Tìm thấy khay trà cổ 200 năm của Nguyễn Du

 

 

Tìm thấy khay trà cổ 200 năm của Nguyễn Du

 

HÀ TĨNH (NV)Khay gỗ đựng bình trà được cho là di vật của đại thi hào Nguyễn Du vừa được tìm thấy tại nhà người cháu đời thứ sáu của ông ở tỉnh Hà Tĩnh.

Theo VNExpress, chiếc khay bằng gỗ đen dầy 5cm, dài 5 tấc và rộng hơn 3 tấc, có trọng lượng khoảng 2 kí lô chạm trổ hình bó hoa sen và một con cua rất tinh xảo.

Khay trà cổ 200 năm tuổi của thi hào Nguyễn Du. (Hình: VNExpress)

Người cháu đời thứ sáu của đại thi hào Nguyễn Du hiện đang ngụ tại huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh cho biết đó là cái khay gỗ trong bộ ấm trà của ông vẫn dùng khi sinh thời. Ðáng tiếc là bộ ấm chén đã bị thất lạc, nay chỉ còn lại cái khay.

Chiếc khay này đang được lưu giữ tại khu di tích Nguyễn Du ở tỉnh Hà Tĩnh.

Thi hào Nguyễn Du (1765-1820) là tác giả “Truyện Kiều” nổi tiếng trong kho tàng văn học Việt Nam.

Ðám cưới đồng tính ở Cà Mau bị chính quyền làm khó

 

CÀ MAU (NV) Một đám cưới đồng tính diễn ra trong âm thầm tại huyện Ðầm Dơi, tỉnh Cà Mau, và bị chính quyền địa phương gây áp lực nặng nề.

Ðám cưới này diễn ra cách nay khoảng 10 ngày và mới được tiết lộ hôm 18 tháng 3. Ðôi tân hôn đồng tính nữ là là Nguyễn Vạn Nhi 20 tuổi và Nguyễn Thị Nhung 21 tuổi, cư dân huyện Trần Văn Thời.

Ðám cưới đồng tính đầu tiên tại Hà Nội cuối năm 2011. (Hình: Tin Nhanh)

Nguồn tin này lan rộng sau khi cha mẹ của hai cô bị chính quyền huyện Ðầm Dơi mời đến “làm việc.” Ông Nguyễn Phi Thuyền và bà Trần Ngọc Vân đại diện hai họ xác nhận đã tổ chức “lén” đám cưới cho con gái của họ từ mười ngày trước.

Theo VTC News, bất chấp sự ngăn cản của hai bên gia đình và sự cấm đoán của pháp luật, hai cô gái Nguyễn Vạn Nhi và Nguyễn Thị Nhung nhất định làm đám cưới. Một trong hai họ nói rằng hai cô gái dọa tự tử nếu không được kết hôn. Ðể không bị mất con, họ chấp nhận lời thỉnh cầu của hai cô.

Ðám cưới của Nhi và Nhung được tổ chức giản dị tại một căn nhà nhỏ cạnh bờ sông với sự chứng kiến của một số người thân thuộc. Ðược gia đình hai bên chấp nhận trong buổi lễ cưới, hai cô gái chính thức chung sống với nhau sau ngày đó.

VTC News cũng cho hay, chính quyền thị trấn Ðầm Dơi đã buộc gia đình hai bên ký tên vào một biên bản không để xảy ra “quan hệ đồng tính” tại địa phương. Theo tiết lộ của gia đình cô Nhi, chính người trong thân tộc của họ đã tố cáo với chính quyền địa phương về đám cưới mà họ cho là “quái đản” này.

Ðây là đám cưới đồng tính thứ hai được tung ra công luận sau một đám cưới nổi đình nổi đám tại Hà Nội hồi cuối năm rồi. Ðó là đám cưới đồng tính nữ diễn ra giữa đôi “uyên ương” mới 19 tuổi tên QM và TL. Ðôi tân hôn đó gồm một giám đốc công ty và một sinh viên đại học.

Khác hơn Cà Mau, đám cưới đồng tính Hà Nội được tổ chức rầm rộ và được sự ủng hộ của một số thanh niên bạn bè của họ lẫn gia đình.

Sài Gòn: 60% công ty hết vốn hoạt động

 

 

Sài Gòn: 60% công ty hết vốn hoạt động

 

SÀI GÒN (NV) Riêng tại Sài Gòn trong tháng qua, trên 2,500 công ty thuộc loại vừa và nhỏ khai lỗ, chiếm 15% tổng số công ty đang hoạt động. Số công ty này đã làm dài thêm danh sách chiếm tới 50% số đơn vị không nộp nổi thuế lợi tức cho nhà nước Việt Nam tại Sài Gòn.

Giới sản xuất nhỏ đang bị đình đốn trầm trọng. (Hình: Báo Sài Gòn Tiếp Thị)

Theo báo Sài Gòn Tiếp Thị, có đến 60% công ty nhỏ tại Sài Gòn không còn vốn hoạt động và 80% trong số này được tiên đoán sẽ “chết chắc.”

Theo Hiệp Hội Doanh Nghiệp Thành phố, trong năm 2011, có đến 10,000 công ty hoạt động tại địa phận Sài Gòn “dẹp tiệm,” cao kỷ lục trong 20 năm trở lại đây.

Nguyên nhân ngừng hoạt động của các doanh nghiệp này, theo báo chí Sài Gòn, là vì tất cả mọi thứ đều tăng giá vùn vụt thời gian qua, như giá nguyên liệu, lương căn bản, lệ phí bảo hiểm, tiền điện nước… nhất là lãi suất ngân hàng.

Mặc dù đã hạ “một chút,” từ 14%/năm xuống còn 13%/năm, lãi suất của ngân hàng tiếp tục là nguồn lợi tức đáng kể của giới đầu tư, giới gửi tiền tiết kiệm để kiếm lãi kếch xù. Lãi suất này đương nhiên là nguyên nhân chính đẩy giới sản xuất tại Việt Nam đến bờ vực phá sản.

Tình hình này được báo động trong cuộc họp mới đây diễn ra tại Sài Gòn giữa đại diện các công ty và chính quyền.

Tuy nhiên, người ta cho rằng cũng như hàng trăm cuộc họp diễn ra trước đây, từ nhiều năm nay, lời kêu cứu “sắp chết đến nơi,” than lỗ lã triền miên của giới sản xuất vẫn không được ai đoái hoài.

Than bán dạo

 


 


Duy Thức/Người Việt


 Bỗng nhiên giá gaz đã tăng vũ bão.


Trước kia dân thành phố đun nấu bằng bếp dầu hôi hay lò củi. Các bà nội trợ mua củi thước tức là củi chặt khúc xếp ngang một thước, cao một thước. Khi mang về phải có khi phải thuê người chẻ nhỏ ra mới dùng được. Sau này một phần đun củi khói dữ quá, một phần không còn nhiều gỗ tạp làm củi nữa nên dân thành phố xoay qua dùng bếp điện, bếp dầu hôi.


Bếp điện hay bị cháy dây may so, bếp dầu hôi xông mùi dầu quá nên dần dần dân thành phố chuộng bếp ga. Mặc dù thường xảy ra nhiều vụ cháy nổ gây chết người, nhất là bếp ga mini dùng nhiều lần hay các cơ sở sang chiết ga lậu không an toàn, bếp ga vẫn ngày càng thông dụng. Ngay cả miền quê, để bếp nước sạch sẽ hơn, nhiều gia đình cũng dùng bếp ga thay vì bếp củi, bếp trấu cổ truyền, mặc dù những nguyên liệu rẻ tiền này có sẵn chung quanh.







Xe chở than bán dạo trên đường phố Sài Gòn. (Hình: Duy Thức/Người Việt)


Khi mọi người đã quen với bếp ga thì ga tăng giá. Năm ngoái ga tăng từng tháng. Trong một thời gian ngắn từ Tết Tây đến giờ, ga tăng giá bốn lần, tăng 100,000 đồng và chỉ một lần hạ giá… 10,000 cho vui. Hiện nay giá 477,000 tức gần nửa triệu đồng cho một bình ga mười hai ký.


Giá ga tăng khiến đa số gia đình không kham nổi, thói quen đun nấu phải thay đổi. Vì thế mọi người lại quay sang các loại bếp khác.


Bếp điện không giống xưa nữa mà là bếp từ. Mua một bếp từ mới vài trăm ngàn đến vài triệu và còn tiền điện mỗi tháng. Ðiện cũng tăng giá mắc hơn xài gas nữa, bếp từ lại đòi hỏi dùng nồi chảo thích hợp nên không phổ biến.


Chẳng lẽ lại bỏ bếp điện xài lò đất nung ba ông táo như xưa sao? Kế bên nhà tôi có ông Tư già đạp xích lô. Từ xưa tới nay gia đình ông đều nấu nướng bằng loại lò sắt cuốn lại thay vì đất nung. Cái bếp đó có lẽ của ông ta tự chế ra và không thấy nhà ông dùng gas hay lò điện gì cả.


Bà Tư ngồi đặt bếp lò ngay trước nhà chụm củi, chiếc xe cũ kỹ gác bỏ dựa tường, nơi đó ông Tư mua gỗ tạp về sắp dựa tường trữ sẵn cả vài thước. Các thứ cây ván người ta làm nhà bỏ ra, ông đều lượm về hay mua rẻ chặt ngang từng khúc để đút vào lò cho dễ. Rất hiếm nhà đun củi vì thật ra củi hiện nay không phải dễ kiếm mua.


Dân miền Bắc chuộng than tổ ong. Ðó là than cám trộn với mùn cưa và bùn phơi khô đóng thành bánh có nhiều lỗ tròn trông như tổ ong. Loại này khi đốt phát ra khí độc nên nhiều người mùa lạnh đóng cửa đốt than tổ ong sưởi đã bị ngột khí chết.


Ngay cả ở những chung cư mới xây, người ta chẳng ngại gì mà bê các bếp than tổ ong ra đun nấu ngoài hành lang khói mù mịt. Miền Nam thường là hàng ăn cũng dùng than tổ ong. Lý do loại than này âm ỉ nên đun nấu hàng nhiều tiếng thì lợi. Tuy nhiên đa số gia đình thích than thường hơn.


Vì thế lúc này xuất hiện những xe ba gác nhỏ bán than rong giống như rau cỏ trái cây bán rong. Người bán vừa đẩy xe len lỏi vào các con hẻm nhỏ vừa cất tiếng rao hàng.


Anh bán than có đến năm mươi dư, dáng người cao gầy, gân guốc đang rũ mấy cái bao đệm lớn, bụi than bay túa ra đường. Trong xe chất ngay ngắn toàn những khúc than lớn cả.


Tôi nhìn kỹ đống than:


-Tôi muốn mua vài ký than vụn để bỏ vào các chậu lan ở nhà. Và cân một bao than để nấu ăn. Có phải than đước Cà Mau không!


Than đước tốt nhất trong các loại than vì cứng chắc, cháy lâu và ít khói. Mùi khói cũng thơm, không khó chịu như các loại than khác.


Cà Mau có hàng chục xóm chuyên hành nghề hầm than. Khắp nơi đều có các khu vực hầm than: Bình Thuận, Bình Ðịnh,… Những nơi gần rừng có khi tụ tập hàng trăm lò đốt than. Ngày trước cây bị đốn còn lại gốc, người nghèo bứng gốc ấy về hầm than. Chỉ cần đi từ sáng tới chiều được một xe củi đẩy về. Bây giờ đốn hạ cây nhiều quá, rừng bị đẩy lùi. Ði thật xa hàng tuần, người thợ chưa kiếm đủ xe củi về hầm than.


Ðốt than đều là dân nghèo. Khói lò than hít vào độc, rừng cây bị tàn phá, giá một ký than hầm xong bán cho thương lái chỉ trên dưới một ngàn đồng một ký. Nhưng do không có vốn liếng, đất đai, không nghề chuyên môn nên những người dân này vẫn phải bám vào nghề hầm than để mưu sinh.


Rừng Cà Mau bị dân chúng đua nhau vào ăn ong, bắt rùa, nhất là đốt than. Các khu rừng phòng hộ đều bị tấn công. Vào mùa Ðông, giá than lại tăng lên khiến người ta càng hăng hái phá rừng lấy gỗ đốt than.


Nhu cầu về than ngày càng tăng nên xuất hiện than từ nguồn gốc cây trồng.


Anh bán than nói:


-Sau 75, cả nhà tôi đều bị đưa đi kinh tế mới ở Dương Minh Châu hết, cha mẹ tôi làm nghề hầm than kiếm ăn. Về sau họ mất rồi, tôi không biết làm gì sống, cũng nối nghề hầm than từ đó. Bán than kiếm lời khá hơn hầm than nhưng cuộc sống thành phố đắt đỏ. Tính ra cũng vậy…


Ngày trước tôi đi bộ qua rừng cao su Dầu Tiếng. Nơi này có cướp thường rình chặn bộ hành. Có lần tôi gặp hai tên cướp. Tôi không sợ và cũng chẳng mang gì theo nên chúng không làm gì.


Lúc đó rừng rậm hoang dã, người bị đưa lên kinh tế mới tưởng chừng không có đường về. Có khi đói cũng thành cướp. Chúng tụ năm, ba tên ở bìa rừng. Người đi chợ phải rủ nhau thành nhóm, thủ sẵn dao rựa đề phòng rồi mới dám đi. Ai cũng biết chúng thường ngồi trên xe trâu phục sẵn bên đường mòn.


Sau này dân Dầu Tiếng vào làm sở cao su nên cuộc sống cũng đỡ khó nhọc. Nhà cửa trường trại mọc lên nhiều.


Tôi cầm khúc than đen nhánh, hỏi:


-Ðây là than keo hay than tràm?


Anh bán than trả lời:


-Bác cứ nhìn than thì biết. Toàn củi tốt cả. Chúng tôi quen với những người trông coi sở cao su Dầu Tiếng. Các loại cao su lớn già, ít nhựa, họ cưa bán củi hay bán cho các trại gỗ ở Sài Gòn đóng bàn ghế. Tôi quen mua họ các gốc cao su, mà các loại cây khác để hầm than phần nhiều là gỗ nung.


Cũng có khi vườn cây ăn trái bị phá bỏ, vườn nhãn cỗi chẳng hạn, chủ lò than đến mua nguyên vườn về làm nguyên liệu hầm than.


Tôi cười:


-Tôi thấy cây than to như thế này, phần gỗ rất mắc, vả lại nhà nước cấm phá rừng để bán gỗ. Tôi nghi anh quá!


Anh ta cười xòa:


-Có nhiều nơi rừng bụi mịt mù, mình chặt vài cây ăn thua gì? Kiểm lâm cũng thông cảm cho dân nghèo!


-Anh hầm than toàn cây gỗ tốt và lớn nếu số gỗ này đem bán cho xưởng gỗ ở Sài Gòn bộn tiền


-Chở gỗ lậu hay bị bắt lắm. Còn đẩy xe than chạy từ Tây Ninh, Dầu Tiếng về thì không ai để ý cả.


Vừa nói anh ta chọn than bỏ vào bao cân cho tôi hai mươi ký than chắc và năm ký than vụn.


-Than tốt bảy ngàn một ký, than vụn sáu ngàn.


Anh bán than nói:


-Nghề bán than này đang trở nên thịnh. Nhiều người đốt than, nhiều người chở than đi bán. Nhiều công ty ra đời chuyên bán than đá, than xô… Dân Sài Gòn sợ lò gas hay cháy nổ nên trở lại xài lò nung than đá và lò đốt than củi thường. Tôi cũng giao mối cho mấy cửa hàng tạp phẩm quen ở chợ Hùng Vương chuyên sấy cá khô chỉ lấy giá năm ngàn.


Bán than rong toàn nam giới, không thấy phụ nữ làm nghề lấm lem bụi bẩn này. Anh bán hàng từ Dương Minh Châu xuống thành phố mướn nhà ở bến xe Miền Ðông sống một mình. Cứ hết một xe than, anh lại quay về Dầu Tiếng lấy chuyến khác


Giá ga, giá điện cứ tăng, rừng cứ cạn và anh bán than vì thế sống cũng tạm qua ngày.

Một cách nhìn về lịch sử xung đột Việt-Hoa


Phạm Dzũng


 


Nhìn tổng thể về lịch sử loài người kể từ khi còn là những bộ lạc, người ta ghi nhận sự hình thành, phát triển hoặc tiêu vong của các cộng đồng dân cư (sắc tộc, bộ lạc, xã hội thành thị…); của nhiều định chế chính trị và quyền lực quân sự như là các quốc gia, các đế quốc; và ngay cả của nhiều nền văn minh, tất cả những diễn trình lịch sử đó đều tuân theo quy luật biến dịch, mà trong đó có quy luật thiên nhiên khắc nghiệt: “Ðấu tranh sinh tồn,” thể hiện qua hiện tượng di dân và đồng hóa (kể cả bị đồng hóa) mà đã liên miên xảy ra từ hàng vạn năm trước và sẽ còn xẩy ra bây giờ và sau này.


Vậy nếu áp dụng cách nhìn hiện tượng học “Lịch sử xã hội loài người là lịch sử di dân và đồng hóa (và bị đồng hóa),” thì có thể thấy rõ động lực của nhiều chu kỳ biến động lịch sử trên thế giới từ xưa đến nay, và tiên liệu được động thái của nước lớn đối với các nước lân bang nhỏ hơn,và nếu ứng dựng vào lịch sử xung đột Việt Hoa sẽ nhìn thấy được bản chất đảng cầm quyền CSVN ngày nay cùng các sách lược của nó về nội trị và ngoại giao, dựa vào điều kiện và lịch sử hình thành và phát triển của nó, qua đó đánh giá được các chính sách, chiến lược nó đã và đang thực hiện (kể từ 1929), cũng như tiên liệu được kế sách của đảng cầm quyền khi đối phó với thời thế cùng những hệ lụy của nó đối với tương lai của dân tộc Việt và đất nước VN.


Cũng nên ghi nhận rằng, về bản chất (định nghĩa), thì “Quốc Gia (hay Nước, Ðất Nước)” chỉ là 1 định chế chính trị (political institution) của 1 vùng lãnh thổ có dân cư; Ðịnh chế thì có tính ngắn hạn và dễ thay đổi (thí dụ: Nước Chiêm Thành đã tiêu tan, Quốc-gia Việt Nam Cộng Hòa nay đã không còn nữa, nước Mỹ thì mới có mặt từ khoảng 400 năm nay) – “Tổ quốc” chỉ là 1 khái niệm tình cảm cộng đồng đối với khu vực địa lý mà 1 cộng đồng dân cư đã sinh sống qua nhiều thế hệ (thí dụ: người Việt ở Mỹ chỉ vài ba thế hệ nữa là đa số dù muốn hay không cũng sẽ không còn thiết tha đến đất nước Việt, mà sẽ chỉ còn biết Tổ quốc mình là Mỹ quốc) – “Dân tộc” là 1 tập hợp sinh học thuần nhất của những cư dân sinh sống trong 1 vùng địa lý – Dân tộc là thực thể tồn tại lâu dài hơn là những định chế và tình cảm cộng đồng, và cũng là yếu tố căn bản cho Quốc Gia hoặc một cộng đồng dân cư. Tuy nhiên, sự hình thành 1 quốc gia ổn định lâu dài là điều kiện cần để hình thành và phát triển nền văn hóa và văn minh đặc trưng của một dân tộc hoặc cộng đồng dân cư.


Lịch sử và Khảo cổ học đã chứng minh nhiều dân tộc (sắc tộc, bộ lạc, quốc gia… ) ở vùng Hoa Nam, lưu vực sông Dương Tử đã bị xâm lược và đồng hóa bởi những sắc dân Hoa Bắc (Hán tộc) – Những sắc tộc nào di dân được xuống Ðông Nam Á thì tồn tại được đến ngày nay mà không (hoặc ít) bị đồng hóa, là nhờ địa thế hiểm trở, khí hậu nhiệt đới, và sức sống (dân khí) (*1) của dân tộc đó.


Khuynh hướng Nam tiến là bắt buộc đối với người Tàu phương Bắc (Bắc Á: Mông, Mãn, Hán…), vì không thể Bắc tiến và Tây tiến được, và cũng vì cần hướng phát triển ra biển và khai thác tài nguyên biển.


Người Việt cũng vậy, sau nhiều đợt di dân và quần cư ở đồng bằng sông Hồng, sông Mã, tạm yên được với Bắc phương vài ngàn năm nhờ vào địa hình biên giới hiểm trở, cũng phải Nam tiến, thôn tính và đồng hóa Chiêm Thành, Chân Lạp (nửa nước Miên), chuẩn bị Tây tiến và Bắc tiến bằng con đường từ phía Ðông Nam (nếu thôn tính xong Miên) để thôn tính Lào. Mộng gồm thâu Ðông Dương (hoặc thành lập Liên Bang Ðông Dương) của người Việt vẫn được ôm ấp kể từ thời các vua chúa nhà Nguyễn, vì địa lý nước Việt rất bất lợi cho sự thống nhất, an ninh lãnh thổ và phát triển kinh tế văn hóa: rặng Trường Sơn phía Tây làm cho miền Trung quá hẹp, rất dễ bị đứt khúc ở khoảng vĩ tuyến 16-18 như lịch sử đã từng chứng minh. Ðịa lý các nước Miên, Lào cũng bất lợi không kém. Chỉ khi hình thành được Liên Bang Ðông Dương, mở rộng địa lý đất đai và dân số thì mới hy vọng chận đứng chiến tranh xâm lược của nước lân bang phía Bắc.


Khi thực dân Pháp đến đô hộ VN, thì lục tỉnh miền Tây Nam bộ mới được nhập vào VN được khoảng ba mươi năm (50 năm?). Nếu VN canh tân kịp đồng thời với Nhật, thì nhiều phần chắc là VN đã kiểm soát được cả Thái Lan, Miến Ðiện, và trở thành mối đe dọa lớn đối với Tàu, vì biết chừng đâu sẽ có đủ thế lực để đòi lại đất cũ là Quảng Ðông, Quảng Tây và Vân Nam, thực hiện được hoài bão của vị vua anh hùng Quang Trung. (Nhưng chưa biết chừng, khi gồm thâu được đất cũ, người Việt lại bị Hán hóa giống như dân Mông, Mãn, vì dân số Việt ít hơn, và văn hóa đặc trưng cũng không cao hơn, mạnh hơn…)


Nhìn chung, luật thiên nhiên chung cuộc vẫn là cạnh tranh và sinh tồn. Chủng tộc nào đoàn kết, mạnh, khôn ngoan, sanh đẻ nhiều, chấp nhận mạo hiểm, chấp nhận di dân và lai giống thì sẽ ưu thế hơn các chủng người khác – Mông cổ, Mãn Thanh về quân sự mạnh hơn Hán, nhưng cũng bị Hán hóa vì dân số Hán đông hơn và văn hóa cao hơn, hơn nữa, còn tự nguyện bị đồng hóa, vì dân Mông, Mãn vẫn thán phục, ưa chuộng văn hóa Hán tộc; Tiến trình đồng hóa với địa phương của dân du mục Bắc Á (Mông, Mãn…) đã xảy ra từ cả vạn năm nay, cho nên nếu xét về gene, thì nhiều dân tộc đã có lai gene Mông Cổ mà không biết (Việt, Hàn, Thái, Nhật, và một số vùng bên Ấn, Hồi, Nga. v.v.). Xem ra, tiến trình di dân, lai giống đối với loài người là không thể đảo ngược. Thời Hoa Kỳ lập quốc, những di dân từ Âu Châu qua đã xóa sổ hàng triệu người bản xứ, nhưng ngày nay, sự hình thành và phát triển nước Mỹ trên cơ sở các định chế dân chủ sẽ là mô hình thích hợp nhất cho tiến trình này một cách nhân bản, khác hẳn với sự hình thành các đế quốc kiểu phong kiến, thực dân cũ và mới.


Xuyên suốt lịch sử VN, người Tàu từ Hoa Nam di dân liên tục vào VN và các nước Ðông Nam Á từ rất lâu trước cả thời phong kiến Bắc thuộc, hoặc vì tha phương cầu thực, hoặc tìm không gian sinh tồn, hoặc qua chiến tranh xâm lược, hoặc là hệ lụy các biến động chính trị cận đại, td. Thiên Ðịa Hội phản Thanh phục Minh, biến cố chiến tranh (Thế Chiến 2, Giải giáp Phát xít Nhật). Khi họ vào ít, và không kèm tổ chức chính trị bang hội thì họ bị Việt đồng hóa, td: người Tiều (Triều Châu) ở miền Trung, lục tỉnh miền Tây và Rạch Giá,… nhưng nếu họ vào nhiều và có tổ chức bang hội, thì họ thành lập khu vực riêng có tiềm năng trở thành khu tự trị (td: Chợ Lớn), nếu họ tổ chức được chính quyền thì họ tách ra làm quốc gia riêng: Singapore, Ðài Loan,… không chịu tùng phục chánh quốc nữa, giống như thời xa xưa An Dương Vương xâm lăng đánh thắng Vua Hùng, và rồi Triệu Ðà sau khi thắng An Dương Vương vậy.


Người Tàu cũng như người Việt, có đầu óc phong kiến, có mộng làm vua một cõi, đồng thời cũng có thói thần phục kẻ mạnh, là kẻ có tài gồm thâu thiên hạ. Thời xưa (trên 3000 năm trước) vốn không có nước Tàu, chỉ sau thời Ðông Chu Liệt quốc, Tần Thủy Hoàng thôn tính xong 6 nước cuối cùng, nước Tàu mới thống nhứt. Nên biết nước Tần của Tần Thủy Hoàng thời Ðông Chu trở về trước vốn là 1 sắc dân ở Tây Bắc nước Tàu, là giống dân lai giữa Mông Cổ và Thổ Nhĩ Kỳ, tạo nên người Hoa Bắc, vốn gốc du mục nên rất thiện chiến và hung bạo. Như vậy nước Tàu hình thành do chiến tranh xâm lược. Lịch sử hình thành nước Tàu là lịch sử xâm lăng và đồng hóa bằng bạo lực chiến tranh. Khi Tàu mạnh cũng vậy, mà khi Tàu yếu, lại càng cần tìm thế chính thống bằng cách gây chiến với lân bang nhỏ yếu.


Sự kiện các nước tìm cách ảnh hưởng khống chế lẫn nhau là điều không thể không xảy ra, cũng như sự kiện các nước lớn tìm cách can thiệp khống chế hoặc xâm lăng các nước nhỏ bằng quân sự, kinh tế, hoặc chính trị (qua sự thành lập và yểm trợ các thế lực chống đối trong nước) để thôn tính đất đai, bóc lột tài nguyên và lao động (Phong kiến hoặc Thực dân cũ và mới) cũng là không thể tránh được. Chỉ khi nào có được dân khí cường thịnh, đoàn kết 1 lòng để xây dựng 1 nền kinh tế phát triển (như Nhật, Hàn) đồng thời có chánh sách ngoại giao và liên minh khôn khéo (như Thái, Phi Luật Tân, Miên…), thì mới tạo nên 1 thực lực làm cho nước ngoài phải kiêng nể, mới giữ được độc lập dân tộc và chủ quyền lãnh thổ, hạn chế hoặc khống chế được các can thiệp từ nước ngoài. Tiếc thay, điều này dường như đã và đang không thực hiện được ở VN.


Vậy sẽ có phần thiếu sót cho cả 2 phe người Việt (Quốc, Cộng…) và các bình luận gia khi gọi cuộc chiến ở VN 1954-1975 là chiến tranh Ý-thức-hệ (quốc cộng, giai cấp…), hoặc giải phóng (chống Mỹ cứu nước). Ngay cả chiến tranh giải thực trước 1954 cũng đã bị Tàu, kể cả Trung Hoa Dân Quốc (*2), lợi dụng giúp đỡ để thâm nhập sâu, tạo quyền lực mềm, tiêu diệt đối lập gồm cả những nhà ái quốc có tư tưởng dân tộc độc lập, tạo ảnh hưởng văn hóa (hủy diệt văn hóa địa phương, truyền bá văn hóa phong kiến khuyển nho, hoặc chủ nghĩa Cộng Sản…), ảnh hưởng quân sự (đào tạo sĩ quan, quân nhân, chuyên viên), cài thế lực chính trị (cài đạt, mua chuộc, dung dưỡng những nhân vật không có tinh thần dân tộc vững chắc vào các cấp chính quyền). Tàu dĩ nhiên không bao giờ bỏ lỡ cơ hội để dùng ảnh hưởng vô cùng lớn của mình để làm yếu thế lực Việt, băng hoại tinh thần dân tộc Việt, và cả cơ cấu tổ chức xã hội Việt, tạo điều kiện để xâm lăng như họ đã từng làm trong suốt chiều dài lịch sử.


Ví dụ : Cải Cách Ruộng Ðất, Trăm Hoa Ðua Nở… không thể xảy ra nếu không có áp lực cực lớn của CS Tàu (cộng với sự phục tùng của ban lãnh đạo CS Việt) chỉ nhằm tiêu diệt sớm những người có tinh thần dân tộc trong hàng ngũ Việt Minh, họ đã hết lòng chiến đấu dưới lá cờ Việt Minh do chủ nghĩa yêu nước, có uy tín trong dân rất cao sau nhiều chiến thắng quân sự (dĩ nhiên là với sự giúp đỡ có hậu ý của CS Tàu), vì có triệt được những công thần này, thì về lâu dài Tàu mới nắm chắc được đảng cầm quyền CSVN để thực hiện những bước thôn tính kế tiếp. Do vậy, phải nhìn thấy CCRÐ không phải là do sư sai lầm hoặc ngu muội của lãnh đạo CSVN, mà là sự cài đặt sắp xếp có bài bản và áp lực cực lớn của Tàu.


Vụ Tổng Công Kích Tết Mậu Thân 1968 mà lực lượng chính là quân đội miền Bắc xâm nhập, đã thất bại về mặt quân sự, nhưng mục tiêu bề trong thâm sâu của chiến dịch đó chính là nhằm tiêu diệt những người chiến đấu chống chính quyền miền Nam (VNCH) vì lý tưởng dân tộc chủ nghĩa (tin rằng Mỹ xâm lăng VN như kiểu Tây thực dân), do đó đã phá nát lực lượng quân sự hậu thuẫn cho phe MTGP miền Nam- Miền Bắc đã thành công trong mục tiêu đó, vì đã mượn tay lực lương VNCH miền Nam để làm triệt tiêu trên 70% lực lượng chiến đấu của MT Giải Phóng Miền Nam. Nhờ đó sau 1975, miền Bắc có thể áp đặt quyền lực và mô hình kinh tế giáo điều XHCN trên toàn miền Nam mà không bị phe miền Nam chống đối, cho dù kinh tế XHCN làm cho miền Nam phá sản, sắp chết đói.


Cũng như các vua chúa nhà Nguyễn với đầu óc phục Tàu, sợ Tàu đã làm cho Việt Nam mất cơ hội hiện đại hóa như nước Nhật cùng thời, đầu óc của những người lãnh đạo CSVN từ xưa tới nay cũng là phục Tàu, sợ Tàu, chắc không mấy người thấy được sự hiểm độc của Chủ Nghĩa CS đối với sự tồn tại của Quốc gia và dân tộc VN. Mặc dù trong Ðảng CSVN cũng có người thấy được bản chất bành trướng bá quyền Ðại Hán và dã tâm xâm lược của lãnh đạo CS Tàu (phe Lê Duẩn sau 1975), và tìm cách chống trả, nhưng do bị ngộ độc tư tưởng bởi nọc độc Chủ Nghĩa CS (*3), nên sau khi chiếm được miền Nam, liền áp dụng chính sách kỳ thị chánh trị đối với người miền Nam, nhất là đối với những cựu quân nhân viên chức của phe thua trận, gây nên chia rẽ dân tộc. Ðồng thời vẫn giáo điều áp đặt kinh tế XHCN vào miền Nam VN làm cho nền kinh tế đang lên này bị bức tử, phá sản, tức là vẫn trúng kế của kẻ thù phương Bắc (chia rẽ dân tộc, phá hoại sinh lực kinh tế…), đồng thời chiến lược chống đối với Tàu mà dựa vào độc nhất có 1 nước Liên Xô như trước đây là 1 nước cờ bấp bênh (nước xa không cứu được lửa gần), và đã thất bại, khiến cho sự tồn vong của VN càng ở vào cái thế nguy hiểm hơn, vừa mất thêm đất đai, vừa lệ thuộc Tàu nặng nề thêm về mặt chính trị. Ðiều này gây hậu quả tai hại nghiêm trọng cho tiềm lực nước Việt, và chứng tỏ bản lãnh chính trị kém cỏi của lãnh đạo Ðảng CSVN, ít ra là vào thời điểm quan trọng đó. Thử nghĩ xem, nước Mỹ sau cuộc Nội chiến Nam Bắc tàn khốc không thua gì ở VN, phe thắng trận miền Bắc nếu cũng cư xử với phe thua trận miền Nam như ở VN sau năm 1975, thì đâu có được 1 nước Mỹ hùng mạnh như ngày nay?


Nga (Liên Xô) vốn âm mưu dùng Chủ Nghĩa CS để thôn tính thế giới, kể cả Tàu (dưới chiêu bài Thế Giới Ðại Ðồng), nhưng Tàu to quá, Nga nuốt không nổi – Kinh tế kiểu XHCN thất bại, nên Nga Xô Viết sụp đổ, không giữ được những nước nhỏ mới thôn tính được sau thế chiến – Nhưng Tàu dùng CNCS làm bình phong thì dù thất bại về kinh tế (khi chưa đổi mới theo kiểu tư bản), nhưng vẫn có thể thôn tính được các nước Ðông Dương, vì kinh tế XHCN nếu làm cho Tàu yếu một, thì sẽ làm cho các nước nhỏ bị yếu 10 lần hơn, đảng cầm quyền do đó sẽ phải càng phải lệ thuộc vào đàn anh để giữ vững quyền lực và quyền lợi.


Rốt cuộc các diễn biến ở VN từ 1927 dường như đều thuận lợi cho sách lược nam tiến ngàn năm không ngưng nghỉ của Tàu. Nghĩ cho cùng, về thực chất sâu xa lịch sử Việt-Tàu từ xưa đến nay toàn là Tàu đánh Việt, toàn là Tàu tìm cách làm cho Việt đánh lẫn nhau mà suy yếu đi để dễ nuốt, dân mình Bắc Nam đều chỉ là nạn nhân, lãnh đạo CSVN hoặc không biết, hoặc bị sai khiến, cũng chỉ là con cờ trong bàn tay phù thủy mà thôi.


Chúng ta nay đã đều biết ai đứng đàng sau Mặt Trận Việt Minh (trước 1954) và MT Giải Phóng MN (trước 1975) để giựt dây? Chính là đảng CSVN, con đẻ của Quốc Tế III (Nga Xô), tay sai của đảng CS Trung Hoa – Từ lâu, CS Tàu muốn và đã dùng chủ nghĩa CS để thôn tính các nước Ðông Dương, mở rộng biên cương xuống phía Nam để làm chủ biển Thái Bình và cả vùng Ðông Á – Trong ý đồ đó, miếng xương khó nuốt nhất vẫn là một nước VN thống nhất và hùng mạnh.


Từ 3000 năm nay Tàu thất bại hoặc rất khó khăn khi muốn xâm lăng và đồng hóa VN vì ý chí dân tộc VN còn mạnh, may quá, nay Tàu vớ được Chủ Nghĩa Cộng Sản, dùng ngay mục tiêu giả tạo là Ðấu tranh giai cấp và Thế Giới Ðại Ðồng để che đậy ý đồ xâm lược (của Tàu) và âm mưu bán nước (của thành phần tay sai, thân Tàu trong Ðảng CSVN).



Chiến tranh giải thực ở VN vốn không cần đổ máu nhiều đến thế, nhưng với âm mưu làm yếu Việt, Tàu xúi giục, cổ võ, yểm trợ cho chiến tranh và phân hóa.


Nhìn bề ngoài, thì giống như người Việt chống Pháp, Việt Minh đánh Việt gian… nhưng thực ra là Hán tộc (Tàu) đánh Việt tộc bằng cách dùng ngay người Việt (Việt Minh) đánh người Việt (các đảng phái Quốc Gia, hoặc phe thân Pháp…). Lực lượng Việt tộc (các đảng phái Quốc Gia) không có chỗ dựa nên đành phải dựa vào Pháp để chống Cộng, mà do Pháp thua, phải ký HÐ Geneve, nên phải cùng chạy xuống miền Nam qua vĩ tuyến 17. Sau đó, Tàu lại tiếp tục xúi Việt đánh Việt bằng chủ nghĩa CS và yểm trợ quân sự, kinh tế cho Mặt Trận GPMN do CS miền Bắc dựng lên, một công 2 việc, vừa gây chiến tranh huynh đệ tương tàn làm suy yếu Việt, vừa lan tràn ảnh hưởng xuống Ðông Nam Á. Sau 1975, mặc dù bề ngoài trông giống như phe Bắc Việt thắng phe Nam Việt, hoặc là Giải Phóng Miền Nam thắng Mỹ… nhưng thực ra vẫn là Tàu thắng Việt, vì Tàu đã thành công trong âm mưu dùng người Việt đánh người Việt, làm cho 2 miền đều kiệt quệ.


Nhớ lại, sau khi dàn xếp thỏa hiệp được với Tàu để dồn nỗ lực làm suy yếu Nga, Mỹ bỏ rơi VNCH, làm ngơ cho Tàu chiếm đoạt Hoàng Sa của VN, cắt hết quân viện làm cho miền Nam thất trận 1974 – Sau đó miền Bắc xé bỏ thỏa thuận trước đây với MTGPMN (giữ miền Nam trung lập trong 2 năm rồi mới hiệp thương thống nhất 2 miền), Ðảng CSVN áp đặt ngay chế độ độc tài đảng trị, chính sách kỳ thị chính trị và nền kinh tế XHCN trên cả nước bằng cách cào bằng lực lượng sản xuất miền Nam với các chiến dịch đánh Tư sản và đổi tiền (thực chất là cướp tài sản), cô lập hoặc xua đuổi những người có tinh thần dân tộc, kể cả các lãnh tụ của phe miền Nam (Mặt Trận GPMN). Một số nhân lực có tiềm năng chống Tàu hoặc xây dựng kinh tế rất lớn bị lừa vào các trại cải tạo, thực chất là các trại tù. Một số lớn dân chúng có tiềm năng xây dựng nền công nghiệp và kinh tế thị trường bị cưỡng bức đi khai khẩn vùng hoang vu (gọi là vùng kinh tế mới), bị chết chóc và đàn áp dữ dội.


Sự kỳ thị chính trị một cách quá khích và nền quản trị kém cỏi đã làm kinh tế cả nước phá sản, tinh thần người dân bị suy sụp, người dân bị đẩy đến chỗ cùng quẫn đến nỗi phải vượt biển ra nước ngoài cả triệu người, là 1 con số rời bỏ quê hương đất nước rất lớn chưa từng có trong trong lịch sử VN. Cả triệu người, đại đa số là dân thường, phải liều lĩnh chạy ra khơi bỏ quê hương mà ra đi về nơi xứ lạ quê người, điều đó nói lên được sự cùng quẫn thất vọng của người dân đối với nền cai trị ở VN, đó là 1 sự mất máu rất lớn cho phe Việt tộc, cho lực lượng dân tộc chống xâm lăng về lâu về dài. Và như vậy là đã trúng thâm ý Tàu: chia rẽ, phá hoại đoàn kết dân tộc, phá hoại tiềm lực kinh tế… Tàu còn xúi giục, yểm trợ Kmer Ðỏ tàn sát người Việt và tấn công biên giới tây nam để khích VN phải xua quân qua Kam Pu Chia, tốn người, hại của, mất uy tín đối với quốc tế. Vậy mà Tàu vẫn giả đò tức giận, lấy lý do VN xâm lăng Kam Pu Chia, xua quân tấn công biên giới phía Bắc, rõ ràng là ném đá giấu tay rồi lại thừa cơ để mượn cớ xâm lăng, cũng giống như trong lịch sử, Tàu luôn luôn nhân cơ hội nước ta suy yếu hoặc nội loạn để mà mượn cớ xâm lăng.


Tóm lại Tàu muốn nuốt VN và Ðông Nam Á thì đã phải chuẩn bị tình huống “tằm ăn dâu= nuốt từ từ.” Sau khi đã chuẩn bị từ năm 1927 với tay sai là Hồ Chí Minh và Ðảng CSVN, đến nay Tàu đã chiếm được biên giới phía Bắc, làm chủ vùng biển VN, đóng quân trên Tây nguyên, lật đổ ảnh hưởng của VN tại Lào và Campuchia, bao vây VN trên bộ và ngoài biển, gài người nắm các chức vụ then chốt trong Bộ Chính Trị CSVN và guồng máy an ninh… quốc phòng VN, tiêu diệt các lực lượng dân tộc, triệt hạ ý chí dân tộc, phá hoại kinh tế, văn hóa và xã hội VN thông qua nhà cầm quyền tay sai khiếp nhược (hèn với giặc, ác với dân), không bao lâu Tàu sẽ có thể nuốt được miền Bắc, thành lập chính phủ tay sai (như Bắc Hàn).


Dĩ nhiên cũng còn nhiều người yêu nước, có tinh thần dân tộc mạnh, họ sẽ tập hợp lại thành thế lực chống đối đủ mạnh. Và vì mất chính nghĩa, chánh phủ tay sai của Tàu cũng sẽ bị suy yếu và chia rẽ, rốt cuộc VN sẽ lại bị tách ra làm 2 như tình thế trước 1954, phe chống Tàu sẽ rút về miền Nam, đảng Cộng Sản VN sẽ phải sụp đổ, vì đến lúc này con cờ “Ðảng CS” hoặc “XHCN” sẽ hoàn toàn mất hiệu quả, trở thành phản động, lúc đó là lúc sẽ nhiều nhân vật hoặc đảng chính trị với danh nghĩa phục quốc, chống cộng… xuất hiện để tranh chấp chính quyền miền Nam – Như vậy thì bàn cờ sẽ có tiềm năng quay lại cái thế tương tự thời 1945 với các đảng phái quốc gia và mặt trận Việt Minh, rồi thì sẽ tới thế cờ sau 1954 với Mặt Trận Giải phóng miền Nam – Mặc dù lịch sử diễn biến, nhưng đại thể vẫn sẽ là bổn cũ soạn lại. Do đó, những bàn tay lông lá cũ đã, đang và sẽ chuẩn bị những lá bài mới cho giai đoạn mới (từ 1975). Một cuộc “giải phóng miền Nam” nữa sẽ có thể lại được dàn dựng để gạn lọc cho hết những thành phần còn ý thức mạnh về độc lập dân tộc… cho đến khi toàn thể Ðông Á trở thành Tàu hoặc phiên bang của Tàu.


Còn Mỹ thì sao? Nếu VN mất vào tay Tàu thì Mỹ cũng đâu có thiệt gì đâu? Chiến lược lâu dài của Mỹ là giữ vững thế siêu cường số một – Chiến lược cốt lõi của Mỹ vẫn là bảo vệ và phát triển lợi nhuận các đại công ty tài phiệt và công kỹ nghệ – Ðối với Mỹ, quyền lợi là trên hết, cho nên Mỹ vốn là cần Tàu hơn là cần VN. Thông qua nhà cầm quyền độc tài đảng trị CS Tàu, Mỹ không cần xâm lăng đất đai của Tàu cũng vẫn bóc lột được 1 tỷ rưỡi người Tàu.


Mỹ cũng chẳng sợ gì Tàu, nhưng sẽ không gây chiến để tiêu diệt Tàu, vì không có lợi – Mỹ đã thắng Nga thế nào thì cũng sẽ tính là về lâu dài sẽ thắng Tàu bằng cách tương tự, Mỹ sẽ làm Tàu phải phình to ra và tự nổ thành nhiều mảnh, y như Nga vậy, dù biết trước mà vẫn không tránh được… Từ nay cho tới lúc đó, thì nếu Tàu mà ra mặt đụng độ với Mỹ, Mỹ chỉ cần xù nợ hoặc không mua hàng là Tàu sẽ gặp khó khăn rất lớn, có thể có nội loạn ngay nếu cả trăm triệu người thất nghiệp do cấm vận… Dĩ nhiên Mỹ cũng sẽ gặp khó khăn kinh tế, vì đã có phần nào phụ thuộc vào hàng hóa rẻ tiền nhập từ Tàu. Vậy thì Mỹ cũng sẽ thỏa hiệp với Tàu để chia đôi VN giống như nước Cao ly (Hàn quốc). Thế cờ xa sắp tới là cả 2 đều chuẩn bị thử sức nhau lâu dài ở miền Nam VN, ở biển Ðông. Bọn họ đã và đang chuẩn bị rồi đó, vận mệnh dân ta nay rất là mong manh, nếu dân khí đã tuyệt, thì chỉ còn phú cho ông Trời thôi… và nếu không phục hưng lên kịp, VN sẽ vẫn chỉ là 1 quân cờ, và vẫn còn là nơi chiến trường trắc nghiệm.


Sau hơn 100 năm chiến tranh giải thực, VN cũng đã khá kiệt quệ. Ðến khi Mao nhờ viện trợ của Nga, đánh thắng Tưởng, nắm được chính quyền, thì Mao khởi đầu chiến lược thôn tính Ðông Dương (nếu Tưởng thắng, thì cũng sẽ làm y như vậy – Tàu nào cũng giống nhau) – Sẽ rất là lạ nếu thực tế lịch sử lại không xảy ra như vậy. Mộng Ðại Hán nằm sẵn trong đầu bất cứ anh Tàu nào. Do đó, dĩ nhiên là CS Tàu phải điều khiển cho được cuộc chiến Ðông Dương theo sách lược đó. Vậy thì chiến tranh Quốc Cộng ở VN kể cả trận Ðiên Biên Phủ, và tất cả các chính sách kinh tế chính trị của CSVN kể cả cuộc Cải cách ruộng đất đều nằm trong âm mưu do Tàu xếp đặt để làm suy kiệt Việt Nam mọi mặt, nhất là về kinh tế (do chiến tranh tàn phá liên miên, và kinh tế kiểu XHCN phá sản), về văn hóa xã hội và tinh thần dân tộc (ý thức về nền độc lập dân tộc bị phá sản để xây dựng Thế giới đại đồng CSCN), đạo đức xã hội bị băng hoại, thế hệ trẻ bị đầu độc, ý chí đấu tranh bị mất định hướng, bị đàn áp hung bạo đến tê liệt và suy kiệt. Người dân sẽ chỉ còn biết an thân thủ phận lo sinh kế hoặc tranh nhau hưởng thụ nếu có điều kiện.


Một khi ý chí đấu tranh suy kiệt, tinh thần dân tộc sẽ bị lụn bại (dân khí tuyệt) sẽ rơi vào cái thế buộc phải lệ thuộc ngoại bang, đưa tới mất nước và bị đồng hóa y như dân Chiêm Thành và Chân Lạp trước đây vậy. Dân ta ở VN sẽ thành ra người Tàu gốc Việt, giống như Việt kiều chúng ta thua chạy ra nước ngoài thôi, chỉ vài ba thế hệ sau là thành Mỹ gốc Việt, Tây gốc Việt, đều thành con lai hết… Rốt cuộc đó cũng là thể hiện quy luật vận động của lịch sử loài người: Di Dân và Ðồng Hóa….


Nguy cơ trở thành người Tàu gốc Việt hiện nay là rất lớn, nếu không huy động được toàn lực nhân dân trong nước, cộng thêm yểm trợ của các nước lân bang, thì ít nhất sẽ mất miền Bắc (nếu không để bị mất Tây Nguyên). Một bộ phận dân Việt nếu tiếp tục chạy thoát được sang các nước khác hoặc các nước Âu Mỹ, thì cũng sẽ là di dân, và vài thế hệ nữa thì cũng bị lai giống hoặc đồng hóa, không còn nói được tiếng Việt nữa.


Sự tồn tại của Việt tộc luôn luôn bị đe dọa bởi chủ nghĩa bá quyền Ðại Hán. Ngày nay còn bị đồng thời đầu độc bởi Chủ Nghĩa Cộng Sản. Hậu quả là sức sống của dân tộc bị mòn mỏi cùng cực. Nếu không lật đổ được CNCS thì cơ may tồn tại là rất ít. Trừ phi Tàu bị Mỹ “triệt buộc,” phải phình to, và tự nổ sớm, thì may ra đất nước ta và dân ta lại tồn tại được lâu lâu hơn chút nữa… mong thay!!!


 


Ghi chú:


(*1) Dân khí: Nói như cụ Phan Chu Trinh, phải chấn hưng dân khí trước nhất: “Chấn dân khí, hưng dân trí, hậu dân sinh…


-Dân Nhật định cư ở vùng hải đảo nghèo nàn tài nguyên mà vẫn trở thành đại cường.


-Dân Do Thái trải qua vài ngàn năm bị mất nước và bị Ðức QX tàn sát, nay tụ lại chỉ có chưa đầy 8 triệu người mà cũng là 1 cường quốc khoa học kỹ thuật (nhiều Nobel khoa học nhất thế giới) và quân sự (đánh thắng liên minh 9 nước Ả Rập chỉ trong 6 ngày).


-Nước Hàn cũng bị chia đôi, miền Bắc nghèo đói, nhưng miền Nam đã trở thành cường quốc kinh tế cạnh tranh được với Nhật… là do yếu tố nào? Phải chăng là “dân khí” họ cường mãnh hơn dân Việt mình khi họ đoàn kết một lòng trong nỗ lực tăng gia sản xuất xây dựng kinh tế hoặc đứng lên chống lại độc tài quân phiệt?


Ý thức vững vàng của thành phần ưu tú lãnh đạo một cộng đồng (hoặc Quốc gia) về sức mạnh của sự đoàn kết toàn dân cũng là đặc điểm của dân khí cường mãnh, thí dụ:


1. Ở nước ta,với Hội Nghị Diên Hồng, vua với dân đồng lòng chống quân Mông Cổ. Thời vua Quang Trung đem quân ra Bắc 2 lần để phù Lê diệt Trịnh và sau đó đại phá quân Thanh, quân miền nam không tàn sát dân, cũng không trả thù binh lính miền Bắc.


2. Nước Mỹ sau cuộc Nội chiến Nam Bắc tàn khốc, phe miền Bắc thắng trận đã đối xử với phe miền Nam thua trận rất cao thượng, hoàn toàn không có sự kỳ thị hoặc trả thù, kẻ thua trận vẫn được kính trọng và vẫn được bình đẳng, coi như anh em, hoàn toàn không giống như ở VN sau năm 1975.


Sức mạnh của dân tộc (dân khí) là ở chỗ này đây: ý thức kỷ luật, ý thức tập thể thể hiện qua ý thức đoàn kết dân tộc và độc lập dân tộc trên bình diện rộng, không chỉ thể hiện ở người lãnh tụ hoặc tập đoàn cầm quyền.


(*2) Lý Ðông A, Chu Tri Lục 3 Cương Lĩnh (1943). http://thangnghia.com/?p=43


(*3) Ngộ độc chủ nghĩa CS = CNCS phá hủy văn hóa truyền thống và ý thức dân tộc, phá hủy nền tảng tư duy về đạo đức cá nhân, cũng phá hủy luôn cấu trúc kinh tế và xã hội do áp dụng triết lý bạo lực về giai cấp đấu tranh kiểu cuồng tín giáo điều, cộng với lý thuyết kinh tế mác xít với biện chứng không tưởng về Thế giới Ðại đồng Cộng sản Chủ nghĩa, biện chứng này tạo cho Ðảng cầm quyền một thứ “chính nghĩa,” dựa vào đó để che giấu bản chất xâm lược của nước lớn, và sự thần phục, lệ thuộc của Ðảng cầm quyền ở nước nhỏ. Cho nên những thành phần tinh hoa của Ðảng CSVN vốn được nể phục nhờ vào bộ máy tuyên truyền đánh bóng thành những người yêu nước, đấu tranh giành độc lập dân tộc, những người này sau khi nắm quyền cai trị, họ thất bại với mô hình kinh tế XHCN làm cho cả nước nghèo đói kiệt quệ, họ bắt chước Tàu, chuyển sang kinh tế thị trường nhưng vẫn độc quyền cai trị. Khi nền kinh tế bắt đầu phát triển, qua hệ thống bè cánh, họ đã bộc lộ bản chất kiêu mạn và tham tàn vô độ, điển hình của cái thời “tư bản hoang dã.” Lợi nhuận thu về do nắm độc quyền cai trị đã biến toàn bộ cán bộ cai trị các cấp biến chất thành 1 tập đoàn mafia, “tự thực dân” bóc lột chính nhân dân mình, và để bảo vệ quyền lợi của mình và tập đoàn, những nhà cai trị này sẽ sẵn sàng bám vào thứ “Chính nghĩa Thế giới Ðại đồng CSCN” có sẵn để quy phục nước đàn anh (Tàu, hoặc Nga…) và đàn áp những người dân có tinh thần dân tộc chống xâm lược.


Ðộc tài sanh ra độc quyền và độc quyền sẽ phải sanh ra tham nhũng hệ thống và hủ hóa cá nhân, điều này có tính quy luật, như 1 hệ lụy của sự quy phục quyền và lợi, và đã từng xảy ra trong lịch sử các nước, điển hình như là dưới triều đại Sùng Chính thời mạt Minh: Khi Lý Tự Thành đánh tới kinh đô, dân đói, quốc khố trống rỗng nên lính cũng đói và không được trả lương để nuôi vợ con, vua phải kêu gọi các quan bỏ tiền ra để nuôi quân, nhưng không ai chịu. Sau đó thành bị phá và vua Sùng Chính treo cổ tự vẫn. Khi phá kho nhà các quan lớn, thì thấy nhà mỗi viên quan lớn đều có vàng bạc đồ quý chất đầy kho, tính ra gấp cả trăm lần công quỹ (Xem: Cát Kiếm Hùng – Bước thịnh suy của các triều đại phong kiến Trung Quốc, Tập III, nhà Minh & Thanh, tr. 294, Bản dịch: Phong Ðào, Nhà XB Văn Hóa Thông Tin, Hà Nội-2005).

Fidel Ramos

 

Trịnh Hội (Nguồn: VOA)

Cựu Tổng Thống Fidel Ramos năm nay đã 84 tuổi nhưng hiện ông vẫn còn hoạt động rất tích cực ở Philippines. Hôm tôi đi dự buổi ra mắt sách của ông ở thủ đô Manila, nhìn ông đùa giỡn với những người có mặt trong phòng, hô hào mọi người phải nắm tay nhảy lên thật cao sau khi cùng la to khẩu hiệu “tất cả vì Philippines” tôi cứ ngỡ đấy phải là điều những đứa bé thường làm. Chứ không phải là của một cựu lãnh tụ, tổng thống thứ 12 của nước Cộng Hòa Philippines. Người đã tại chức 6 năm và trong suốt thời gian đó được cho là đã giúp đất nước Philippines cải thiện rất nhiều trong hai lãnh vực: phát triển kinh tế và ổn định xã hội. Sau khi đất nước này phải trải qua thời loạn lạc, đảo chánh liên miên của Tổng Thống Marcos và Aquino.

Nhưng con người Filipino là thế. Ðất nước Phi là thế. Họ rất thân thiện, hiếu khách, ít nghĩ sâu, lo xa. Họ không giữ kẽ như người Việt. Cũng chẳng tính toán, quá khích như người Hoa. Họ luôn sẵn lòng chia sẻ với những người kém may mắn hơn mình. Ngay cả khi chính họ cũng không có gì nhiều.

Không phải ngẫu nhiên mà trong tất cả các nước Ðông Nam Á, Philippines là quốc gia duy nhất từ bỏ chương trình cưỡng bức người Việt tỵ nạn trở về nguyên quán vào giữa thập niên 1990. Ðể cuối cùng điều đó đã cho cộng đồng chúng ta có thời gian và sức lực giúp trên 2,500 thuyền nhân bị kẹt lại ở hai trại tỵ nạn Bataan và Palawan đến được bến bờ tự do trong những năm sau này.

Ðể đi đến quyết định ấy nước Phi đã đi ngược lại với chính sách của chính Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc UNHCR. Và của cả cộng đồng quốc tế trong đó bao gồm các nước giàu có, lớn mạnh hơn như Canada, Úc, Mỹ,…

Cựu Tổng Thống Fidel Ramos năm 2010, tham dự ngày kỷ niệm 24 năm cuộc cách mạng lật đổ cựu Tổng Thống Ferdinand Marcos, thường được gọi là Cách mạng Sức mạnh Quần chúng – People Power. (Hình: Noel Celis/AFP/Getty Images)

Thế vậy mà họ vẫn cương quyết không áp dụng chính sách cưỡng bức hồi hương vô nhân đạo. Quyết định không còng tay, khiêng lết người tỵ nạn lên máy bay trả về Việt Nam, bất kể là người ấy có đồng ý hay không, hay số phận họ sẽ ra sao. Như tất cả những quốc gia khác đã thực hiện mà đứng đầu và tiên phong là Hồng Kông.

Mặc dù chính quốc gia họ lúc ấy cũng đang trải qua thời khốn khó của cơn khủng hoảng tài chính vào giữa năm 1997.

Vậy mà họ đã làm được. Và chính Cựu Tổng Thống Fidel Ramos vào năm 1996 đã ký sắc lệnh đặc biệt cho phép những thuyền nhân Việt Nam được tạm thời ở lại Philippines cho đến khi tìm được “một giải pháp lâu dài nhân đạo khác.”

Hôm đến dự buổi ra mắt quyển sách mới nhất của ông (có tên là “Towards Our Better Future” – Ðể Ði Ðến Một Tương Lai Tốt Hơn), tôi đã có dịp gặp ông và thay mặt những người Việt tỵ nạn, có lời cảm ơn sâu xa gửi đến ông và gia đình. Cũng nhờ ông mà sau này chúng ta đã tạo dựng lại được cuộc sống cho hàng ngàn người Việt tỵ nạn ở Úc, Canada, Mỹ, Na Uy.

Thế nhưng các bạn có biết là ông đã chia sẻ với tôi điều gì không?

Không. Ông không hãnh diện là ông đã ký sắc lệnh cho phép những thuyền nhân Việt Nam được tạm thời ở lại Phi. Họ đáng được đối xử như vậy, ông bảo.

Ông cũng không cho điều ông làm là lớn lao gì cả.

Khi được cho biết tôi là người Việt, ông chỉ bảo thế này: tôi đã từng sang ở nước cậu 2 năm. Trước khi cậu ra đời. Và đó là những năm tháng tôi không thể nào quên được.

Gặp vợ ông, bà cũng nói thế. Bà nhớ lần đầu tiên sang thăm ông lúc ông còn tham chiến ở Việt Nam, ngay ngày đầu tiên, ngay tại một buổi concert ở ngoài trời, “the VC” (Việt Cộng) đã cài mìn cho nổ làm bà phải chạy trối chết. Ðó là một kỷ niệm mà bà không thể nào quên được.

Nghe ông bà thuật lại câu chuyện của gần năm mươi năm về trước tôi chợt nghĩ thì ra trên cõi đời này, có những sự liên kết rất lạ kỳ, có những điều vô hình xảy ra mà không một ai có thể đoán biết trước được. Là ngày sau sẽ ra sao.

Cũng có thể nhờ vào sự tham chiến của ông Ramos ở miền Nam Việt Nam vào giữa thập niên 1960 mà sau này ông mới có một tình cảm đặc biệt quyến luyến với những người Việt thuyền nhân lánh nạn?

Cũng có thể nhờ ông thấy và biết trước được sự dối trá, ngu dốt và độc tài của các chế độ cộng sản mà sau này ông đã thành công trong việc mang đến sự tự do và công bằng cho xã hội Philippines sau khi Tổng Thống Marcos bị truất phế.

Và cũng nhờ vậy mà tôi đã có dịp đến nước Phi để ở lại nơi này trong suốt hơn một thập niên qua. Ðể cuối cùng gặp được một ân nhân của tất cả những người Việt tỵ nạn ở Philippines.

Cầu mong là ông và gia đình sẽ luôn vui, khỏe để có thể tiếp tục đưa đất nước Phi đến một tương lai tốt đẹp hơn.

Tôi cũng cầu mong là trong một ngày gần đây tất cả mọi người dân Việt Nam cũng sẽ có được những quyền lợi căn bản mà mọi người dân Philippines đã đạt được kể từ khi nền độc tài của chế độ Marcos bị sụp đổ vào năm 1986.

Ðó là quyền được nói và viết những điều mình suy nghĩ. Mà không bị bỏ tù.

Quyền được hội họp, thông tin, liên lạc. Mà không bị bắt bớ, hạch hỏi.

Và quyền được đọc, được nghe, được tự do thông tin trên mạng. Mà không phải chạy ngược chạy xuôi cố vượt tường lửa. Của chính những kẻ tự cho mình là đầy tớ của dân.

Sáng nay tôi lên mạng xem được một đoạn phim phóng sự ngắn mà tôi rất thích. Ðặc biệt là câu nói mở đầu đoạn phim. Ðó là:

“Nothing is more powerful than an idea whose time has come.”

(Không có sức mạnh nào bằng sức mạnh của một ý tưởng đã đến thời của nó.)

……

Thế theo bạn, ý tưởng ấy là gì?

Giao tranh, biểu tình phản đối khắp lãnh thổ Syria

 

 

BEIRUT (Reuters) Một xe bom phát nổ trong khu vực dân cư tại thành phố Aleppo, lớn hàng thứ nhì ở Syria hôm Chủ Nhật, một ngày sau khi xảy ra hai vụ nổ liên tiếp khiến 27 người chết tại thủ đô Damascus.

Hãng thông tấn SANA của nhà nước Syria cho hay đây các cuộc tấn công do “thành phần khủng bố” gây ra đã làm hai người chết và 30 người bị thương. Giới tranh đấu đối lập cho hay có ba người chết trong vụ nổ gần một văn phòng cơ quan an ninh và một nhà thờ.

Ðội cấp cứu Syria tới hiện trường vụ nổ ở Aleppo, một thành phố ủng hộ Tổng Thống Bashar Assad. (Hình: AP Photo/SANA)

Một cơ quan thông tấn khác, al-Ikhbariya, cho hay lực lượng an ninh được báo cáo về quả bom và đang di tản dân chúng khỏi nơi này thì quả bom phát nổ. Nguồn tin này nói rằng quả bom chứa khoảng 200 kg chất nổ.

Hiện chưa có nhóm nào lên tiếng nhận trách nhiệm về vụ nổ, và một nhà tranh đấu ở Aleppo, thuộc Hội Ðồng Cách Mạng tại địa phương này, nói rằng chính quyền Syria tổ chức vụ nổ.

“Họ muốn chứng tỏ với thế giới rằng cuộc nổi dậy của chúng tôi giống như hành động khủng bố, nhưng đây là sự vu khống,” theo lời nhà tranh đấu Marwan.

Các nhóm tranh đấu cho hay có nhiều vụ bố ráp của cơ quan an ninh nhà nước cũng như có các cuộc giao tranh giữa quân đội chế độ Assad và phía nổi dậy tại khu vực Bắc và Nam Syria cùng khu ngoại ô thủ đô Damascus.

Tại thủ đô, khi đám đông tụ tập tưởng niệm các nạn nhân trong vụ nổ xe bom hôm Thứ Bảy, các nhà tranh đấu nói rằng lực lượng an ninh đánh đập và bắt giữ giới tham dự cuộc tuần hành của hơn 200 người khi họ hô khẩu hiệu đòi lật đổ chế độ Assad. (V.Giang)

Vàng Ðen (Kỳ 40)

 




“Vàng Ðen” là tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Dũng Tiến, được xây dựng trên những tư liệu cùng huyền thoại liên quan tới vùng “Tam Giác Vàng,” một trong những nguồn sản xuất và cung cấp thuốc phiện (“vàng đen”) lớn nhất thế giới. Ngoài việc viết văn, tác giả Nguyễn Dũng Tiến cũng là một trong những người Việt Nam đầu tiên có công gầy dựng vườn cây ăn trái cho người Việt ở xứ người. Ông hiện là chủ nhân vườn cây LA Mimosa Nursery, 6270 East Allston Street, Los Angeles, CA 90022-4546. Tel: (323) 722-4543. Ðược sự cho phép của tác giả, Người Việt hân hạnh giới thiệu tiểu thuyết “Vàng Ðen” trên mục truyện dài của Nhật Báo Người Việt cũng như Người Việt Online.


 

Kỳ 40

Một vài cơn lốc nhỏ quay tròn, cuốn theo những đám bụi đất đỏ xen lẫn vài cọng rơm rác, vài chiếc lá khô. Những cơn gió chiều báo hiệu một ngày trên xứ Lào đất đỏ sắp hết. Một cơn lốc nhỏ bốc lên ngay cạnh quán ăn Sớm Mai, nơi Phong và Phong Sương đang ngồi xem những khúc “khẩu lám.” Lốc hút lên cao rồi quay tít cùng dắt díu theo những chiếc lá khô băng qua con lộ, tan loãng dần nơi thửa ruộng bên kia đường.

Quán ăn Sớm Mai chơ vơ dựa lưng cạnh một cây đa cổ thụ, phía sau chạy dài những cánh đồng trơ gốc rạ. Gọi là quán cho nó sang, thật ra nó chỉ là một sạp gỗ dựng vẹo vọ cạnh gốc đa bên đường, con đường số 9 sắp sửa được nối liền với Thái Lan cùng Quảng Trị của Việt Nam. Có lẽ chủ nhân sạp gỗ làm ăn phát đạt trong vài năm gần đây, nên đã che thêm liếp chung quanh, để thêm dăm cái ghế gỗ thấp lè tè. Quán nổi tiếng với món “khẩu lám” (xôi nếp nướng trong ống tre, quốc hồn, quốc túy của người Lào), do đó tuy nó nằm ở ngoại ô, nhưng khách trong tỉnh cũng chịu khó lặn lội ra để thưởng thức. Phong Sương hẹn với Phong tại đây, những muốn giới thiệu những đặc sản của xứ Lào cho người mình đang yêu.

Hơi nóng từ than bốc lên hừng hực. Than được chứa trong một rãnh đất hình chữ nhật. Rãnh đất rộng khoảng bốn gang tay, dài có đến ba sải tay, rãnh không sâu lắm, nhưng đất móc lên từ rãnh đã được đắp hai bên làm cho Phong có cảm tưởng, trong đó chứa chắc nhiều than lắm. Hai đầu và giữa rãnh than có những cọc sắt bắt chéo với nhau, một thanh sắt dài khác được bắt ngang lên trên, giữa đống than hồng. Cứ thế chủ quán dựa những ống tre bằng cổ tay người lớn, bên trong chứa nếp, ở cả hai bên, lăn đều cho mọi phía được bắt đều lửa.

-Tý nữa, em bảo người ta chọn cho anh một ống xôi cháy cạnh, anh ăn thử cho biết, ngon, ngon là.

Phong nhìn sững Phong Sương. Không hiểu khói và hơi nóng ở vuông than đã làm gì cô nàng. Hai mắt thật ướt, đôi má hây hây hồng một cách tự nhiên. Cũng với cách nói chuyện như hôm trước, ríu rít và thật thân mật.

-Anh biết người ta nấu xôi tre làm sao cho ngon không?

-Không, Phong Sương.

-Này nhé, người ta phải ngâm gạo nếp trước cả đêm, sau khi đổ vào ống tre, người ta phải dùng nước dừa tươi thay vì nước lạnh… Ðấy nhé, anh xem kìa, vì không đậy nên người ta đang thêm nước dừa tươi vào những ống tre kìa, anh thấy không? Thêm chút lá dứa. Có người thêm đậu xanh, đậu đen hay khoai môn, khoai sọ.

Vừa nói, Phong Sương vừa níu tay Phong kéo lại gần mình, như muốn truyền thêm cho đôi mắt của Phong thêm chút sức lực để nhìn rõ hơn. Bằng tiếng Lào, Phong Sương nói với người chủ quán:

-Cho chúng tôi những cái cháy, cháy nhé.

Cô nàng lại tiếp ngay với Phong:

-Rồi anh xem, ngon lắm.

Người chủ quán thoăn thoắt đôi tay gạt vài ống xôi tre cháy đen lớp vỏ bên ngoài lên một cái mẹt tre. Một chiếc rựa ngắn, đen đũi, chừng như đã khá cùn, được người chủ gạt thật nhanh những lớp cháy đen bên ngoài ống tre. Chỉ vài phút sau, những ống xôi tre vàng nõn đã nằm ngay trước mặt cả hai, khói bốc lên nghi ngút. Những đầu ống tre đã được xẻ tư, nên chỉ cần tách khẽ, khúc xôi trắng tròn đã nằm trên đĩa.

Thấy Phong nhìn quanh, Phong Sương hỏi:

-Anh muốn tìm cái gì?

-Không biết họ có cho mình muỗng nĩa gì không?

-Anh có năm ngón tay để làm gì?

Câu trả lời hơi quá thật thà và tự nhiên của cô nàng làm Phong thật nhột nhạt. Nhưng cô nàng vẫn gọi người chủ quán đem muỗng, nĩa.

-Anh tưởng dân Lào chúng em thiếu văn minh lắm hả? Người ta không ăn bốc như dân Phi đâu. Anh phải ăn với mắm pà đẹc, với “sụm tàm” nó mới ngon, đây này anh ăn miếng này này, miếng này cháy cạnh mới ngon.

Quả thật, lớp xôi nằm sát phần da non phía trong của ống tre vừa ngon lại vừa bùi. Một lớp cháy thật mỏng, nhưng không giống những lớp cháy của xôi nếp bình thường, bọc quanh khúc xôi. Nó có vị mềm, thơm của ruột tre cùng lá dứa, lại có vị ngọt của nước dừa tươi, dẻo của nếp. Tóm lại, tất cả thật hài hòa trong một ống tre nhỏ. Những hạt ngọc thật dẻo của trời ban hòa với sự tinh khiết của nước dừa, cộng với cái thơm ngọt của tre tươi đã thể hiện hình ảnh những người Lào hiền hòa với những đồng nếp chín, chắn bởi những lũy tre xanh cùng hàng dừa cao. Ðất, trời xứ Lào thu nhỏ trong ống tre non.

-Sao? Anh thấy món “sụm tàm” có ngon không? Có giống đu đủ bò khô của người Việt Nam không? Phải khéo tay lắm mới có thể thái dài và mỏng những sợi đu đủ xanh đấy. Giã khá ớt, tỏi, thêm tí đường, mắm nêm Lào, rồi trộn chung với đu đủ. Nếm vừa ăn, phải vừa chua, ngọt và cay mới ngon.

Cái “cay mới ngon” của Phong Sương làm Phong thở ra lửa. Nó đốt cháy lưỡi, lùng bùng hai bên thái dương, mồ hôi chảy ròng ròng đầy mặt. Nước ăn cay của người Lào, người Việt chắc không thể nào theo kịp.

Cụ Bà Quả Phụ Bạch Văn Mỵ

 

Lễ Giỗ lần thứ 66 Linh Mục Trương Bửu Diệp

 

Nguyên Huy/Người Việt

 

Lễ Giỗ lần thứ 66 Linh Mục Phanxico Xaviê Trương Bửu Diệp vừa được giáo dân và đồng hương người Việt tổ chức trọng thể tại nhà thờ Thánh Linh (Holy Spirit) trên đường Ward trong thành phố Fountain Valley vào sáng hôm Thứ Bẩy, 17 tháng 3.

Hơn 500 đồng hương đã đến tham dự đông chật thánh đường.

Sau những nghi thức mở đầu buổi lễ giỗ do ba Linh Mục Ðinh Ngọc Quế, Trịnh Văn Ngoạn và Nguyễn Ngọc Thọ, cựu giáo xứ Tắc Sậy phụ trách, Luật Sư Phạm Văn Phổ trong cộng đồng giáo dân Giáo Phận Orange County lên nhắc về ý nghĩa buổi lễ này.

Lễ đọc kinh Thương Xót được ba vị linh mục chủ lễ và toàn thể đồng hương tham dự đã cất cao những tiếng hát “Về bên Cha Trương Bửu Diệp,” “Mừng kính Cha Trương Bửu Diệp” vang động thánh đường nhắc mọi người nhớ đến ơn đức mà Cha Trương Bửu Diệp đã hiển linh cứu giúp mọi người.

Sau đó Lễ Giỗ được Linh mục Chủ tế Ðinh Ngọc Quế nhắc lại tiểu sử của Linh Mục Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp, người được không chỉ giáo dân mà cả những người ngoại đạo cũng thường thân kính gọi là “Cha Trương Bửu Diệp.”

Là một nhà tu hành đã hết lòng, xả thân với giáo dân của mình khi sống, theo lời Linh Mục Quế nói, khi mất đi thì lại hiển linh mà đáp lại muôn lời cầu xin cứu giúp mọi người bất kể thuộc tôn giáo nào và sắc dân nào. Những lời Tạ Ơn được đăng tải trên báo chí Việt ngữ hải ngoại và một số báo chí Anh ngữ ở các địa phương được xem là bằng chứng sự hiển linh cho nhiều người có lời cầu xin đến Cha đã được mãn nguyện.

Cha Trương Bửu Diệp sanh ngày 1 Tháng Giêng năm 1897 tại Tấn Ðức, xã Mỹ Lợi, huyện Mỹ Luông, chợ Mới, tỉnh An Giang. Năm 1904, mẹ mất sớm nên đã theo cha đến Battambang, Kampuchea. Năm 1909, cha sở Pherô Lê Huỳnh Tiền đưa ngài vào tiểu chủng viện Cù Lao Giềng sau được vào đại chủng viện ở Nam Vang (vào thời gian này thì các họ đạo trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long đều thuộc vào giáo phận Nam Vang).

Năm 1924, thụ phong linh mục tại Nam Vang. Ðến năm 1927 được cử về làm giáo sư trong chủng viện Cù Lao Giềng. Ðến tháng 3 năm 1930 được cử làm cha sở họ đạo Tắc Sậy đồng thời chăm sóc mục vụ cho 8 họ đạo lẻ là Bà Ðốc, Căm Bô, An Hải, Ðầu Sấu, Chủ Chi, Khúc Tréo, Ðồng Gò và Rạch Rắn. Trong thời gian làm linh mục, Cha Trương Bửu Diệp đã rửa tội cho gần 2,000 người.

Khoảng những năm 1945-1946 khắp miền Nam chiến tranh, loạn lạc, các phe phái chém giết lẫn nhau, bề trên có khuyên ngài nên tạm rời nhiệm sở nhưng ngài đã cương quyết từ chối, nói rằng: “Tôi sống giữa đoàn chiên, chết cũng giữa đoàn chiên, tôi không đi đâu hết.”

Ngày 12 tháng 3 năm 1946, ngài bị cộng sản bắt cùng với gần 100 giáo dân họ đạo Tắc Sậy. Tất cả đều bị giam trong một kho để trấu của nhà ông Châu Văn Sự tại Cây Gừa. Các giáo dân bị tra khảo dã man, Cha Trương Bửu Diệp đã đứng lên binh vực chịu chết thay cho giáo dân. Sau đó Cha bị dẫn đi rồi người ta thấy thi thể của ngài trong cái ao của nhà ông Châu Văn Mưu, thi thể bị nhiều vết chém ở cổ, vai bằng mã tấu. Các giáo dân được trả tự do, đã đưa thi thể cha về chôn cất trong phòng Thánh của nhà thờ Tắc Sậy.

Năm 2010, vào tháng 3, Giám Mục Stephano Tri Bửu Thiên giáo phận Cần Thơ chủ sự thánh lễ di dời hài cốt cha Trương Bửu Diệp vào phần mộ khang trang mới được xây cất.

Hàng năm cứ vào ngày 12 tháng 3, giáo dân khắp nơi lại tổ chức lễ Giỗ Cha Trương Bửu Diệp rất trọng thể với sự tham dự của hàng trăm người từng được ơn của Cha Trương Bửu Diệp đã hiển linh cứu giúp cho.

Năm nay tổ chức Lễ Giỗ Cha Trương Bửu Diệp, ban tổ chức thuộc cộng đồng giáo dân giáo phận O.C. tổ chức góp chữ ký ủng hộ Tuyên Thánh Cha Trương Bửu Diệp. Ðây là công việc của tổ chức Trương Bửu Diệp Foundation. Theo các vị trong tổ chức này cho biết thì “đây là bước đầu kêu gọi mọi người trên toàn thế giới góp chữ ký vào Thỉnh Nguyện Thư gửi lên Ủy Ban Tuyên Thánh của Tòa Thánh La Mã. Theo Huấn Thị Sanctorum Mater do Bộ Tuyên Thánh ban hành năm 2007 thì Thỉnh Nguyện Thư càng góp được nhiều chữ ký bao nhiêu thì tiến trình xét duyệt tuyên thánh Cha Trương Bửu Diệp càng có nhiều thuận lợi bấy nhiêu.” Hầu hết người đến tham dự Lễ Giỗ Cha Trương Bửu Diệp đều sốt sắng ký vào Thỉnh Nguyện Thư.

 

––––

Liên lạc tác giả: [email protected]

Lễ hội St Patrick


NEW YORK (AFP) –
Ngày 17 tháng 3 là lễ St. Patrick, thánh quan thầy của Ireland, và cũng là một ngày lễ quen thuộc ở Mỹ. Trong ngày này, người Mỹ bất kể sắc tộc mặc đồ màu xanh lá cây, uống bia, và vui chơi cùng những người gốc Ireland, chiếm 11.9% dân số Mỹ
.

Ở nhiều thành phố lớn như New York, Chicago, có tổ chức diễn hành mừng ngày này. Trong hình lớn, ông Dennis O’Mann mang theo một con rối dự diễn hành St Patrick’s Day ở New York.

 Trong hình nhỏ, thành phố Chicago nhuộm xanh dòng sông Chicago để mừng ngày lễ này. (Hình: Timothy A. Clary/AFP/Getty Images; Brian Kersey/Getty Images)

Obama muốn ngưng hỗ trợ thuế các hãng dầu


WASHINGTON (AP) –
Với giá xăng đang tăng, Tổng Thống Barack Obama kêu gọi Quốc Hội hủy bỏ phần hỗ trợ thuế cho các công ty trong ngành dầu khí, và giúp phát triển những nguồn năng lượng khác.

Tổng Thống Barack Obama tại Atlanta hôm Thứ Sáu. Trong bài diễn văn phát thanh và truyền qua mạng Internet hôm Thứ Bảy, Tổng Thống Obama kêu gọi Quốc Hội cắt khoản hỗ trợ thuế cho các hãng dầu khí. (Hình: AP Photo/David Goldman)

Tổng Thống Obama nói trên diễn văn hàng tuần hôm Thứ Bảy, được phát thanh và truyền trên Internet, ông hy vọng Quốc Hội trong những tuần tới sẽ chấm dứt khoảng $4 tỷ hỗ trợ thuế cho ngành dầu khí, một điều ông chưa thuyết phục được Quốc Hội trong nhiều năm qua. Trong bài diễn văn, ông nói Quốc Hội cần nói với dân họ “đứng về phía các hãng dầu” hay “đứng về phía người dân Mỹ.”

“Họ (giới dân cử Quốc Hội) có thể đặt cược vào nhiên liệu hóa thạch của thế kỷ trước hoặc họ có thể đặt cược với tương lai nước Mỹ,” Tổng Thống Obama nói.

Các công ty dầu khí và nhiều nhà dân cử Cộng Hòa trong Quốc Hội cho rằng chấm dứt hỗ trợ thuế sẽ khiến cho chi phí của các hãng dầu bị nâng cao, giảm mức đầu tư vào sản xuất, và dẫn tới giá xăng tăng cao.

Giới quan sát viên cho rằng Obama sẽ khó thành công trong đề nghị này, vì vào thời gian đầu nhiệm kỳ, với đảng Dân Chủ kiểm soát cả hai viện Quốc Hội, ông đã không cắt được phần hỗ trợ thuế này.

Các ứng cử viên tổng thống trong đảng Cộng Hòa tố cáo Obama trì trệ việc cho phép khoan dầu trong Vịnh Mexico và ở một khu rừng bảo vệ thú hoang ở Alaska, cũng như chậm trễ chưa cho phép xây đường ống dẫn dầu Keystone XL từ Canada tới các nhà máy lọc dầu ở Texas.

Obama cho rằng không có giải pháp dễ dàng cho việc giá xăng tăng. Tới Thứ Sáu, giá xăng trung bình ở Mỹ đã lên tới $3.83, theo AAA. Tuy nhiên, ông không chấp nhận điều cho rằng ông chống lại việc khoan thêm dầu.

Tổng Thống Obama nói hiện nay nước Mỹ đang sản xuất nhiều dầu nhất so với 8 năm trước đây và số dàn khoan dầu đã tăng lên gấp 4.

“Nếu chúng ta thật sự muốn không bị lệ thuộc và giá xăng vụt lên hàng năm, câu trả lời không thể chỉ là khoan thêm dầu – vì chúng ta đã khoan thêm dầu rồi,” Obama nói. Ông nói chính phủ của ông đang nỗ lực phát triển thêm điện gió, điện mặt trời, nhiên liệu sinh học, và thúc đẩy thêm nhiều xe tiết kiệm xăng, để nước Mỹ bớt lệ thuộc vào dầu.

Trong phần trả lời của đảng Cộng Hòa, Dân Biểu Cory Gardner, đại diện Colorado, nói cử tri của ông bị khổ sở vì giá xăng tăng và “chán ngấy với cách mà tổng thống giải quyết vấn đề này, và họ có lý. Hành động mạnh nhất là tổng thống đưa ra để giải quyết giá xăng cao là giải thích rằng ông chống lại chuyện đó.”

12 tháng 3, Ngày Quốc Tế Chống Kiểm Duyệt Internet

 

 

Nguyễn Thanh Văn – DienDanCTM

 

Cho tới nay có lẽ không còn ai có thể phủ nhận được được sự tiện dụng, nhanh chóng, rẻ tiền và bao trùm của Internet. Ít lãnh vực nào của đời sống còn tách rời khỏi Internet. Nó chứa đựng gần như toàn bộ kho thông tin và kiến thức của nhân loại.

Ngược lại, sức mạnh và sự phổ quát của Internet đã làm thay đổi tư duy con người và bộ mặt thế giới. Nó đã được nhân loại mặc nhiên công nhận như một phương tiện để con người thực hiện quyền tự do ngôn luận, tự do tìm kiếm, tiếp nhận, và chia sẻ thông tin hoặc quan niệm, mà Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền đã minh định là một quyền cơ bản của con người và được lập lại trong Ðiều 19 của Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị.

Trong thực tế, các quốc gia trên thế giới đều ít nhiều muốn kiểm duyệt Internet vì nhiều lý do. Ðiều này không chỉ riêng ở các quốc gia độc tài, mà cả ở những nước có chỉnh phủ do dân thực sự bầu ra. Các quốc gia độc tài kiểm soát tin Internet chặt chẽ vì lo ngại về sự lan truyền thông tin trái chiều và ảnh hưởng của các nhà bất đồng chính kiến; còn một số nước dân chủ thì lo ngại tiềm năng kích động bạo lực, kỳ thị, phát tán hình ảnh khiêu dâm của Internet.

Tại các quốc gia độc tài như Trung Quốc, Việt Nam, Cuba, Syria, Iran… nơi mà các quyền của con người trong cuộc sống hàng ngày đều bị kiểm soát, hạn chế và các phương tiện truyền thông báo chí đều nằm trong tay của chế độ, thì những thông tin độc lập của giới báo chí lề trái chỉ được tìm thấy trên Internet và nơi đây cũng trở thành nơi thảo luận, bày tỏ quan điểm tự do.

Những cố gắng kiểm soát, hạn chế của các chính quyền độc tài đối với Internet chẳng những không cách nào bịt kín được, mà còn làm cho sự đối kháng từ những “cư dân mạng” trở nên mãnh liệt hơn. “Cư dân mạng” đã sáng tạo cách thức làm thế nào để chống đỡ hữu hiệu việc ngăn chặn, cấm đoán, phong tỏa Internet, và hướng dẫn người khác vượt qua được hàng rào kiểm soát, những tường lửa do các chế độ độc tài dựng lên. Mấy năm trước, khi mạng xã hội Facebook bị ngăn chặn hoặc bị cố tình làm cho chậm lại tại Việt Nam thì ngay lập tức đã có hàng chục ngàn trao đổi trên mạng hướng dẫn đủ mọi cách cách vượt qua rào cản này. Trước đó và cho đến nay, nhiều cá nhân, tổ chức, cũng đã bỏ công nghiên cứu, soạn thảo và phổ biến rộng khắp nhiều tài liệu hữu ích giúp dân cư mạng tại Việt Nam vượt qua sự kiểm soát và theo dõi của công an khi lướt mạng. Một vài trang mạng điển hình như trang: nofirewall.blogspot.com, vnctcmd.wordpress.com,en.flossmanuals.net/bypassing-vi/kiem-duyet-va-mang-Internet.

Nhận định về sự cố gắng kiểm soát Internet, một bài viết của ký giả Raju Gopalakrishnam (1) cho biết: “Các nhà nước tại Á Châu đang ngày càng nhận ra rằng, kiểm soát nội dung trực tuyến, bao gồm cả các bất đồng ý kiến, là việc hầu như không thể thực hiện được… Ngay cả Trung Quốc, nơi mà có nhiều quy định mạnh mẽ về Internet cũng đang phải vật lộn và tìm cách làm thế nào để đối phó với các trang blog đang ngày càng trở nên phổ biến bởi hàng trăm hàng triệu người đọc, và việc ngăn chặn chúng là hoàn toàn rất khó để ngăn.

Ông Phil Robertson, phó giám đốc bộ phận Châu Á của Human Rights Watch ở Bangkok cho biết: “Chính phủ [các nước độc tài] đang dành ra khá nhiều nguồn lực và thời gian để ngăn chặn các trang web và tôi nghĩ rằng đó là một phản ứng hoảng loạn. Họ có một số cách ngăn chặn tạm thời, nhưng về lâu dài, sẽ không có hiệu quả, bởi vì người ta vẫn sẽ tìm cách này hay cách khác để có được những tin tức mà họ muốn nghe, muốn biết. Một khi người dân đã được tiếp xúc với Internet và nhận ra rằng sức mạnh thông tin miễn phí hiển hiện ngay trước mắt, thì đó là một cảm giác đặc biệt về sức mạnh trong tay mình.”

Ðối với những lo ngại Internet có thể phát tán ý tưởng kích động bạo lực, kỳ thị, trong bài phát biểu tại Ðại Học George Washington vào tháng 2 năm 2011, Ngoại trưởng Hoa Kỳ, bà Hillary Clinton, cho rằng nhiều khi việc kiểm duyệt những lời lẽ đó lại là vi phạm quyền tự do ngôn luận và cách tốt nhất để đối phó với những kêu gọi hằn học là có thêm tự do ngôn luận. Người dân cần phải lên tiếng phản đối sự hiềm khích và thù hằn.

Trong những năm đầu của thiên niên kỷ này, khi ngày càng có nhiều phóng viên, nhà báo, bloggers trên thế giới bị cầm tù vì đã nói lên nguyện vọng yêu chuộng tự do dân chủ, công lý và sự thật trên Internet, trong lúc mạng Internet ngày càng bị kiểm soát chặt chẽ hơn tại một số quốc gia, công luận trên thế giới bắt đầu lên tiếng. Nhiều tổ chức quốc tế và chính phủ cho rằng mọi người cần phải có phản ứng chung đối với những biện pháp độc đoán bằng cách cùng sát cánh với nhau bày tỏ thái độ, hầu tìm cách hóa giải, phá vỡ sự kiểm soát trên mạng, cũng như vận động tự do cho các phóng viên, nhà báo, Blogger bị cầm tù. Trong bối cảnh đó, ngày 12 tháng 3, 2008 Tổ Chức Phóng Viên Không Biên Giới đã khởi xướng và kêu gọi mọi người chống kiểm duyệt Internet. Lời kêu gọi này đã được sự hưởng ứng rộng rãi trên khắp thế giới trong lúc nhà cầm quyền tại các chế độ độc tài coi đây là một mối nguy mới.

Một năm sau, hai tổ chức Phóng Viên Không Biên Giới và Ân Xá Quốc Tế gửi thư đến Google và Yahoo đã công nhận ngày 12 tháng 3 là Ngày Quốc Tế Chống Kiểm Duyệt Internet.

Sức mạnh của Internet không chỉ khiến các chế độ độc tài lo ngại về bức màn bưng bít thông tin bị phá vỡ, những sự thực về chế độ, về lãnh tụ bị phơi bày; mà ngay cả ở Hoa Kỳ, Internet đã buộc Quốc Hội Mỹ, tức cơ quan quyền lực ngang hàng với quyền hành pháp của tổng thống, phải lùi bước. Mới đây, khi dự luật “Ðình chỉ Hoạt động Vi phạm Bản quyền Trực tuyến” (viết tắt là SOPA) và “Dự luật Bảo vệ Quyền Sở hữu Trí tuệ (viết tắt là PIPA) dự định được đưa ra Quốc Hội Hoa Kỳ để xem xét đã bị sự phản đối của nhiều người, trong đó có rất nhiều công ty và tổ chức như: Google, Yahoo!, YouTube, Facebook, Twitter, AOL, LinkedIn, eBay, Tập đoàn Mozilla, Roblox, Riot Games, Epic Games, Reddit, Wikipedia và tổ chức Wikipedia, Hội Phóng Viên Không Biên Giới, Hội Electronic Frontier (EFF), ACLU, và Tổ chức Theo Dõi Nhân Quyền,… qua các hình thức như xuống đường biểu tình, để biểu ngữ màu đen trên logo website với dòng chữ “NGỪNG KIỂM DUYỆT” (STOP CENSORSHIP), ký kiến nghị trực tuyến, làm “mất điện” các trang web trong vòng 24 giờ, hiển thị tin nhắn phản đối SOPA và PIPA trên các trang web và hướng người dùng đến khẩu hiệu: “Hãy tưởng tượng một thế giới mà không có kiến thức tự do”…

Những người phản đối dự luật cho rằng dự luật này quy định quá rộng, lại quá lỏng lẻo, có nguy cơ ảnh hưởng tới nhiều hoạt động không liên quan gì tới vi phạm bản quyền. Như vậy sẽ làm tê liệt Internet và đe dọa quyền tự do ngôn luận. Trước làn sóng phản đối quyết liệt đó, ngày 20 tháng 1, 2012 Quốc Hội Hoa Kỳ đã phải rút lại việc xem xét hai dự luật nêu trên.

Theo một thống kê cho biết chỉ trong năm 2009 đã có hơn 90 ngàn tỉ email được gởi đi và chỉ riêng tháng 12, 2009 đã có 131 tỉ lượt tìm kiếm trên mạng Internet. Dự kiến trong năm 2012 này sẽ có 2.1 tỉ người trên thế giới sử dụng Internet. Riêng tại Việt Nam tính đến cuối tháng 1, 2012 số người sử dụng Internet ước tính đạt 33.4 triệu người. Nếu chỉ tính theo số người sử dụng Internet thì theo thống kê năm 2011, Việt Nam đứng hàng thứ 19 trên thế giới (2). Tuy nhiên, nếu tính theo tỷ lệ dân số thì Việt Nam còn đứng khá thấp. Nhìn vào bảng xếp hạng 58 quốc gia có trên 50% dân số sử dụng Internet (3) người ta có thể thấy được điều này.

Trong bài viết “Việt Nam đàn áp Internet và quyền tự do phát biểu” của ký giả Doug Bernard, được đài VOA dịch ra Việt Ngữ và được trang mạng Boxit VN đăng tải (4) ông đã cho độc giả một số thống kê thú vị, với nhận xét như sau: “Trong lĩnh vực tự do thông tin, việc sử dụng điện thoại di động cũng như iPhone, iPad,… luôn gắn liền với việc sử dụng Internet. Bài báo đã cung cấp cho bạn đọc những con số thống kê rất nên biết, ví dụ “Hơn 111 triệu điện thoại cầm tay đã được đăng ký tại một đất nước có dân số chỉ tới 86 triệu người” (tức là bình quân mỗi người Việt Nam đang sử dụng từ 1 đến 2 điện thoại di động). Chỉ trong 10 năm gần đây số người truy cập Internet đã tăng từ 1% vọt lên tới 27%, nhưng cũng “chỉ trong vài tháng qua, có tới 9 nhà báo và 33 blogger bị bỏ tù! Tác giả cũng giới thiệu ngắn gọn về các blogger nổi tiếng bị khống chế và tù tội như Ðiếu Cày, Tạ Phong Tần, Anh Ba SG, Mẹ Nấm…”

Tuy chưa có con số thống kê chính thức nào, nhưng điều được nhiều người thừa nhận là đại đa số những người dùng Internet ở Việt Nam là giới trẻ và có khuynh hướng truy cập những trang mạng được nhà nước cho phép. Những chủ đề thịnh hành trong giới này là “hàng hot”, bạo lực, “lộ hàng,” v.v… và do đó vô hình chung đã gần như tạo thành nếp “thời trang” cho giới trẻ nói riêng và xã hội VN nói chung, hiện nay. Trong dịp kỷ niệm 33 năm trận chiến Biên Giới Phía Bắc vừa qua đã không ít người than phiền rằng, có đến 80-90% thành phần trẻ ngày nay không hề biết gì về biến cố Trung Quốc xâm lược năm 1979 cũng như biến cố Trường Sa năm 1988, vì nền giáo dục của đảng không bao giờ nhắc đến, còn truyền thông, đặc biệt là Internet, tuy là những phương tiện giáo dục hữu hiệu nhưng những vấn đề vừa kể lại bị coi là nhạy cảm, không ai dám nhắc đến.

Ðiều rất đáng buồn từ nguồn thống kê của các công ty chủ quản các động cơ truy tìm như Google, Yahoo cho biết Việt Nam đã “lọt được” danh sách những quốc gia có tỷ lệ người dùng Internet thăm viếng các trang mạng khiêu dâm, tình dục cao nhất thế giới. Ngay cả trên hầu hết các trang báo mạng do nhà nước quản lý và cho phép đều đầy rẫy những hình ảnh và mẩu chuyện khêu gợi, khiêu dâm. Trong lúc đó, mọi lệnh cấm Internet đều có thòng thêm lý do để ngăn chận văn hóa đồi trụy và bảo vệ trẻ em!

Bên cạnh thành phần vừa kể là một thiểu số khao khát sự thật, tìm đọc những nguồn tin tức dữ kiện bị xem là “nhạy cảm” đối với nhà nước. Nhờ sự hướng dẫn dây chuyền, thành phần này đã ngày càng có nhiều người biết cách tự bảo vệ mình thoát khỏi sự theo dõi, rình rập của công an trong khi “lướt mạng.” Ðồng thời, ảnh hưởng của thành phần thiểu số này cũng ngày một gia tăng trên cộng đồng mạng. Hẳn nhiên đây là điều khiến nhà nước không thể yên tâm. Do đó, bên cạnh những chiến dịch tấn công dịch vụ (DOS) các trang mạng “không được lòng của nhà nước,” Hà Nội đã liên tục ra những văn bản dưới luật, gọi là để “quản lý” Internet, mà thực chất là để trói buộc những người sử dụng Internet trong cái rọ của nhà nước chặt chẽ hơn, và khi không “quản lý” được theo ý muốn thì cấm cản, đàn áp, sách nhiễu, bắt bớ, giam cầm. Với “thành tích” này, hàng năm CSVN luôn luôn được xếp hạng là nhà nước kẻ thù của Internet, và hiện đang đứng hàng thứ nhì thế giới về số blogger và nhà báo bị giam giữ.

Ðể đáp lại sự quan tâm của thế giới về quyền sử dụng Internet của người Việt Nam, có lẽ đã đến lúc người Việt Nam chúng ta cùng tham gia lên tiếng với thế giới trong ngày Chống Kiểm Duyệt Internet 12 tháng 3, 2012 năm nay. Những việc làm cụ thể rất đa dạng và có thể rất đơn giản, như gởi cho người chung quanh địa chỉ những nơi hướng dẫn cách vượt tường lửa, cách xóa dấu chân khi lướt mạng; cùng nhau đăng một hình tượng chung về Tự Do Internet; đăng tại trang mạng, trang blog của mình một câu về quyền tự do thông tin của con người, v.v…

Internet đang đưa con người không chỉ GẦN lại với nhau mà còn BÌNH ÐẲNG với nhau hơn về kiến thức, lương tâm, và nhân phẩm. Khuynh hướng này cần thêm từng bàn tay của chúng ta góp phần đẩy tới.

 

Tài liệu:

“Các chính phủ Châu Á bất lực trước sức mạnh của Internet”, Raju Gopalakrishnam, Ðỗ Ðăng Khoa dịch, TCPT số 50 http://phiatruoc.info/?p=5442

http://www.Internetworldstats.com/top20.htm

http://www.Internetworldstats.com/top25.htm

http://boxitvn.blogspot.com/2012/02/viet-nam-ap-Internet-va-quyen-tu-do.html

Tìm bạn Lê Thị Tuyết


Truớc ở khu nhà Vòm, khu phố 5, Ðông Hà, Quảng Trị. Ði HO, hiện nay đang ở đâu cho Khế biết tin. Xin liên lạc Khế 1-818-448-1956.

Tìm anh Phạm Ngọc Hoàng


Truớc ở Huế, bây giờ anh ở đâu cho Hoàng Thị Hoa biết tin. Liên lạc 1-818-448-1956 bất cứ giờ nào. Mong tin anh.

LAW OFFICE OF GENE W. CHOE

   

Vàng Ðen (Kỳ 39)


“Vàng Ðen” là tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Dũng Tiến, được xây dựng trên những tư liệu cùng huyền thoại liên quan tới vùng “Tam Giác Vàng,” một trong những nguồn sản xuất và cung cấp thuốc phiện (“vàng đen”) lớn nhất thế giới. Ngoài việc viết văn, tác giả Nguyễn Dũng Tiến cũng là một trong những người Việt Nam đầu tiên có công gầy dựng vườn cây ăn trái cho người Việt ở xứ người. Ông hiện là chủ nhân vườn cây LA Mimosa Nursery, 6270 East Allston Street, Los Angeles, CA 90022-4546. Tel: (323) 722-4543. Ðược sự cho phép của tác giả, Người Việt hân hạnh giới thiệu tiểu thuyết “Vàng Ðen” trên mục truyện dài của Nhật Báo Người Việt cũng như Người Việt Online.


 


Kỳ 39


 


Bà hàng bún liếc nhìn hai người, liếc nhìn hai tô bún. Bà để ý thấy những sợi bún hôm nay được Phong Sương đối xử tương đối bớt tàn nhẫn. Cô nàng lại ríu rít như đứa trẻ thơ, Phong Sương nói hết chuyện này đến chuyện khác cho Phong nghe.


-Anh có biết người ta lớn lên ở đây không?


-Phong Sương được sinh ra ở Lào à?


-Còn gì nữa, nhưng người ta không ở nhiều với mẹ đâu, người ta ở với cô Hai, cô Lụa. Lúc bé nghịch lắm đấy.


-Như vậy Phong Sương ở Sà Vằn chắc lâu lắm rồi nhỉ?


-Em ở đủ mọi nơi, Sà Vằn, Pặc Sế, Pạc Sòng, Vạn Tượng, Luang Prabang, cả Mỹ nữa…


Buột miệng nói chữ “Mỹ”, Phong Sương cảm thấy mình hớ vô cùng. Diana đã dặn, không được cho mọi người biết, xuất xứ từ Mỹ về. Cũng kệ, nói cho người mình đang thương cũng có sao.


Nhưng Phong lại nhẩy nhổm với chữ “Mỹ” ấy. Phong tự nhủ, phải vô cùng kín đáo với những hiểu biết về đời sống bên Mỹ của mình, cùng phải dặn dò kỹ thêm những đứa em. Chúng cứ đem những chữ như: OK. ra nổ với nhau trước mặt Phong Sương, coi bộ không xong.


-Tôi không biết Phong Sương từ Vạn Tượng xuống, nếu không mình đã hẹn nhau tại Vạn Tượng. Ðỡ mất thời giờ của cả hai.


-Không, em phải xuống đây để coi lại hết những việc làm của anh và ông Sán trong một vài năm qua. Hai người có vẻ lấn đất quá nhỉ?


Phong Sương lại tự trách mình, nói chuyện với một tay buôn lậu sừng sỏ, không biết sao cứ đưa lưng ra cho người ta xem.


-Chúng tôi cũng chỉ là những người buôn bán kiếm sống thôi. Phong Sương nghĩ sao về đề nghị của chúng tôi?


-Cá nhân em, em nghĩ không trở ngại, nhưng em phải tham khảo thêm ý kiến của mọi người.


-Phong Sương không phải là người chính thức điều hành?


-Ðúng, nhưng em mới nắm tất cả trong tay được ít lâu thôi, nên phải hỏi lại cô Lụa nữa, vì chuyện bán súng đạn của anh hơi mới mẻ với em.


Quả thật, chuyện súng đạn quá mới với Phong Sương. Lại nữa, sau hơn chục năm sống với cô Lụa, Sương cảm thấy cô không được thoải mái lắm với Diana.


Bất cứ chuyện gì, sau khi bàn tán với Phong Sương, cô đều phải cho Diana biết. Với một loại quyền lực đen đầy ma quái, cô Lụa đã thao túng hầu hết giới giang hồ của xứ Lào. Không hiểu sao, cô có vẻ úy kỵ Diana ra mặt. Riêng Phong Sương, vì trên nguyên tắc vẫn đang làm việc cho North Star, lãnh lương hàng tháng, nên đã phải chấp nhận những chỉ thị của Diana. Có lẽ Phong Sương phải thông qua cho Diana biết về chuyện buôn bán này. Gì chứ, súng đạn cô nàng có vẻ nghề lắm.


-Em sẽ gọi điện cho cô Lụa và em trả lời anh ngày mai.


Buổi chiều qua thật nhanh. Phong Sương không biết phải làm sao để níu kéo lại được thời gian cũng như níu kéo lại được Phong. Trời cứ tối dần. Cuối cùng Phong Sương phải đóng lại vai trò của tối hôm trước: Bịn rịn chia tay, lòng chẳng muốn rời.


-Alô, Diana, mình có mất cái gì đâu. Em chỉ cần trực tiếp liên lạc với ông Khun Sa một lần thôi, sau đó mỗi chuyến hàng mình đều được hoa hồng.


Ðã cả hơn mười phút đồng hồ, Phong Sương cố thuyết phục Diana chấp nhận việc trung gian bán vũ khí, nhưng hình như không thể nào thay đổi nổi lập trường “không” của Diana.


-Conchita (Phong Sương), trung tá chắc chắn sẽ không bằng lòng chút nào hết về việc chị nhúng tay vào chuyện này, ông ta sắp sửa tranh cử thượng nghị sĩ, do đó em chắc chắn câu trả lời của ông cũng sẽ là không. Conchita, em nghĩ chị đừng nên đặt em vào một tình trạng khó xử.


Như thế rõ ràng là Diana thật sự quyết liệt không muốn mình dính vào vụ này. Cuộc điện đàm được kết thúc sau đó một vài phút.


Trong một vài phút cuối cùng qua điện thoại cùng Diana, đầu óc của Phong Sương như một chiếc máy điện toán. Diana đã nhất quyết không, nhưng Phong Sương cũng chẳng chịu lùi. Chiếc máy điện thoại lại được tiếp tục bấm số.


-Alô, chú đó hả…, chú có khỏe không?… Cháu là Phong Sương nè, chú không nhận ra giọng cháu hả? Cháu cần nhờ chú một chuyện…



-Dễ thôi, chú liên lạc với ông Khun Sa giùm cho cháu, cháu muốn gặp ngay ông ấy…



-Nhé, chú làm ngay cho cháu nhé, cháu chờ chú trả lời cháu tại nhà cô Hai đấy. Thương chú nhiêu, nhiêu, nhiều.


Câu trả lời của Phong Sương cho ngày hôm sau đã không đến được tai của Phong, vì Phong Sương đã biến mất khỏi nhà cô Hai. Phong đã phải chờ một ngày, hai ngày, đến chiều ngày thứ ba mới nhận được điện thoại của Phong Sương gọi đến khách sạn.


-Alô, anh Phong, anh có thể gặp em ở quán ăn Sớm Mai không?



-Em sẽ cho anh biết nhiều chuyện hay lắm, anh đến đó ngay nhé, em có đến trễ, anh cũng phải chờ đấy… Ðừng hỏi em nữa, em đến đó ngay. Hỏi taxi nào, họ cũng biết.

Thêm một vụ lính Mỹ bị lính Afghanistan hạ sát


WASHINGTON (AP) –
Một lính Afghanistan hồi tháng qua đã bắn chết một lính TQLC Mỹ 22 tuổi tại một tiền đồn, nhưng vụ này đã không được thông báo ra ngoài. Vụ này đánh dấu ít nhất là lần thứ bảy xảy ra việc đồng minh Afghanistan giết hại quân nhân Mỹ chỉ trong sáu tuần qua.

Bản đồ tỉnh Helmand, Afghanistan. (Hình: Rarelibra/Wikimedia/Public Domain)

Hạ Sĩ Edward J. Dycus, quê quán ở Greenville, tiểu bang Mississippi, đã bị bắn vào gáy hôm 1 Tháng Hai khi đang đứng gác tại căn cứ hỗn hợp Mỹ-Afghanistan trong quận Marja thuộc tỉnh Helmand. Chi tiết về cuộc nổ súng này không được tiết lộ nhưng gia đình anh Dycus được thông báo là anh bị một lính Afghanistan bắn chết.

Khi Ngũ Giác Ðài loan báo cái chết của Hạ Sĩ Dycus một ngày sau vụ nổ súng, họ chỉ nói rằng anh chết “trong khi tham dự hành quân” ở Helmand. Bản thông cáo không đề cập gì đến vụ lính Afghanistan bắn lén hạ sát lính Mỹ, một điều đang ngày càng trở nên trầm trọng cho quân đội Mỹ và đồng minh NATO khi họ phải làm việc chặt chẽ với phía Afghanistan hầu có thể rút quân đúng hạn vào năm 2014.

Sau cuộc thương thảo nhằm bảo đảm rằng nghi can Afghanistan sẽ bị truy tố và đưa ra xét xử, phía Mỹ bằng lòng giải giao người này cho phía chính phủ Kabul, theo nguồn tin trên. (V.Giang)

Ấn Ðộ nhờ Interpol truy lùng nghi can khủng bố gốc Iran


NEW DELHI (AFP) –
Cảnh sát Ấn Ðộ hôm Thứ Sáu cho hay đang chuẩn bị để yêu cầu Cảnh Sát Quốc Tế (Interpol) đưa ra lệnh truy nã ba người đàn ông gốc Iran bị tình nghi là mở cuộc tấn công vào một nhà ngoại giao Israel ở New Delhi.

Cảnh sát thường phục dẫn Syed Mohammed Kazmi, một nghi can trong vụ đánh bom một xe ngoại giao của Israel, từ trong tòa đi ra. Ấn Ðộ sắp nhờ Interpol lùng bắt những nghi can khác. (Hình: AP Photo/Manish Swarup)

Cảnh sát trưởng New Delhi, ông Brijesh Kumar Gupta, cũng cho hay kết quả các cuộc điều tra thời gian qua cho thấy có sự liên hệ rõ ràng giữa cuộc tấn công hôm 13 Tháng Hai và một âm mưu tấn công tương tự nhắm vào các nhà ngoại giao Israel ở Bangkok.

Ông Gupta nói rằng các trát truy nã quốc tế này có thể được đưa ra trong vài ngày tới.

Trong cuộc tấn công hồi tháng qua, một tay sát thủ đi trên xe gắn máy thuê đã gắn một quả bom có nam châm vào phía sau xe hơi của Tòa Ðại Sứ Israel đang chở theo một nữ giới chức ngoại giao 42 tuổi khi bà này đến đón con ở trường. Phụ nữ này, cũng là vợ của tùy viên quân sự Israel, bị thương cột sống trầm trọng và được di tản về điều trị tại Israel. Ba nghi can Iran là Houshang Ashfar Irani, Sayed Ali Sadr Mehdian và Abolghasemi Mohammad Reza nay được biết đã trở về nước.

Tuần qua, một nhà báo hành nghề lâu năm, đang làm việc bán thời gian cho cơ quan thông tấn nhà nước Iran, IRNA, đã là người đầu tiên bị bắt giữ vì nghi ngờ có liên hệ đến cuộc tấn công.

Theo ông Gupta, Kazmi đã giúp cung cấp cho phía Iran tin tức về hoạt động của các nhân viên tòa đại sứ Israel và thăm dò các hướng di chuyển để có thể mở cuộc tấn công.

Chiếc xe gắn máy cảnh sát tin rằng được dùng trong cuộc tấn công được tìm thấy ở nhà ông Kazmi và cảnh sát trưởng Gupta cũng cho hay họ tìm thấy số tiền $43,000 gửi từ ngoại quốc vào trương mục của vợ chồng Kazmi mà “không có lời giải thích thỏa đáng.” (V.Giang)

Myanmar sửa luật đầu tư nhằm thu hút công ty ngoại quốc


YANGON (Reuters) –
Các doanh gia ngoại quốc muốn vào làm ăn ở Myanmar nay sẽ không cần phải liên doanh với một công ty nội địa và có thể được miễn thuế trong 5 năm, theo bản dự thảo luật đầu tư mới của chính phủ Myanmar.

Luật đầu tư mới này, cùng với kế hoạch thả nổi tỉ giá hối suất đồng kyat bắt đầu từ Tháng Tư, đánh dấu các biện pháp cải cách kinh tế táo bạo nhất kể từ khi Myanmar có chính phủ mới hồi năm ngoái, trong hoàn cảnh phá sản kinh tế do điều hành yếu kém và vì các biện pháp trừng phạt quốc tế.

Chính phủ mới ở Myanmar nay có nỗ lực lôi kéo các nhà đầu tư Tây phương và họ đã ào ạt đến Yangon, thủ đô thương mại của Myanmar, trong những tháng gần đây vì tin rằng Mỹ và Âu Châu sẽ sớm nới lỏng hay chấm dứt các biện pháp trừng phạt.

Theo luật mới, doanh gia ngoại quốc có thể bỏ vốn 100%, lập liên doanh với các công dân Myanmar hay với các công ty quốc doanh, với phía ngoại quốc phải bỏ ra tối thiểu là 35% số vốn.

Các nhà đầu tư ngoại quốc cũng sẽ được thuê đất từ nhà nước hay đất tư nhân. Thời hạn thuê đất sử dụng tối đa là 30 năm.

Các công ty ngoai quốc sẽ không được phép dùng công nhân ngoại quốc không có tay nghề – điều thường thấy với các công ty Trung Quốc – và công dân Myanmar phải chiếm ít nhất 25% tổng số nhân công có tay nghề. Chính phủ Myanmar cũng khẳng định là không quốc hữu hóa các công ty ngoại quốc nếu họ đến làm ăn tại nơi này. (V.Giang)

Tin mới cập nhật