lục hòa.”


Sách dày 385 trang, in trên khổ giấy vừa cầm tay, bìa cứng.


Muốn có sách hoặc biết thêm chi tiết, xin liên hệ:


Nhà xuất bản Nguồn Sống


766 South Second St.


San Jose, CA 95112 USA


Tel: 408 295 2436

Chấm dứt cuộc chiến Nam Bắc ở Hoa Kỳ

 


Tháng 4, 1865 tại Appamatox, Virginia


 


* Phan Quang Tuệ


 


LTS – Ai trong chúng ta đều có những trải nghiệm đau đớn trong Tháng Tư 1975 và những tưởng rằng sau khi thống nhất, VN sẽ có một sự hòa hợp để cùng nhau xây dựng đất nước.


Nhưng không, Cộng Sản VN vì đặt ý thức hệ giai cấp lên trên quyền lợi quốc giá, và lợi ích của dân tộc đã có những chính sách gây thêm oán hận như câu “nhà chúng ta chiếm, vợ chúng ta lấy, con chúng ta bắt làm nô lệ”; bằng các biện pháp như học tập cải tạo, công tư hợp doanh, ngăn sông cấm chợ, cải tạo tư sản, công tư hợp doanh, kế hoạch hóa tập trung, bao cấp, phân biệt đối xử, tra cứu lý lịch trong công ăn việc làm, trong giáo dục, khước từ kinh tế thị trường… đã đưa đẩy đất nước đến bên bờ vực sụp đổ. Học giả Nguyễn Hiến Lê viết trong “Hồi ký, những kẻ chiến thắng” đã tạo cái không khí giữa thực dân và dân bị trị; coi dân miền Nam này, coi đồng bào của họ như bọn da trắng coi dân da đen.


Trong khi đó cũng trong Tháng Tư năm 1865 nước Mỹ đã có một cuộc chấm dứt chiến tranh Nam Bắc và sự việc đã diễn tiến khác hẳn ở đất nước VN. Và có lẽ nhờ kết thúc đẹp như vậy, nên Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ mới trở thành một cường quốc, mới là nơi đất lành cho nhiều sắc dân khắp thế giới đến định cư. Dưới đây là bài báo kể lại về ngày lịch sử đó của tác giả Phan Quang Tuệ, hiện là thẩm phán về di trú của San Francisco. Trước 1975 ở VN ông là luật sư, cũng là một sĩ quan trong QLVNCH.


Ngày 9 Tháng Tư, 1865 rơi đúng vào ngày Chủ Nhật, ngày lễ Lá khởi đầu Tuần Thánh đánh dấu ngày Chúa Giê Su vào thành Jerusalem.


Ðêm trước đó, Ðại Tướng Robert Lee thống lãnh quân đội miền Nam cùng Ban Tham Mưu ngừng chân đặt bản doanh bộ chỉ huy trong một cánh rừng gần tòa thị xã Appamatox, thuộc tiểu bang Virginia. Sáu ngày liên tiếp trước đó đạo quân miền Nam đã đi không ngừng nghỉ tiến về phía Tây hướng về dãy núi Blue Ridge nơi mà Tướng Lee từng tuyên bố ông có thể cầm cự chiến đấu ít nhất là 20 năm. Nhưng đêm nay khi Tướng Lee và Bộ Tham Mưu mệt mỏi của ông dừng quân tại Appamatox thì đạo quân miền Nam đang bị quân đội miền Bắc bao vây, lương thực cạn, hy vọng tiếp tế không có, hy vọng tăng viện cũng không. Xa xa tiếng đại bác xé màn đêm dội về. Tất cả hy vọng của Tướng Lee đặt vào một vị tướng trẻ gan dạ, John Gordon, để xuất phát sáng sớm hôm sau tiến quân chọc thủng phòng tuyến bao vây của quân đội miền Bắc.


 


Cách đó không xa, viên sĩ quan phụ tá của Tướng Grant, thống lãnh quân đội miền Bắc, bước vào phòng riêng của Tướng Grant để đánh thức ông dậy. Lúc ấy mới 4 giờ sáng, nhưng căn phòng trống không. Bước ra ngoài người sĩ quan trẻ thấy bóng Tướng Grant đang bước tới lui, hai tay bóp trán, cố gắng làm dịu cơn nhức đầu đang hành hạ. Người sĩ quan hầu cận vội mang đến Tướng Grant một tách cà phê nóng hổi. Tách cà phê dẫu có giúp cơn nhức đầu nhưng không làm giảm bớt mối căng thẳng lo âu của Tướng Grant.


Sau cùng Tướng Grant kéo ghế ngồi, và khởi sự thảo bức thư trả lời thư mới nhận được từ Tướng Robert Lee. “Tôi rất muốn hòa,” Tướng Grant viết, “và mong muốn kết thúc cuộc chiến mà không phải tổn thất thêm một nhân mạng nào nữa. Nhưng cuộc hội kiến do đại tướng đề nghị vào 10 giờ sáng hôm nay không có một lợi ích nào cụ thể và tôi không có thẩm quyền quyết định hòa hay chiến.” Nhưng bức thư của Tướng Grant đã không kịp đến tay Tướng Lee. Tiếng súng đã lại bắt đầu nổ.


5 giờ sáng, sương mù còn bao phủ rặng đồi bên kia Appamatox. Loạt đạn đầu tiên xé màn sương, đánh thức sáng chủ nhật, tiếp theo là tiếng thét tiến quân của quân đội miền nam. Từng đợt tấn công của Tướng Gordon đã đánh bật tuyến phòng thủ đầu của quân miền Bắc, chiếm nhiều cỗ súng đại bác, đánh bạt hai bên mở rộng đường tiến quân, và ào ạt tiến lên đồi. Nhưng từ phía bên kia đồi, quân miền Nam đã đụng phải một bức tường dày đặc, kéo dài hơn 2 dặm, của hai đơn vị bộ binh quân đội miền Bắc. Và ép từ phía sau là hai đơn vị bộ binh quân miền Bắc tiến lên. Quân miền Nam bị dồn vào giữa, tiến không được, lui cũng không xong, và chém vè cũng không được.


Chỉ trong vòng 3 tiếng đồng hồ sau, Tướng Lee được tin khấp báo của Tướng Gordon “Quân sĩ của tôi đã chiến đấu hết mình. Trình đại tướng tôi không làm gì hơn được nữa!” Lập tức Tướng Lee triệu tập Ban Tham Mưu thâu hẹp để quyết định hòa hay chiến. Chuẩn Tướng Alexander, mới 29 tuổi, chỉ huy đơn vị pháo binh, được Tướng Lee tín cẩn, đề nghị một giải pháp thứ ba. Quân đội miền Nam sẽ tan hàng, xé nhỏ biến vào vùng đồi núi, và khởi đầu một cuộc chiến du kích lâu dài hơn. Tướng Alexander bảo đảm ít nhất là 2/3 lực lượng quân miền Nam sẽ thoát được vòng vây.


Tướng Lee ngồi im lặng, cân nhắc. Ông còn đủ lực lượng để kéo dài cuộc chiến. Và quyết định của ông sẽ ảnh hưởng không những đến số phận của quân đội miền Nam, của sĩ quan binh sĩ dưới quyền và gia đình của họ, của cuộc nội chiến Nam Bắc, mà còn cho cả số phận và tương lai của một quốc gia mới thành hình.


“Không,” Tướng Lee cất tiếng, “Tôi và quý vị tướng lãnh không có quyền chỉ nghĩ đến số phận của mình. Chúng ta phải nghĩ đến tiền đồ của quốc gia nói chung. Quý vị có thể kéo vào đồi núi để khởi sự cuộc chiến du kích, nhưng con đường xứng đáng nhất còn lại cho tôi là chấp nhận đầu hàng trước Tướng Grant và hoàn toàn nhận trách nhiệm về những hành vi của tôi.”


Và với lời tuyên bố đó, Tướng Robert Lee, một tướng lãnh được binh sĩ dưới quyền tôn sùng tuyệt đối, đã làm một quyết định có tầm vóc lịch sử.


Tướng Lee nói với các tướng bao quanh: “Giờ đây tôi chẳng còn làm gì hơn là đến trình diện và đầu hàng trước Tướng Grant.”


Và ông chuẩn bị trang phục để lên đường đi gặp Tướng Grant. Ông mặc trang phục đại lễ của một đại tướng, đeo bao tay, lưng thắt một vòng lụa đỏ, hông mang trường kiếm. “Hôm nay ta có thể bị Tướng Grant bắt làm tù binh, ông giải thích với thuộc tướng, và ta muốn xuất hiện một cách trang trọng đúng với quân cách.”


Tin đến từ bản doanh của Tướng Grant cho biết ông đang trên đường đến hội kiến với Tướng Lee và yêu cầu Tướng Lee cho biết giờ và địa điểm hội kiến. Nghĩa là Tướng Grant, người chiến thắng, dành cho Tướng Lee, kẻ chiến bại, ưu tiên chọn thời gian và địa điểm cuộc hẹn để đầu hàng. Lại một quyết định thoạt xem không đáng kể, nhưng có hậu quả lịch sử.


Tướng Lee tức khắc ra lệnh cho sĩ quan tùy viên lên đường tìm ngay một địa điểm thuận tiện. Và trong khi chờ đợi, Tướng Lee đến ngã mình tựa lưng vào một thân cây. Tướng Lee nhắm mắt lại và thiếp đi lúc nào không hay. Ông đã thức giấc từ sớm và gần đến trưa chưa nuốt một tí gì vào bụng.


Nơi được chọn là một căn nhà nhỏ mái ngói thuộc Appamatox, một thị xã hẻo lánh nằm vào phía Nam tiểu bang Virginia. Có độ chừng 20 căn phố, lèo tèo vài cửa hàng nhỏ, một lữ quán và tòa thị xã. Khi mặt trời leo lên cao là lúc Tướng Lee bước vào nơi hẹn tiếp theo một sĩ quan tùy viên và một sĩ quan tham mưu thuộc Bộ Tham Mưu của Tướng Grant. Tướng Lee, uy nghi trong bộ binh phục đại lễ, hông đeo trường kiếm, ngồi xuống cạnh một chiếc bàn gỗ nhỏ. Giờ đây ông đã ngồi ngay trong lòng đất đối phương. Vị tướng lãnh quý phái miền Nam bắt đầu chờ đợi, kiên nhẫn.


Vào khoảng nửa tiếng sau, tiếng giày nện lên sàn gỗ và Tướng Grant bước vào. Khác hẳn với Tướng Lee, Tướng Grant không đeo kiếm, không mặc quân phục, quần và đôi ủng lấm đầy bùn.


Tướng Lee đứng dậy. Hai tướng lãnh đối thủ bắt tay và cùng ngồi xuống cách xa nhau. Khoảng chừng hơn mười sĩ quan tham mưu của Tướng Grant đứng im lặng trong hành lang. Gương mặt của Tướng Lee bất động. Ðể giảm không khí căng thẳng, Tướng Grant mở đầu: “Tướng Lee, tôi đã gặp ngài một lần trước đây khi cả hai chúng ta đến phục vụ trong quân đội tại Mễ Tây Cơ. Tôi vẫn còn nhớ mãi lần gặp ngài đầu tiên.” “Vâng,” Tướng Lee trả lời: “Tôi nhớ có gặp ngài rồi nhưng không thể nhớ rõ hơn.”


Câu chuyện có lúc chậm lại nhưng rồi tiếp tục và trở thành gần như thân mật cho đến lúc Tướng Lee cắt ngang.


“Thưa Tướng Grant tôi mạn phép thưa đại tướng là mục đích cuộc hội kiến giữa chúng ta để xác nhận những điều kiện để đại tướng chấp thuận sự đầu hàng của quân đội của tôi.”


Tướng Grant trả lời, “Ðiều kiện đầu hàng là những điều kiện tôi đã nói rõ trong thư tôi gửi đại tướng ngày hôm qua, nghĩa là tất cả mọi sĩ quan và binh sĩ phải buông súng đầu hàng và tất cả vũ khí, đạn dược, quân trang, quân bị phải được giao nộp như bị tịch thu.”


Tướng Lee gật đầu. Những lời nói của Tướng Grant đã đánh tan nỗi lo sợ trong lòng của Tướng Lee từ chập sáng. Tướng Lee nói, “Vâng, tôi cũng nghĩ rằng đó sẽ là những điều kiện mà đại tướng sẽ ấn định.”


Tướng Grant trả lời, “Vâng, và tôi hy vọng những điều kiện đầu hàng sẽ đưa đến sớm một cuộc ngưng bắn trên tất cả mặt trận và sẽ là phương tiện để khỏi gây thêm bất cứ một tổn thất nhân mạng nào nữa.”


Sau đó, theo lời yêu cầu của Tướng Lee, Tướng Grant đích thân thảo bản văn kiện chính thức đầu hàng của quân đội liên hiệp miền Nam và sau đó tự tay trao cho Tướng Lee xem lại.


Chậm rãi, từ tốn, Tướng Lee rút cặp kiếng đeo mắt, lấy khăn lau kỹ lưỡng, đeo kính lên và chăm chú đọc.


“…Vũ khí, đại bác và các tài sản công phải được liệt kê, sắp xếp và giao nộp cho một viên sĩ quan do tôi chỉ định. Những vũ khí này sẽ không gồm có vũ khí cá nhân của các sĩ quan, cũng như ngựa và tư trang của họ. Sau khi hoàn tất, mọi sĩ quan và binh sĩ sẽ được phép trở về nguyên quán, và sẽ không bị quấy nhiễu bởi các cơ quan cầm quyền chừng nào họ tôn trọng lệnh đầu hàng và tuân theo luật lệ địa phương nơi họ cư ngụ.”


Lần đầu tiên trong buổi hội kiến, gương mặt của Tướng Lee tươi hẳn. Như vậy có nghĩa là sĩ quan và binh sĩ dưới quyền của ông sẽ không bị giam giữ như tù binh chiến tranh. Có nghĩa là họ sẽ không bị đem ra bêu riếu diễn hành hạ nhục trên các đường phố. Có nghĩa là họ sẽ không bị mang ra tòa truy tố về tội phản loạn.


Tướng Lee nói, “Thưa đại tướng, những điều kiện đầu hàng thế này sẽ có ảnh hưởng rất tốt với quân đội của tôi.” Và Tướng Lee nói tiếp, “Nhưng thưa ngài, trong quân đội miền Nam của tôi, ngay cả binh sĩ khi gia nhập cũng mang theo ngựa của họ vào quân đội.”


Tướng Grant nói ông sẽ không thay đổi gì trong văn kiện đầu hàng, nhưng sẽ ra khẩu lệnh cho phép mọi binh sĩ miền Nam được phép mang ngựa và lừa về quê quán để sử dụng trong việc trồng trọt ở các nông trại.


Nhưng Tướng Lee còn thêm một lời yêu cầu nữa. Ông trình bày cho Tướng Grant biết ông còn giam giữ hơn một ngàn tù binh quân đội miền Bắc nhưng không có lương thực cung cấp cho họ và ngay chính quân đội của ông cũng không còn lương thực. Không ngập ngừng, Tướng Grant đề nghị sẽ ra lệnh xuất kho cấp ngay khẩu phần cho hơn 25,000 quân sĩ của quân đội Liên Hiệp Miền Nam. Tướng Grant hỏi, “Như vậy, đủ chưa?”


“Thưa quá đủ, quá đủ, thưa đại tướng.” Tướng Lee trả lời.


Tướng Lee đứng dậy, lần lượt bắt tay các sĩ quan trong Bộ Tham Mưu của Tướng Grant, bắt tay Tướng Grant, nghiêng mình chào tất cả mọi người có mặt và bước ra khỏi căn nhà.


Tướng Lee ngừng chân ở đầu cầu thang. Gương mặt nghiêm trang và buồn bã. Tay cầm bao tay và mũ lông. Ông cảm thấy cô đơn tận cùng. Tướng Lee máy móc đưa tay chào lại những sĩ quan cao cấp quân đội chiến thắng miền Bắc đang rập chân nghiêm chào ông khi ông bắt đầu bước xuống cầu thang. Với một giọng mệt mỏi, gần như thều thào, Tướng Lee ra lệnh sĩ quan hầu cận đem con tuấn mã trung thành, sửa lại thế ngồi, và thúc nhẹ vào hông ngựa.


Lúc ấy Tướng Grant và ban sĩ quan tham mưu đã đứng sẵn ở bao lơn trước căn nhà. Khi ngựa Tướng Lee rảo bước qua, cặp mắt của hai vị tướng quân chạm nhau một giây phút, họ đồng ngả nón chào. Trên bao lơn xung quanh Tướng Grant và suốt trong sân trước căn nhà lịch sử, sĩ quan và binh sĩ miền Bắc đều đưa tay chào kính vị tướng bại trận quân đội Liên Hiệp Miền Nam.


Tin đồn đầu hàng của Tướng Lee tràn lan mau chóng như thuốc súng. Khắp nơi binh sĩ miền Bắc reo mừng. Họ liệng lên không trung mũ nón, giày, bao đạn, áo hay bất cứ gì tung lên được. Họ ôm nhau, hôn nhau. Các súng ống, kể cả đại bác bắt đầu nổ. Thế nhưng Tướng Grant ra lệnh ngưng ngay tức khắc những biểu lộ bày tỏ của binh sĩ miền Bắc. “Rồi sẽ có ngày mừng chiến thắng,” Tướng Grant giải thích, “Nhưng không phải là ngày hôm nay. Quân đội miền Nam đã đầu hàng. Nhưng chúng ta không reo mừng trên chiến bại của họ.” Ðiều quan trọng với Tướng Grant là làm sao thắng trận mà đồng thời giữ được sự toàn vẹn của dân tộc.


4:30 chiều ngày 9 Tháng Tư, 1865, bộ trưởng Bộ Chiến Tranh tại Hoa Thịnh Ðốn nhận được một điện văn ngắn ngủi của Tướng Grant, “Tướng Lee đã buông súng đầu hàng quân đội miền Nam theo những điều kiện do tôi ấn định.”


Cách đó không bao xa, Tướng Lee cỡi ngựa trở về bản doanh của mình. Dọc hai bên đường, binh sĩ miền Nam nghiêm chào vị tướng lãnh mà họ tôn sùng. Nhiều người bật khóc, phủ phục bên đường. Tướng Lee cũng không cầm được nước mắt. Về đến đại bản doanh, trước mặt sĩ quan và binh sĩ đứng chờ, Tướng Lee hướng về họ và nói: “Ta đã cố gắng làm tất cả những gì có thể làm được. Và nay lòng ta nặng trĩu để có thể nói gì hơn.”


Bước đi vài bước, ông dừng lại và thêm: “Các ngươi hãy trở về quê quán. Và nếu các ngươi sống được như những công dân tốt như các ngươi đã từng chiến đấu như các chiến sĩ thì các ngươi sẽ thành công rồi. Và tôi sẽ luôn luôn hãnh diện vì các anh em.” Và Tướng Lee biến mình vào trong lều vải của mình.


Mặt trời bắt đầu ngã mình về phía Tây. Một cơn mưa nhẹ dần dần bao phủ bầu trời.


 


Qua ngày hôm sau, ngày 10 Tháng Tư, 1865, Tướng Lee công bố Quân Lệnh cho toàn quân. Quân Lệnh được gọi là General Orders Number 9 chính thức ra lệnh đầu hàng cho đạo quân Liên Hiệp Miền Nam. Dẫu ngắn ngủi nhưng lời lẽ đanh thép, hùng dũng oai nghiêm, bản Quân Lệnh của Tướng Lee được hậu thế lưu lại như một trong những văn kiện lịch sử được tôn sùng tại miền Nam Hiệp Chủng Quốc.


Nếu điều kiện đầu hàng được hai Tướng Lee và Grant ký kết tại Appamatox ngày 9 Tháng Tư, 1865 thì 3 ngày sau, ngày 12 Tháng Tư mới là ngày quân Liên Hiệp Miền Nam chính thức buông súng đầu hàng.


Tướng Grant ra lệnh tổ chức một lễ đầu hàng chính thức. Lệnh của Tướng Grant là buổi lễ đầu hàng phải thật giản dị. Lễ đầu hàng này đã đi vào lịch sử của cuộc nội chiến Nam Bắc.


Hai đạo quân dàn đôi bên con đường dài nằm dọc theo phía Ðông Appamatox. Phía sau là dải đồi chập chùng với những cánh rừng nhỏ và từng ngọn đồi cỏ rậm rạp. Chỉ huy cánh quân miền Bắc và điều khiển buổi lễ là Tướng Chamberlain, nguyên là một giáo sư đại học, Huy Chương Danh Dự, hai lần bị thương trên chiến trường. Chỉ huy 28,000 sĩ quan và binh sĩ liên hiệp miền Nam là tướng Gordon, một trong những cận tướng can trường của Ðại Tướng Lee, 4 lần bị thương tại mặt trận, một lần bị trúng đạn xuyên qua mặt.


Tướng Chamberlain đã ghi lại trong hồi ký của mình: “Từng đoàn, từng đoàn, họ tiến bước theo nhịp quân hành, ép chặt vào nhau giống như một dòng người đội vương miện màu đỏ ối, giương cao quân kỳ và hiệu kỳ. Ðây là những người mà gian lao, đau khổ, nhọc nhằn, kể cả tử thần không bẻ cong được quyết tâm của họ. Họ đứng thẳng hàng trước mặt đoàn quân chúng tôi, tơi tả, xương xẩu, nhưng hiên ngang, mắt sáng ngời chiến thắng, họ là những hình ảnh sống phản ảnh mối liên hệ thắm thiết chỉ có thể có giữa những đồng đội trên chiến trường.”


Không hề dự định trước, cũng như không hề được chuẩn y trước, Tướng Chamberlain bất thần hô lớn ra lệnh, “Bồng súng chào” cho quân đội miền Bắc. Một tiếng kèn lệnh vang lên, và lập tức toàn thể đoàn quân miền Bắc bồng súng lên vai, tiếng báng súng rập khuôn vang lên.


Phía đối diện, Tướng Gordon thúc nhẹ con tuấn mã khụy hai chân trước xuống, người và ngựa cùng cúi đầu, gươm tuốt trần chúc mũi trong một giáng điệu hùng vĩ tuyệt vời. Cùng lúc, đoàn quân miền Bắc chuyển qua bồng súng nghiêm chào. Họ chào những “anh hùng bại trận,” họ bày tỏ sự kính trọng của những người Hoa Kỳ đối với những người Hoa Kỳ.


Và phía hàng quân miền Bắc tiếp tục giữ đúng thế nghiêm. Không có thêm một tiếng kèn. Không có một tiếng trống. Không có một tiếng hô chiến thắng. Không có một tiếng nói. Không cả một tiếng thầm thì. Mà chỉ còn là một hàng quân im phăng phắc. Mọi nhịp thở như ngừng lại.


Buổi lễ đầu hàng kéo dài 7 tiếng đồng hồ. Gần 28,000 người, trên 100,000 tấn vũ khí, đạn dược, quân kỳ, hiệu kỳ lần lượt bỏ xuống. Từng đơn vị tiến lên, gác súng, tháo bao đạn, và xếp súng xuống. Kế đến họ trìu mến cuốn hay xếp quân kỳ, hiệu kỳ, lắm cái tơi tả và nhuộm máu đã khô và khẽ đặt nhẹ xuống mặt đất.


5 ngày sau khi Tướng Lee đầu hàng, một biến cố xảy ra làm rung động nước Mỹ. Ngày 14 Tháng Tư, 1865, ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, Tổng Thống Abraham Lincoln bị ám sát, bộ trưởng Bộ Nội Vụ bị thảm sát, Phó Tổng Thống Andrew Johnson bị ám sát hụt. Cả nước Mỹ, chưa ra khỏi hoàn toàn cuộc nội chiến, lâm vào vực thẳm một cuộc nội loạn. Nhưng cuộc nội loạn đã không xảy ra. Như một phép lạ mầu nhiệm, nước Mỹ đã vươn mình ra từ cuộc nội chiến, một loại chiến tranh tàn khốc nhất cho đời sống các dân tộc, và từ đó trở thành một cường quốc trên thế giới.

Tin mới cập nhật