Hội H.O. Cứu Trợ TPB&QP/VNCH


Hội H.O. Cứu Trợ TPB&QP/VNCH


(Disabled Veterans and Widows Relief Association)


A Non-Profit Corporation – No. 3141107 EIN: 26-4499492


P.O. Box 25554, Santa Ana, CA 92799


Phone: (714) 539-3545, (714) 371-7967


Email: thuongphebinh_vnchỴyahoo.com; [email protected]


Website: http://www.camonanhtb.com


Chi phiếu xin đề: Hội H.O. Cứu trợ TPB&QPVNCH


 


Hải ngoại không quên tình chiến sĩ


Ðồng hương nhớ mãi nghĩa thương binh


 


Danh sách ân nhân gửi tiền đến hội:


(Tính đến ngày 22 tháng 4, 2012)


 


Jean Hà Trịnh, Garden Grove, CA $100


Tuyết T. Nguyễn & Hương T. Dương, Tacoma, WA $100


Thang Bùi, Bossier City, IA $100


Hung Minh, Westminster, CA $50


John Ðào, Charlotte, NC $20


Bà Nga Nguyễn, Santa Ana, CA $1,200


Gia đình họ Ngô ở CA & VA c/o O. Thương Văn Ngô, Hawthorne, CA $400


ÔB. Phan Lạc Quan c/o Hoàng Anh Lạc Phan, El Monte, El Cajon, CA $100


Ha Minh Hoàng, Irvine, CA $100


Chat Nguyễn, Stokie, IL $110


Huyên Anh T. Phan, Campbell, CA $50


Ðinh Thị Tuyết, San Jose, CA $30


Thuận Dương, Houston, TX $5


Tuan Văn Nguyễn, Arlington, VA $10


Tiền phúng điếu Bà Trần Nhi Khánh nhũ danh Nguyễn Thị Ðức, $1,150


gồm:


– Minh Tâm Flynn, San Diego, CA $500


– Túc Trần, c/o Minh Tâm, San Diego, CA $100


– Bà Quả phụ Vũ Văn Ước c/o Caroline Vương, Santa Ana, CA $30


– Nancy Thước Ðỗ, Fountain Valley, CA $120


– Do Văn Nguyễn, Houston, TX $100


– Khanh Nga Trần, Pomona, CA $100


– Trong V. Nguyễn, Laguna Hill, CA $50


– Hung Trần, Carlsbad, CA $50


– Nu Thị Nguyễn, Santa Ana, CA $50


– Francis Dong Ninh, Westminster, CA $20


– Than Duy Phạm, Irvine, CA $30


(Cô Nga, San Diego, CA)


 


Danh sách mạnh thường quân ủng hộ ÐNH “Cám Ơn Anh” Kỳ V:


 


Lê Ðình Huy, Portland, OR $100


Vị ẩn danh, $50


Nguyễn Thị Túc, $20


Phạm Bích Liên, $20


ÔB. Trương Công Lập, Orange, CA $200


Hội Ðà Nẵng, Orange, CA $200


Hữu Chiến, $30


Hà Văn Duyệt, Seattle, WA $50


Nhóm Thân Hữu #3, Houston, TX $100


Hội Ái Hữu Quảng Ngãi, Westminster, CA $500


Hội Ái Hữu Quảng Nam-Ðà Nẵng, Westminster, CA $200


GÐ Nguyễn Văn Vui, Gardena, CA $50


Hoàng Kim Chi, Stanton, CA $100


Cô Nguyễn Loan, $100


Bà Tô Thị Tu, Kansas, $100


Bà Lê Tuyết Nga, Texas, $50


Bà Quả phụ Trần Văn Trương, CA $60


ÔB. Phan Thanh Miên, CA $200


Các ân nhân ẩn danh , CA $370


Ô. Nguyễn Văn Thư, Montclair, CA $300


Vị ẩn danh, Westminster, CA $200


ÔB. Hổ Chánh Trực, Katy, TX $200


Viên Uy, Westminster, CA $1,500


GÐ Mỹ Tuyên, Tây Ðức, $100


ÔB. San Diego, CA, $100


Út Nhị, San Diego, CA $100


Kim Pharmacy, Rosemead, CA $1,000


Hội Thông Thiên Học, Garden Grove, CA $300


Hà Thúc Trình, Atlanta, GA $50


Nguyễn Ðức Sơn, Úc châu, $47.21


ÔB. David & Wong Jason, $100


Nguyễn Ðức Cửu, Garden Grove, CA $50


Ðặng Cẩm Cúc, $100


Nguyễn Thị Nguyễn, San Jose, CA $50


ÐT Lương Xuân Việt, Fort Campbell, KY $500


Vị ẩn danh, $100


Phan Trọng Thức, $100


Ðặng Nguyên Phả, Santa Ana, CA $100


Thừa Thiên Cleaners, Huntington Beach, CA $100


Nguyễn Văn Kỳ, Garden Grove, CA $50


ÔB. Nguyễn Viên Quảng, Friendswood, TX $150


Ðặng Văn Kiên, Fountain Valley, CA $100


Mai Văn Phải, Los Angeles, CA $100


Nguyễn Văn Ba, Los Angeles, CA $100


Vị ẩn danh, $50


Trần N. Tân, Garden Grove, CA $20


Hi Auto ales, Westminster, CA $1,000


Trường Trung học Lê Văn Duyệt ở Gia Ðịnh, $500


 


Danh sách TPB/VNCH đã được giúp đỡ:


 


Phạm Tấn Hai, Saigon, TS1 BÐQ Sq:128.959. Cụt chân trái.


Nguyễn Văn Chánh, Saigon, CLQ Sq:132.064. Cụt chân trái.


Trần Văn Na, Saigon, B2 CLQ Sq:185.385. Gãy chân phải.


Lê Kim Hải, Saigon, NQ Sq:916.479. Mù mắt phải.


Nguyễn Tất Thắng, Saigon, B1 CLQ Sq:104.559. Bị thương ở sọ.


Nguyễn Văn Thắng, An Giang, HS ÐPQ Sq:257.971. Cụt chân trái. Cụt 2 ngón tay trái.


Nguyễn Văn Năm (5 Trường), Vĩnh Long, B2 TQLC Sq:122.310. Mù mắt trái.


Phan Văn Tân, Saigon, HS1 Sq:213.322. Mù mắt phải.


Lê Ðức Chánh, Saigon, XDNT, Bị thương ở đầu 60%.


Hồ Văn Thọ, Saigon, B2 CLQ Sq:136.356. Cụt chân trái.


Nguyễn Văn Ðức, An Giang, HS ÐPQ Sq:257.965. Gãy chân trái..


Phạm Văn Lê, Vĩnh Long, B1 ÐPQ Sq:602.421. Bị thương ở chân trái.


Thạch Binh, Bạc Liêu, HS1 ÐPQ Sq:184.719. Liệt chân trái.


Nguyễn Văn Sâm, Saigon, HS TQLC Sq:133.981. Mù 2 mắt.


Trương Văn Dương, Long An, HS CLQ Sq:000.406. Cụt chân phải.


Dương Văn Ðức, Bến Tre, HS ÐPQ Sq:646.005. Cụt chân phải.


Nguyễn Văn Tươi, Tiền Giang, B2 ÐPQ Sq:577.300. Cụt chân phải.


Phạm Văn Thiệt, Tiền Giang, B1 ÐPQ Sq:365.541. Cụt chân trái.


Thái Ngọc Gian, Tiền Giang B2 ÐPQ Sq:650.438. Cụt chân trái.


Nguyễn Văn Long, Tiền Giang, TS BÐQ Sq:001.883. MDVV loại 2.


Nguyễn Văn Ðỗ, Tiền Giang, HS ÐPQ Sq:511.755. Cụt chân phải.


Lê Văn Mực (Ðực), Tiền Giang, B1 CLQ Sq:001.300. Cụt chân phải.


Lê Văn Trang, Tiền Giang, HS1 Sq:362.222. Gãy tay phải.


Trần Văn Hướng, Tiền Giang NQ Sq:402.629. Mù mắt phải.


Nguyễn Văn Doan, Tiền Giang, NQ Sq:406.382. Bị thương ở miệng.


Lê Văn Sinh, Tiền Giang, NQ Sq:478.232. Mù mắt trái. Gãy chân phải.


Nguyễn Văn Ngoan, Bến Tre, TS CLQ Sq:000.012. Cụt chân trái.


Trần Văn Phúc, Ðồng Nai, TU Sq:147.858. Bị thương ở lưng, loạn tiêu tiểu.


Nguyễn Văn Xanh, Ðồng Nai, NQ Sq:377.041. Cụt chân trái.


Nguyễn Văn Hóa, Hậu Giang, B1 CLQ Sq:500.544. Liệt tay phải.


Lâm Văn Bảy, Sóc Trăng, NQ Sq:448.683. Cụt chân trái.


Lê Văn Hết, Hậu Giang, NQ Sq:811.022. Cụt chân trái.


Mã Chay, Sóc Trăng, HS ÐPQ Sq:095.834. Mù mắt phải.


Nguyễn Văn Thành, Vĩnh Long, HS1 CLQ Sq:502.980. Gãy tay trái.


Nguyễn Văn Sáu, Vĩnh Long, NQ Sq:423.054. Bị thương ở tay & vai trái.


Nguyễn Văn Tư, Vĩnh Long, NQ Sq:813.302. Cụt tay phải.


Trần Vĩnh Cung, Kiên Giang, HS1 CLQ Sq:107.311. Cụt chân phải.


Nguyễn Văn Chép, Sóc Trăng, NQ Sq:869.667. Cụt chân phải.


Phạm Duy Lễ, Ðồng Tháp, HS ÐPQ Sq:566.579. Cụt chân trái.


Lê Văn Tân, Ðồng Tháp, CLQ Sq:134.481. Cụt chân phải.


Huỳnh Hữu Thanh, Bạc Liêu, HS ÐPQ Sq:618.589. Cụt chân phải.


Trần Công Nhơn, Vĩnh Long, CLQ Sq:313.006. Cụt chân trái.


Nguyễn Văn Năm, Vĩnh Long, HS ÐPQ Sq:486.446. Cụt chân trái.


Nguyễn Hùng Nhựt, Cần Thơ, HS ÐPQ Sq:508.977. Cụt chân trái.


 


Danh sách QP/VNCH đã được giúp đỡ:


 


Nguyễn Thị Kim Hồng, Ninh Thuận, Quả phụ Cố HS Trần Mân. Tử trận năm 1965.


Nguyễn Nguyễn Sang, Ninh Thuận, Quả phụ Cố B2 Trần Khai. Mất tích năm 1972.


Huỳnh Thị Cành, Ninh Thuận, Quả phụ Cố B1 Phạm Nhi. Tử thương năm 1969.


Nguyễn Thị Phụng, Ninh Thuận, Tổ phụ Cố B2 Lê Tấn THiền. Tử trận năm 1972.


Trần Thị Nga, Ninh Thuận, Quả phụ Cố TS Huỳnh Hữu Phước. Tử thương năm 1970.


Nguyễn Thị Châm, Bà Rịa-Vũng Tàu, Quả phụ Cố ChU Nguyễn Ngọc Hữu, Tử trận năm 19??


Ngô Thị Thuận, Ninh Thuận, Quả phụ Cố B1 Nguyễn Quý. Tử trận năm 1968.


Võ Thị Ðơ, Bình Thuận, Quả phụ Cố B2 Phan Hưng. Tử trận năm 19??


Lê Thị Nhi, Quảng Nam, Quả phụ Cố B2 Nguyễn Tấn Vinh. Tử trận năm 1964.


Dương Thị Ba, Cần Thơ, Quả phụ Cố throughout ÐPQ Nguyễn Văn Chư. Tử trận năm 1974.


Nguyễn Thị Hà, Ninh Thuận, Quả phụ Cố CSQG Nguyễn Văn Rỗi. Tử trận năm 1974.


Nguyễn Thị Lài, Khánh Hòa, Quả phụ Cố TPB Nguyễn Ngân. Mất năm 1970.


Nguyễn Thị Trọn, Bà Rịa-Vũng Tàu, Quả phụ Cố TS1 Ngô Ðình Phan. Tử trận năm 1971.


Nguyễn Thị Thanh, Khánh Hòa, Quả phụ Cố TPB CLQ Lê Bao. Mất sau năm 1975.


Trần Thị Nhỏ, Khánh Hòa, Quả phụ Cố TrU ÐPQ Ðặng Văn Lâm. Tử trận năm 1974.


Nguyễn Thị Sáu, Khánh Hòa, Quả phụ Cố TS1 Phan Minh. Tử trận năm 1972.


Buiợ Thị Chanh, Ðồng Nai, Quả phụ Cố NQ Phạm Văn Thẻo. Tử trận năm 1969.


Trương Thị Ðẹp, An Giang, Quả phụ Cố B1 Trương Phú Cường, Mất năm 1972.


Âu Thị Nhiệm, Ðồng Nai, Quả phụ Cố HS Ngô Văn Công. Tử trận năm 1972.


Trần Thị Hữu, Tiền Giang, Quả phụ Cố Lê Văn tánh. Tử trận năm 1970.


Nguyễn Thị Nhan, Vĩnh Long, Quả phụ Cố HS Nguyễn Văn Tám. Tử trận năm 1972.


Lý Thị Châu, Tây Ninh, Quả phụ Cố TS1 Huỳnh Minh. Tử trận năm 1972.


Lê Thị Mai, Bình Thuận, Quả phụ Cố B2 Nguyễn Văn Ngôn. Mất năm 1970.


Nguyễn Thị Thu, Hậu Giang, Quả phụ Cố HS1 Nguyễn Văn Tài. Tử trận năm 1972.


Lê Thị Mum, Tiền Giang, Quả phụ Cố NQ Lê Công Giư. Tử trận năm 1971.


Bùi Thị Ngọc Dung, An Giang, Quả phụ Cố TS Ðỗ Thanh Vân. Tử trận năm 1972.


Nguyễn Thị Xuân Yến, Saigon, Quả phụ Cố Nhảy Dù Ðoàn Kiêm.


Võ Thị Tám, Hậu Giang, Quả phụ Cố NQ Phan Văn Siêu. Tử trận năm 1966.


Nguyễn Thị Ba, Saigon, Quả phụ Cố B2 Dương Văn Diệp. Tử trận năm 1975.


Trần Thị Chương, Bình Thuận, Quả phụ Cố ThT Trương Tiến Hoạt. Mất năm 1965.


Nguyễn Thị Liên, Bình Thuận, Quả phụ Cố TS1 Cao Ðăng. Tử trận năm 1972.


Lê Thị Cúc, Vĩnh Long, Quả phụ Cố B1 Phan Văn Nghét. Tử trận năm 1970.


Nguyễn Thị Ngọc Hường, Saigon, Quả phụ Cố TrT Lê Ðình Thạch. Mất sau năm 1975.


Phạm Thị Liễu, Ðồng Tháp, Quả phụ Cố B1 Nguyễn Thanh Lê. Tử trận năm 1967.


Trương Thị Ngời, Tiền Giang, Quả phụ Cố ÐU Trương Tấn Trinh. Tử trận năm 1965.


Võ Thị Rê, Tây Ninh, Quả phụ Cố CLQ Võ Tấn Hưng. Tử trận năm 1971.


Ðặng Thị Nam, Vĩnh Long, Quả phụ Cố TS1 Nguyễn Văn Ðành. Tử trận năm 1969.


Phạm Thị Bốn, Ninh Thuận, Quả phụ Cố TS Huỳnh Tài. Mất tích năm 1972.


Huỳnh Thị Thắng, Cần Thơ, Quả phụ Cố HS1 Phan Công Năng.


Mã Thị Thanh Hồng, Cần Thơ, Quả phụ Cố ÐU Nguyễn Văn Quang. Mất năm 1990.


Ngô Thị Huệ, Ðồng Nai, Quả phụ Cố ThS Ngô Văn Kỳ. Tử trận năm 1972.


Nguyễn Thị Cảnh, Ðồng Nai, Quả phụ Cố HS1 Lê Thiệu. Tử nạn năm 1967.


Ngô Thị My, Bình Thuận, Quả phụ Cố HS1 Ngô Văn Thích. Tử nạn năm 1971.


Nguyễn Thị Xưa, Saigon, Quả phụ Cố HS1 Ðoàn Văn Na. Tử trận năm 1971.

Không quên thân phận người thương phế binh VNCH

 


Tháng Tư Ðen Quốc Hận


Không quên thân phận người thương phế binh VNCH


 


Mường Giang


 


Còn nhớ lại những ngày Tháng Tư của ba mươi bảy năm về trước (30 tháng 4, 1975), không biết sao mà năm đó trời bỗng đổ mưa thật sớm và lớn hơn bao giờ hết.


  Mưa làm ngập những chiếc hố tránh đạn và giao thông hào của những người lính trận, tại các chiến trường máu lệ Phước Long, Phan Rang, Phan Thiết, Long Khánh, Hậu Nghĩa, Long An, Phước Tuy, Biên Hòa và Sài Gòn.


Trong cơn mưa nước mắt năm ấy, có máu, thây người và xác của những cánh hoa học trò, làm nhuộm hồng áo người lính và đồng bào chiến nạn, chạy theo cơn mưa, mịt mù đạn pháo.


 


“Bồ Ðào mỹ tửu, dạ quang bôi


dục ẩm tỳ bà, mã thượng thôi


túy ngọa sa trường, quân mạc vấn?


cổ lai chinh chiến, kỹ nhân hồi”


 


Bốn câu thơ cổ trong bài “Lương Châu Từ” của Vương Hàn (687-726) đã nói lên thân phận của người lính chiến, sống và chết không có biên giới, nên mấy ai dám nghĩ tới chuyện trở về? Và giọt mưa nào đây vừa lăn trên má, đã khiến cho người lính già bồi hồi nhớ lại, một thời chinh chiến củ, những căn hầm tránh pháo ngập mưa, những nấm đất đào đấp vội vàng, để vùi bạn vừa ngã gục và những thương binh rên xiết, đang chờ cấp cứu.


Tất cả đã thành cổ tích. Giờ chỉ còn biết ngồi… đây mà nhớ lại những ngày xa cũ. Chúng ta, tất cả đều là những người VN tội nghiệp, trót đầu thai lộn trong thế kỷ này, nên đã cùng nối vai lần lượt bước lên những giàn lửa đỏ. Cuối cùng, kẻ chết thì bị dầy mồ, tan xác, còn người sống, nếu không sống kiếp mây chiều lang thang, thì cũng lết lê phận bèo trong vùng giặc chiếm, để gục đầu thương hận, mà khóc cho quê hương vì đâu máu xương chất ngất, vì đâu mà kiếp sống của con người, tới nay vẫn không bằng cây cỏ bên đường.


Tất cả chỉ còn là kỷ niệm trong nhớ, vào những ngày đầu đời mẹ bỏ con trong gánh dầm mưa chạy loạn, giữa tiếng bom đạn, máy bay gầm thét, của Việt Minh và Pháp. Tóm lại, chúng ta đều ra đời và trưởng thành trong tiếng súng, cùng với bom đạn làm rách vỡ da thịt của quê hương. Rồi cũng vì người, vì “tang bồng hồ thỉ,” nam nhi trái, mà dốc ngược cả tuổi trẻ, đời trai, vào cốc men đắng cay, uống cạn hạnh phúc của chính mình.


Ðất nước hai mươi năm chinh chiến, hai mươi năm dài hờn hận, đã dày vò người lính miền Nam, trong mưa bom đạn xéo não nùng. Rốt cục những người nằm xuống, những kẻ ra đi hay ở lại chịu cảnh ngục tù khổ sai của VC, ai nấy cũng đã trả xong cái nợ “da ngựa bọc thây,” tủi nhìn từng trang lịch sử của nước nhà, bị giặc thù bôi nhọ và khép kín.


Trưa 30 tháng 4, 1975 Sài Gòn thất thủ, miền Nam VN từ bên này cầu Hiền Lương trên sông Bến Hải, chạy ngang vĩ tuyến 17 tới mũi Cà Mau, đã chính thức thuộc về lãnh thổ Xã Hội Chủ Nghĩa đệ tam quốc tế cộng sản, có tổng đài ở tận Nga Xô Viết. Cũng từ giơ phút đó, khi mà chiếc mặt nạ hòa bình của người cọng sản đã cởi, để lộ những khuôn mặt thật của các thây ma vô hồn, lạnh băng và hung hiểm, thì cũng là lúc, đồng bào mới sực tỉnh và thương tiếc người lính VNCH. Nhưng than ôi tất cả đã muộn rồi, họ đã ngã gục không phải tại chiến trường vì đạn pháo của VC, mà ngay trên hè phố Huế, Ðà Nẳng, Phan Thiết, Sài Gòn… bởi chính những viên đạn ích kỷ, hám danh, những miệng lưỡi ngòi bút, của chính phe mình.


Ai chẳng một lần về với đất? khác chăng là sớm hay muộn, vinh với nhục và sống chết sao cho ý nghĩa của một kiếp người. Chỉ tội nhất là những người lính chưa chết nhưng coi như đã chết vì thương tật chiến trận và những vết thương lòng. Họ không chết mà chỉ bị thương nặng và tất cả đã gởi lại chiến trường một phần thịt da của mẹ, ở Khánh Dương, Tháp Chàm, Phan Thiết, Xuân Lộc… và ngay tại Sài Gòn, vào lúc mà cây cột đèn cũng muốn chạy, để khỏi bị VC giết chết. Họ ở lại làm vật hy sinh cản xe tăng, hứng đại pháo của giặc thù, để kiếm thêm một chút thời gian, một bầu trời an toàn, một dòng sông lặng sóng, giúp cho mọi người từ dân tới lính, bình yên di tản.


Nay thì từ quan tới lính, ai cũng kiếm cách đi khỏi quê nhà, bỏ lại những bóng ma của quá khứ và những người thương phế binh sống sót, tủi hờn, đang lê lết phận bèo khắp đầu đường xó chợ. Thời gian có thay đổi, lịch sử cũng sang trang nhưng thân phận của người thương binh và gia đình của họ, chẳng có gì mới lạ, vẫn lấy nước mắt làm mưa rửa mặt hằng ngày. Buổi trước, khi VC tràn vào, họ bị bỏ lại ở những quân y viện, làng phế binh, không còn đại bàng, đồng đội và hậu phương. Bây giờ thì dần hồi chết đói, chết nhục trong thiên đàng xã nghĩa, trước sự xa hoa thừa mứa của VC, Việt gian và Việt kiều muôn phương, vinh quy bái tổ, áo gấm về làng, mà trong dòng người đổi đời này, không làm sao mà đếm hết, những cấp chỉ huy và đồng đội cũ.


“Có làm lính mới cảm thông cho kiếp lính nghiệt ngã đoạn trường. Có làm dân thời ly loạn mới biết được thế nào là mạng sống của con người, giữa bom đạn vô tình, héo úa còn thua cây cỏ. Có là người thương phế binh sau khi xuất viện, bỏ lại một phần cơ thể, mới thật tội nghiệp cho tuổi trẻ bạc phước vô phần. Thê thiết tận cùng là đời của người lính về chiều lại còn mang thương tật. Hỡi ôi những mảnh đời cùng khốn ấy rồi sẽ đi về đâu, trong cảnh mưa gió phũ phàng của cuộc đời?”


 


“ngày xưa, là lính vì đời chiến đấu


là cầu đem người sang sông


hôm nay làm ma cô đơn, gục chết bên vệ đường…”


 


1. Thân phận người lính VNCH:


 


Ðọc Congressional Record, một trong những tài liệu tuyệt mật của Tòa Bạch Ốc vừa được công bố, đã làm cho những lính già của VNCH phải cười ra nước mắt và thương xót cho những đồng đội, đồng bào suốt hai mươi năm qua, vì chiến đấu chống sự xâm lăng của Bắc Việt, mà chết oan hay bị mang thương tật do đạn bom và bàn tay VC gây ra. Những luật lệ kỳ quái như cấm lính Mỹ không được bắn VC, trừ phi chúng tấn công trước. Không lực Mỹ không được giội bom vào xe của VC khi chúng ở cách đường mòn Trường Sơn 200m. Phi cơ Mỹ không được tấn công phi cơ Mig nếu chúng không gây hấn, không giội bom các phi cơ VC đậu yên tại phi trường. Cuối cùng, nghiêm cấm quân Mỹ truy đuổi VC, khi chúng chạy sang Lào và Kampuchia…


Chính phủ Hoa Thịnh Ðốn, chẳng những cấm Quân Lực Mỹ, Ðồng Minh, VNCH không được thẳng tay tiêu diệt kẻ thù, mà còn báo trước những bí mật quân sự, quốc phòng cho VC biết trước, qua những lần oanh tạc tại miền Bắc, trên đường mòn HCM, hành quân Lam Sơn 719.. Ðó là tất cả những sự kiện lịch sử có thật, được Thứ Trưởng QP Mỹ Phil Golding thời TT Johnson, trả lời thắc mắc của hàng ngàn gia đình tử sĩ Hoa Kỳ: “Chúng ta đang tham gia vào một cuộc chiến giới hạn, với những mục tiêu hạn chế. Nói chung đây là một cuộc chiến vì chính trị, nên không thể tiêu diệt VC được.”


Do sự phản ứng càng lúc càng đông của người Mỹ, trước cái gọi là “đánh không cần thắng,” nên dân chúng đã xuống đường, đả đảo mà báo chí thời đó gọi là do phản chiến giựt dây. Thật sự, người Mỹ đã quá chán ngấy cái trò đem con bỏ chợ, đem trứng cho ác, dai dẳng từ thời Kennedy, Johnson, kế đó là Nixon, nên đã giận dữ đòi Hoa Thịnh Ðốn “Hãy cút khỏi VN ngay, hãy chấm dứt cái trò chiến tranh nướng thịt dai dẳng vô ích này.”


Tóm lại, qua cuộc chiến VN do đầu óc con buôn, người Mỹ đã đánh mất tất cả mọi ý thức về trách nhiệm và danh dự, làm tiêu tốn hơn 150 tỷ Mỹ kim tiền đóng thuế của dân chúng, hại cho 55,000 chiến sĩ bị chết oan và hơn 300,000 quân nhân các cấp bị thương tật. Trong khi đó, người lính VNCH, dù là một quân đội bất hạnh nhất thế giới, theo báo cáo của MACV, Command History hay Dwight Owen, một cố vấn Mỹ tại VN, thì đối với các quân nhân VNCH, “chỉ có chết, tàn phế hay đào ngũ,” mới mong giải thoát được cái thân phận bọt bèo của người lính chiến trong thời loạn lạc.


Ngoài ra tài liệu cũng có nói tới việc lính Nam VN đào ngũ, nhưng không phải họ đầu hàng VC, mà trở về quê nhà gia nhập lực lượng DPQ+NQ, để được chiến đấu bên cạnh vợ con, gia đình. Sau rốt tính đến đầu năm 1975, QLVNCH đã có 231,508 tử sĩ và 95,371 phế binh. Thương tủi nhất, là những ngày tháng sau đó cho tới khi Nam VN sụp đổ vào ngày 30 tháng 4, 1975, đã có hằng vạn dân lính vô tội gục ngã trên chiến trường và khắp các nẻo đường chạy loạn. Nhiều tử sĩ cũng như thương binh đã bỏ thây, bỏ xác tại chỗ, vì đồng đội không thể làm gì hơn giữa chốn loạn quân. Chính binh chủng Nhảy Dù từ ngày thành lập cho tới khi tan hàng, cũng đã phải nuốt lệ, bỏ lại xác đồng đội tại Mặt Trận Xuân Lộc tháng 4,1975, như Phạm Huấná đã viết, khi được lệnh rút quân bất ngờ trong đêm mịt mù lửa đạn…


Trước sự sụp đổ nhanh chóng và vô lý của Nam VN không phải tại chiến trường, mà ngay ở các thành phố lớn Ba Lê, Hoa Thịnh Ðón, New York, Luân Ðôn, La Mã, Huế-Ðà Nẵng và Sài Gòn, khiến cho nhiều trí thức ngoại quốc đã phẫn nộ và bày tỏ thái độ khinh miệt, đối với một số người trong cũng như ngoài nước, một thời lợi dụng tự do, dân chủ và nghề nghiệp, để bẻ cong ngòi bút, xuyên tạc sự thật, phỉ báng đồng bào và quân đội Nam VN với mục đích đầu độc dư luận thế giới, giúp Bắc Việt cưỡng chiếm VNCH. Ðề tài quen thuộc, được một số báo chí Hoa Kỳ và Tây phương viết lách, đem lên truyền thanh truyền hình, đó là người lính VNCH hèn nhát không chịu chiến đấu nên bị mất tự do và người Mỹ khinh miệt.


Hai câu hỏi trên cách đây vài chục năm được bịa chuyện là có, nhưng bây giờ sự thật đã xác nhận “Không.” Hoa Kỳ khi tới chiến đấu tại Nam VN, có đủ phương tiện tinh thần cũng như vật chất, vẫn nhiều lần bị thương vong, bại nhục… vẫn không thiếu những binh sĩ đào ngũ, bỏ chạy khi trận địa hỗn loạn, vẫn có tham nhũng và chính cựu TT Bill Clinton, vì hèn nhát nên đã trốn quân dịch pháp định. QLVNCH chỉ mới thành lập, được coi là một quân đội nghèo nhất trên thế giới, lại bị chiến đấu trong một cuộc chiến không có giới hạn chiến trường, hậu phương, bạn địch.


Thế nhưng những người lính nghèo đó, mà lương năm cộng với tiền tử tuất, phế tật, không bằng một cuốc rượu của những ca ve, me Mỹ… vậy mà họ vẫn một đời đem máu đào xương trắng, phụng sự chính nghĩa, bảo vệ màu cờ, sắc áo và từng sinh mạng cũng như tất đất của quê hương. QLVNCH là sinh mạng của muôn người, nên khi thiếu vắng hay không còn họ, mạng người Nam VN lá rụng, đã gục ngã tại Mậu Thân Huế-Sài Gòn, trên các đại lộ kinh hoàng quốc lộ 1, Kontum, An Lộc mùa hè đổ máu và sau rốt là cùng nhau chết tập thể vào ngày 30 tháng 4, 1975. Nhưá sử gia Edwardá S.Creasy viết trong tác phẩm nổi tiếng “Fifteen Decisive Battle Of The World” năm 1851 “Tầm quan trọng của một cuộc chiến, là những gì ta có hôm nay, đối với người thắng cũng như kẻ bại.” Những gì đã xảy ra tại Nam VN, sau 37 năm bị cộng sản cưỡng chiếm, đã đủ trả lời về tấn thảm kịch của VN, mà lần nữa Robert S.McNamara cựu bộ trưởng QP thời TT Kenedy, đã giải thích một chiều trong hồi ký của mình “In Retrospect-The Tragedy and Lesson of VN.”


Nhưng không phải tất cả người Mỹ đều mù quáng và tin tưởng vào truyền thông báo chí lúc đó. Chính những giờ phút cuối cùng, nhìn cảnh đời bi thảm của phận lính bọt bèo Nam VN trên màn ảnh, tờ The New York Times Service, đã thay thế ngườiá nhược tiểu, giận dữ tố cáo chính quyền Mỹ là hèn nhát, bỏ đồng minh tháo chạy về nước trước sự tấn cộng của VC. Họ cũng nêu đích danh Henry Kissinger là kẻ bán đứng VNCH cho VC khi bắt ép họ ký vào bản hiệp ước giả mạo 1973, sau đó tàn nhẫn cúp viện trợ, phủi tay đứng nhìn miền Nam sụp đổ.


Không có gì tồn tại với thời gian trừ chân lý. Vì vậy những câu chuyện hề của Henry Winston chủ tịch đảng cộng sản Mỹ, đem diễn tại Hà Nộiá vào tháng 5, 1975, hay lời tuyên bố vung vít của Nguyễn Hữu Thọ, chủ tịch bù nhìn của Mặt Trận Ma giải phóng, tại Mạc Tư Khoa, ngay khi Sài Gòn thất thủ: “Cám ơn báo chí và ký giả Tây phương, đã góp phần lớn cho chiến thắng của Hà Nội, trong số này đáng kể là người Mỹ.”


Ðây là tất cả sự thật, vừa được một cựu chiến binh Không Quân Hoa Kỳ là Harry H.Noyes, thay mặt những người lính VNCH, qua tác phẩm “Heroic Allies “nói lên vinh quang và sự hãnh diện của một quân lực, từ lâu đã bị bọn trí thức vô liêm sỉ, tước đoạt một cách hèn hạ, bất nhơn và vô nhân đạo. Sự tuyên truyền lố lăng và cuồng ngạo của Hà Nôi cùng những mặt mo bưng bợ, làm cho thiên hạ năm châu chán ghét, sau khi cái thây ma VNCH chỉ còn trơ lại bộ xương gầy đét, không còn gì để cho Huỳnh Liên, Ngô Bá Thành, Huỳnh Tấn Mẫm, Chân Tín và một số quạ đen, diều hâu, bu tới rỉa rói như lúc chợ còn đông khứa.


Trong tài liệu đặc biệt “How Media Bias Distorts Our View of the World” của ký giả Allan Brownnfiels, nói rằng vì hầu hết giới truyền thông Tây phương, quá mù quáng, ca tụng một chiều về Mao Trạch Ðông và Fidel Castro, trong lúc thẳng tay sỉ nhục bôi lọ Tưởng Giới Thạch và chính phủ CuBa lúc đó, tuy vô tình nhưng đã làm cho cộng sản tại hai nước này chiến thắng mau lẹ. Bài học của lịch sử sau đó lại tái diễn ở Nam VN. Lần này do chính những thành phần được ưu tiên trạng trọng trong xã hộiá lúc đó, là những công tử tiểu thu đài cát của giới địa chủ, địa hào, thương gia, chủ vựa nước mắm, nhờ cha mẹ tổ tiên theo thực dân Pháp bóc lột đồng bào, nên có tiền, có thế, cho con trai, con gái qua Pháp, Mỹ du học thành luật sư, bác sĩ, giáo sư, những thành phần mà Hồ Chí Minh và đảng VC ở miền Bắc, chém giết và khinh bỉ tận tuyệt, sau khi được làm chủ nửa miền đất nước vào năm 1954.


Nhờ cái mặt nạ trí thức và sự tự do quá trớn của Nam VN, những thành phần ăn chén đá bát này, luôn bẻ cong ngòi bút, làm cho thế giới tự do lầm lạc, nghĩá rằng giặc Cộng tại Nam VN là những người bình thường, yêu nước, nên nỗi dậy chống lại sự độc tài tham nhũng của chế độ. Tóm lại nhờ những trí thức này, mà VC nằm vùng sau ngày tập kết 1954, VC chính thống từ miền Bắc xâm nhập, kể cả Tàu Cộng, Liên Xô, Cu Ba, Ðông Âu…trong bộ đội Hà Nội đang chiến đấu tại Nam VN, đều không có dính líu tới Hồ và cộng sản đệ tam quốc tế. Sự độc ác trên, nhờ tuyên truyền ngay ở miền Nam và các mạng lưới quốc tế, khiến cho cuộc chiến chống xâm lăng cộng sản, của người Việt Quốc Gia Nam VN, mất đi cái ý nghĩa chính thống, làm cho Hoa Kỳ cũng gặp nhiều khó khăn khi sang chiến đấu bảo vệ tiền đồn chống cộng ở Ðông Nam Á. Rốt cục, cả Mỹ lẫn Việt đều đại bại trước mặt trận thông tin ca ngợi VC, của báo chí, truyền thông ngoại quốc và ngay trong nước.


Từ năm 1965, Hoa Kỳ bắt đầu đổ quân dồn dập vào Nam VN, cũng là thời kỳ lửa máu ở hậu phương. Ðây cũng là dịp ăn nên làm ra của những thông tín viên, ký giả ngoại quốc, qua những bài tường thuật có kèm hình ảnh, không phải để phổ biến những sự thật, mà chỉ để tuyên truyền một chiều, nhằm bôi lọ những quân đội đang trực diện với cọng sản Bắc Việt, trên chiến trường Nam VN. Có thể nói bài phóng sự chiến trường đầu tiên, của thông tín viên đài CBS tên Morley Safer, viết về cuộc hành quân của một đơn vị TQLC Mỹ tạiá một làng xôi đậu, đã trở thành những mẫu thông tin “ăn khách,” theo đơn đặt hàng của thị trường Mỹ và Tây phương lúc đó. Cũng nhờ báo chíá phản tuyên truyền, Tết Mậu Thân 1968 VC chết thảm khắp nơi, đã thành chiến thắng chiếm được ngay cả Tòa Ðại Sứ Mỹ ở Sài Gòn. Tàn nhẫn và đáng khinh tởm nhất, là báo chí Tây Phương, trong suốt cuộc chiến Nam VN, đã không hề một chữ tường thuật những hành vi khủng bố, giết người tàn bảo của VC trong trận Mậu Thân 1968 tại Huế, năm 1972 và những ngày di tản máu lửa hận hờn.


Người lính VNCH vừa đánh giặc phương Bắc, vừa chống đỡ búa rìu truyền thông báo chí trong nước cũng như phong trào phản chiến tại Mỹ và tây phương, được liên kết bởi trí thức, sách báo và tuyên truyền. Ðó cũng là lý do đưa đến sự sụp đổ tất yếu của một dân tộc hiền hòa, lễ nghĩa nhưng bất hạnh vì mang thân phận nhược tiểu.


 


2. Thương quá người Phế Binh VN


 


Tất cả hình như chỉ còn có kỷ niệm sau cuộc đổi đời. Là định mệnh mà chúng ta, những kiếp trai thời loạn phải gánh chịu, theo vòng đời nổi trôi của dòng sông lịch sử, dù vô lý, dù hờn căm, dù bất công thương hận.á


Mất nước nhà tan, nguời lính sống sót sau cuộc chiến, rã ngũ tan hàng đầu sông cuối bể, tha phương thì dần chết trong men đời cay đắng, còn tù ngục chịu cảnh nhục hờn. Nhưng tất cả giờ cũng đả đi hết rồi, chỉ còn ở đây là những thương phế binh xa cũ, những hồn ma cô quạnh, sống với quá khứ liệt oanh, qua những vết thương đời không hề hối hận:


 


“Di tản khó, sâu dòi lúc nhúc


trong vết thương người bạn nín rên


người chết mấy ngày không lấy xác


thây sình mặt nát, lạch mương tanh…”


(Tô Thuỳ Yên)


 


Ta thán phục, ta hãnh diện biết bao, khi đọc được những trang sử cũ. Sẽ vui cười hớn hở cùng với tiền nhân qua những lần bình Chiêm, phá Bắc, đuổi giặc Mông trên sông Bạch Ðằng, đốt tàu Pháp tại Vàm Nhật Tảo. Không biết những trang quân vương dũng tướng thời xưa, hành sử thế nào mà muôn người như một, khiến cho người trong nước, già trẻ lớn bé, đều nguyện một lòng giết giặc cứu nước tại HộiáNghị Diên Hồng. Sau này mới vở lẽ, thì ra đó là tinh thần trách nhiệm, cũng như bổn phân của kẽ sỉ thời tao loạn. Hay đúng hơn, đó là đức tính cao quí của thanh niên-sĩ phu, dù họ chỉ là những người bình dân ít học.


 


“Tôi không là tôi nữa,


từ khi được xuất ngũ


có quạ đen đậu trên đấu


có bao nhiêu đợi chờ đau khổ…”


 


Thanh niên VN thời nào cũng vậy, tất cả đều đặt trách nhiệm làm trai trên hết, nên chúng ta ngày nay mới còn có đất nước, để mà vui sướng, đau khổ. Hỡi ơi, có làm lính mới hiểu phận bèo của lính, có là thương phế binh sau khi được xuât ngủ, mới thấm thía được nỗi buồn của một kẻ tàn tật, mất tất cả, ngoài người mẹ già từ quê xa, đang đợi con trở về. Thê thiết quá cũng như đau đớn tột cùng, kiếp lính chiều tàn là thế. Sự thật là vậy, có khi còn đau đớn trăm chiều. Ai đã tùng thấy chưa,ácảnh vợ lính hay người yêu, chỉ một lần vào thăm người thân nơi quân y viện, rồi chẳng bao giờ quay lại, ngoài những giọt lệ cá sấu, vô tình còn vương vãi đó đây. Ai có một lần ngược xuôi trên các nẻo đường thiên lý, tình cờ hội ngộ những chàng trai tàn tật còn rất trẻ, những người mù, què, mặt mày in đầy thương-sẹo bởi đạn bom, đang lần mò ngửa tay chờ bố thí của mọi người. Họ là lính chiến của một thời oanh liệt, là thương phế binh QLVNCH đó, họ đau khổ mang thương tật không phải do bẩm sinh, mà vì đời, vì người gánh chịu.


Làm người bình thường, sống trong thời loạn, đã phải khốn khổ vì miếng cơm manh áo, huống chiá phận lính nghèo, lãnh đồng lương chết đói, vậy mà còn bị trí thức nguyền rủa, là lính đánh thuê cho Mỹ…


 


“Giọt mưa trên lá, nước mắtá mặn mà


thiếu nữ mừng vì tan chiến tranh chồng về


mẹ lần mò, ra trước ao, nắm áo ngườiáxưa, ngỡ trong giấc mơ


tiếc rằng ta, đôi mắt đã lòa vì quá đợi chờ…”


(Phạm Duy)


 


Nhưng chiến tranh chứa dứt và vẫn còn khốc liệt, nhưng người xưa nay đã thành tàn phế, vô dụng, lê lết đời tan xuân héo, lần mò trở về làng xưa, với những kẻ thân yêu, mong chút tình thân đùm bọc.


Ai có cảm thông chăng người lính mù trẻ tuổi vì đạn B40, lần mò trên chiếc xe lăn, quanh bến phà, bến xe, miệng hát tay đờn kiếm sống? Có thương không những người lính trận, bán thân bất toại, lê lết khắp các nẻo đường phố thị, để bán vé số, sách báo, đắp đổi qua ngày. Và còn nữa, còn trăm ngàn thảm kịch của tuổi thanh niên thời loạn, chân gỗ tay nạng, mắt mũi vàng khè, khô nám, luôn đau đớn bởi những hậu chứng, sau khi giải phẫu. Nhưng họ vẫn lao động để sinh tồn, đi biển, làm nông, lết lê trên ruộng trên sóng, đội nắng tấm mưa. Kiếp sống phận bèo của người phế binh là thế đó, nên phải chiếm đất cắm dùi, cũng là chuyện bình thường.


Hai mươi năm chinh chiến, dù có gọi bằng một thứ danh từ gì chăng nửa, thì xác của nam nữ thanh niên hai miền đất nước, cũng đã chất cao như núi, máu chảy thành sông. Rốt cụcá chỉ có cái vỏ độc lập, hòa bình, tự do, thống nhất. Người cả nước đói vẫn đói và đời sống càng bị tù hãm tứ phiá, bởi cổ được mang nhiều thứ gông, cả tư bản và đảng CS cầm quyền.


Nhưng thê thiết nhất vẫn là những người phế binh VNCH. Ngày xưa lúc chế độ cũ còn, được nói, được hưởng đủ thứ quyền lợi… thế nhưng họ vẫn sống bèo bọt, cực nghèo. 30 tháng 4, 975, VC vào tóm thu tất cả, thêm vào đó là chuyện trả thù. Lính sống thì đi tù, lính chết thì cầy mộ, còn lính què đui tàn phế, thì bị xua đuổi ra khỏi các quân y viện, làng phế binh và ngay cả ngôi nhà của mình.


19-4-1975 tại Quân Y Viện Ðoàn Mạnh Hoạch, Phan Thiết.


30-4-1975 tại Tổng Y Viện Cộng Hòa-Sài Gòn.


Thảm họa gì đã đến với các thương bệnh binh còn đang điều trị, khi giặc về? Có ai cầm được nưóc mắt trong cảnh đoạn trường máu lệ, khi từng đoàn thương binh, nối gót đắt dìu ra cổng. Người sáng dắt kẻ mù, kẻ bị thương nhẹ cõng người trọng bệnh. Khắp lối ra vào, máu me vương vãi với nước mắt đoanh tròng của những nạn nhân bị bỏ rơi, không đại bàng, chẳng đồng đội và cũng hết hậu phương. Một số chết vì vết thương quá nặng, số khác sống trong cảnh tàn phế vĩnh viễn, vì vết thương không được tiếp tục điều trị. Ðời thê thảm quá, cũng may lúc đó quanh họ, còn có những cô gái bán phấn buôn hương ở Ngã Ba Chú Iá, Gò Vấp, những người xích lô ba gác, kẻ cho tiền, người giúp công, đưa hết những bệnh nhân xa xứ, tới bến xe về quê sống tiếp kiếp lính bèo.


Cuộc đổi đời nay đã xa lắc nhưng mỗi lần nhớ cứ tưởng mới hôm qua hôm nay. Ba mươi bảy năm rồi ta còn sống được, để nói chuyện văn chương chữ nghĩa trên đất người, đã là điều đại phúc. Trong lúc đó nơi quê nhà ngàn trùng xa cách, những người phế binh năm nào, không biết nay ai còn ai mất. Nhưng chắc chắn một điều, dù họ có sống hay đã chết, thì hận nhục, thương đau cũng đâu có khác gì. bóng ma trơi, những mảng đời nghèo hèn tăm tối. Ðâu có ai muốn nhắc tới những thân phận hẳm hiu trong vòng đời tục lụy, kể cả những cấp chỉ huy cũ hiện đổi đời giàu sang, mồm to miệng thét ở hải ngoại.


– Xin hãy thương lấy ho, hãy cứu vớt họ đang trôi nổi trong ngục tù nghiệt ngã.


– Phế binh cũng là một phần của tập thể cựu quân nhân hải ngoại.


– Hãy rớt một chút ân thừa cho những thây người còn sống sót trong bể hận trầm luân.


– Hãy cho họ một chút tình thương trong cơn hấp hối.


– Hãy dành cho họ một chút không gian nho nhỏ, trong căn nhà VN to lớn, đã được các cộng đồng tị nạn hoàn thành trên khắp nẻo đường viễn xứ, để họ an tâm chờ đợi luân hồi và một vòng hoa tặng người chiến sĩ ca khúc khải hoàn, mà chắc chắn phải có trong thời gian gần.


Ngày xưa người chinh phụ, giữ sạch tâm hồn và băng trinh tuổi ngọc, để đợi chồng ngoài quan tái, hy vọng cuộc chiến mau tàn, để phu phụ trùng phùng, kết lại mối duyên xưa:


 


“Xin vì chàng xếp bào cởi giáp


xin vì chàng giũ lớp phong sương


vì chàng tay chuốc chén vàng


vì chàng điểm phấn, đeo hương não nùng


liên ẩm, đối ẩm, đòi phen


cùng chàng lại kết, mối duyên đến già…”


(Chinh Phụ Ngâm)


 


Nhưng người chinh phụ VNCH lại không có cái diễm phúc đó, vì khi quê hương vừa ngưng tiếng súng, lập tức từ quan quân cho tới sĩ thứ, những người bại trận, lớp lớp vào tù. Lính chết đã rục tử thi vẫn bị dày mồ, lính bị thương tàn phế bị xua đuổi ra khỏi cuôc sống. Thử hỏi trên thế gian này, có kiếp người nào, đáng thương hơn người lính VNCH?


 


“Dâu binh lửa nước non như cũ,


kẻ hành nhân qua đó chạnh thương”


(Chinh Phụ Ngâm)


 


Cuộc đời thanh niên thời loạn ly, rốt cục chỉ còn lại nổi buồn thiên cổ, xin hãy nâng ly rượu sầu lên môi mà nhớ. Nghiêng mình, cúi đầu cảm tạ những vị ân nhân, đã và đang hết lòng cưu mang, giúp đỡ tận tình “Thương Phế Binh, gia đình kể cả cô nhi quả phụ VNCH,” hiện đang sống kiếp trầm luân rách đói, trong địa ngục VN.


Xóm Cồn Hạ Uy Di


Tháng 4, 2012

Chiến Sĩ Trận Vong

 


 


T.Vấn


 


Ngựa về gục khóc trường giang lạnh


Gươm súng đưa chàng theo núi sông


(Khúc Minh)


 


George Patton, viên tướng lừng danh trong Ðệ Nhị Thế Chiến của quân lực Mỹ, người đã áp đảo toàn diện quân Ðức Quốc Xã ở Châu Âu, cũng là vị tướng nổi tiếng về những lời hiệu triệu với quân sĩ của ông trước những trận đánh quyết định.


Ông nói: “Người lính phục vụ hữu hiệu nhất cho tổ quốc mình không phải bằng cách chết cho tổ quốc, mà là chiến đấu hết sức mình để cho những người lính bên phe đối phương phải chết cho tổ quốc của họ.”


Chiến tranh luôn luôn đồng nghĩa với chết chóc và hủy diệt. Vì đó là nhiệm vụ của người lính. Bạc như dân, bất nhân như lính. Như Patton đã nói, người lính phải làm hết sức để tiêu diệt kẻ thù, đem thắng lợi về cho tổ quốc mình. Nhưng trong chiến trận, cả bên thắng lẫn bên thua, đều có những tổn thương, mất mát. Và cái chết của những người lính trên trận địa – dù bên thắng hay bên thua – đều đáng ngưỡng mộ như nhau. Họ đều đã nằm xuống cho tổ quốc của họ. Họ đều đã đi vào cuộc chiến theo tiếng gọi của đất nước mình, dân tộc mình.


Vì thế, dân tộc nào cũng có ngày Lễ Chiến Sĩ Trận Vong để tưởng nhớ đến những người con của mình đã nằm xuống trên chiến trường.


Cuộc chiến tranh Việt Nam đã phân hóa nước Mỹ không chỉ giữa thế hệ chiến tranh cùng thời, mà còn gây tranh cãi ở cả thế hệ tiếp theo vốn rất mù mờ về những nguyên nhân khiến nước Mỹ đã đem hơn 2 triệu con em mình đi chiến đấu ở một vùng đất xa lạ tên gọi là Việt Nam. Trong số đó, hơn 58 ngàn đã trở về nhà trong những chiếc quan tài có phủ quốc kỳ. Khi chiến tranh chấm dứt, có hơn hai ngàn năm trăm chiến binh Mỹ tuy được báo cáo là chết hoặc mất tích trong chiến trận nhưng vẫn chưa tìm được xác hoặc chứng cứ xác định sự hy sinh của họ. Sau hơn 30 năm nỗ lực tìm kiếm, đến nay vẫn còn 1,870 người (MIAs) chưa được xác nhận.


Mặc cho những tranh cãi kéo dài, mặc cho những vết thương gọi là Hội Chứng Việt Nam vẫn còn mở miệng trong tâm thức thế hệ chiến tranh nay đã chuẩn bị về hưu, mặc cho nỗi ám ảnh về sự thua trận của một nước Mỹ hùng cường trước một đối thủ không cân sức, nước Mỹ vẫn tưởng nhớ đến những đứa con của mình đã nằm xuống trong cuộc chiến tranh ấy. Họ là những người đã hy sinh mạng sống của mình để đáp lời kêu gọi của tổ quốc. Nếu sự có mặt của nước Mỹ trên mảnh đất Việt Nam 37 năm về trước là một sự sai lầm, thì sự sai lầm ấy thuộc về các chính trị gia cầm quyền và họ phải chịu trách nhiệm với lịch sử. Ðối với người lính, không hề có cuộc chiến tranh sai hay đúng, bởi vì xương máu của họ, sự sống của bản thân họ cùng với gia đình, không thể bị đem ra đánh cược trên một bàn cờ đúng-sai thua-được.


Tương tự như vậy là cuộc chiến tranh ở Iraq hiện nay. Một lần nữa, nước Mỹ lại đứng trước một cuộc chiến tranh hao tổn nhân lực, vật lực tuy không thực sự xẩy ra ngay trên đất Mỹ. Hàng ngày, các màn ảnh truyền hình truyền đi trực tiếp những cảnh bom đạn, chết chóc trên mảnh đất đầy bạo lực này. Ðã có hơn 2.400 lính Mỹ nằm xuống nơi đây, trong đó, có cả một người Việt Nam trẻ tuổi tình nguyện gia nhập lực lượng Thủy Quân Lục Chiến Mỹ (Andrew Dang, 20 tuổi, gia nhập quân đội ngày 13 tháng 4 năm 2003, tử trận tại thành phố Faluja, Iraq, ngày 2 tháng 3 năm 2004 ). Tuy không hoàn toàn đồng ý với quyết định của chính phủ Bush đưa quân tham chiến ở Iraq, nhưng dân Mỹ luôn trân trọng sự hy sinh của con em mình. Những người mãn hạn nhiệm vụ, sống sót trở về vẫn được đón tiếp như những anh hùng. Những người nằm xuống vẫn được đón tiếp bằng nước mắt, sự biết ơn và lòng ngưỡng mộ.


Ðó là đạo lý của một quốc gia, một dân tộc, một tập thể.


Còn với những người cộng sản thì sao?


Sau ngày 30 tháng 4, các nghĩa trang của quân đội miền Nam, nơi chôn cất những người lính đã nằm xuống cho một lý tưởng mà họ theo đuổi, đã bị những người cộng sản chiến thắng san bằng, cào rỡ để dựng trại lính, dựng cơ xưởng sản xuất, xây nhà hoặc trồng tỉa.


Ðó là những hành vi độc ác, thiếu văn hóa và không mã thượng. Truyền thống lâu đời của người Việt không tệ mạt như vậy. Chỉ vì những người theo Chủ nghĩa Cộng sản đã mù quáng đi theo một học thuyết không tưởng, vô luân, cổ vũ cho hận thù giai cấp nên đã không thừa nhận những giá trị nhân bản nền tảng cho sự tồn tại của thế giới con người. Họ cũng không thừa nhận và tôn trọng cả sự kiện là trong lúc còn chiến tranh, nhiều lần họ chứng kiến quân đội miền Nam – phe thù địch của họ – chôn cất tươm tất những đồng đội của họ đã ngã xuống tại chiến trường theo đúng truyền thống nghĩa tử là nghĩa tận của văn hóa Việt Nam.


Sự hy sinh của người lính trên chiến địa, dù ở bất cứ phe nào trong cuộc đối đầu, đều rất đáng được tôn trọng và ghi nhớ.


Sau chiến tranh, chế độ cầm quyền ở Việt Nam còn sử dụng số hài cốt lính Mỹ mà họ tìm thấy được như những món hàng mặc cả với chính phủ Hoa Kỳ, không đếm xỉa gì đến nỗi đau của thân nhân cha mẹ vợ con những người lính ấy, họ vẫn ngày đêm trông chờ được nhìn thấy dù chỉ là một đốt xương, chút kỷ vật quen thuộc để yên lòng rằng, quả thật người thân của họ đã không còn sống trên trần gian này.


Cũng những con người biến chất vì hận thù giai cấp ấy, bây giờ chính thức lên tiếng rêu rao về con số 300 ngàn bộ đội mất tích, tử thương trong chiến tranh đến nay vẫn chưa tìm được nơi họ đã nằm xuống hoặc những nấm mồ chôn vội vã với những dấu mốc cắm sơ sài nên đã hoàn toàn mất dấu. Tất nhiên, nỗi đau của thân nhân 300 ngàn tử sĩ nói trên cũng giống như nỗi đau của bất cứ một con người nào trên thế giới này có con em chồng cha chết trận. 37 năm qua, những người thân của họ cũng đã sẵn sàng tốn công tốn của để đi tìm, nhưng ngược lại với những người cùng cảnh ngộ bên Mỹ, họ không hề nhận được sự trợ giúp nào – hoặc nếu có thì rất nhỏ, không đáng kể – về phía chính quyền, những người đề xướng ra cuộc chiến tranh ấy để con em của họ phải hy sinh.


Thân nhân của những tử sĩ trong quân đội miền Nam lại càng thêm phần chua xót. Họ đã không còn một chính quyền để giúp họ trong công cuộc tìm kiếm chút dấu vết còn lại của người mất tích. Thậm chí, cuộc sống hàng ngày của họ còn bị đe dọa, hạn chế vì có con em chồng cha đi lính rồi hy sinh cho quân đội miền Nam.


Nhưng dù ở bất cứ hoàn cảnh khó khăn nào, người ta cũng không được phép quên chồng cha con em của mình đã hy sinh trong cuộc chiến. Ðạo lý con người, dù thuộc bất cứ nền văn hóa nào, cũng không cho phép người ta được coi nhẹ bổn phận ấy. Chính vì thế, mà chủ nghĩa cộng sản phi nhân vô thần phải bị cáo chung.


Nỗi đau của chiến tranh thì vô tận. Bởi vì lịch sử nhân loại được viết bằng máu và nước mắt của con người trải qua nhiều thế hệ, với những lỗ hổng chỉ được lấp đầy bởi hằng hà sa số xác người nằm xuống trên chiến địa. Bao lâu còn lịch sử nhân loại, sẽ vẫn còn những cuộc chiến tranh, vì đó là hoạt động tất yếu và cách thức chứng minh sự tồn tại duy nhất của mọi quần thể chủng tộc. Và tất nhiên, đội ngũ những oan hồn tử sĩ chập chờn trong cõi vô hình sẽ ngày một thêm đông đảo.


Không tôn trọng và tưởng nhớ những người lính đã nằm xuống cho sự tồn tại của một tập thể, một quốc gia, một dân tộc, thì tập thể ấy, quốc gia ấy, dân tộc ấy chỉ là một đàn thú hoang tụ tập nhau lại nhằm mục đích đi kiếm mồi mà thôi.

Bà Maria Nguyễn Thị Đáp- Cựu Nữ Tổng Ủy Viên Hội Nữ Hướng Đạo VN

 




“Hướng Đạo một ngày, hướng đạo một đời”. Đó là châm ngôn cho cuộc sống của Trưởng ALT Hải Điểu Lý Luận Nguyễn Thị Đáp.



Bà sinh ngày 6 tháng 2 năm 1927 tại Hà Nội. Là con gái trưởng của cựu vô địch đua xe đạp Bắc Kỳ vào thời Pháp thuộc, ông Nguyễn văn Chấp, còn gọi là cua-rơ Bổng. Bà hấp thụ nền giáo dục thời thuộc Pháp. Từ thủa niên thiếu, bà đã tham gia phong trào hướng đạo và gắn bó với phong trào này suốt cả cuộc đời. Cũng chính trong các sinh hoạt hướng đạo bà đã gặp gỡ và kết nghiã trăm năm với trưởng Đỗ văn Ninh vào ngày mồng 4 tháng 1 năm 1949.



Năm 1954, vì hoàn cảnh lịch sử của đất nước, bà cùng gia đình di cư vào miền Nam. Mặc dù vừa bắt đầu cuộc sống mới ở miền Nam lúc đó còn là miền đất lạ, và dầu cuộc sống chất chồng với những lo toan, bà đã lại hăng say tham gia Hướng Đạo ở miền Nam. Bà là một trong những phụ nữ tiên phong gầy dựng nên phong trào Nữ HĐVN. Bà cũng là một trong số ít trưởng nữ đạt được ALT bằng rừng giai đoạn này.



Bà tham gia hầu hết những trại họp bạn toàn quốc. Tổ chức rất nhiều trại huấn luyện cho thanh thiêú niên hậu sinh như trại trường Bạch Mã, trại trường Tùng Nguyên. Bên cạnh cống hiến thời gian và tâm huyết cho phong trào hướng đạo, bà cũng làm tròn bổn phận của một người Công giáo, bà đã tham gia và khấn hứa trong hội dòng ba Đa-minh từ những năm bà vừa bước vào tuổi trung niên.



Sau năm 1975, phong trào hướng đạo VN tan rã. Bà sống với một nhiệm vụ khác, là người nội trợ của gia đình. Hấp thụ thâm thúy tinh thần hướng đạo, bà đã luôn luôn lèo lái gia đình vượt qua những giai đọan khó khăn nhất của cuộc sống vì hoàn cảnh lịch sử đất nước. Với chín người con, có những lúc tưởng chừng khó có thể sống còn, bà đã cùng chồng vượt qua trăm ngàn thử thách. Với khả năng ứng phó trong mọi hoàn cảnh, trong giai đoạn kinh tế khó khăn vào cuối thập niên 70, đầu thập niên 80, bà thành lập ra tổ may mặc để mang lại lợi tức cho gia đình và cũng là để tạo ra công ăn việc làm cho những bà con xóm giềng. Có những lúc, bà có tới 40 thợ.


Năm 1993, một lần nữa, bà lại di cư. Lần di cư này, bà di cư tới nửa kia của địa cầu. Bà cùng chồng và con út định cư ở tiểu bang Virginia và California. Ở quê người, phong trào HĐVN đã được gầy dựng bởi những trưởng hướng đạo Viêt nam. Bà lại hăng say tham gia phong trào mặc dầu bà đã ở tuổi thất tuần. Bà đã huấn luyện cũng như cố vấn cho nhiêù đoàn hướng đạo ở Virginia cũng như California. Bà đã được vinh tặng huân chương cao quý của phong trào hướng đạo thế giới dành cho những hướng đạo sinh có nhiều công lao với phong trào, đó là Bắc Đẩu Bội Tinh huân chương. Và bà cũng tham gia sinh hoạt của dòng ba Đa-minh rất đều đặn.



Mùa xuân 2009, bà đã lần nữa, lại di cư. Lần di cư này là lá rụng về cội. Chim có tổ, người ta có quê hương. Bà đã cùng chồng trở lại quê hương, nơi hơn nửa số con của hai ông bà đang sinh sống. Bà đã trở lại sống ở ngôi nhà thân thương của bà, tổ quốc của bà, nơi bà đã trải qua rất nhiều thăng trầm với chồng con, với vận nước, với phong trào HĐVN mà bà đã gắn bó suốt cả cuộc đời như là một niên trưởng hướng đạo gương mẫu. 



Sáng thứ ba, ngày 24 tháng tư năm 2012, vào lúc 6:15 sáng, sau hơn 85 năm được Chúa gởi đến thế gian để giang rộng đôi cánh bay từ Bắc ra Nam, bay từ đại lục Á Châu đến Mỹ Châu, ALT Hải Điểu Lý Luận đã lìa rừng, thực hiện cuộc lữ hành cuối cùng của bà. Bà Maria đã  từ giã những người thân thương để về cùng đất. Cát bụi đã trở về cùng cát bụi, linh hồn bà trở về nhà Chúa để định cư vĩnh viễn trong niềm tiếc thương của các con, các cháu, các chắt cùng tất cả thân bằng quyến thuôc.



Tóm tắt cuộc đời ATL Hải Điểu Lý Luận Maria Nguyễn Thị Đáp, là 3 lời hưá hướng đạo mà bà đã tuân giữ suốt một đời của bà:


Làm bổn phận đối với tâm linh tín ngưỡng quốc gia.
Giúp đỡ mọi người bất cứ lúc nào.
Tuân theo luật hướng đạo.



                      

Thương Nhớ Bà Đoàn Thị Liên

 



Ba Doan thi Lien was born the seventh of eight children in a small village 17 km outside of Hanoi in November 1926.  She wrote her memoir back in 2002. The following are excerpts from them:


“I always thought that I was really blessed with good parents and good teachers who, since my childhood, had taught me the real values of self-respect, brotherhood, work, and true modesty. To all of them, I owed discipline, sobriety, and self-support. From my parents, I received just what I needed: good food, sufficient good clothes, and few toys that were meant to teach me something of other: not plain or expensive ones. That was it, yet I had had many a happy memory. I learned to value what was provided for me and what I had or what I was, and not what I did not have nor what I was not.”


Ba Lien had a hard childhood. Her father was a public servant or “functionnaire” for the French authorities when Vietnam was still a French colony because he could read and write Vietnamese, Chinese, and French. He would travel around to many villages and cities, as far as Yunan, China, because there were people who could barely sign their names on all letters and reports readily prepared for them by local officials. Because her father was away from home often, her mother was the main provider for the family, selling dry foods, sewing kits, school supplies, and other small home items at the small neighborhood bazaar. Sometimes, people would purchase items but not be able to pay them back fully.


“As soon as I started school at the age of seven, I had learned how hard it was to make the poor souls pay off their debts. When it turned out that there was no way they could pay off, Mother philosophically and stoically declared: “They will pay me sometime, somehow.” From time to time, when she saw a good opportunity to stock goods, at more reasonable prices than usual, she had to borrow money from her young, childless but quite rich sister who owned a boutique and a coffee plantation. On many occasions, my elder sister and I took turns to go and see our aunt and ask her to give mother more time to collect enough funds to repay her with interest. That was when we learned what humiliation meant. Sometimes Mother could not pay her sister on time. There were nights when I was already in bed, but not yet asleep, when Aunty came to collect her money. My aunt then raised her voice and insisted that mother pay her debts within one week, or else. Somehow, Mother promised to do so and [somehow] managed to keep her word.  I made a promise to myself then that I would work hard and would not borrow anything from anybody, unless I knew I could pay it back.”


Her elementary education consisted of learning both Vietnamese and French, and her school was rather unique.


“I do not recall how many tables and benches we had at all, but each class occupied a certain number of them. Second grade students taught first grade pupils how to read and write. Then they learned from their third grade schoolmates who in turn reported to their elders in the fourth class, all under the smooth guidance and diligent supervision of the principal. The fourth grade learned almost everything directly from her, “Almost” because we actually learned to develop responsibility and teaching skills. In other words, we had to learn well what we were going to teach before we could do our job effectively.”



Aside from the usual education, boys learned woodwork, and girls learned cooking, sewing, and knitting. Her teacher was so impressed with her work that she was taught enough knitting and sewing skills that by the age of eight, she could sell knitted booties and hats at her mother’s little shop.
“Until the Communists took over the North, I had attended three different private schools. In my last year of high school, our [school] institution had to move to Hadong Province because of bombings by the French and because of Communist propaganda and tactics aimed at spreading confusion and stripping the population of whatever it owned. We had to remove roofs and doors and leave houses vacant and uncultivated land to French invaders. I had to quit school.”


Ba Lien never finished high school, but it never stopped her from continuing her education whenever she had the opportunity. The first opportunity came when she “was offered on-the-job-training at the Cancer Institute of Hanoi. At the same time, the University of Hanoi gave me classroom training in X-ray technology.” She completed a year of training coursework, and was there for between 1950-1954 as the sole x-ray technician/therapist, Electrocardiograph Operator, and Physical Therapist. When the Viet Cong was given the North region of Vietnam , her family, including her married brother, Doan Van Thiep and his family, her married sister and her family, and her parents, left for the South. She worked as a translator-interpreter for the Health Division/Sanitation Staff of the United States Operations Mission from 1954-1959. She loved this job, which allowed her to travel throughout VN and Laos. Her communications skills with the nursing staff and her open bedside manners with the patients for the USOM led to her recommendation and acceptance at New York University-Bellevue, where she studied physical therapy for a year. She was offered a scholarship program at Stanford, but unfortunately, she could not continue with her education there because of turmoil in VN and her parents requested her homecoming.  When she got back to Saigon, she knew she had to help support her family, so she took a new translator/interpreter job with the Saigon Chamber of Commerce.


In 1964, she went to Melbourne, Australia to work as a radio announcer for Australian Broadcast Communications company.  She lived there until 1969 when her three-year contract ended, and she was unable to continue her education in Physical Therapy. She returned to VN and worked with the Americans again for a short time before switching her talents to the Vietnam Council on Foreign Relations. There, she oversaw the publication of a weekly magazine dedicated to “covering Vietnamese educational, economic, political, and also social structures. Our publications were mostly in English and French. Some were in Spanish and German as well. As a routine, our organization also helped international visitors in their fact-finding in Vietnam. These were journalists, educators, businessmen, industrialists, and globetrotters. On their behalf and upon their requests, we arranged field trips or meetings with local government officials, business people and industrialists, politicians, and war victims’ families.



“When needed, our staff accompanied them to serve as interpreters. I felt we did something real good for our country. Our publications neither overlooked our weakness, nor provided too rosy an image of our nation or people. As a fact, I can say that even the Communist factors of the International Commission in Vietnam were our regular customers. Some journalists even asked to be helped in finding a modest hotel in town, in meeting people of their choice, whether these people were Nationalists of Communists.”


It was at this job where she was friends with so many journalists and interested people in the outcome of the Vietnam War that she found out about the Viet Cong coming into Saigon in 1975. With a few months’ notice, she informed the rest of her family, and found passage for everyone on an oil tanker just before Viet Cong arrived in Saigon. The family left Vietnam for the last time on April 30, 1975. With her many contacts and her family’s other relations already living in the United States, it was decided that they move to the East Coast as opposed to the West Coast.  Even though she and her brother’s family did not want to separate once they got to the States, it was decided that it would be easier for everyone if they broke the family into smaller units.  It took her several moves and several jobs with non-profit organizations from Maryland to New Jersey to Wisconsin before she realized that she hated the snow, and driving in the snow even more. That was when she decided to move to California where her friends lived and insisted that there was plenty of opportunity for work. Throughout it all, she saved whenever she could and in short time, she was reunited with her brother and his wife when they finally came to California from Florida. For the rest of her working career, she became a social worker for the State of California, a job that melded all her skills in communication and compassion. She retired in 1995.


A part of her memoir that she did not expand well was her love of travel. She had gone to Alaska, Japan, Australia, France, Switzerland, Germany, Canada, Belgium, and many other places of adventure within the United States. She had camped in the Australian Outback, mined opals, and skiied in the mountains, gone on several cruises up and down the West Coast and Mexico. In 1995, she returned to Vietnam for a visit and found it so overwhelming changed that she felt she could never see it again without sadness, so she never went back after that. She also attended the World Scout Jamboree that same year in Melbourne, Australia. She was never able to go Scouting as a young girl, so in her seventies decided it was time to start. She became a member of Lien Doan Hung Vuong, and later Gia Dinh Bach Hop within Huong Dao Viet Nam in Southern California region, and was an active Scout until the day she passed away.


 


 

Chân dung Doãn Dân giữa bằng hữu, cuối những năm 1960


Hình: Nhà văn Doãn Dân (tranh Nguyễn Trọng Khôi)



Lữ Quỳnh
tặng Trần Hoài Thư


Thời gian qua đã lâu nhưng mỗi lần nghĩ đến Doãn Dân tôi vẫn cảm thấy gần gủi với những kỷ niệm nổi cộm về anh. Thật tình cờ vào cuối những năm sáu mươi chúng tôi, Trần Hoài Thư, Doãn Dân, Nguyễn Kim Phượng cùng ở sư đoàn 22 đóng tại Bà Gi, tỉnh Bình Định. Doãn Dân làm việc ở Phòng 2, Nguyễn Kim Phượng Phòng 3, Trần Hoài Thư Đại đội Thám kích, và tôi Tiểu đoàn Quân y. Nhờ những truyện ngắn đăng trên Bách Khoa mà dưới mỗi bài chúng tôi ghi Ba Gi, ngày tháng…, Thư và tôi đã tìm nhau, nhưng cũng phải mất thời gian khá lâu mới gặp mặt.


Doãn Dân ở cư xá sĩ quan với vợ và bốn con gái. Những đêm ngủ lại đơn vị, tôi thường lái xe qua nhà anh uống trà và nghe anh chơi guitar. Chị rất giản dị và các cháu đều ngoan. Không nói ra, nhưng tôi biết anh muốn chị sinh một cháu trai, để trong đám trẻ có trai có gái cho vui, thế mà lần sau cùng chị sinh một cháu gái nữa. Trong đời sống Doãn Dân có nhiều bức xúc. Anh không vui với đời. Thời gian truyện dài Chỗ Của Huệ in ở Sài Gòn, anh thường nói chuyện văn chương với bạn bè. Anh nói nhà văn Nhật Tiến đang in giúp anh tác phẩm này. Và anh thấp thỏm chờ đợi. Theo anh, Nhật Tiến rất thân. (Sau này có dịp gặp nhà văn Nhật Tiến ở Calif. tôi có hỏi thăm anh mong được biết tin tức về gia đình Doãn Dân, nhưng anh cũng mất liên lạc với họ ngay trước 1975.)


Doãn Dân nổi tiếng rất sớm. Nhiều truyện ngắn của anh đăng trên các tạp chí văn học ở Sài Gòn. Trên một trang mục lục Bách Khoa cũ tôi thấy có mấy truyện Sương Mù (số 110), Giao Thừa (số 122) của anh, khoảng năm 1959, 60.


Một buổi chiều tôi lái xe chở Doãn Dân chạy quanh ngọn đồi lên tháp Bánh Ít thăm Trần Hòai Thư. Từ ngọn tháp này có thể nhìn bao quát cả một vùng từ thị trấn An Nhơn đến quận Tuy Phước. Cảnh quan thật đẹp, thật hiền hòa. Ngọn núi Kỳ Sơn trước mặt chẳng hùng vỹ bí hiểm gì,nằm đơn độc giữa cánh đồng bạt ngàn mây nước, nhưng vô cùng bất trắc với Trần Hoài Thư và đơn vị anh. Nhiều lần hành quân vào ngọn núi này mà không chiếm nó dễ dàng, đã phải để lại nhiều máu đồng đội.Tôi chỉ cho Doãn Dân góc tháp mà Thư đã dựa lưng và kê ba lô lên đùi ngồi viết sau những lần nghỉ hành quân.


Tại miền đất này chúng tôi đã có những tác phẩm nói lên sự bi thảm và phi lý của chiến tranh, về sự chia lìa khốn khổ của những người dân hứng chịu bom pháo ngày đêm, sống giữa hai lằn đạn mà không biết đâu là kẻ thù !


Cuốn Chỗ Của Huệ dày khoảng 200 trang, Doãn Dân ký tặng bạn bè. Rất khích lệ, anh hẹn sẽ in tập truyện ngắn mà anh tâm đắc vào năm sau.


Qua năm 1970 Trần Hoài Thư tự ý rời đơn vị, tôi cũng chuyển về quân y viện. Trong những lần gặp gỡ sau cùng với Doãn Dân ở Sư đoàn , tôi thấy anh buồn và bất mản rõ.


Anh kể trong dịp đi phép về Sài Gòn lo đám tang người thân trong gia đình, lúc trở ra trả phép bị cấp trên xài xể vì trễ mấy ngày, anh đã cự nự cãi lại. Anh tâm sự, phải ở trong hoàn cảnh của mình, tình cảm của mình đối với người vừa nằm xuống như thế nào, mới hiểu được nỗi đau và sự khó khăn mà mình chịu đựng. Chứ còn giải quyết sự việc một cách máy móc thì nói làm gì! Sống phải có tình, có sự tương kính, cảm thông nhau chứ.


Mình chấp nhận đi bất cứ đơn vị nào trên bốn vùng chiến thuật ! Tôi biết tính anh thẳng thắn, trung thực, không chịu khuất phục bất cứ áp lực phi lý nào.


Sau này Doãn Dân chuyển về Sài Gòn một thời gian, tôi không rõ anh phục vụ ở đơn vị nào. Chỉ biết qua năm 1972, vào mùa hè, tôi nghe tin anh đổi ra Quảng Trị đúng thời điểm chiến trường nơi đây vô cùng khốc liệt. Một đoạn đường trên quốc lộ 1 đã nổi tiếng là đại lộ kinh hoàng. Không rõ anh đã tìm ra đơn vị mới chưa, nhưng qua báo chí lúc bấy giờ, anh đã bị pháo chết lúc ngồi trên xe qua đoạn đường này. Nhiều trang báo đăng phân ưu gia đình anh. Bằng hữu vô cùng xúc động, thương tiếc anh, một Doãn Dân nhà văn tài năng, một sĩ quan cương trực đã sớm đền nợ nước!


Những năm tháng sau này thỉnh thoảng gặp người quen cũ, tôi có hỏi thăm chị Doãn Dân và các cháu, nhưng không ai biết. Chỉ nghe đâu chị bị đau yếu và đang sống với các con trong hoàn cảnh khó khăn.


Khi tôi viết những giòng này thì các cháu bé bỏng ngày nào ở Bà Gi bây giờ tuổi đã ngoài bốn mươi, hẳn đã có chồng con và đang sống một vùng trời nào, bên này hay bên kia trái đất. Các chú, bạn của ba các cháu, nhà văn Doãn Dân, cầu mong các cháu dù ở bất cứ nơi đâu cũng được sống an bình, hạnh phúc.


Bắc Calif., Feb.10-2011.


(*) Thư Quán Bản Thảo, Số 46, tháng 4-2011. Bản gửi từ tác giả


Lữ Quỳnh

Vàng Ðen (Kỳ 84)


“Vàng Ðen” là tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Dũng Tiến, được xây dựng trên những tư liệu cùng huyền thoại liên quan tới vùng “Tam Giác Vàng,” một trong những nguồn sản xuất và cung cấp thuốc phiện (“vàng đen”) lớn nhất thế giới. Ngoài việc viết văn, tác giả Nguyễn Dũng Tiến cũng là một trong những người Việt Nam đầu tiên có công gầy dựng vườn cây ăn trái cho người Việt ở xứ người. Ông hiện là chủ nhân vườn cây LA Mimosa Nursery, 6270 East Allston Street, Los Angeles, CA 90022-4546. Tel: (323) 722-4543. Ðược sự cho phép của tác giả, Người Việt hân hạnh giới thiệu tiểu thuyết “Vàng Ðen” trên mục truyện dài của Nhật Báo Người Việt cũng như Người Việt Online.


 


Kỳ 84


 


Nhét khẩu súng vào lưng quần, Phong thò tay rút trái lựu đạn nơi lần băng giả, hàm răng cắn chặt khoen sắt tròn nhỏ, trái lựu đạn được rút chốt.


-Ông sẽ theo tôi ra khỏi đây hay cả hai chúng ta cùng nổ. Tôi sẽ…


Chưa kịp hết câu, Phong Sương bỗng xô ghế đứng dậy, cô nàng đứng chắn trước mặt Khun Sa, chỉ tay thẳng mặt Phong.


-Mày chỉ là thằng khốn nạn. Mày giết cả tao nữa đi. Giỏi giết cả tao nữa đi.


Sạm người vì hổ thẹn, đang lúng túng không biết trả lời sao với Phong Sương, già Trí đã vái Khun Sa một vái, rồi đến đứng chắn ngay trước mặt Khun Sa.


-Thằng phản bội, tao còn sống ra khỏi đây, rừng thiêng, nước độc nào tao cũng phải tìm cho ra bằng được mày. Mày nhớ đấy.


Khun Sa đưa tay gạt hai người sang hai bên, nói với Muang:


-Nói lính tráng về lại hết chỗ cũ, mọi chuyện đã giải quyết xong.


Muang thảng thốt:


-Kìa, anh Hai…


-Cho lính tráng về lại chỗ cũ.


-Tuân lệnh, anh Hai.


Chỉ thấy Muang nói vọng ra ngoài một tràng thổ ngữ, chừng như tiếng Chan, bên ngoài léo nhéo trong giây lát rồi lục tục tiếng súng va chạm nhau xa dần. Phong đưa mắt nhìn hai người lính từ ngoài vào như dò hỏi trong khi chúng đang trói Khun Sa, một tên lắc đầu trả lời Phong:


-Bị hết rồi, trung úy.


Tim Phong thắt lại. Trận bị phục kích dữ dội của vài ngày trước, Phong cũng chỉ mất bốn đứa nhỏ, bị thương hơn chục. Không ngờ ở cái khuỷnh nhỏ này, Phong bị mất liền năm đứa em trong vài phút va chạm. Chứng tỏ tụi này chơi khá. Riêng phản ứng không đo lường được của Phong Sương cùng già Trí đã giáng cho Phong một đòn chí tử. Phong thua ngay hiệp đầu.


-Này người anh em, con buôn nhỏ, cho cởi trói cho tôi rồi mình ngồi xuống làm tiếp bàn tiệc. Thịt cá ê hề như vầy, chưa đụng đũa mà đã bỏ thì uổng của trời lắm. Sao? Con buôn nhỏ.


Lời nói của Khun Sa làm Phong dùng dằng suy nghĩ. Phong cũng tự biết, cái dùng dằng suy nghĩ, không có được một quyết định cấp thời và cứng rắn đã làm Phong thua thêm một hiệp nữa.


-Viên đạn đầu tiên của người anh em không bắn vào tim Khun Sa này, chứng tỏ người anh em đang muốn làm một cuộc buôn bán. Ðược rồi, coi như mạng Khun Sa đã nằm trong tay người anh em. Hiện giờ người anh em cho mượn lại, vậy cứ cởi trói, ăn uống và nói chuyện…


-Không…


-… Trung tá Muang, nói người của ông chuẩn bị liền cho chúng tôi hai chiếc xe. Chúng tôi sẽ về lại Mã Hồng Sơn. Dĩ nhiên có ông và đại tướng của ông trong đó. Ra lệnh cho lính của ông đừng vọng động.


Phong phải quát to chữ “không” để trả lời Khun Sa cũng như cố trấn tĩnh mình, đồng thời lớn tiếng ra lệnh cho Muang hầu tạo thêm cho mình sức mạnh tinh thần. Hắn đánh đòn cân não dữ quá.


-Rật, hắn nói xong, trói tay hắn lại luôn.


Xáp lại gần Rật, Phong thì thầm:


-Tụi này là dân thứ thiệt. Coi chừng tụi nó dàn người bắn sẻ từ bên ngoài. Chơi lựu đạn chắc ăn hơn.


Rật gật gù khẽ trả lời:


-Ê, ông thầy, tụi nó phản ứng lẹ quá trời. Mấy thằng đem cơm vào đây bị tụi tui khện, nhưng xui quá, có một thằng không lật, hắn mới é lên có một tiếng mà tụi tui bị tùm lum hết.


-Mấy thằng nhỏ ở ngoài bị bắt sống à?


-Sống là đỡ, chết tại chỗ, chết hết. May sao hai thằng con kia còn dzọt kịp dzô đây. Nhờ ông lẹ tay đốn thằng cầm mã tấu, chứ không cũng bị dzính một con nữa.


-Trói đi, rồi thủ thêm lựu đạn.


Giơ trái lựu đạn ra hiệu cho hai người lính còn lại để chúng hiểu, sẽ thí mạng cùi nếu bên ngoài tấn công vào, cả hai đều gật đầu. Kéo chiếc ghế lại ngồi đối diện với Khun Sa, Phong hỏi:


-Nào ông bạn già, cuộc buôn bán khởi đầu được chưa? Chúng tôi là cảm tử quân, trái lựu đạn đã rút chốt, người cảm tử quân phải nổ chung với nó nếu ông bạn già không biết điều. Do đó tôi yêu cầu người bạn già hãy đi theo chúng tôi một cách ngoan ngoãn, đừng tìm cách trì trệ, gài bẫy nhau. Một trong bốn người chúng tôi đổ, những trái lựu đạn sẽ cùng lượt nổ. Xương thịt nào tránh khỏi. Ðồng ý không?


-Không. Ta sẽ sẵn sàng theo người anh em với điều kiện chân tay thoải mái. Còn không, phải hai ba người khiêng ta đi. Từ trước đến giờ trong thương trường, Khun Sa chưa bao giờ lừa ai và cũng chưa chịu thua ai bao giờ.


-Tôi đã nắm mạng ông trong tay.


-Chưa dám giết, cũng chưa đáng kể.


Cái nước đổ lỳ của hắn làm Phong bắt đầu nổi nóng. Nhìn thẳng vào mặt Muang, Phong hất hàm cho Rật.


-Giết hắn.


Trái lựu đạn đã được rút chốt chuyền sang tay trái, thò tay phải còn lại rút phăng lưỡi dao bên sườn, Rật thẳng tay đâm vào lưng Muang. Tên bộ trưởng nội vụ của Khun Sa rú lên một tiếng khủng khiếp rồi ngã quỵ. Chừng lưỡi dao còn vướng trong lưng hắn, Rật đỡ lấy người hắn, đặt nằm ngửa trên mặt đất, vứt bỏ luôn lưỡi dao.

IMPRENTA COMMUNICATION GROUP, INC

LOW COST AUTO INSURANCE


Thiếu $10 triệu, Westminster chần chừ cắt nhân sự


Linh Nguyễn & Ngọc Lan/Người Việt


 


WESTMINSTER (NV) –Ðối diện với ngân sách thâm thủng $10.4 triệu, Hội Ðồng Thành Phố Westminster tối Thứ Hai xét tới việc cắt giảm nhân sự nhưng cuối cùng bỏ phiếu dời việc đó lại.









Thành phố cũng tạm rút lại đề nghị tăng các loại lệ phí để trám vào phần thiếu hụt trong chi phí làm việc.


Sự thiếu hụt trong ngân sách thành phố Westminster hầu hết đến từ việc bị mất tiền tái phát triển. Theo báo cáo của Tổng quản trị Mitch Waller, ngân sách năm 2011 của tiểu bang California cắt toàn bộ các cơ quan tái phát triển trong khắp tiểu bang. Luật này bị các thành phố kiện, nhưng vào tháng 12 năm 2011, Tối Cao Pháp Viện tiểu bang phán quyết cho phép cắt bỏ các cơ quan tái phát triển địa phương.


Ðây không phải là lần đầu tiên thành phố Westminster thiếu tiền. Từ năm 2008 tới nay, mỗi năm thành phố đều thâm thủng khoảng $1.5 triệu. Tới năm tài khóa 2012-2013, ngân sách thành phố dự trù thâm thủng tới $10.4 triệu trong quỹ tổng quát (General Fund).


Một phần khác trong báo cáo của ông Waller cho thấy thành phố Westminster hiện đang thu các loại lệ phí tổng cộng $2.6 triệu trong năm 2010-2011, nhưng những lệ phí này còn thiếu gần $2 triệu so với chi phí điều hành. Thí dụ, việc xét đồ án xây dựng, tiền lệ phí thu về được $327,000 nhưng chi phí để xét đồ án lên tới gần $400,000. Chương trình thanh tra ô nhiễm NPDES có chi phí hơn $313,000 nhưng không thu được lệ phí nào.


Báo cáo của ông Waller đề nghị cắt giảm 70 việc làm, tiết kiệm $3.2 triệu. Ông cũng đề nghị tăng lệ phí.


Ðề nghị tăng lệ phí bị hiệp hội các nhà xây cất chống đối. Hiệp hội này, tên BIA, viết trong thư đề ngày 23 tháng 4, thành phố phải “báo trước tối thiểu 14 ngày” và cho rằng thành phố chưa làm việc này.


Tuy nhiên, chính ông Waller lại đề nghị tạm rút việc này để có bảng so sánh chi tiết hơn giữa lệ phí cũ và lệ phí mới.


Trong khi đó, Hội Ðồng Thành Phố cũng hoãn chuyện cho nhân viên nghỉ việc. Trước buổi họp, Nghị Viên Tyler Diệp cho rằng có thể sẽ phải cho nhân viên nghỉ bớt. Ông nói với báo Người Việt, “Việc sa thải những nhân viên đó là điều đáng tiếc không ai muốn. Bản thân tôi cũng biết họ là những người siêng năng, đi làm để chăm lo cho gia đình. Tuy nhiên, do tình hình tài chánh, thành phố bị mất đi ngân sách tái phát triển thành phố nên chúng tôi không còn khả năng giữ họ ở lại trong thời gian này.”


Tới phiên họp, tất cả các nghị viên đều bỏ phiếu 5-0 với đề nghị hoãn lại, và mang việc cắt giảm nhân sự ra bàn lại trong một buổi họp nghiên cứu ngày 4 tháng 5.

Tưởng niệm 30.4.75: ‘Phải làm sáng lại quê hương’


WESTMINSTER (NV) –
Giữa lòng Little Saigon, hàng trăm đồng hương, Ban Ðại Diện Cộng Ðồng Người Việt Quốc Gia và các đoàn thể, đã tụ họp đúng 12 giờ trưa Thứ Hai để cùng tham dự nghi thức chào cờ, tưởng niệm các chiến sĩ và đồng bào hy sinh 37 năm về trước, trong biến cố 30 Tháng Tư 1975, và dâng lời cầu nguyện cho một nước Việt Nam sớm có dân chủ, tự do và nhân quyền.



Trong hình (từ trái) là các vị lãnh đạo tinh thần các tôn giáo và các thành viên của Hội Ðồng Liên Tôn niệm hương trước bàn thờ tổ quốc, gồm Luật Sư Phạm Văn Phổ, Mục Sư David Huỳnh, Linh Mục Mai Khải Hoàn, Giáo Sư Nguyễn Thanh Giàu, Hòa Thượng Thích Viên Lý, Hiền Tài Phạm Văn Khảm, Hòa Thượng Thích Minh Nguyện, và Ðức Giám Mục Trần Thanh Vân. “Ngày 30 Tháng Tư 1975, cộng sản đem lại những sự đen tối cho đất nước. Chúng ta phải làm sáng lại quê hương, Việt Nam phải có dân chủ, tự do và nhân quyền,” Hiền Tài Phạm Văn Khảm, chủ tịch Hội Ðồng Liên Tôn, tuyên bố. (Hình: Linh Nguyễn/Người Việt)

Sợ rau, thịt bẩn, dân Hà Nội về quê thuê đất trồng rau, nuôi heo

 


HÀ NỘI (NV)Sợ rau có hóa chất ô nhiễm, thịt chứa chất độc “siêu nạc,” nhiều người khá giả ở Hà Nội đang tìm về các vùng quê để thuê đất, tự trồng rau, nuôi heo để lấy thực phẩm sạch.







Rau có nguồn gốc từ các vùng quê đang được các cư dân đô thị chuộng dùng. (Hình: Báo Người Ðưa Tin)


Báo Người Ðưa Tin cho hay như vậy về một “phong trào” mới xuất hiện ở Hà Nội.


Báo này kể một trường hợp cụ thể là “chị Hà Oanh (ở quận Cầu Giấy) sau nhiều năm sống ở nước ngoài, về Việt Nam thấy vấn đề an toàn thực phẩm được nói nhiều ba chữ ‘mất an toàn’ nên cũng lo.”


“Chị Oanh về quê Bắc Giang, mảnh đất hương hỏa ở quê vẫn còn, nên làm lại vườn ao. Chị thuê người trong họ đến nuôi lợn, thả cá, trồng rau. Tất cả những chi phí chị chi hết, miễn sao có thực phẩm sạch để gia đình sinh hoạt hàng ngày trên thành phố.”


Một người khác là “chị Ngô Thu Hồng, mỗi lần về quê Hải Hậu, Nam Ðịnh lại ôm đồm đủ thứ rau lên Hà Nội. Nhưng rồi chị vẫn chưa yên tâm khi nghe nói người ở quê trồng rau bán cũng sử dụng thuốc kích thích nảy mầm cho ngọn su su, thuốc trải lá vươn ngọn cho rau muống… khiến chị sinh nản.”


“Cuối cùng, khi nhà có thêm con nhỏ, chị quyết định thuê một sào đất để trồng rau. Cũng tại đấy, chị thuê người làm chuồng nuôi gà, nuôi lợn để tự cung cấp thực phẩm. Tính tiền thuê người chăm sóc vườn rau, nuôi gà, lợn thì thực phẩm sạch ở quê có giá đắt gấp 3-4 lần thực phẩm mua tại thành phố.”


Tuy nhiên, báo Người Ðưa Tin dẫn lời bà Lê Bạch Mai ở Viện Dinh Dưỡng Quốc Gia, cho rằng, “sức khỏe của con người phụ thuộc rất nhiều vào chế độ dinh dưỡng, nhất là với nguồn thực phẩm sạch. Trước nguy cơ thực phẩm không an toàn, người dân thành phố có phản ứng tiêu cực để tự bảo vệ sức khỏe của gia đình, nhưng không phải ai cũng có điều kiện để tự cung tự cấp thực phẩm cho mình.”


Một xu hướng khác, theo báo Người Ðưa Tin, “đối phó với tình trạng, rau, thịt, cá bán tại chợ nơi mà thương lái mua từ chợ đầu mối về cung cấp khó đảm bảo an toàn, nhiều người dân phố đã cố công đi chợ sớm, tìm mua thực phẩm của những người dân vùng giáp ranh đem bán.”


Vậy là, những gánh rau bán rong, vài mớ cá đủ loại cắp trong cái chậu… với lời quảng cáo “của nhà trồng ra, kiếm được đem bán” là những người bán hàng quê này đắt hàng tơi tới. Chỉ khi không còn bóng dáng những người bán “hàng quê” (mà chẳng biết quê thật hay giả) thì những người bán hàng tại các sạp cố định ngoài chợ mới có khách hỏi tới.


Không chỉ đi chợ sớm, nhiều người dân thành thị còn cất công đi vài chục cây số đến tận các chợ quê mua cho được mớ rau, con cá, vài cân thịt lợn. Mua ở đấy, họ tin tưởng rằng mình đã mua được nông sản do chính người nông dân làm ra, ăn không hết mang bán. Ðó là kiểu “mua bán theo niềm tin.” (KN)

Vụ Văn Giang: Hài cốt của nhiều người chết bị xới tung

 


HƯNG YÊN (NV) – Không chỉ thẳng tay đàn áp, đánh đập, bắt giam những người sống, lực lượng cưỡng chế đất trong vụ Văn Giang, xảy ra hôm 24 tháng 4, còn đào mồ mả và xới tung hài cốt của nhiều người đã chết.







Một người dân Văn Giang đang nhặt từng mẩu xương còn sót lại sau khi mộ người thân bị đào xới. (Hình: Blog Nguyễn Xuân Diện)


Nhiều hình ảnh vừa được công bố trên trang blog Nguyễn Xuân Diện vào hôm 30 tháng 4, cho thấy mồ mả của thân nhân những người nông dân trên khu đất bị cưỡng chế đã bị xới tung, xương người rơi vãi sau cuộc càn quét của công an và máy xúc, máy ủi các loại.


Tiến Sĩ Nguyễn Xuân Diện tường thuật trên trang blog, “Ở cánh đồng, chiều nay bà con Xuân Quan đi ra nơi những máy xúc, máy ủi của cuộc cưỡng chế để nhặt xương cốt tổ tiên mình bị đào xới tan hoang trong trận càn hôm 24 tháng 4, 2012.”


“Những người dân Văn Giang chiều nay gom những mảnh hài cốt này cũng không chắc đó là của tổ tiên của dòng tộc họ, vì ở đây có hàng chục ngôi mộ bị máy ủi và máy xúc đảo lộn để làm một con hào ngăn cách khu dân cư và khu đất đã bị cưỡng chế san phẳng.”









Một đoạn xương người tìm thấy. (Hình: Blog Nguyễn Xuân Diện)


Vẫn theo trang blog Nguyễn Xuân Diện, những người nông dân ở đây cho biết, hiện vẫn còn 5 người đang bị giam giữ tại công an tỉnh Hưng Yên. Trong 5 người này có 4 người là dân xã Phụng Công (ông Ðỗ, anh Khương, anh Hùng và chị Vinh) và 1 người Xuân Quan là anh Nguyễn Văn Khoa.


Vụ cưỡng chế ở Văn Giang xảy ra hôm 24 tháng 4, khoảng 3,000 nhân viên công lực, bao gồm công an, cảnh sát cơ động, dân quân và cán bộ địa phương đã đàn áp vài trăm nông dân chống cưỡng chế đất.


Vụ cưỡng chế liên quan đến 72 héc ta đất thuộc ba xã Cửu Cao, Phụng Công và Xuân Quan mà nhà cầm quyền muốn quy hoạch để xây dựng khu đô thị thương mại du lịch lớn nhất miền Bắc là Văn Giang Ecopark trong nhiều năm qua đã bị người dân phản đối.









Nhiều người khác tìm kiếm hài cốt người thân. (Hình: Blog Nguyễn Xuân Diện)










Một vài ngôi mộ còn sót lại sau trận càn quét hôm 24 tháng 4.
(Hình: Blog Nguyễn Xuân Diện)



Cuộc đàn áp được mô tả là quy mô và lớn chưa từng có diễn ra từ lúc 4 giờ 30 phút sáng và kéo dài đến đầu giờ chiều thì những người nông dân thúc thủ. Sau đó lực lượng cưỡng chế đưa khoảng 100 máy xúc, máy ủi san bằng khu đất.


Mô tả về cuộc cưỡng chế này, nhiều nông dân nói rằng, lực lượng cưỡng chế “coi nhân dân như kẻ thù,” và “chính quyền chưa bao giờ làm ác với dân như lần này…” (KN)

Quan hệ Mỹ-Trung trăm ngàn trở ngại

 


Nguyễn Văn Khanh


Buổi gặp gỡ chiều Thứ Sáu bị hủy bỏ vào giờ chót.


Trên nguyên tắc, hai viên chức cao cấp hành pháp sẽ trình bày cho giới truyền thông biết sơ qua chuyến đi Trung Quốc của bà Ngoại Trưởng Hillary Clinton và ông Tổng Trưởng Tài Chánh Timothy Geithner, sẵn sàng trả lời những câu hỏi liên quan các điểm Hoa Kỳ sẽ đặt ra với giới lãnh đạo của Hoa Lục cũng như những thành quả hy vọng sẽ đạt được, nhưng chỉ nửa giờ đồng hồ trước khi – trên nguyên tắc – cuộc gặp bắt đầu, báo chí ở thủ đô nhận được email từ Tòa Bạch Ốc cho hay chương trình phải hoãn lại và “sẽ được thông báo sau.”


Các nhà báo ở thủ đô đều chờ đợi nhưng cuối cùng cuộc họp báo đó chẳng bao giờ đến. Mãi đến khi một viên chức của Hội Ðồng An Ninh Quốc Gia loan tin ông Phụ Tá Ngoại Trưởng Ðặc Trách Châu Á Kurt Campbell trên đường sang Bắc Kinh “để dàn xếp một vài chuyện với các viên chức Trung Quốc,” lúc đó mọi người mới hiểu tình hình có vẻ nghiêm trọng. Tin tức từ Bắc Kinh cho hay nhà tranh đấu hàng đầu Trần Quang Thành chạy trốn được vào Ðại Sứ Quán Mỹ và đang được chính phủ Hoa Kỳ bảo vệ, tin từ Washington thì nói Tổng Thống Barack Obama có thể thay đổi ý kiến, sẽ đồng ý bán chiến đấu cơ cho Ðài Loan.


Tất cả những biến chuyển sôi nổi này xảy ra chỉ 48 giờ đồng hồ trước khi bà ngoại trưởng Mỹ cùng ông tổng trưởng Tài Chánh rời Washington đi dự cuộc họp thường niên về chiến lược và kinh tế. Chuyện ông Campbell phải sang Bắc Kinh trước thay vì đi chung chuyến máy bay với bà Clinton chứng tỏ quan hệ giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc “đang ở trong tình huống thật tế nhị,” theo lời một viên chức ngoại giao yêu cầu không nêu tên.


Tế nhị đầu tiên là chuyện Tổng Thống Obama có thể bán chiến đấu cơ cho Ðài Loan, thể theo nội dung thư ông Giám Ðốc Ðặc Trách Quan Hệ Quốc Hội Ron Nabors gửi cho Thượng Nghị Sĩ Cộng Hòa John Cornyn của bang Texas. Trong thư, viên chức cao cấp Tòa Bạch Ốc viết với đại ý cho hay người mới được ông nghị sĩ ủng hộ là tân phụ tá tổng trưởng quốc phòng đặc trách Châu Á-Thái Bình Dương Mark Lippert sẽ giữ một vai trò quan trọng, giúp chính phủ hoạch định kế hoạch hỗ trợ cho Không Quân Ðài Loan, để khác biệt về sức mạnh không lực của Ðài Bắc và Bắc Kinh không ở mức quá xa như hiện giờ.


Thư từ Tòa Bạch Ốc nói rõ trong những kế hoạch “sẽ được bàn thảo một cách nghiêm chỉnh” có cả việc Ðài Loan yêu cầu được mua thêm chiến đấu cơ do Hoa Kỳ chế tạo, tức có thể tổng thống sẽ thay đổi ý kiến mới đưa ra hồi Tháng Chín năm ngoái khi ông không chấp thuận bán 66 chiếc F-16 loại tối tân nhất mà Ðài Loan muốn mua, chỉ giúp tân trang những chiếc F-16 mà không quân Ðài Loan đang sử dụng.


Trong những bản phúc trình gửi Quốc Hội nói về căng thẳng đang xảy ra ở eo biển Ðài Loan, các chuyên gia quân sự Mỹ cho hay Trung Quốc hiện có 2,300 chiếc chiến đấu cơ trong khi Ðài Loan chỉ có 490 chiếc, và điều này khiến Thượng Nghị Sĩ Cornyn cùng với một số đồng viện Cộng Hòa khác cho rằng Washington có trách nhiệm phải hỗ trợ đồng minh, giúp Ðài Loan “nhẹ bớt áp lực về quân sự do phía Bắc Kinh gây nên.” Trong lúc chờ đợi Tòa Bạch Ốc tìm cách giải quyết, Nghị Sĩ Cornyn quyết định sử dụng ngón đòn “ngâm tôm,” không cứu xét lời đề cử ông Mark Lippert, đẩy Tòa Bạch Ốc tới chỗ phải đưa ra lời cam kết qua lá thư mang chữ ký của ông Ron Nabors.


Mặc dù chắc chắn sẽ gặp phản đối từ Bắc Kinh, nhưng chuyện tổng thống Hoa Kỳ có đồng ý bán chiến đấu cơ cho Ðài Loan hay không vẫn là chuyện tương lai. Trước mắt, vấn đề cần phải giải quyết chính là chuyện của ông luật sư khiếm thị Trần Quang Thành, người mới từ Sơn Ðông vượt chặng đường dài dần 700 cây số đến Bắc Kinh, sau đó vào Ðại Sứ Quán Mỹ nhờ giúp đỡ.


Mặc dù Washington chưa công khai xác nhận ông này đang có mặt trong tòa đại sứ, nhưng tin tức từ thủ đô cho hay các nhà ngoại giao Hoa Kỳ đang ở trong thế kẹt, vì ông Trần Quang Thành “không xin tỵ nạn chính trị,” chỉ yêu cầu chính phủ Hoa Kỳ làm áp lực với Trung Quốc “để Bắc Kinh đừng tiếp tục trấn áp ông ta và gia đình của ông ta,” để yên cho ông ta làm “điều phải” như ông đã từng làm bao nhiêu năm qua là lên tiếng bênh vực cho công bằng xã hội.


Chính điều này đã đẩy các viên chức ngoại giao Hoa Kỳ vào thế khó xử, theo giải thích của các chuyên gia về quan hệ quốc tế, đặc biệt là những chuyên gia đã từng có thời làm việc tại Bắc Kinh. Các chuyên gia này nhắc lại chuyện Washington từng nhiều lần lên tiếng đòi hỏi chính phủ Trung Quốc phải đối xử tốt hơn đối với ông Trần Quang Thành và các nhà bất đồng chính kiến khác, “nhưng Hoa Kỳ không thể nào nói với Bắc Kinh là chúng tôi sẽ yêu cầu ông ta rời khỏi Ðại Sứ Quán với điều kiện quý vị phải cam kết tôn trọng những gì ông ta đòi hỏi.”


“Làm như thế có nghĩa là Hoa Kỳ tạo cớ để Bắc Kinh nói Washington can thiệp vào chuyện nội bộ của họ,” theo giải thích của một nhà ngoại giao cao cấp từng được gửi sang làm việc ở Bắc Kinh dưới thời Tổng Thống George Bush (ông Bush bố). Nhưng mặt khác, “chính phủ Hoa Kỳ không thể để ông Trần Quang Thành rời tòa đại sứ rồi sau đó bị công an bắt giữ như họ đã bắt những người giúp ông ta trốn khỏi Sơn Ðông,” nhà ngoại giao này nói tiếp. “Lúc đó các tổ chức nhân quyền sẽ lên tiếng chỉ trích Hoa Kỳ không coi trọng quyền làm người, và có thể ngay chính một số nước bạn cũng chê bai các nhà ngoại giao của chúng ta không khéo léo hay không khôn ngoan khi giải quyết chuyện này.”


Ngay chính ông Bob Fu, chủ tịch Tổ Chức Hỗ Trợ Nhân Quyền Cho Trung Quốc (ChinaAid) trụ sở đặt tại Texas cũng nghĩ như vậy. Ông nhìn nhận đường dây của tổ chức đã góp một phần lớn trong chuyện giúp ông Trần Quang Thành trốn thoát, nhắc nhở chính phủ Mỹ đừng quên người đang có mặt trong tòa Ðại Sứ Mỹ “là người cả thế giới biết đến, trách nhiệm của chính phủ Obama là phải bảo vệ ông ta cho bằng được, nếu không muốn thấy Hoa Kỳ bị chỉ trích là coi thường nhân quyền.” Trong bản tuyên bố mới nhất, ông Bob Fu còn viết rằng, “những người bất đồng chính kiến ở Hoa Lục theo dõi thật sát trường hợp đặc biệt này” để xem nước Mỹ có thật sự là người bạn mà họ tin tưởng được hay không.


Cũng chia sẻ lập luận đó, đại diện Tổ Chức Ân Xá Quốc Tế ở Washington D.C. là ông Frank Jannuzi đưa ra phát biểu với đại ý nói rằng không một chính phủ nào có quyền áp buộc ông Trần Quang Thành phải ở lại hay ra đi, “nhưng bổn phận của chính phủ Mỹ là chỉ đồng ý cho ông ta ở lại với điều kiện Bắc Kinh phải cam kết không gây thêm bất cứ khó khăn nào cho ông ta nữa.”


“Khó khăn nằm ở chỗ đó,” ông Kenneth Lieberthal, người từng đảm trách khu vực Châu Á-Thái Bình Dương của Hội Ðồng An Ninh Quốc Gia trả lời báo chí khi được hỏi liệu có giải pháp nào cho vấn đề thật tế nhị này hay không. “Tôi không nghĩ là bên Tòa Bạch Ốc cũng như bên Bộ Ngoại Giao đã nghĩ ra được cách thức giải quyết.”


Như vậy, chuyện sẽ kết thúc như thế nào? Cả Hoa Kỳ lẫn Washington đều khéo léo, không muốn làm to chuyện này trong lúc tìm cách giải quyết. Ở Bắc Kinh, Thứ Trưởng Ngoại Giao Thôi Thiên Khải bảo “chẳng có tin gì về chuyện này để nói với các nhà báo”; tại Washington, ông Cố Vấn John Brennan cũng không xác định tin nhà tranh đấu Trần Quang Khải đã trốn được vào tòa Ðại Sứ Mỹ, chỉ nói rằng, “quan hệ Hoa Kỳ-Trung Quốc không chỉ là quan hệ song phương, mà là mối quan hệ ảnh hưởng toàn cầu.”

Mỹ tốn $190 tỉ mỗi năm cho y tế vì bệnh mập phì

 


NEW YORK Mập phì ở Mỹ hiện nay gây tốn kém thêm cho chi phí của y tế hằng năm đến con số đáng kinh ngạc là $190 tỉ, vượt qua cả hút thuốc, vốn là kẻ thù số một của y tế công cộng.







Chứng mập phì đã tăng 34% tính từ 1960 trong khi mức tử tuất do mập phì cũng tăng gấp sáu lần. Mập phì cũng gây tốn kém cho chi phí y tế hằng năm ở Hoa Kỳ đến $190 tỉ. (Hình: John Moore/AFP/Getty Images)


Trong tập san Health Economics số Tháng Giêng được trích dẫn trên Reuters, hai nhà nghiên cứu Cawley và Chad Meyerhoefer thuộc trường Ðại Học Lehigh báo cáo: “Ðàn ông mập phì gây tổn phí y khoa thêm $1,152 mỗi năm cho việc chữa trị tại bệnh viện và thuốc thang; trong khi phải tốn đến $3,613 cho mỗi phụ nữ. Nghiên cứu này dựa theo dữ kiện lấy từ 9,852 đàn ông có chỉ số BMI trung bình là 28, và 13,837 phụ nữ có chỉ số 27. Cả hai đều trong hạn tuổi từ 20 đến 64, trong số đó 28% bị mập phì. Nghiên cứu cho thấy chi phí y tế trung bình hằng năm cho người mập là $3,271 so với $512 nơi người bình thường.”


Chi phí tốn kém thêm có phần do bảo phí sức khỏe cao hơn, xe cộ chuyên chở người nặng kí khiến xe cộ phải tiêu thụ thêm một tỉ gallon mỗi năm.


Ðiều chúng ta có thể chưa được biết đến là, đạo luật y tế Affordable Care Act phải đối đầu trực tiếp với cuộc khủng hoảng này theo một số cách, bắt đầu với việc cho phép giới chủ nhân chống lại mập phì bằng cách tăng tiền bảo hiểm sức khỏe cho nhân viên dư cân từ 30 đến 50%, nếu người nhân viên từ chối không chịu tham gia chương trình giúp họ được giảm cân.


Chứng mập phì đã tăng 34% tính từ 1960 trong khi mức tử tuất do mập phì cũng tăng gấp sáu lần.


Ðiều gây rắc rối hơn nữa là, khác với người hút thuốc, người mập phì có khuynh hướng sống dai dẳng như người sống biết hạn chế cân lượng. Eric Finkelstein thuộc trường Ðại Học Duke nhận xét: “Người hút thuốc qua đời đủ sớm để tiết kiệm cho quỹ An Sinh Xã Hội, tiền cấp dưỡng tư nhân, và Medicare đến hằng ngàn tỉ dollar. Nhưng mức tử tuất nơi người mập phì lại không cao hơn người hút thuốc nhiều.” (TP)

Phà lật ở Ấn Ðộ, 35 chết, 165 mất tích

 


GAUHATI, Ấn Ðộ (AP) Một chiếc phà chở đầy người bị lật trong mưa to gió lớn ở miền Ðông Bắc Ấn Ðộ vào khuya Thứ Hai, khiến ít nhất 35 người chết và 165 người khác e rằng mất tích.







Công cuộc tìm kiếm người chết và mất tích được tiến hành trên sông Meghna, ở Ðông Bắc Ấn Ðộ, nơi vừa xảy ra vụ phà lật vào khuya Thứ Hai, vào lúc trời mưa to gió lớn. (Hình: AP/Pavel Rahman)


J N Choudhury, cảnh sát trưởng tiểu bang Assam cho biết, chiếc phà chở theo khoảng 350 hành khách bị vỡ làm đôi. Khoảng 150 người ngồi ở tầng trên được cứu thoát hoặc tự bơi vào nơi an toàn.


Tai nạn xảy ra trên sông Brahmaputra, gần Fakiragram, nằm ở phía Tây quận Dhubri. Khu vực này cách Gauhati, thủ phủ của tiểu bang, 215 dặm, và gần nơi con sông này đổ vào Bangladesh. Ông Choudhury nói rằng các giới chức bên quốc gia đó đã được liên lạc để nhờ giúp đỡ.


Khu vực này rải rác với nhiều cộng đồng cư dân sống ven sông và các đảo nhỏ, nơi tàu thuyền là phương tiện giao thông phổ thông nhất. Hầu hết phà đều chở đầy người và luật lệ an toàn ít được tôn trọng.


Cảnh sát trưởng Choudhury nói, mưa to gió lớn có thể là nguyên nhân dẫn đến tai nạn. Cảnh sát và quân đội được điều động đến nơi để giúp dân làng địa phương trong công cuộc cứu nạn. (TP)

Ba thiếu niên cùng nhậu và cùng chết đuối

 


TIỀN GIANG (NV) Ba thiếu niên tuổi từ 15-16 ở xã Ðạo Thạnh, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang, đã cùng chết đuối vào chiều 29 tháng 4, mà theo báo Tuổi Trẻ là các nạn nhân trước khi thiệt mạng đã cùng tham gia một cuộc nhậu.







Rất đông người hiếu kỳ tập trung xem thợ lặn tìm kiếm thi thể các nạn nhân. (Hình: Báo Tuổi Trẻ)


Báo Tuổi Trẻ cho biết, vào hôm 30 tháng 4, hàng trăm người dân đã tụ tập ở khu vực cống Bảo Ðịnh, quốc lộ 50, để chứng kiến người nhà của ba nạn nhân thuê thợ lặn tìm thi thể con.


Người thân của nạn nhân ở phường 4, thành phố Mỹ Tho cho báo Tuổi Trẻ biết, “Chiều 29 tháng 4 em này nói với gia đình là đi câu cá với mấy người bạn. Tuy nhiên, từ chiều 29 đến trưa 30 tháng 4 gia đình không thấy về.”


“Cùng lúc đó, người nhà của hai nạn nhân khác tìm tới nhà để hỏi thăm về con của mình. Cả ba gia đình mới đến gặp một người bạn của các nạn nhân ở phường 4 để vặn hỏi. Lúc này, thiếu niên này mới thừa nhận cả ba bạn đã bị chết đuối ở cống Bảo Ðịnh.”


“Theo tường trình của thiếu niên này, khoảng 15 giờ ngày 29 tháng 4, trong cơn mưa tầm tã, cả nhóm rủ nhau ngồi uống rượu dưới chân cầu (cống Bảo Ðịnh). Lúc đó, một người trong nhóm trượt chân rớt xuống sông và bị nước cuốn ra phía ngoài. Hai người bạn khác vội nhảy xuống đẩy bạn mình vào. Tuy nhiên, nước cuốn mạnh khiến cả ba bị chìm. Thiếu niên trên bờ la to cầu cứu, dù ở gần đó có khá nhiều nhà dân nhưng do mưa lớn nên không ai nghe.”


Vẫn theo báo Tuổi Trẻ, “Thấy cả ba bạn mình bị chết đuối, thiếu niên này trốn về nhà không dám kể cho ai nghe. Chỉ đến khi các gia đình nạn nhân biết thiếu niên này có đi cùng ba nạn nhân gặng hỏi thì mới thú nhận. Cho đến 6 giờ chiều người ta vẫn chưa tìm thấy thi thể ba nạn nhân.” (KN)

Mưa đá đột ngột xuất hiện ở Sài Gòn

 


SÀI GÒN (NV)Một trận mưa đá bất ngờ xuất hiện ở khu vực đường Tô Hiến Thành, quận 10, Sài Gòn vào chiều 30 tháng 4, sự kiện vốn hiếm hoi ở thành phố này.







Ðường Tô Hiến Thành (phường 13, quận 10), nơi người dân nhìn thấy mưa đá. (Hình: Báo Tuổi Trẻ)


Báo Tuổi Trẻ cho hay, vì mưa đá xuất hiện quá nhanh nên nhiều người dân không kịp nhận ra hiện tượng trên.


Báo Tuổi Trẻ dẫn lời anh Nguyễn Nhật Trung, một người bán trái cây ven đường Tô Hiến Thành, nói rằng “cơn mưa có kèm theo những hạt đá nhỏ bằng đầu ngón tay út, màu trắng đục. Sau khoảng 3 phút thì những hạt đá này tan hết.”


Trước đó, hôm ngày 25 tháng 4, nhiều người dân ở khu vực xã Bình Ðức, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang, bất ngờ khi nhìn thấy mưa đá. Người dân chứng kiến miêu tả viên đá to bằng lóng tay và cơn mưa kéo dài khoảng 10 phút.


Nhiều người dân nói rằng, đây là lần đầu tiên họ nhìn thấy hiện tượng này.


Theo báo Tuổi Trẻ, “tại Việt Nam mưa đá thường xuất hiện từ tháng 1 đến tháng 5. Nhiều nhất là từ tháng 3 đến tháng 5.” (KN)

Lời tri ân của Bùi Hằng

 


 


 


Bùi Thị Minh Hằng


 


LTS. Bài viết dưới đây được bà Bùi Thị Minh Hằng gửi ra trên trang mạng xã hội khi từ trại cải tạo về tới nhà ở Vũng Tàu, sau 6 tháng bị giam giữ trái luật.


 


Gửi tất cả những người bạn yêu quý của Bùi Hằng,


Lời đầu tiên, xin cho Bùi Hằng và gia đình được gửi lời cảm ơn đến tất cả các bạn, những người đã luôn lo lắng và lên tiếng bảo vệ cho Bùi Hằng trong 6 tháng qua. Xin cảm ơn những blogger, các cơ quan truyền thông, tổ chức quốc tế, tòa đại sứ và chính phủ các nước đã lên tiếng đòi trả tự do cho Bùi Hằng. Từ tận đáy lòng, xin các bạn hãy nhận từ Bùi Hằng lời cảm ơn chân thành nhất.







Bà Bùi Hằng với vòng hoa “Mừng chị từ hang sói trở về” do thân hữu gởi tặng. (Hình: Facebook)


Chiều hôm nay, Bùi Hằng trở về nhà trong một thân xác tiều tụy, đủ các vết thương trên người. Thế nhưng, đây sẽ là ngày trở về đầy niềm vui và hạnh phúc nhất trong cuộc đời. Niềm vui trào dâng cùng những giọt nước mắt vừa mừng, vừa tủi.


6 tháng trong lao tù, cùng với bao nỗi cay đắng đã khiến bề ngoài Bùi Hằng thay đổi hẳn, nhìn lại trong gương không thể nhận ra mình. Dẫu vậy, Bùi Hằng sẽ vẫn luôn là Bùi Hằng mà các bạn đã biết đến như ngày nào.


Dù những thế lực cầm quyền có vu cáo bịa đặt thế nào đi chăng nữa, Bùi Hằng sẽ luôn là một người con của Tổ quốc Việt Nam, là người đồng hành với tất cả những người dân Yêu Nước. Những cuộc đàn áp chỉ làm cho Bùi Hằng vững tin hơn vào con đường mình đã chọn. Những ngày sắp tới sẽ là cuộc chiến đầy cam go chống lại những thế lực đang phá hoại Tổ Quốc thân yêu của chúng ta. Dù chỉ là một hạt cát nhỏ nhoi, nhưng Bùi Hằng xin nguyện sẽ làm hết sức để đấu tranh cùng các bạn.


Việc nhà cầm quyền buộc phải thả Bùi Hằng chính là thành quả từ nỗ lực đấu tranh không mệt mỏi của đồng bào trong và ngoài nước, đó cũng là nhờ vào sự lên tiếng của tất cả những người có lương tri trên toàn thế giới. Trong chốn lao tù cách biệt với thế giới bên ngoài, Bùi Hằng đã luôn chiến đấu và không lùi bước trước cường quyền.


Trại Thanh Hà là một nhà tù nhỏ, còn đất nước Việt Nam là một nhà tù lớn hơn. Còn bao nhiêu người Việt Nam yêu nước khác vẫn đang bị giam cầm trong nhà tù nhỏ, gần 90 triệu người dân Việt Nam vẫn bị đày đọa trong nhà tù lớn hơn. Chính vì vậy, Bùi Hằng nghĩ rằng chúng ta vẫn phải luôn tiếp tục chiến đấu để đòi lại tự do cho đồng bào mình. Ðó cũng là khát khao mà Bùi Hằng luôn hướng đến.


Về dự định sắp tới, trước tiên Bùi Hằng sẽ cố gắng điều trị các vết thương, sau đó tiến hành các thủ tục cần thiết để khiếu nại. Trong thời gian đầu, do sức khỏe yếu nên việc đi lại sẽ gặp nhiều khó khăn, vì vậy Bùi Hằng mến mời bạn bè nếu có điều kiện ghé thăm để dùng bữa cơm thân mật với gia đình. Về lâu dài, Bùi Hằng sẽ luôn theo con đường đã chọn, tiếp tục cùng các bạn đấu tranh cho một xã hội tốt đẹp hơn.


Ðường còn dài và khó khăn đang chờ đợi, nhưng chỉ cần có quyết tâm và sự đoàn kết, chắc chắn chúng ta sẽ làm được. Một lần nữa, xin cho Bùi Hằng gửi lời cảm ơn đến tất cả các bạn đã quan tâm, xin cảm ơn mọi người đã giúp Bùi Hằng chăm sóc cho gia đình, giúp cháu Nhân có điều kiện thăm nuôi mẹ trong suốt 6 tháng vừa qua. Những ân tình sâu nặng không biết đến bao giờ Bùi Hằng mới có thể đền đáp.


Cuối cùng, xin cho Bùi Hằng gửi lời chào thân ái và quyết thắng đến tất cả các bạn.


Bùi Thị Minh Hằng


 


P/s: Gửi tặng mọi người bài thơ Bùi Hằng làm trong thời gian ở CSGD Thanh Hà.


 


Cuộc đời đâu phải là con đường trải thảm


Ðể cứ đi là cứ bước chân đi


Ðổi bao nhiêu những đoạn trường


Thì ta mới có con đường hôm nay


Và bao nhiêu những bàn tay


Bạn bè – bằng hữu hàng ngày sẻ chia


 


Biết bao người đã đưa tay ra vịn


Ðể cho ta đứng được thẳng hôm nay


Biết bao người đã cùng ta vất vả


Ðể làm nên viên gạch lót đường


 


Ta phải sống ngoan cường và chính nghĩa


Ðể con đường ta bước sẽ nở hoa


Ðể con đường bao người bước chân qua


Sẽ đến được vinh quang chiến thắng


 


Dù phải đổi bằng xương máu mồ hôi


Nếu cho phép nói về tôi


Tôi vẫn mượn vần thơ của người đi trước


Ðể nói rằng tất cả điều tôi làm, tôi ước


Là đồng bào là tổ quốc của tôi:


 


“Ôi Tổ quốc ta yêu như máu thịt


Như mẹ, như cha, như vợ, như chồng


Ôi Tổ Quốc nếu cần tôi chết


Cho đồng bào tôi cho máu thịt của tôi”


(Thanh Hà, ngày 20 tháng 4, 2012)

Thủ tướng Nhật đến Tòa Bạch c


WASHINGTON (AP)
Thủ Tướng Nhật Yoshihiko Noda đến gặp Tổng Thống Barack Obama tại Tòa Bạch Ốc hôm Thứ Hai, nhằm thắt chặt mối giao hảo giữa hai đồng minh thân thiết và cũng để nâng cao uy tín của ông tại Nhật.










Thủ tướng Nhật đến Tòa Bạch Ốc


Ông Noda lên cầm quyền hồi Tháng Chín năm ngoái và là thủ tướng thứ sáu của Nhật trong sáu năm qua, hiện đang gặp nhiều khó khăn trong nỗ lực vực dậy nền kinh tế cũng như đối phó với cuộc khủng hoảng nguyên tử được coi là trầm trọng nhất kể từ khi xảy ra vụ Chernobyl.


Ông Noda sẽ họp tại Phòng Bầu Dục tòa Bạch Ốc và dùng bữa trưa với Tổng Thống Obama, sau đó là cuộc họp báo chung và buổi dạ tiệc do Ngoại Trưởng Hillary Rodham Clinton khoản đãi. Cả hai chính phủ Mỹ và Nhật đều muốn chứng tỏ rằng mối quan hệ hai nước rất bền chặt, nhất là sau khi những trợ giúp của Mỹ khi xảy ra thiên tai động đất và sóng thần hồi Tháng Ba năm 2011.


Hai nhà lãnh đạo không phát biểu gì khi Tòa Bạch Ốc để cho giới truyền thông ghi hình ảnh ở lúc đầu cuộc họp.


Mối quan hệ của Mỹ với Nhật, quốc gia có nền kinh tế lớn thứ ba thế giới, là trọng tâm trong chính sách gia tăng sự hiện diện ở Á Châu của chính phủ Obama. (V.Giang)

Ngoại trưởng Mỹ đến Bắc Kinh giữa lúc căng thẳng

 


Luật sư mù Chen Guangcheng được cho là tỵ nạn trong tòa đại sứ


 


WASHINGTON (CNN) Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton lên đường đi Trung Quốc đêm Thứ Hai cùng với Bộ Trưởng Ngân Khố Timothy Geithner để thảo luận về nhiều vấn đề kinh tế có tính cách chiến lược giữa hai nước.







Ðội công an bảo vệ từ Tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ ở Bắc Kinh đổi phiên gác đi ra. Phái đoàn ngoại trưởng và bộ trưởng Ngân Khố Mỹ đến Trung Quốc đúng lúc quan hệ hai bên căng thẳng, kể cả việc một nhà bất đồng chính kiến được cho là đã trốn vào Tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ. (Hình: Goh Chai Hinh/AFP/Getty Images)


Tuy nhiên người ta tin rằng căng thẳng ngoại giao do vụ nhà bất đồng chính kiến, Luật Sư Chen Guangcheng (Trần Quang Thành) vừa chạy trốn vào Tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ ở Bắc Kinh sẽ tác động đến cuộc hội đàm chính thức bắt đầu từ ngày Thứ Năm. Hoàn cảnh đặc biệt này được xem như một trắc nghiệm cho chính quyền của Tổng Thống Obama về đường lối tiếp cận với Trung Quốc


Chen Guangcheng, 40 tuổi, một luật gia tự học và người khiếm thị, nổi tiếng thế giới từ cuối thập kỷ 1990 khi ông lên tiếng bênh vực những nạn nhân mà ông gọi là bị xâm phạm vì hành động cưỡng bách phá thai bởi các viên chức công quyền thực thi chính sách gia đình một con. Một tòa án địa phương kết án ông 50 tháng tù năm 2006 với tội danh gây thiệt hại tài sản và làm mất trật tự giao thông trong một cuộc biểu tình. Tháng 9 năm 2010 ông được phóng thích nhưng bị quản thúc tại gia cùng với mẹ, vợ và con gái.


Sau 18 tháng vẫn trong tình trạng quản thúc, ngày 22 tháng 4 vừa qua, Chen Guangcheng được giúp trốn khỏi nơi cư trú tại một làng nhỏ ở phía Ðông Trung Quốc và đến Bắc Kinh. Các bạn của Chen cho biết ông đã chạy vào Tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ để được bảo vệ an ninh, tuy nhiên chưa xin tị nạn.


Nói với Thủ Tướng Ôn Gia Bào qua một cuốn băng video đưa lên YouTube ngày Thứ Sáu tuần trước, Chen Guangcheng tố giác những hành động trấn áp tàn bạo, kể cả đánh đập, đối với ông và gia đình trong thời gian bị quản thúc.


Báo chí Trung Quốc bị kiểm duyệt không được loan tin gì về nhà tranh đấu tàn phế khiếm thị này. Sự việc xảy ra đúng vào lúc đảng Cộng Sản Trung Quốc chưa giải quyết xong vụ tai tiếng chính trị Bạc Hy Lai, bí thư thành ủy Trùng Khánh, vừa bị cách chức và giải nhiệm khỏi Bộ Chính Trị.


Các giới chức Hoa Kỳ cũng như Trung Quốc đều từ chối đề cập trực tiếp đến những chuyện này. Nhưng một cố vấn an ninh quốc gia cao cấp của Tổng Thống Obama, ông John Brennan, hôm Chủ Nhật nói trên truyền hình Fox rằng chính quyền Mỹ “đang làm việc rất chặt chẽ với các cá nhân liên hệ.” Theo ông, Washington nhắm tới “một thế quân bình thích đáng” giữa vấn đề nhân quyền và quan hệ ngoại giao với Bắc Kinh. (HC)

Tin mới cập nhật