Thơ Mặc Phương Tử

Như cuộc tuần lưu

Bên thềm mây trắng khéo xây thành
Xao xác ngoài kia tiếng lợi-danh
Vinh nhục bao phen đời khập khễnh
Ðỉnh chung mấy cuộc mộng tan tành.

Xoay chiều ngọn bấc đau lòng vạc
Trở giấc phong hồ lạnh điếm canh.
Ngàn thuở ai hay tuồng thế sự,
Bức tranh vân cẩu vội qua mành.

Vội qua mành ấy, ảo tuồng thôi!
Cốt để làm nên chất liệu người
Vẫn biết non cao còn bóng cả
Nào hay rừng thẳm có ma chơi!

Ðã rằng nắng quái nung thêm lửa
Vì bởi lầm mê phó mặc đời.
Ấy thế, cuộc tuần lưu vẫn thế…
Chừng như thế sự nước mây trôi!

South Dakota, tháng 8, 2017.
(Nguồn: sangtao@org)

Mời độc giả xem bình luận “Afghanistan, Mỹ, Nga, Iran”(Phần 2)

Thơ Nguyễn Tam Phù Sa

Thư gởi các cháu có người mẹ đang ở trong tù

Chú có một người cha đã chết trong tù
Nên quá sợ bốn bức tường quyền lực
Ðêm nghe tiếng vạc sành, tiếng thạch sùng tặc lưỡi
Thấy thương người mẹ trong tù
Thương tới những đứa con

Các cháu có tội gì đâu phải gánh hai đầu thương nhớ
Phải bưng chén cơm chan nước mắt mỗi ngày
Phải vịn thành giường tìm kiếm tiếng ầu ơ
Câu hò Bắc sao mà mặn thế!

Ở đâu đó nơi thiên đương thinh lặng
Cháu có nghe đất vỡ dưới chân mình
Từng hạt cát bật mầm đứng dậy
Từng lùm cây rần rật sóng đại ngàn

Có nghĩa gì không hai chữ Tự Do
Mà mẹ cháu dấn thân vì Tổ Quốc
Chú đã khóc đủ lâu – 3 thời đại
Ðến bây giờ còn khóc với trẻ thơ

Nước mắt không giúp được gì đâu, cháu ơi
Hãy đứng dậy nhìn ra phía biển
Phía đàn cá phơi mình trên cát trắng
Ðể hiểu tấm lòng Người Mẹ Việt Nam.

Sài Gòn 03.8.2017
(Nguồn: sangtao@org)

Mời độc giả xem Điểm tin buổi sáng Thứ Hai, ngày 28 tháng 8 năm 2017

em>

Người lính trong lửa đạn, và sau trận chiến

I. Tháng Chín, ba mươi hai năm trước, 1972 đã là lần lịch sử chuyển mình, núi rừng, đất trời miền Nam đồng vang dội chiến công.

Quân Nam quyết liệt xốc tới nơi những chiến trường Quảng Trị, Bồng Sơn, Kon-Tum, An Lộc… hiện thực một lần nghĩa vụ linh thiêng muôn thuở của Người Lính – Bảo Quốc An Dân – Sứ mệnh không hề nói thành lời, và được hiện thực với chính máu xương của những con người vô danh cao thượng mà Ðằng Phương, Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy mấy mươi năm xưa đã viết nên những dòng máu lệ ngợi ca hùng tráng,

Họ là những anh hùng không tên tuổi
Sống âm thầm trong bóng tối mênh mông
Không bao giờ được hưởng ánh quang vinh
Nhưng can đảm và tận tình giúp nước…

Nội dung vĩ đại trên được thực hiện qua những cảnh tượng hùng tráng: Ngày 25 Tháng Sáu 1972, chiến dịch tái chiếm Quảng Trị khai diễn với các đơn vị: Biệt Ðộng Quân, Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, lực lượng diện địa của Tiểu Khu Quảng Trị, phối hợp với các chi đoàn chiến xa, thiết quân vận của Quân Ðoàn I, được yểm trợ bởi các đơn vị pháo cơ hữu, và của vùng chiến thuật dưới quyền chỉ huy của Tướng Quân Ngô Quang Trưởng.

Ðoàn quân quyết tử phục hận đồng vượt tuyến xuất phát Sông Mỹ Chánh tiến theo trục chính Bắc với mục tiêu cuối cùng – Cổ Thành Ðinh Công Tráng hay Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Quảng Trị – mà quân ta phải tạm lìa bỏ từ 29 Tháng Tư do những ước tính sai lầm của những cấp chỉ huy, giới chức lãnh đạo.

Từ Ngã Ba Long Hưng, cửa ngõ phía Nam Quảng Trị, điểm tiến quân cao nhất của Tiểu Ðoàn 7 Nhẩy Dù trong ngày 7 Tháng Bảy 1972, đến Cổ Thành Ðinh Công Tráng đoạn đường dài khoảng một cây số, và bề ngang từ nhà ga phía cực Tây đến làng Công Giáo Trí Bưu phía đông, khoảng cách cũng có bề rộng tương tự. Trên khoảng đất rộng hơn cây số vuông kia, mười lăm ngàn người lính của những đơn vị kể trên đã thay phiên nhau bò, trườn, ẩn núp, gọi pháo, đánh bom, ném lựu đạn, đánh cận chiến ngày lẫn đêm suốt đoạn thời gian liên tục 67 ngày, để đến Ngày 14 Tháng Chín 1972 những người lính của các tiểu đoàn TQLC đồng lần siết chặt mục tiêu, dựng ngọn Cờ Vàng bay lộng trên gạch đá điêu tàn, giữa tiếng đạn, khói thuốc súng của trận chiến đang hồi kết thúc.

Cờ lên!
Cờ lên! Giữa vũng lửa.. Ở Quảng Trị,
Dân với quân cùng lần nước mắt ứa
Một bận cờ bay Cổ Thành xưa
Bao phần máu xương người lính đổ…

Chiến tích kỳ diệu trên ắt phải được nung nấu từ một nguồn thúc giục vô vàn mãnh liệt mà không thể mua bằng một giá biểu lương bổng nào dầu cao đến bao nhiêu, chắc chắn cũng không do từ một huy hiệu, cấp bậc tưởng thưởng… Người lính đã bậm chặt môi, nghiến răng xốc tới bởi từ dưới những đụn cát loang lổ vùng Hải Lăng, Giáp Hậu, chen giữa những xác chết nặng mùi có những dạng người cử động… Những người sống sót từ lần thảm sát khi rời bỏ Quảng Trị trong ngày 29 Tháng Tư, trên đường chạy về Huế, lọt vào ổ phục kích vùng hỏa tập tiên liệu của đơn vị cộng sản, chín cây số Nam La Vang kéo dài đến cầu Câu Nhi Phường, xã Giáp Hậu, quận Hải Lăng. Những người sống sót hồi sinh với tiếng nói đứt khúc, thì thầm hấp hối… Lính tới… Lính Cộng Hòa tới…

II. Sau 30 Tháng Tư 1975, những người lính kể trên có thể đã chết (theo một tỷ lệ khả thể rất lớn) theo lần sụp vỡ quê hương.

Không phải với cách chết bình an lành lặn, nhưng chết với xác thân bị dầm xé, những tay chân gãy gập, đứt đoạn, xương cốt dập vỡ… Những người chết bị kết án, sỉ nhục từ những ngày sống thoi thóp, và chết đi trong uất hận căm hờn rung động đến cùng tận đất trời. Tiếng gào đau nầy đã dậy lên suốt tuổi trẻ trên từng trang sách của hơn ba-mươi năm qua… Bởi bản thân vẫn mãi mãi và luôn chỉ là – Người Lính của một quân đội hằng sống, chết vẹn toàn để thực hiện sứ nhiệm báo ân cùng dân tộc khổ nạn trên quê hương điêu linh – Người Lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Nhưng có những con người – Những người lính vẫn tồn tại. Phải tồn tại. Họ không chỉ là những người lính bình thường với nỗi truân chuyên, gian khổ, nguy nan đặc thù riêng của đời lính mà là những quân số chịu phần oán nghiệt khốc liệt nhất trong toàn tập thể quân đội – Những thương phế binh bị loại ra khỏi cuộc chiến từ lúc chiến tranh đang nặng độ. Ðây lại là những thương phế binh của một quân đội thất trận, ở lại sau cùng khi những người chỉ huy đã tráo trở đầu hàng, tan hoang tháo chạy, hoặc cùng đày bó tay bẻ súng, vị quốc vong thân. Không vũ khí, không đủ cả giác quan, tay chân, họ ở lại hứng trận đòn báo thù hèn hạ từ một tập đoàn thắng trận bạo ngược tàn nhẫn nhất trong lịch sử Ðông-Tây, mà thông thường khi cuộc chiến chấm dứt, những phe lâm chiến hằng đối xử nhau một cách văn minh với tính bình đẳng huynh đệ… Pháp-Ðức, Mỹ-Nga, Hoa-Nhật… Nhưng, ở Việt Nam, nơi miền Nam, một bên, kẻ thắng trận, tổ chức bạo lực phát động chiến tranh, giành luôn quyền giết người và thực hiện tội ác vì “độc lập, tự do, hạnh phúc cho đời đời con cháu mai sau!!” và một bên, tập thể những con người trần trụi tuyệt vọng, đối tượng của một chính sách bức hại thâm độc vô nhân tính không cơ may được khoan thứ, không phương tiện chống giữ, không hy vọng thoát thân.

Ðau thương hơn nữa, họ không chịu riêng một mình mà kéo theo những người thân thích, nói rộng ra, một lần với miền Nam thất trận cùng đành. Cái chết cũng vô nghĩa và không thể thực hiện được bởi khả năng cuối cùng này đã hoàn toàn bị tước bỏ. Họ thật tận chết từ trong mỗi ngày giờ hiện sống, qua bức hại, thanh trừng, lưu đày, hành hình trên chính quê hương từ những người gọi là đồng chủng tộc…

Chúng ta hãy cùng sống lại từng bước của buổi trường chinh vô hạn khốn cùng của mỗi đơn vị người gọi là Thương Phế Binh, với những người mẹ, vợ, và những đứa con của họ. Những trẻ nhỏ hoàn toàn vô tội và vô hại cho dù xét xử dưới bất cứ chế độ chính trị, xã hội nào.

– “Ðứa nhỏ chết dưới đường cống Sài Gòn.” Nầy đây, chúng ta hãy nghe thương phế binh Nhị Nguyên viết về hai con nhỏ của tử sĩ Nguyễn Văn Thuận, đơn vị sư đoàn Nhảy Dù, quê Long An… “Thằng Nô, 12 tuổi, Phát 14 tuổi cùng mẹ đi vùng kinh tế mới ở Ðồng Tháp Mười, nhưng đời sống quá cực nhọc và không đủ ăn, bà mẹ dẫn hai đứa con về Sài Gòn sống lang thang. Nô và Phát thường khoe với chúng tôi rằng, cha chúng đi lính mặc áo hoa rừng chết vào mùa mưa 1972. Mẹ chúng đã khóc như mưa lúc nhận xác cha, nên mỗi khi vào mùa mưa, chúng cảm thấy buồn buồn. Gần đến ngày giỗ cha, chúng cố “làm ăn” cho có nhiều tiền để về Long An thăm mẹ. Thường khi các bạn đồng lứa bắt đủ cá xong trở lên mặt đường ngủ thì chúng nó tiếp tục lặn dưới các ống cống thành phố để tìm thêm cá. Có những buổi sáng, chúng tôi thấy hai anh em rét run vì ngâm dưới nước quá lâu.

Vào một đêm nọ, tôi thấy hai anh em thằng Nô, Phát lặng lẽ mở nắp cống chui xuống, khoảng vài ba giờ sau thì sấm chớp rầm rầm, chúng tôi choàng thức dậy tìm chỗ trú mưa. Một trận mưa như vũ bão đổ ào xuống thành phố và kéo dài cho đến sớm. Bình thường, hai anh em thằng Phát ở lâu hơn bạn bè dưới cống, nhưng sao giờ nầy chúng nó vẫn chưa lên? Thôi rồi, tôi hốt hoảng hiểu ra mọi sự… Anh em chúng tôi báo động với nhau, hỏi thăm những đứa trẻ đang ngủ gà, ngủ gật cạnh những đống rác “giữ chỗ” cho công việc sáng hôm sau (để moi, nhặt rác). Chẳng đứa nào thấy hai anh em thằng Nô. Cho đến một hôm, ba mươi – ba ngày sau, một đứa khác đang lội bì bõm ở ống cống gần chợ Cầu Ông Lãnh tìm cá, bất ngờ đụng phải một cái gì giống như “trái dừa,” nó nhặt lên, soi dưới ánh đèn, hét tiếng lớn và bỏ chạy. Sợ quá, nó chui đại lên miệng cống ngay gần chợ trước sự kinh ngạc của bạn hàng, nó vừa lượm một cái đầu lâu. Cả chợ hay tin đó liền kêu đội dân quân gác chợ mở cống tìm xác hai đứa nhỏ, nhưng cuối cùng chỉ nhặt được một khúc đùi đã thối rữa, và nửa thân người còn lại. Bọn trẻ nhận ra cái quần đùi màu đỏ của thằng Phát, bên trong còn ít tiền gài kim băng cẩn thận. Tiền đó thằng Phát để dành về quê giúp mẹ làm đám giỗ cha.

– “Về những người vợ lính.” Chúng ta nghe tiếp về những người vợ lính, vợ thương phế binh… Ðấy là những người đàn bà bình thường, đơn giản, trú ngụ ở các trại gia binh của các đơn vị quân đội. Những người đàn bà chỉ ao ước mỗi tháng được mua hàng quân tiếp vụ, thăm chồng nơi chốn hành quân xa với tay xách đựng vài ổ bánh mì, nải chuối, biểu lộ tình nghĩa vợ chồng qua tiếng lời trung hậu, tội nghiệp… Cũng chính họ đã gánh chịu tai họa chiến tranh ngang tầm của người chồng trong cách thế im lặng, thụ động và cam phận… Những buổi sáng tinh mơ trước khi đoàn xe lăn bánh ra khỏi hậu cứ, họ đã có mặt với những đứa con còn ẵm ngửa, đứa dắt tay. Họ biết nói gì với chồng trước mỗi lần đi ngoài lời thầm xin cầu nguyện… Mong lần đi có khi trở lại, và nếu người chồng trở về với những thương tật không thể bù trừ, những mất mát không hề được tái sinh, họ chấp nhận sự thiệt hại đau thương, giá máu đổ xuống một cách khắc kỷ cao thượng qua lời nói nhẹ tênh… “Ừ thôi, ba hắn không chết là tui mừng rồi, còn vợ, còn chồng là được.” Và đời họ, người chồng lính, những đứa con sẽ kéo dài bình an chìm lặng từ nỗ lực đôi vai, chiếc lưng ngồi hằng ngày nơi phố chợ, hoặc với quang gánh nhọc nhằn trên đường xa. Tất cả khổ đau hoạn nạn được quên khuất nhanh chóng với câu nói bình thản… “Ba sắp nhỏ dù đui què, mẻ sứt chi mà còn sống là tui cũng yên lòng.”

Tất cả mối mong ước bình an chịu đựng nhỏ bé nầy đồng bị đổ nhào, lật ngược một cách tàn nhẫn nơi ngày 30 Tháng Tư, 1975… Chồng chị Liên là anh Hơn, phế binh Sư Ðoàn 25 Bộ Binh, cụt một chân và lao phổi nặng. Một hôm đi bán nhang chẳng may băng qua đường bị trợt té, một chiếc xe hàng chạy qua thắng không kịp, đầu anh bị cán nát, lòi cả óc ra ngoài. Dẫu chồng chết, chị Liên cũng đã lây bệnh ho khậm khẹt và không hiểu sao chị sợ màu đỏ quá. Nó giống máu hòa trong nước miếng của chồng chị nhổ ra sau mỗi cơn ho, nó cũng giống màu cờ đỏ treo khắp thành phố. Liên cùng chị Mạc, vợ một phế binh khác, và chị Nguyệt lên Long Khánh buôn củi lậu. Cả ba đi tàu chui và khi gần đến ga Bình Triệu thì tuôn củi xuống, Liên có đứa con trai lớn tên Ðức, nhanh nhẹn giúp đỡ mẹ rất đắc lực, nhưng chị Mạc với bé Hoa mới 5 tuổi thì thật là khó khăn, nguy hiểm khi nhảy tàu, vừa bế con, vừa tuôn củi. Liên khuyến khích bạn, “Chị đừng lo, thằng Ðức con tôi sẽ cõng con Hoa nhảy giùm cho….” Nhưng sự “may mắn” không đến với chị Liên được mãi, tai họa đã xẩy ra như một điều tự nhiên của nghiệp khổ phận người Việt Nam.

Một hôm, trời mưa tầm tã, bảo vệ chia nhau ngăn chặn các toa xe. Ðể cứu lấy món hàng, Ðức và những đứa nhỏ leo lên trần xe và chuyền những bó củi qua cửa sổ. Một đứa tuột tay bị cuốn vào bánh xe lửa, thân thể bị nghiền nát vụn dọc theo đường tàu. Về đến ga Thủ Ðức, chị Liên vẫn không thấy thằng Ðức đâu, hỏi thăm lũ nhỏ, có đứa bảo thấy thằng Ðức leo mui xe lửa trốn bảo vệ. Nhưng đến ngày hôm sau, Liên mới biết được rằng, khi xe qua cầu Biên Hòa, con chị đã bị đà ngang đánh vỡ đầu, rơi xuống đường ray, thây xác bây giờ không biết nằm đâu… Cuối cùng, chị Liên gia nhập lực lượng “tình nguyện hiến máu.” Chị có ý định sau khi gom được số tiền bán máu chị sẽ đi buôn lại như xưa vì bây giờ nghe nói Cộng Sản không còn “ngăn sông cấm chợ.” Chị đã đến các trung tâm tiếp huyết Thủ Dầu Một, Bình Dương, lên tận Lộc Ninh rồi vòng qua Biên Hòa để bán máu. Nhưng vì muốn mau thoát khỏi kiếp sống hè phố chị đã quên chính mình, thân xác càng ngày càng suy kiệt, mặt chị xanh xao, đi không vững, bị xây xẩm luôn. Một đêm chị ngủ trên ghế đá một công viên ở Chợ Lớn, sáng mai người ta tìm thấy xác chị cứng đơ. Khi đem xác đi chôn, số tiền để dành trong túi chị bị công an tịch thu vì không có chứng minh tài chính hợp lệ.

– “Cảnh sống/chết đọa đày của Gia Ðình Thương Phế Binh.” Ðây, lời kể của chứng nhân Bùi Anh Sáu về lần “Ghetto, Làng Phế Binh Thủ Ðức” bị triệt hạ: “Ba giờ sáng ngày 1 Tháng Bảy, 1975, Làng Phế Binh Rạch Chiếc Thủ Ðức bị đánh động, vây chặt bởi một đơn vị bộ đội đông đúc có cả xe tăng yểm trợ. Một đoàn xe chờ sẵn để dồn mọi người lên vùng kinh tế mới Sông Bé (Phước Long cũ)… Kinh tế mới là gì, chẳng ai biết? Sông Bé ở đâu, người người bàn tán xôn xao. Trẻ nít khóc rân, người lớn nháo nhác hốt hoảng dồn đồ đạc, áo quần dưới ánh sáng luồn sục, thúc giục của đèn xe và đèn pin và lời quát tháo chửi mắng… “Chúng mầy là gia đình bọn ngụy quân, lính đánh thuê cho đế quốc Mỹ, có nợ máu với nhân dân, chúng mầy không được quyền ở đây, phải trả lại tài sản cho nhà nước và nhân dân!”

Chen trong chuỗi la ó hỗn loạn kia có những âm thanh nổ bùng, sắc gọn sau tiếng la hét uất hận… Những thương phế binh tự sát cùng với gia đình, từ chối lên vùng kinh tế mới. Ðến sáng, toàn khu làng phế binh ngày thường sầm uất nhộn nhịp nay vắng hoe, heo hút những đám cháy nhỏ gồm những vật gia dụng bộ đội không cho đem theo; chỉ còn những đơn vị bộ đội đứng gác và các toán đi lại, vào từng nhà kiểm kê. Một đoàn xe khác từ Sài Gòn đến, sau khi đã chất đầy những đồ đạc để sẵn ngoài sân, phủ bạt kín, chạy ra xa lộ, hướng về phía Bắc.”

Gần một năm sau, tất cả những gia đình đi kinh tế mới ở Sông Bé đồng trở về vì không chịu đựng nổi cảnh sống quá cực khổ ở vùng núi rừng hiu quạnh. Có gia đình về không đủ như lúc ra đi vì đã để lại thân xác nơi rừng sâu; có gia đình thì đông hơn trẻ nít, nhưng tất cả đều ốm yếu, nước da vàng vọt, người đầy ghẻ chốc. Họ không còn nhà, nên thường cất những chòi bằng giấy cứng quanh nghĩa địa. Người sống và người chết chen nhau. Vào ngày nắng gắt hoặc mưa giông, nghĩa địa bốc mùi tanh nồng nặc, dần dần ai nấy đều có nước da tai tái như người chết. Nhà cửa khu trại gia binh bị trưng thu, vùng kinh tế mới sống không nỗi, lấy nghĩa địa làm nhà, lề đường là vùng sinh sống, đám dân cùng khổ biến thành “tệ đoan xã hội,” đối tượng của chính sách dồn ép và quét sạch để “làm đẹp tổ quốc giàu, mạnh, xứng đáng thành phố mang tên bác kính yêu.”

Chúng ta nghe tiếp lời của phế binh Bất Hạnh, hiện ngụ tại Khánh Hội, Sài Gòn: “Những cuộc truy quét thu gọn rầm rộ được phát động trong những xóm lao động, dài theo đường phố Sài Gòn, những vật dụng ăn cướp của đám bần dân bị công an quăng đầy lên xe cây: cây dù, tủ thuốc lá, xe xay nước trái cây, xe bán nón, đòn gánh, rỗ bánh tráng… Chưa hết, bên cạnh những chuyến xe chở hàng tịch thu là những chiếc xe bít bùng chở đầy người già, trẻ nít, người tàn tật, những bà mẹ cùng những đám con thơ nheo nhó đỏ hỏn bế trên tay… Tất cả đồng đưa về trại tập trung về tội “lấn chiếm lề đường.” Nầy đây, một cuộc bố ráp điển hình ở Khu Hàng Xanh: “Tôi (Bất Hạnh) không may lọt ổ phục kích, chưa biết phải làm gì trước tình huống thì một xe công an từ đâu phía sau chạy tới, một tên nhảy xuống, giật thùng đồ nghề (vá xe) quăng lên xe. Thế là trắng tay! Làm sao để sống đây hở trời? Những nơi khác, quanh Ngã Tư, tiếng la hét, khóc than vang lên tới tấp. Một chị phụ nữ la thất thanh, chị đang giằng co với một tên công an thúng trái cây, bên cạnh bên chị, hai cháu bé, đứa khoảng 5 tuổi, đứa chừng 3 tuổi bò lăn trên những trái mận, ổi, khóc vang khi thấy mẹ bị tên công an đá quay lông lốc…”

– “Ðối mặt với một chính sách diệt chủng.” Sáng ngày 1 Tháng Năm 1975, một địa ngục có thật mở ra trên miền Nam, càng đậm sắc với những người tàn phế ở các quân y viện… Một toán Việt Cộng tiến vào Bệnh Viện 3 Dã Chiến buộc chúng tôi rời viện ngay tức khắc. Bọn người nầy chửi bới chúng tôi là phản quốc, tay sai đế quốc, v.v… Phản quốc nào, quê hương chúng tôi bị chúng xâm chiếm. Tay sai đế quốc nào khi dân tộc chúng tôi, thân thể chúng tôi bị đạn Nga, Tàu gây thương vong. Những chiếc “nón cối” nầy đại diện cho ai mà dám la hét: “Cút, cút ra khỏi đây. Bọn ngụy chúng mầy không được nằm tại đây. Ðồ lính đánh thuê, lũ quân bán nước!” Chúng tôi người nầy đỡ người kia khập khễnh ra khỏi trại, có những chiến hữu vết thương đang rỉ máu bị vất trần truồng tênh hênh trên lề đường… Gia đình mừng rỡ thấy tôi trở về, nhưng trong hoàn cảnh nầy ai cũng lo âu cho tương lai của mình.

Hằng ngày tôi thấy trước mặt từng đoàn người, già có, trẻ có và những đám con nít thay phiên nhau giành giựt những thùng đồ hộp, gạo sấy, máy móc từ trong những nhà kho. Dòng người đổ xô tràn vào những kho tồn trữ dưới chân cầu Tân Thuận bị những người đội nón cối xả súng bắn thẳng… Nhiều người giãy giụa dưới đất, trong vũng máu. Dân chúng chạy tản trốn, nhưng vài phút sau họ lại tràn vào đông hơn, bất kể súng đạn, ai bị thì té xuống, những người khác thì cứ nhào lên cậy cửa… Khi những ngày hỗn loạn đầu Tháng Năm 1975 qua đi, những thùng đồ hộp bọn em đem về dần cạn, người phế binh phải ra đường kiếm sống với những “nghề cứu đói,” vá lốp xe đạp, sửa hộp quẹt gaz, bán nhang…

Và cuối cùng, đi xin ăn. Nhưng tất cả không thể kéo dài khi Ba Nhiệm làm trưởng ban “Truy quét tệ nạn xã hội” với một bộ phận kinh hoàng, “Nhà nuôi Thị Nghè” được dựng nên để làm địa điểm chuyển tiếp giải quyết tất cả những đối tượng đang sinh sống trên, với vỉa hè, số lượng nầy càng tăng vọt khi tiếp nhận thêm hàng vạn người từ miền Bắc túng đói tràn vào…. Tuy gọi là “nhà nuôi” nhưng thật ra nơi đó là nhà giam theo đúng nghĩa, những người bị đưa vào đây đều bị coi là “tội phạm hình sự,” do đó bị tra tấn và hành hạ thường xuyên. “Tội phạm” là những người bị bắt trong các đợt bố ráp lề đường, họ không có quyền khiếu nại là bị bắt trái phép hay không và cũng không có án phạt rõ ràng; thời gian ở đây được coi như để “nuôi dạy” nên không hạn định thời hạn giam giữ, nhiều người đã ở lại đây vĩnh viễn. Mỗi nhà nuôi có có vài căn trại, mỗi căn rộng chừng 200 thước vuông, với khoảng chừng 100 con người bị giam. Tối tối mọi người phải thay nhau chỗ nằm và ngồi quạt cho nhau. Sáng khi nghe kẻng điểm danh, người nầy gọi người kia, ai nằm im không cục cựa thì đem đi hỏa thiêu tại lò thiêu Bà Quẹo. Người sống thì đi lao động, kể cả người tàn tật, mù hai mắt, cụt tay, chân.

Nếu sống sót từ các “nhà nuôi,” trở về lại Sài Gòn, tình cảnh cũng chẳng sáng sủa hơn và cuối cùng tất cả đồng “chọn” một biện pháp “không còn chọn lựa”… Hoàng Thụy và Sơn, hai phế binh do quá kiệt sức vì bệnh lao và cụt hai chân nên được ra khỏi “nhà nuôi số 4” Phú Giăng, Sông Bé. Họ không dám đi ăn xin, chỉ “xin ăn” lại từ những người sống trong nghĩa địa.

Một buổi chiều, hai anh ra bến Bạch Ðằng, ngước mắt nhìn tượng Ðức Trần Hưng Ðạo một hồi lâu rồi nắm tay nhau nhảy xuống dòng nước chảy xiếc. Xác hai anh được vớt lên, cha anh Sơn đang bán bánh ú, bánh tét quanh chợ Bến Thành hay tin, đến nhìn xác con. Nhưng ông chỉ im lặng đứng chung với đám người hiếu kỳ, không dám nhận là thân nhân người xấu số vì không có tiền mai táng con mình. Ông đứng thẫn thờ nhìn chiếc xe chở xác con ông đi khuất rồi mới dám khóc.

Hoàng Thụy và Sơn không chết một mình, những người lính tàn phế lần lượt “chọn” cho mình những phương tiện và thời điểm thích hợp… Anh Thơm khi ngồi dưới chân cầu Sài Gòn, gần Ngân Hàng Quốc Gia có suy nghĩ rằng, do vợ chồng anh thiếu quan tâm nên đứa nhỏ con anh mới chết vì suy dinh dưỡng; mẹ nó đang “đi khách” ngoài chợ Bến Thành để dồn tiền cho anh làm vốn đi bán nhang… Anh quá mệt mỏi để nghĩ tiếp… Cuối cùng, anh mở hai tuýp thuốc ngủ trút hết vào miệng, bị say thuốc, anh ọc mửa đầy hết áo quần, xong dẫy mấy cái và ngủ luôn dưới chân cầu. Lộc “què” mắc bệnh ho lao, thắt cổ chết trong một toa xe lửa bỏ hoang ở Biên Hòa. Quý “Ðốc-tưa Zivago” không nuôi nổi mẹ già 80 tuổi, bất lực nhìn mẹ hằng ngày cầm lon ra chợ xin thức ăn nuôi thân và nuôi con, nên thắt cổ chết lè cả lưỡi ra. Thanh “liệt” thì mài dao tự cắt cổ, cứa mãi không đứt vì sợ đau, đâm bực mình liền chĩa mũi dao đâm cái phọt vào tim… Nhưng trong những thân thể thương tật kia, ý chí chiến đấu của người lính không hề tàn lụi, họ vẫn giữ nguyên bản lĩnh kiêu hãnh của một quân đội, một đơn vị hằng tạo dựng những chiến tích lừng lẫy, cho dù hành động phản ứng tuyệt vọng bi tráng của họ chắc chắn sẽ đưa đến hậu quả khốc hại cuối cùng với cái chết ghê rợn nhẫn tâm…

Câu chuyện sau đây của phế binh Khát Vọng, hiện ngụ tại Long Hải, Phước Tuy có thể dùng để tạm kết về buổi thụ nạn đau thương của thương phế binh QLVNCH với tất cả bi hùng mà chỉ người trong cuộc mới có thể viết nên, kể lại: Khu chính trị trại Xuân Lộc, Long Khánh thường xảy ra nhiều chuyện đau buồn. Anh Trần Văn Ðược, trung sĩ nhất Thủy Quân Lục Chiến, cụt một chân và mù một mắt trong trận tái chiếm cổ thành Quảng Trị, Mùa Hè 1972 bị bắt chung với Trung Úy Phạm Tấn Dũng, binh chủng Nhảy Dù, bị thương năm 1974 trong trận tái chiếm đồi 1062, Thường Ðức, Quảng Nam vì tội “Hội họp bất hợp pháp, âm mưu lật đổ chính quyền.”

Một hôm, viên cán bộ quản giáo quê Nghệ Tĩnh vừa được chuyển tới, ra lệnh anh Ðược quét sân. Vì giọng nói người nầy khó nghe, nên anh Ðược vẫn ngồi yên uống nước trà. Gã cán bộ nhào tới xỉ vã và đánh anh một bạt tai. Nổi nóng, anh Ðược cầm lon guigoz dựng nước nóng tạt vào mặt nó và chỉ tay nói: “Mày là giống gì mà mất dạy quá vậy? Bộ tao là súc vật à, ai cho mầy vô phép dữ vậy?!! Tao tuy tàn tật nhưng không để cho mầy sỉ nhục đâu. Ðồ quân mất dạy, con tao còn lớn hơn mày nữa mà…” Ðược chưa nói hết câu, tên cán bộ nhào tới đánh anh vào đầu ào cổ, và chưởi rủa những tiếng khó nghe. Anh Ðược bị té xuống đất, nó liền đá vào đầu vào bụng anh. Thấy vậy, anh Dũng cà thọt chạy tới can, bị mất thăng bằng, anh níu áo tên cán bộ nầy và cả hai ngã xuống đất. Tức thì, bảy tám cán bộ quản giáo khác từ trong nhà chạy ra vây đánh hội đồng, cả hai anh lăn lộn chịu đòn trên mặt đất. Dũng hốt cát ném vào mặt mấy tên cán bộ, đang lúc chúng còn đang dụi mắt, Dũng nắm chân một tên kéo xuống, xong thúc cùi chõ vào mặt y.

Một tên khác đi tìm một khúc tre làm cột phơi áo quần quất tới tấp vào mình, đầu anh Dũng. Tiếng bình bịch, bồm bộp vang lên khô khan, máu từ đầu và vết thương cụt của anh Dũng bê bết trên đất. Trại viên chạy ra năn nỉ xin tha, đám cán bộ chĩa súng đòi bắn, lùa tất cả mọi người vào phòng; Dũng và Ðược bị kéo lên văn phòng trại.

Trời bắt đầu tối, không ai còn lòng dạ nào để ăn cơm, từ phòng tra tấn đến phòng giam tập thể không xa nhau lắm, nên chúng tôi nghe được câu còn câu mất…

Nội dung những tiếng la hét, tra khảo và trả lời đại khái như sau:

– Mầy đeo cái gì tòn ten dưới cổ hả thằng kia?

– Thánh Giá.

– Cởi nó ra khỏi cổ ngay lập tức.

– Còn lâu. Không ai có quyền buộc tôi phải bỏ nó ra. Bộ muốn cấm đạo hả. Cây thánh giá nầy là tượng trưng cho tín ngưỡng của tôi, không ai có quyền buộc tôi bỏ ra.

Tức thì tiếng huỳnh huỵch vang lên, có lẽ chúng đá vào người anh Dũng. Tên cán bộ người Nam nghiến răng hằn học (chúng tôi chỉ nghe rõ tiếng Nam của tên nầy)… Ðạo hả… Ðụ má đạo… đạo nè…

Bớ người ta chúng đánh người… Họ giết chúng tôi! Anh Ðược gào lên nửa chừng rồi tắt nghẹn. Những tiếng “huỳnh huỵch… bồm bộp” lấn át tiếng la của Ðược. Chúng tôi chỉ nghe những tiếng rên rỉ dứt khoảng rồi im bặt.

Sáng hôm sau, cán bộ quản trại cho hay, hai anh Dũng và Ðược đã “hành hung cán bộ và cắn lưỡi tự tử chết.” Chiều tối, chúng tôi hỏi bốn người hồi sáng đi chôn Dũng và Ðược thì biết rằng xác hai anh đầy vết tím bầm, mắt của Ðược bị sưng tím đen, mặt Dũng thì máu đóng cứng. Hai anh có lẽ chết vì những vết thương ở đầu, máu dưới tóc cứng khô, cạy mãi không được. Khi bó xác, bốn người phải ký giấy chứng nhận các anh tự tử mới cho phép chôn.

III. Người phải lên Tiếng Nói…

Trong thời gian dài chiến tranh nơi miền Nam, dẫu trên chiến địa hung hãn, bản thân chúng tôi chưa hề thấy lính miền Nam hành hạ tù binh, đừng nói tù binh bị thương. Một trong những bức hình nổi tiếng của Nguyễn Ngọc Hạnh, có một tấm ảnh ít người kể ra: Cảnh một lính Dù vác thương binh Việt Cộng ở mặt trận Chợ Lớn hồi Mậu Thân, 1968. Thế nhưng, bức hình Tướng Loan bắn tên đặc công lại được phổ biến khắp cùng báo Mỹ và thế giới. Hình như tác giả tấm hình đã có giọt nước mắt muộn màng hối lỗi. Quả thật, thế giới đã từ lâu im lặng đồng lõa cùng tội ác ở Việt Nam một cách quá đỗi hèn hạ và bất công. Phải, người phải lên tiếng nói, nếu không, sự im lặng sẽ là một biểu lộ cứng lòng nhẫn tâm đáng kết án. Thế nên, trong những năm qua, từ Tây sang Ðông thế giới đã hằng có những tấm lòng xa xót cùng nỗi đau của người lính thương trận nơi quê nhà… Nhưng quả thật, tất cả đóng góp nầy chỉ mới là phần cứu nạn khẩn cấp, chứ so cùng thống khổ vô vàn kia vẫn còn rất nhiều thiếu sót.

Và kỳ diệu thay, nguồn mạch tình thương việt tộc-nghĩa đồng bào luôn tồn tại sắt son liên lụy mối đau thương kia đã chạm tái tim người – Những người không tham dự cuộc chiến, chưa hề mặc áo lính, nhưng lương năng khởi động từ trái tim xót đau – Trường hợp người tuổi trẻ, Bác Sĩ Phan Minh Hiển – Một của những gương mặt hãnh diện đích thực của cộng đồng Người Việt Hải Ngoại với những đóng góp nhiệt thành tích cực, hiệu quả trong hàng loạt công tác suốt hơn hai mươi năm qua là một điển hình… Cứu cấp người vượt biển, mất tích, trên biển Ðông; cứu trợ người tỵ nạn ở các đảo, ở Pháp; giúp trẻ mồ côi, gia đình nghèo khó, người tàn tật (chủ yếu ở miền Nam), và cuối cùng, khi những thành phần vừa kể tạm có đời sống ổn định, Phan Minh Hiển dồn nỗ lực yểm trợ với đối tượng Thương Phế Binh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, thành phần hứng chịu khổ nạn nặng nhất, sớm nhất từ cuộc chiến, mà dẫu quê hương đã im tiếng súng hơn hai mươi năm, nỗi cùng khổ kia vẫn chưa có dấu hiệu được bù trừ, như phần cơ thể mất đi không thể tái sinh, như người chết không hề sống lại. Chúng tôi đã là một thế hệ thất bại, nhưng chúng tôi không hề thất vọng bởi luôn giữ vững mối tự tin. Chính chúng tôi chứ không ai khác, là người lính thuần thành hằng thực hiện sứ nhiệm Bảo Quốc An Dân. Sự xác chứng nầy hiện thực trong lòng mỗi người dân và chiến hữu chúng tôi xứng đáng nhận lãnh lòng tri ân, phục hồi danh dự và nhân phẩm, bởi chính họ là những Chủ Thể góp máu, xương trong ý nghĩa thực tế, cụ thể nhất để miền Nam đã một lần sống động Dân Chủ, Tự Do – Tự Do được trả giá bằng đời sống đã mất đi theo tuổi trẻ, hy vọng và sự sống của chính mỗi người lính.

Mời độc giả xem phóng sự “Từ Sài Gòn học nail để đi Mỹ”

Cảm xúc 30 Tháng Tư

Hơn 40 năm sau chiến tranh
Tôi, người lính bại trận
Xem như đã chết ngày 30.4 năm ấy.
Tôi đã làm những gì có thể, để đất nước đổi thay
Nhưng vẫn không thay đổi được gì!

Tôi vẫn nghe lời người dân luyến tiếc
Miền nam tự do ngày nào.
Bên tai tôi văng vẳng lời một người cán bộ
“Các anh là những người chiến thắng,
những người chiến thắng trong ngậm ngùi.”

Không !

Tôi không muốn làm người chiến thắng trong ngậm ngùi
Tôi muốn leo lên đồi cao
Hét lên thật lớn cho vang đi thật xa
Rằng
Tôi không là người chiến thắng trong ngậm ngùi.

Mời độc giả xem bình luận “Những kẻ không nhà”(Phần 1)

Dân Mỹ còn kỳ thị hay không?

Người Mỹ thường hay hãnh diện nghĩ rằng quốc gia họ được lập lên trên những căn bản đạo lý, có thể làm gương cho cả loài người. Bản Tuyên Ngôn Độc Lập đề cao quyền bình đẳng giữa con người, ai cũng phải được sống tự do và mưu cầu hạnh phúc.

Sau biến cố chết người tại Charlottesville, Virginia, các đại biểu Quốc Hội Cộng Hòa cũng như Dân Chủ đã nói rõ không thể chấp nhận phong trào kỳ thị chủng tộc của một nhóm nhỏ người da trắng. Ngoại Trưởng Rex Tillerson cũng mới nói trên ti vi rằng những lời so sánh lúc đầu của Tổng Thống Donald Trump chỉ là “ý khiến riêng của ông.” Ông Tillerson nhấn mạnh: Kỳ thị chủng tộc không phải là điều dân tộc Mỹ coi là giá trị đáng nêu cao. Trong hai lần phát biểu, ông Trump có ý coi đám Tân Quốc Xã, Da Trắng Ưu Việt, và KKK ngang hàng với những người biểu tình phản đối họ. Giữa hai lần đó, Tổng Thống Trump có đọc một bản tuyên cáo lên án các nhóm kỳ thị này.

Nhưng một vị tổng thống Mỹ, ngoài trách nhiệm quản trị quốc gia, xã hội, có bổn phận phải nêu cao một lý tưởng nào cho dân chúng noi theo hay không?

Trong lịch sử Mỹ, các vị tổng thống đều tự nhận trách nhiệm đề cao các quy tắc đạo lý làm gương cho cả nước. Trước mặt thế giới, họ đóng vai đại biểu cho các giá trị dân Mỹ tôn thờ.

Tổng Thống Ronald Reagan nhiều lần dùng hình ảnh một “thị trấn sáng rực trên ngọn đồi” (shining city on a hill) để mô tả nước Mỹ trên trái đất. Trong một bài diễn văn năm 1989, ông Reagan xác định nước Mỹ “vẫn là ngọn hải đăng, là khối nam châm thu hút tất cả những người khao khát tự do…” Giống như năm 1965, Phạm Duy dám mơ ước: “Việt Nam trên đường tương lai, lửa thiêng soi toàn thế giới!”

Khi nước Mỹ tham dự các cuộc đại chiến thế giới trong thế kỷ 20, các tổng thống Wilson và Franklin D. Roosevelt đều nêu lý do nước Mỹ muốn bảo vệ các quyền tự do, bình đẳng và phẩm giá con người. Vì những lý tưởng đó mà quân Mỹ tham chiến, giải phóng các dân tộc mất tự do.

Abraham Lincoln được coi là một vị tổng thống bao dung. Sau cuộc nội chiến 1861-1865 với rất nhiều đau thương và thù hận, ông kêu gọi dân Mỹ hãy băng bó vết thương và “không thù ghét một ai; nhân từ với tất cả; và kiên quyết bảo vệ lẽ phải.”

Cuộc cách mạng tin học ngày nay khiến ai cũng có dịp tiếp cận với tất cả mọi người, biết mọi biến cố, mọi thông tin, mọi quan điểm từ khắp thế giới. Có lẽ dân chúng nước nào cũng thấy cần một vị tổng thống đứng ra làm “ngọn hải đăng” soi sáng các giá trị đạo đức thâm thiết của họ.

Gần đây nhất, Tổng Thống George W. Bush, nói chuyện ở Quốc Hội sau vụ tàn sát 11 Tháng Chín năm 2001, đã cẩn thận nhấn mạnh rằng chiến dịch của ông chống những nhóm khủng bố cực đoan theo đạo Hồi (Islam) không có nghĩa rằng chính phủ ông, và nước Mỹ, chống tôn giáo của họ. Ông Bush gửi một thông điệp chính thức, tới thế giới Hồi Giáo và dân chúng Mỹ: “Chúng tôi kính trọng niềm tin của quý vị. Đó là một tín ngưỡng được bao nhiêu triệu người Mỹ thực hành, cũng như trong bao nhiêu quốc gia là bạn của nước Mỹ. Niềm tin của quý vị dạy điều thiện và hòa bình; những kẻ nhân danh Thượng Đế Allah đi phạm điều ác, chính họ đang báng bổ Đấng Allah.”

Những vị tổng thống Mỹ, trước thời Tổng Thống Donald Trump, đều tìm cơ hội xiển dương đức bao dung trong xã hội, không phân biệt tôn giáo, không kỳ thị chủng tộc, phải tôn trọng quyền bình đẳng giữa các mầu da, các giai cấp, giữa người nam và người nữ, vân vân.

Ông Donald Trump là vị tổng thống đầu tiên tỏ ra không quan tâm đến vai trò đó. Ông có vẻ chú tâm đến vận động tranh cử năm 2020 hơn là đóng vai trò lãnh đạo tinh thần cho dân chúng.

Khi biết những người biểu tình ở Charlottesville trưng cờ Quốc Xã, đả kích người Do Thái, mang súng và những biểu ngữ đề cao chủng tộc da trắng, ông Trump vẫn coi như họ ngang hàng với những người phản đối họ, không có lỗi nào nặng hơn. Ngay lập tức, thủ lãnh của các nhóm Da Trắng Độc Tôn và KKK đã thông báo cho đàn em biết: Ông Trump không chống chúng ta! Họ đã được khuyến khích, tiếp tục con đường họ đang theo. Trước khi đến Charlottesville, lãnh tụ đám Da Trắng Độc Tôn đã từng tuyên bố rằng họ đang làm theo ý muốn của Tổng Thống Trump. Ngày hôm sau, ông Trump đọc một bản tuyên bố chống các chủ trương da trắng độc tôn, nhưng sang một ngày sau đó, ông nhắc lại tất cả những điều ông nói lúc đầu! Ngoài các nhà chính trị, giới lãnh đạo kinh doanh, chỉ huy bốn binh chủng trong quân đội Mỹ đều tỏ thái độ không bằng lòng.

Nhưng còn dân chúng Mỹ thì sao? Họ có sống như các quy tắc bao dung các chủng tộc và tôn giáo như các vị tổng thống trước đây vẫn đề cao hay không?

So sánh các cuộc nghiên cứu dư luận 50 năm gần đây cho ta thấy rất đáng mừng: Dân Mỹ ngày càng tỏ ra có thái độ bao dung rộng lượng đối với những người khác mình, khác trên rất nhiều phương diện, không phải chỉ khác màu da.

Thí dụ, người ta hay đặt câu hỏi: ông/bà nghĩ sao về hôn nhân giữa những người khác chủng tộc? (Interracial marriage, người nghe nghĩ tới mầu da đen hoặc trắng). Trước đây gần 50 năm, cuộc nghiên cứu của viện Gallup cho thấy 73 phần trăm dân Mỹ không chấp nhận người da trắng và da đen lấy nhau, rất nhiều người da đen cũng trong số đó. Đó là năm 1968, chỉ có 20% dân Mỹ coi hôn nhân dị chủng là bình thường.

Nhưng tới năm 2013, tình trạng đã đảo ngược: 87% dân Mỹ coi hôn nhân dị chủng là bình thường, chỉ có 11% vẫn chống.

Theo viện nghiên cứu Pew Research Center thì hiện nay có 7% người Mỹ xác nhận họ lai nhiều chủng tộc khác nhau; tỷ lệ trong giới trẻ cao hơn. Phần lớn dân da mầu không cảm thấy màu da gây trở ngại khi cần thăng tiến trong xã hội. Ba phần tư cho biết mầu da không ảnh hưởng gì tới cuộc sống hàng ngày và công việc họ làm, trong khi 20% còn nghĩ đó là một lợi thế!

Bên cạnh vấn đề chủng tộc, số người Mỹ chấp nhận những cách sống khác mình cũng gia tăng, bao dung cả những hành vi trái ngược với đạo lý và niềm tin của mình. Thái độ của đa số dân Mỹ đã thay đổi nhiều trong các vấn đề như ngừa thai, phá thai, hôn nhân đồng tính theo chiều hướng ngày một rộng lượng hơn.

Những thái độ bao dung đó có khiến xã hội suy đồi hay không?

Song song với những quan niệm sống thay đổi, nước Mỹ cũng hiền hòa hơn.

Hiện nay, tỷ lệ tội phạm và vợ chồng ly dị trong nước Mỹ đã giảm xuống bằng những năm 1970, sau mấy thập niên gia tăng. Năm 2014, tỷ số phụ nữ phá thai đã xuống mức thấp nhất kể từ sau năm 1973, khi Tối Cao Pháp Viện, đi ngược với ý kiến những người Mỹ muốn bảo vệ niềm tin tôn giáo, đã phán rằng quyền phá thai không trái với Hiến Pháp Mỹ.

Trong hơn một thập niên đầu thế kỷ 21, người ta thấy nhiều hiện tượng xấu đã đi xuống: nước Mỹ giảm bớt bạo lực, người Mỹ bớt phá thai, bớt ly dị, và số con hoang, những trẻ sinh ngoài hôn nhân, cũng giảm bớt.

Xã hội Mỹ cải thiện về mặt đạo đức, thấy rõ trong các chỉ số đời sống văn hóa, trong Index of Leading Cultural Indicators được nêu trên đây. Qua các cuộc phỏng vấn, thấy đa số người Mỹ cũng bao dung, rộng lượng hơn đối với người khác.

Hai hiện tượng trên không thể nói cái nào là nhân, cái nào là quả. Cả hai có thể ảnh hưởng hỗ tương lẫn nhau. Cả hai đều là hậu quả của những làn sóng thông tin mở rộng, thông tin đa dạng phơi bầy nhiều sự kiện cũng như quan điểm đối nghịch. Mạng thông tin nối kết người với người. Thông tin cũng giúp nền giáo dục không ngừng cải thiện. Nhờ những tiến bộ đó, tiếng nói của Thiện đang thắng Ác; xóa bỏ dần những thói quen đố kỵ, thù hận, sân si.

Mời độc giả xem bình luận “Afghanistan, Mỹ, Nga, Iran”(Phần 1)

Ấn Độ: Một con chuột làm hoãn chuyến bay 9 tiếng

NEW DELHI, Ấn Độ (NV) – Một chuyến bay đường dài dự trù bay trực tiếp từ New Delhi, Ấn Độ, đến thành phố San Francisco phải bị hoãn lại hơn chín tiếng sau khi người ta phát giác một con chuột trên máy bay.

Nhật báo San Francisco Chronicle tường thuật theo tờ The Times of India nói rằng, vào lúc 2 giờ 30 sáng, lúc chiếc máy bay chở theo khoảng 200 hành khách đang lăn bánh trên phi đạo chuẩn bị cất cánh thì có người chợt trông thấy một con chuột.

Theo thủ tục, máy bay bắt buộc phải quay về trạm để diệt chuột, sát trùng.

Tiến trình mất hết sáu giờ khiến cả phi công lẫn phi hành đoàn không còn có thể tiếp tục với chuyến bay đường dài vì thời gian làm việc của họ đã đạt đến mức tối đa cho phép.

Vậy là máy bay phải nằm chờ thêm để có nhân viên phi hành mới đến thay thế.

Cuối cùng thì máy bay cũng cất cánh, đến San Francisco bị trễ mất 9 giờ 32 phút, và tổng số giờ bay là 17 tiếng.

Chuột dễ dàng quá giang lên máy bay qua hành lý hoặc xe tải cung cấp thức ăn.

Chúng không những gây nguy hiểm trong vấn đề vệ sinh mà còn có thể làm hư hại hệ thống điện nghiêm trọng.

Chuột thường có nhiều ở Ấn Độ vào mùa mưa vốn kéo dài từ Tháng Sáu đến Tháng Chín.

Vào mùa mưa, chuột từ hang của chúng chạy vào bên trong các tòa nhà, trong đó có cả các nhà bếp, nơi làm thức ăn đóng hộp cung cấp cho các chuyến bay. (TP)

TT Trump cho biết mọi giải pháp với Bắc Hàn đều được xét tới

Bắc Kinh không muốn Hà Nội ngả về phương Tây

BẮC KINH (NV) – Bắc Kinh lên giọng cảnh cáo Hà Nội là “đừng để phương Tây ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa Trung Quốc với Việt Nam.”

Tờ Hoàn Cầu Thời Báo, phó bản của tờ Nhân Dân nhật báo và chung trụ sở với tờ Nhân Dân nhật báo ở Bắc Kinh hôm Thứ Ba, 29 Tháng Tám 2017, viết bài bình luận với tựa đề như trên nhằm đe nẹt giới lãnh đạo chóp bu ở Hà Nội sau một số diễn biến liên tiếp thời gian gần đây làm mối quan hệ “16 chữ vàng” và “4 tốt” của ‘hai nước Cộng Sản anh em chùng xuống thấp.

Bài bình luận nói Việt Nam đã buộc công ty dò tìm dầu khí Repsol ngừng khoan tìm ở bãi Tư Chính, khu vực đặc quyền kinh tế trên thềm lục Việt Nam, hồi Tháng Bảy “sau khi Trung Quốc can thiệp” mà “một số người Tây phương bày tỏ thất vọng khi vấn đề được dàn xếp ôn hòa.”

Tờ Hoàn Cầu dẫn một câu mà họ cho là chế diễu của báo Washington Post nói Hà Nội “đặt hợp tác kinh tế hay sự đoàn kết cộng sản bên trên niềm tự hào quốc gia.”

“Với một hệ thống chính trị khép kín khiến các toan tính ngoại giao trở thành bí mật, hầu hết mọi người, kể cả giới chuyên gia, dù họ tự nhìn nhận, cũng hoàn toàn không biết chuyện gì đang xảy ra, điều đó tạo mảnh đất màu mỡ cho các suy đoán lung tung.” Báo Washington Post viết, tờ Hoàn Cầu trích lại.

Hoàn Cầu trích dẫn tiếp bài bình luận của báo Mỹ chỉ trích “sự hiện diện bị thu nhỏ lại của Mỹ (ở khu vực) đã cho Trung Quốc cơ hội hành động ở hậu trường” mà 10 nước ASEAN đang trôi dần “về hướng thân Trung Quốc” kể từ khi Tổng Thống Donald Trump lên cầm quyền.

“Việt Nam là thành viên cuối cùng (của ASEAN) công khai thúc đẩy một lập trường cứng rắn hơn để chống lại sự bành trướng của Trung Quốc trên Biển Ðông” nhưng “bây giờ đang bị cô lập công khai trên vấn đề dùng luật pháp quốc tế để đẩy ngược lại Trung Quốc.”

Tờ Hoàn Cầu nói rằng báo Washington Post muốn hy vọng thấy Việt Nam tiếp tục chống lại Trung Quốc và nhiều người Tây phương nóng lòng muốn thấy Việt Nam đóng vai trò dẫn đầu trong việc chống Trung Quốc thì Hà Nội “chỉ là quân cờ cho Mỹ và Nhật đạt lợi thế địa chính trị…” trong khi “chỉ đổi được ít hậu thuẫn tinh thần và chút ít viện trợ.”

Tờ Hoàn Cầu dỗ dành rằng “Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng hữu nghị. Về mặt kinh tế, Bắc Kinh và Hà Nội là hai đối tác lớn nhất. Về chính trị, cả hai đều là nước xã hội chủ nghĩa cầm đầu bởi hai đảng Cộng Sản, chia sẻ rất nhiều thứ chung.” Cho nên “Hà Nội sẽ không chịu chống lại Bắc Kinh như một thứ tốt đen cho Mỹ dùng để kềm chế Trung Quốc trên Biển Ðông.”

Cuối cùng, Hoàn Cầu Thời Báo cảnh cáo rằng, “Hợp tác toàn diện có thể đem lại nhiều lợi ích hơn là tranh chấp trên biển, hai nước Trung Quốc và Việt Nam nên tránh không để sự hợp tác hữu hảo ảnh hưởng bởi các yếu tố bên ngoài.” (TN)

Ba tuyến cáp quang biển Việt Nam đi quốc tế bị đứt cùng lúc

Little Saigon cầu nguyện cho các nạn nhân Cộng Sản

WESTMINSTER, California (NV) – “Hôm nay là ngày Lễ Cầu Nguyện Cho Những Nạn Nhân Của Cộng Sản Trên Toàn Thế Giới, và lần này là lần thứ ba tổ chức tại California. Hy vọng trong tương lai chúng ta sẽ có Ðài Tưởng Niệm Những Nạn Nhân Cộng Sản tại thành phố này.”

Ðó là lời ông Bùi Ðẹp, trung tâm trưởng Trung Tâm Ðiều Hợp Tập Thể Chiến Sĩ VNCH Tây Nam Hoa Kỳ, kiêm trưởng ban tổ chức, nói về buổi lễ tưởng niệm do Liên Ủy Ban Chống Cộng Sản và Tay Sai phối hợp cùng Liên Hội Cựu Chiến Sĩ, Tập Thể Chiến Sĩ Trung Tâm Tây Nam Hoa Kỳ và các hội đoàn đứng ra tổ chức vào chiều Chủ Nhật, 27 Tháng Tám, tại Tượng Ðài Chiến Sĩ Việt Mỹ ở thành phố Westminster.

Ông Ngô Thiện Ðức, phó ban tổ chức, đại diện cho Ðoàn Thể Trẻ Cao Ðài Nam California, nói: “Lễ tưởng niệm này để chúng ta nhắc nhở, thứ nhất là chúng ta cầu nguyện cho những người đã chết vì sự tàn ác của Cộng Sản, cầu ơn trên cho hương linh họ được về cõi thiêng liêng hằng sống. Thứ hai là để chúng ta nhắc nhở mọi người nhớ lại sự tàn ác của Cộng Sản đối với dân tộc Việt Nam của chúng ta, mà chế độ phi nhân, độc đảng, độc quyền, nhưng hèn với giặc và ác với dân. Vì thế, chế độ Cộng Sản trước sau gì cũng đi vào trong bóng tối.”

Quan khách niệm hương. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

Sau khi kể vài điển hình tội ác của Cộng Sản trên thế giới và Cộng Sản Việt Nam, ông Bùi Ðẹp nói: “Ngày 30 Tháng Tư, 1975, sau khi xâm lăng chiếm trọn miền Nam Việt Nam, Cộng Sản Hà Nội đã biến miền Nam thành một vùng biển máu: nhà tù, chém, giết, tử hình, cướp nhà, cướp của, hãm hiếp,… Người dân lương thiện miền Nam kinh hoàng, hoảng hốt bỏ chạy khỏi quê hương tán loạn, không còn dám nhìn lại mái nhà thân yêu của mình, dù chỉ một lần… Vì thế, ngày nào Cộng Sản Hà Nội còn cầm quyền, ngày đó quê hương ta còn điêu linh, thống khổ, và quê hương ta còn chậm tiến, lạc hậu.”

Sau lễ đặt vòng hoa của ban tổ chức là lễ niệm hương do Hội Bô Lão Liên Ủy Ban Chống Cộng Sản và Tay Sai thực hiện.

Lễ dâng hương do đại diện Hội Ðồng Liên Tôn, gồm Hòa Thượng Thích Chơn Thành, phó thượng thủ Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Trên Thế Giới, viện chủ chùa Liên Hoa, Garden Grove; Giáo Sư Nguyễn Thanh Giàu, hội trưởng Ban Trị Sự Phật Giáo Hòa Hảo Miền Nam California; Chánh Trị Sự Hà Vũ Băng, quyền đầu tộc, Tộc Ðạo Orange, và quý lãnh đạo tinh thần gồm Hòa Thượng Thích Nguyên Trí, đệ nhất phó chủ tịch nội vụ Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hoa Kỳ, viện chủ chùa Bát Nhã, Santa Ana, và Mục Sư David Huỳnh.

Mở đầu chương trình văn nghệ đấu tranh, nhạc sĩ Cao Minh Hưng, trưởng nhóm CLB Tình Nghệ Sĩ, cho biết: “Hôm nay, chúng tôi hợp ca bài ‘Thắp Sáng Việt Nam’ của Anh Bằng và Cao Minh Hưng. Ý nghĩa của ngọn đuốc thắp sáng trong bài nhạc này là nói lên sự soi sáng cho tình trạng màu đen tối đang bao trùm trên quê hương của mình do bị chế độ tàn ác của Cộng Sản cai trị. Ánh đuốc là niềm hy vọng, một niềm tin để chuyển về cho đất nước, dân tộc Việt Nam để trong tương lai, quê hương của chúng ta sẽ được tự do, dân chủ và nhân quyền.”

CLB Tình Nghệ Sĩ đồng ca bài “Thắp Sáng Việt Nam.” (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

Ông Sơn Ðỗ, cư dân Westminster, thành viên Hội Cảnh Sát Quốc Gia VNCH Nam California, nói: “Sở dĩ chúng tôi hát bài ‘Ðáp Lời Sông Núi’ của nhạc sĩ Trúc Hồ vì hiện tại tình hình của đất nước rất nguy hiểm. Và bài nhạc này cũng để nói lên tinh thần của người Việt hải ngoại vẫn quan tâm tâm đến quê hương, dân tộc Việt Nam, cũng nhằm để khuyến khích đồng bào trong nước, kể cả những người trong quân đội đang phục vụ cho chế độ hiện tại, vì họ là những thành phần trẻ tuổi có nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc và dân tộc, họ phải đứng lên đáp lời sông núi là phải chống lại nhà nước Cộng Sản, và không để đất nước lọt vào tay của Trung Cộng. Ðó là lý do chúng tôi hát bài này.”

Trong số ca sĩ tham dự có nhạc sĩ Vũ Hùng, trong Ban Tù Ca Xuân Ðiềm, hát bài “Sài Gòn Trong Trái Tim Ta” do chính tác giả hát.

“Tôi viết bài này sau khi Sài Gòn bị đổi tên, sự đổi tên này đã gây cho người Việt rất căm phẫn, và cho đến bây giờ vẫn không thể nguôi được. Nội dung của bài này tôi có viết tặng cho tất cả những người lính VNCH bị lưu đày trong chế độ Cộng Sản bằng cái tên ‘cải tạo.’ Theo tôi, đối với những chiến sĩ VNCH không có gì để cải tạo cả, bởi vì họ không có làm một điều gi sai trái để cải tạo, có chăng đó chỉ là một cái lớp màu mè để che đậy ngục tù của Cộng Sản mà thôi,” ông Hùng chia sẻ.

Ông Nguyễn Minh, trung tâm trưởng Trung Tâm Huấn Luyện Thể Dục và Võ Thuật Việt Nam, nói: “Hôm nay, chúng ta là những nhân chứng sống còn lại để kể về tội ác của Cộng Sản. Ðối với những thế hệ kế tiếp, chúng ta cần hướng dẫn các em để cho các em biết về vị trí và trách nhiệm của mình đang sống trên nước Mỹ. Và cũng nhắc nhở cho các em luôn tưởng nhớ đến sự hy sinh của tiền nhân cũng như sự hy sinh của những chiến sĩ VNCH để bảo vệ mảnh đất tự do của chúng ta.”

Ông Đặng Phú

Cụ Ông Gioan Baotixita Bửu Tề

Ông Đặng Phú

Cuồng nhiệt ‘Jazz là Em’ với Thùy Linh

WESTMINSTER, California (NV) – Ðêm nhạc Thùy Linh với chủ đề “Jazz is You – Jazz là Em” với những âm thanh cuồng nhiệt, cùng với tiếng sáo, saxophone lả lướt, trống bập bùng hòa điệu trong đêm nhạc, cuốn hút người nghe say đắm vào thế giới riêng của dòng nhạc jazz bất hủ, vừa tổ chức tối 26 Tháng Tám tại phòng sinh hoạt nhật báo Người Việt, Westminster.

Ồn ào, vui nhộn, say đắm, lả lướt, tình tứ, sâu lắng, mượt mà, cuồng nhiệt… từng ấy chữ không đủ diễn tả cho đêm nhạc. Cùng làm nên thành công của đêm nhạc Thùy Linh là sự góp mặt của các nhạc công chuyên nghiệp ở địa phương như James Sherry (trumpet), Rob Covacevich (saxophone, clarinet, flute, tamborine), Eon Burchman (trio guitar), Scott Graham (bass), nhạc sĩ Alex Thái Nguyên (piano), Peter Pfeifer (drums), và dàn âm thanh Trung Phạm đẩy người nghe lên đến cực điểm của âm thanh.

Với bà Diệu Phổ cùng chồng ở Stanton, hai thính giả đầu tiên đến sớm nhất, thì jazz đã từng được thưởng thức qua các bài nhạc tình ở Việt Nam trước năm 1975, tuy chưa phổ biến và còn mang hơi hướng của điệu blue, với những bài như “Thuở Ấy Có Em,” “Ðời Tôi Chỉ Yêu Một Người” của nhạc sĩ Huỳnh Anh.

“Tôi thích jazz ở chỗ lắng đọng tuy khó nghe, cách chơi tuy ồn ào nhưng cũng có lúc êm lắm. Tôi thích chỗ lắng đọng đó, cứ yên lặng mà thưởng thức, sẽ cảm nhận được. Với jazz chỉ là cảm xúc, đừng nhận xét,” bà nói.

Ông Ðức Trần, cho biết Jazz là cái gì lạ lắm, giai điệu của nó rất thật khiến tâm hồn mình yêu đời hơn, đôi khi cái ồn ào của nó lại chất chứa tình cảm nồng nàn thắm thiết, có khi chỉ là tâm tình của lá hoa cây cỏ, thiên nhiên và những mơ mộng của con người.

Bác Sĩ Phạm Gia Cổn và ca sĩ Thùy Linh song ca nhạc phẩm “Chiến Sĩ Của Lòng Em.” (Hình: Văn Lan/Người Việt)

“Tuy jazz sôi động ồn ào nhưng cũng tình tứ lắm chứ! Cũng như món ăn vậy, người Việt thì khoái sầu riêng trong khi Âu Mỹ lại rất sợ mùi vị ấy, mình thưởng thức âm nhạc với cách riêng của từng người,” ông nói.

Ca sĩ Thùy Linh mở đầu đêm diễn với bài “Girl from Ipanema-Garota de Ipanema,” lấy cảm hứng từ Helô Pinhero, cô gái xinh đẹp trên đường Montenegro ở Ipanema, khu phố giàu có phía Nam thành phố Rio de Janeiro (Brazil). Hằng ngày cô đi dạo qua quán rượu Veloso bar café ở bãi biển, và anh chàng si tình than thở làm sao anh có thể nói tiếng yêu khi mỗi ngày cô ấy bước ra biển, nhìn thẳng về phía trước mà không nhìn anh.

Tiếp theo là những bài jazz bất hủ với âm thanh khi như giông bão, khi như réo rắt, quyện với tiếng trống bập bùng như “Mardi Gras in New Orleans,” “La Vie en Rose,” “Afternoon Longing,” “Autum Leaves,” “Thu Quyến Rũ,” “Chiến Sĩ Của Lòng Em.”

Bạn diễn trong đêm với cô là Bác Sĩ Phạm Gia Cổn. Ông chơi saxophone cùng với ban nhạc trong bài “Thu Quyến Rũ” của Ðoàn Chuẩn-Từ Linh và song ca với Thùy Linh bài “Chiến Sĩ Của Lòng Em” sáng tác Trịnh Văn Ngân, nhận được tràng pháo tay không dứt.

Với giai điệu tình tứ đến độ nghe như hơi thở qua bài “Quả Mít” của mình, lấy cảm hứng từ bài thơ cùng tên của nữ sĩ Hồ Xuân Hương, Thùy Linh đã bộc lộ hết những ẩn ý của bài thơ, trong những đoạn cao trào: “Anh ơi, yêu em vội vàng. Vờn ong vờn bướm khổ thân em. Nhanh lên, anh ơi em đã chín muồi. Sẵn sàng dâng hiến mật ngọt thiên đàng. Mít thơm lẳng mít ngọt lơ. Anh ơi bóc em ngay, nhựa ngọt mềm đêm trăng mật!”

Bác Sĩ Phạm Gia Cổn thả hồn theo tiếng kèn saxophone trong nhạc phẩm “Thu Quyến Rũ.” (Hình: Văn Lan/Người Việt)

Anh Bảo Công Nguyễn, cư dân Westminster, nói rằng: “Bài thơ ‘Quả Mít’ của Hồ Xuân Hương ngày trước học trong văn học Việt Nam, cho rằng thuộc loại thơ ẩn dụ ‘tục mà thanh’ trong đó có hai câu ‘Quân tử có thương thì đóng cọc/ Xin đừng mân mó nhựa ra tay,’ không ngờ đêm nhạc này mới thấy ca từ và điệu jazz của Thùy Linh còn hơn thế nữa, nó làm người nghe như rực lửa trong người!”

Tâm tình với khán thính giả, ca sĩ Thùy Linh nói: “CD ‘Jazz is You – Jazz là Em’ được chuẩn bị trong suốt năm năm qua. Ðó là thời gian tôi đưa nhạc jazz vào trong lòng cộng đồng người Việt, và rất vui mừng khi nhận sự đón tiếp nồng nhiệt của khán thính giả ở cả hai miền Nam và Bắc California. Cũng nhờ sự yêu thương và ủng hộ nhiệt tình của cộng đồng mà tôi có thể theo đuổi được ước mơ và đam mê nghệ thuật trong chiều hướng và tầm nhìn của chính mình.”

Bắt đầu từ nhạc phẩm “Jazz là Em” nhạc sĩ Nguyễn Dự viết riêng tặng Thùy Linh từ năm 2013 với mục đích đem nhạc jazz vào cộng đồng Việt, đến nay theo cô: “Tuy vào nghiệp âm nhạc rất trễ trong đời, nhưng tôi cũng xin cảm ơn cộng đồng, với nhu cầu của nhạc mới cùng âm thanh mới, giúp tôi có cơ hội để tiếp tục chương trình ‘Jazz là Em’ hơn hai năm qua.”

“Ðêm nay, tôi đến với người ái mộ để giới thiệu ra mắt CD sắp tới. Từ năm 2015, tôi tổ chức chương trình ‘Jazz is You – Jazz là Em’ ở Bắc và Nam California, cứ mỗi bốn tháng một lần hoàn toàn miễn phí cho cộng đồng, nhằm mục đích phát triển nhạc jazz và khuyến khích nhiều người tham dự, thưởng thức và tìm hiểu thêm về nghệ thuật độc đáo này của nước Mỹ,” cô nói.

Ðể có tiền chuẩn bị cho ra mắt CD “Jazz is You – Jazz là Em,” thính giả yêu mến nhạc jazz của Thùy Linh xin đặt trước. Với CD có sẵn thì mua năm CD giá $75 sẽ tặng một đĩa CD. Nếu đặt mua CD “Jazz là Em” mới cho lần tới thì mua năm CD giá $100 sẽ được tặng thêm một CD.

Liên lạc chương trình “Jazz là Em” qua số điện thoại 1-669-258-6905, email: [email protected].

Mời độc giả xem phóng sự “Little Saigon có thêm đài truyền hình AWM 22.7”

Lăng vua Khải Ðịnh ở Huế bị lấn để xây bãi đậu xe

HUẾ (NV) – Bãi đậu xe cạnh lăng vua Khải Ðịnh đã được chính quyền Huế cho san ủi mặt bằng, mặc sự lo ngại về tính hài hòa của nó với di tích nổi tiếng này.

Theo báo điện tử VNExpress, ngày 29 Tháng Tám, ông Phan Thanh Hải, giám đốc Trung Tâm Bảo Tồn Di Tích Cố Ðô Huế cho biết, cơ quan này tiến hành làm dự án bãi đậu xe cho du khách thăm lăng vua Khải Ðịnh trên diện tích gần 5,000 mét vuông tại vị trí khu vực hai khoanh vùng bảo vệ di tích, có quy mô chứa cùng lúc cho 32 xe hơi và khoảng 30 xe máy, xe đạp cho cán bộ, nhân viên di tích. Dự án này đã được ủy ban tỉnh Thừa Thiên-Huế phê duyệt, có ý kiến thỏa thuận của Bộ Văn Hóa.

Trước dư luận của giới khoa học và người dân gần đây lo ngại, dự án trên sẽ ảnh hưởng đến cảnh quan lăng vua Khải Ðịnh. Ông Hải nói: “Theo các tư liệu lịch sử thì vị trí dự án trước đây là nơi tập kết vật liệu xây dựng lăng vua Khải Ðịnh (thời kỳ 1920-1931), nghĩa là khu vực này từng được sử dụng như công trường và nay phù hợp để làm bãi đậu xe.”

Cũng theo ông Hải, việc xây bãi đậu xe là cần thiết, vì từ trước đến nay khách đến thăm di tích này đều đậu xe tự phát tại bãi đất trống trước mặt lăng “trông rất nhếch nhác, ảnh hưởng đến cảnh quan của lăng.”

“Lỗi của tôi là đã không thông tin rõ ràng đến báo chí về dự án này, khiến dư luận hiểu nhầm việc xây dựng bãi đậu xe đụng chạm đến cảnh quan di tích. Tôi xin khẳng định lại rằng dự án xây dựng bãi đậu xe lăng Khải Ðịnh là cần thiết và dự án có đầy đủ các giấy tờ pháp lý,” ông Hải nói với báo Tuổi Trẻ.

Tin cho biết, trong kế hoạch của Trung Tâm Bảo Tồn Di Tích Cố Ðô Huế, năm 2017 là thời điểm ưu tiên xây dựng bãi đậu xe ở các điểm tham quan tập trung đông du khách. Theo đó, các điểm lăng vua Tự Ðức và lăng vua Khải Ðịnh được các chủ đầu tư khởi công xây dựng bãi đậu xe.

Tuy nhiên, dự án xây dựng bãi đậu xe du lịch lăng vua Tự Ðức sau khởi công đã phải dừng lại để giải quyết việc chủ đầu tư san ủi phần mộ bà Mỹ Phi, thứ phi của vua Tự Ðức trong khu vực xây dựng.

Trong khi đó, dự án bãi đậu xe lăng vua Khải Ðịnh đang san ủi mặt bằng, và đã có nhiều ý kiến đề cập đến vấn đề hài hòa giữa bãi đậu xe này với không gian chung của di tích. (Tr.N)

Ba tuyến cáp quang biển Việt Nam đi quốc tế bị đứt cùng lúc

New Mexico: Nổ súng trong thư viện, 2 chết, 4 bị thương

CLOVIS, New Mexico (NV) – Hai người thiệt mạng và bốn người bị thương, sau khi xảy ra một vụ nổ súng vào lúc 4 giờ chiều Thứ Hai, bên trong thư viện của thị trấn Clovis, tiểu bang New Mexico.

Hãng thông tấn Reuters trích lời ông Michael Nolen, trưởng sở cứu hỏa địa phương, cho hay có một người bị bắt.

Tên tuổi các nạn nhân chưa được tiết lộ.

Phát ngôn viên bệnh viện University Medical Center ở Lubbock, Texas, nơi cách Clovis chừng 100 dặm về hướng Đông Nam, cho biết trong số bốn người bị thương được đưa đến nơi này điều trị, trong đó có hai người trong tình trạng nguy kịch.

Bà Vanessa Aguirre kể lại với báo The Eastern New Mexico News rằng bà cùng con trai đang ở bên trong thư viện Clovis-Carter khi một người đàn ông đi vào và “bắt đầu bắn. Mọi sự diễn ra quá nhanh. Mẹ con tôi liền chuồn lẹ đến nỗi ví xách của tôi còn để lại trong ấy.”

Trang mạng của tờ nhật báo cho thấy hình ảnh cảnh sát võ trang tiến về phía thư viện, một người đàn ông trẻ tuổi bị dẫn đi, trong khi một phụ nữ có vẻ bị thương được đưa lên xe cấp cứu.

Giới chức thành phố Clovis xác nhận người bị cảnh sát dẫn đi chính là hung thủ.

Clovis là một cộng đồng làm nghề nông với dân cư vào khoảng 40,000 người, nằm cách Albuquerque khoảng 190 dặm về hướng Đông, gần với ranh giới tiểu bang Texas.

Tại đây có căn cứ không quân Cannon Air Force Base, cách thị trấn chừng tám dặm về hướng Tây, nơi trú đóng của phi đoàn 27th Special Operations Wing của Không Quân Hoa Kỳ. (TP)

Mời độc giả xem Điểm tin buổi sáng Thứ Ba, ngày 29 tháng 8 năm 2017

Lính Bỉ thay đổi chiến thuật để tránh bị khủng bố tấn công trên đường phố

BRUSSELS, Bỉ (NV) – Các binh sĩ hiện đang tuần tiễu giữ an ninh trên đường phố Bỉ sẽ thay đổi chiến thuật để tự bảo vệ hữu hiệu hơn trước các cuộc tấn công của khủng bố, di chuyển và thay đổi lộ trình thường xuyên hơn, theo tư lệnh Lục Quân Bỉ.

Các quân nhân nay trở thành mục tiêu tấn công của khủng bố trên khắp Âu Châu, theo Tướng Marc Thys, khi trả lời cuộc phỏng vấn của hãng thông tấn Reuters vào chiều Thứ Hai.

Các cấp chỉ huy nay duyệt xét lại phương cách tuần tiễu của quân nhân dưới quyền, giảm thiểu thời gian đứng tại chỗ của họ, ông nói.

“Một mục tiêu cố định dễ bị nhắm bắn hơn là mục tiêu lưu động,” theo Tướng Thys.

Các quân nhân võ trang cùng cảnh sát khởi sự tuần tiễu bảo vệ một số địa điểm ở Pháp, Bỉ, và Anh đã trở thành mục tiêu tấn công của khủng bố sau khi xảy ra cuộc tấn công của thành phần quá khích tại Paris vào đầu năm 2015, theo Reuters.

“Bất cứ ai mặc quân phục đều thu hút những thành phần muốn làm điều xấu,” Tướng Thys nói. “Chúng tôi huấn luyện binh sĩ để có thể phản ứng nhanh hơn.”

Bỉ hiện có khoảng 1,200 binh sĩ thường xuyên tuần tiễu trên đường ở các thành phố chính. (V.Giang)

TT Trump cho biết mọi giải pháp với Bắc Hàn đều được xét tới

Little Saigon: Một cầu thủ bóng đá trẻ ở Westminster đột ngột qua đời

WESTMINSTER, California (NV) – Em Felipe Andres De La Cruz, một cầu thủ đá bóng 13 tuổi, qua đời đột ngột trong một trận đấu tại trường trung học Westminster hôm Thứ Bảy, 26 Tháng Tám.

Theo tin của nhật báo The Orange County Register, sự việc này xảy ra lúc độ 10 giờ 20 sáng, trong trận đấu giữa đội Strikers FC North của em Felipe và đội SDA Slammers.

Ông Ron Esparza, huấn luyện viên của đội Strikers FC North, cho biết em Felipe đưa tay xin rời khỏi sân vì mệt trong hiệp hai của trận đấu.

Ông Mike Ornelas, huấn luyện viên thứ hai của đội này, nói rằng em vừa rời sân, ngồi lên ghế được 30 giây rồi ngã quỵ.

“Em ấy đang chơi rất tốt, phòng thủ hay tấn công rất hay,” ông Ornelas cho biết.

Vợ của ông Esparza và một bác sĩ có mặt tại sân bóng cố gắng sơ cứu cho em Felipe, nhưng em không tỉnh dậy.

Sau đó, xe cấp cứu đến, rồi đưa em vào bệnh viện Orange Coast Memorial Hospital ở Fountain Valley.

Chỉ ít phút sau, bác sĩ báo tin em Felipe qua đời.

Gia đình của em đang đợi kết quả giảo nghiệm để biết được nguyên do. Tuy nhiên, cha của em Felipe cho biết rằng em chưa hề có vấn đề gì về tim mạch.

Em Felipe là một học sinh lớp tám của trường Newton Middle School tại Hacienda Heights, là cầu thủ duy nhất trong đội Strikers North FC mà không sống tại Orange County.

Đội này mỗi tuần có hai buổi tập ở Orange, và huấn luyện viên Esparza cho biết em Felipe chưa bao giờ bỏ một buổi tập nào, dù phải đi một tiếng đồng hồ để đến tập.

Cả đội bóng – từ cầu thủ, cho đến huấn luyện viên, và gia đình của các cầu thủ – đều chạy đến bệnh viện để theo dõi tình hình của em Felipe.

Cha của em nói với mọi người trong đội rằng nên đấu trận tiếp theo vào Chủ Nhật, vì đây là điều mà em Felipe mong muốn.

Hôm Chủ Nhật, đội Strikers North FC dành cho em Felipe một phút mặc niệm trước trận đấu với đội Crescenta Valley SC.

Thay vì dùng hết 11 cầu thủ, cả hai đội chỉ dùng 10 người trong những phút đầu của trận đấu để tưởng nhớ em Felipe. Cả hai đội còn dùng quả bóng của em cho trận đấu này.

“Chúng tôi rất biết ơn sự hỗ trợ của cộng đồng bóng đá cho em Felipe, có rất nhiều đội đến để ủng hộ em,” ông Esparza cho biết.

Cha của em kể rằng Felipe là một học sinh giỏi, nhiều điểm A, rất thích toán và các môn khoa học.

Ông kể thêm là con trai mình ước mơ sẽ mua cho mẹ một căn nhà thật đẹp.

“Nó là một đứa trẻ rất hạnh phúc, lúc nào cũng vui đùa với anh em họ trong nhà,” cha em nói. “Lúc nào nó cũng cười. Nó là một đứa rất hài hước.”

Gia đình cho biết tang lễ của em sẽ được tổ chức tại một thời điểm sau ngày 5 Tháng Chín. (TL)

Mời độc giả xem phóng sự “Little Saigon có thêm đài truyền hình AWM 22.7”

Dân cử Orange County sẵn sàng hỗ trợ nạn nhân bão Harvey

SANTA ANA, California (NV) – Ba vị dân cử ở Orange County, California, vừa ký một thông báo cho biết sẵn sàng hỗ trợ nạn nhân bị bão Harvey ảnh hưởng ở tiểu bang Texas.

Trong một thông báo do bà Michele Steel, chủ tịch Hội Đồng Giám Sát Orange County; Luật Sư Andrew Đỗ, phó chủ tịch Hội Đồng Giám Sát Orange County; và bà Sandra Hutchens, cảnh sát trưởng Orange County; ký và gởi ra cho giới truyền thông hôm Thứ Hai, 28 Tháng Tám, ba vị này cho biết họ đã gởi thông điệp đến chính quyền các cấp tại Texas, đặc biệt các thành phố Houston và Galveston, nơi có nhiều đồng hương Việt Nam cư ngụ để chia sẻ sự cảm thông đặc biệt về những hậu quả do cơn bão Harvey gây ra, kéo theo lũ lụt dọc vùng duyên hải của tiểu bang Texas, và chưa từngxảy ra từ hàng trăm năm nay, cùng với những sự hỗ trợ cần thiết trong việc cứu trợ cấp thời của Orange County.

Thông báo trích lời Giám Sát Viên Andrew Đỗ phát biểu: “Tôi xin chia sẻ với tất cả cư dân và đồng hương Việt Nam tại Texas, đặc biệt tại các thành phố Houston, Galveston, Corpus Christi, sự quan tâm sâu xa của tôi về những hậu quả bất ngờ ngoài dự đoán của một thảm trạng thiên tai và những thiệt hại nặng nề mà người dân hiện đang hứng chịu. Tôi đã cùng với chủ tịch Hội Đồng Giám Sát Orange County và đại diện Sở Cảnh Sát Orange County liên lạc với các chính quyền sở tại các cấp của tiểu bang Texas và thông báo cho họ biết, Orange County sẵn sàng hỗ trợ họ bằng mọi phương cách và phương tiện để giúp chính quyền sở tại trong việc bảo vệ an toàn sinh mạng của cac cư dân tại các vùng hiện đang bị thiên tai và yêu cầu các chính quyền nói trên cho biết ưu tiên những cần thiết cấp bách… Trong những ngày tới đây tôi sẽ đề nghị các thành viên của Hội Đồng Giám Sát Orange County thực hiện một chương trình hỗ trợ khẩn cấp cho các chính quyền Texas nếu họ yêu cầu.”

Giám Sát Viên Andrew Đỗ cũng kêu gọi đồng hương và cư dân Orange County nên tìm mọi phương cách giúp đỡ các đồng hương và cư dân Texas hiện là nạn nhân của cơn bão Harvey, qua các cơ quan cứu trợ thiện nguyện hợp pháp và có uy tín, ví dụ như Hội Hồng Thập Tự Hoa Kỳ. (Đ.D.)

Louisiana di tản dân tránh bão Harvey, đúng kỷ niệm bão Katrina 12 năm trước

Nước tràn đê tại Columbia Lakes, dân Brazoria County ở Nam Houston buộc di tản

HOUSTON, Texas (NV) – Các giới chức Brazoria County ở phía Nam Houston cho hay con đê dọc theo theo sông Brazos River ở vùng Columbia Lakes đã bị nước tràn qua, và ra lệnh cho dân nơi đây phải di tản “ngay lập tức.”

Giới hữu trách cũng cho hay khu vực này dự trù sẽ còn bị nước ngập cao hơn nữa trong thời gian ngắn sắp tới.

“Khu vực đó trong tình trạng bắt buộc di tản,” theo lời bà Sharon Trower, phát ngôn viên của Brazoria County. “Chúng tôi có một số cư dân không muốn ra đi. Chúng tôi đang gửi nhân viên cấp cứu tới để đưa họ đi.”

Bà Trower nói rằng lệnh bắt buộc di tản có hiệu lực trong Brazoria County cho cư dân ở về phía Tây của sông Brazos và Xa Lộ 288. Bà nói rằng khu Lake Jackson không bị bắt buộc di tản.

Giới chức điều hành khu Lake Jackson nói rằng sẽ xem xét tình hình và ra lệnh di tản nếu cần thiết.

Các nơi tạm trú hiện có ở Clute, Avin, Angleton, và Manvel.

Việc đê bị nước tràn qua diễn ra sau khi giới hữu trách ra lệnh di tản ở Brazoria County và Fort Bend County hôm Thứ Hai, do nước sông Brazos nay lên tới đỉnh cao nhất trong lịch sử.

Giới hữu trách nói rằng đỉnh nước sông tại Fort Bend County vào giữa tuần này có thể lên đến mức chỉ thấy cứ vào khoảng mỗi 800 năm. (V.Giang)

Louisiana di tản dân tránh bão Harvey, đúng kỷ niệm bão Katrina 12 năm trước

Đòi chùa công khai tài chánh, người đứng đầu văn phòng Phật Giáo chính phủ Thái Lan mất chức

BANGKOK, Thái Lan (NV) –  Hội Đồng Quân Nhân Thái Lan vừa thuyên chuyển nhân vật đứng đầu văn phòng Phật Giáo chính phủ, theo thủ tướng Thái Lan cho biết hôm Thứ Ba, sau khi các nhóm tôn giáo đòi phải giải nhiệm ông vì các kế hoạch nhằm trong sạch hóa các ngôi chùa bị đủ thứ tai tiếng.

Tuy nhiên, Thủ Tướng Prayuth Chan-ocha cho hay đây không phải là biện pháp trừng phạt, theo bản tin hãng thông tấn Reuters.

Ông Pongporn Pramsaneh, chỉ mới vào điều hành Văn Phòng Phật Giáo Quốc Gia hồi Tháng Hai, hứa hẹn sẽ có biện pháp cải cách hơn 40,000 ngôi chùa ở Thái Lan bằng cách buộc họ phải công bố hồ sơ tài chánh.

Theo các ước tính, những ngôi chùa này mỗi năm nhận được nhiều tỷ đô la từ bá tánh thập phương.

Vị cựu giới chức cảnh sát này được bổ nhiệm sau khi có cuộc đối đầu giữa cơ quan công lực và ngôi chùa Dhammakaya hồi Tháng Hai.

Giới hữu trách muốn thẩm vấn vị sư trụ trì về cáo buộc giúp rửa tiền, theo tin Reuters.

Ông Pongporn nay được đưa vào chức vụ chánh thanh tra trong văn phòng của ông Prayuth.

Tướng Prayuth nói với báo chí rằng đây “không phải là sự trừng phạt” mà chỉ muốn đưa ông về gần hơn để giúp việc cải cách tôn giáo, cũng theo bản tin Reuters. (V.Giang)

Nam Hàn thực tập tiêu diệt Bắc Hàn bằng bom thật

Tin mới cập nhật