Chu du cùng độc giả từ đất mũi lên thủ đô


Ngọc Lan/Người Việt


LGT: Với một người làm báo, thì niềm vui, nỗi buồn gần như gắn liền với độc giả. Không chỉ vậy, phóng viên Người Việt lại là người khá may mắn khi nhận được sự quan tâm, “chiếu tướng” của nhiều bạn đọc gần xa. Loạt ký sự dưới đây viết về chuyến “ngao du” của phóng viên Ngọc Lan cùng một số độc giả của nhật báo Người Việt đến từ Pháp, Úc, California, Oregon, Florida, Virginia và New York trong suốt 10 ngày, xuống biển, lên rừng, vào hang động, lên thủ đô.


 


Kỳ 1: Florida có phở bò giò heo


 


Chuẩn bị


Phải nói ngay và luôn là ngoài tôi, phóng viên nhật báo Người Việt, mà ai có đọc báo cũng đều có thể biết mặt, thì những người còn lại trong chuyến đi đều là “người dưng” với nhau. Mỗi người ở mỗi nơi, không cùng tiểu bang, khác cả quốc tịch. Vậy mà, qua Người Việt, đúng hơn qua một trang blog trên Người Việt, họ đã kết nối với nhau, xem nhau như bạn, như người thân, dù rằng, cho đến ngày bắt đầu hành trình có người vẫn chưa hề biết mặt nhau, họ chỉ là bạn với nhau qua con chữ.

Chuyến đi được mời gọi hơn cả năm trước từ anh Ken Zip ở Bradenton, Florida. Vị độc giả này muốn nhiều người cùng biết về vùng đất anh chọn định cư hơn 10 năm qua.

Mình sẽ làm gì khi đến Florida? Một kế hoạch được thảo qua. Sẽ đi câu cá – một thú tiêu khiển của nhiều người sống tại tiểu bang cực Nam Hoa Kỳ này. Sẽ đi thăm vườn rau của chú Mười Nguyễn, một nhân vật tôi từng nhắc đến trong loạt phóng sự liên quan đến nghề trồng rau của người Việt tại Wimauma. Sẽ đi thăm vườn trái cây của cô Chín Nguyệt ở Homestead, cũng là một nhân vật tôi từng phỏng vấn cho loạt bài nghề làm vườn của người Việt ở Hoa Kỳ. Rồi sẽ hướng về Key West, mảnh đất tận cùng cực Nam của xứ cờ hoa, nơi mà chỉ cần nín thở bơi… 90 dặm là chạm vào lãnh thổ Cuba! Và dứt khoát sẽ phải đến Orlando ăn buffet món tôm hùm trứ danh nữa.










 Trạm dừng đầu tiên: ghé Phở Kiên Giang ở Tampa ăn phở bò giò heo. Trong hình: phóng viên Ngọc Lan (trái) và độc giả Cục Cục. (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)


Hấp dẫn quá!

Rồi mình đi đâu nữa, sau khi rời vùng đất Mũi này?

Ðón máy bay đi Washington DC ngắm lá vàng, chui vào động thạch nhũ Luray xem sự kỳ thú của thiên nhiên, sẵn ghé bảo tàng xe hơi xem từ xe ngựa chuyển sang xe chạy xăng, chạy dầu ở buổi đầu ra sao. Dĩ nhiên, đã đến DC thì làm sao không đến Bức Tường Ðá Ðen, không ghé thăm Tháp Bút Chì, thăm đền tưởng niệm Tổng Thống Lincoln, ngắm nhìn dòng sông Potomac hiền hòa. Và bỏ qua sao được khu Eden, một kiểu “Little Saigon” của người Việt quanh thủ đô. Anh M&M, độc giả Virginia, nhận lãnh nhiệm vụ làm người hướng dẫn cho tour DC.

Ðến DC rồi, mình có nên thẳng tiến đến trung tâm tài chánh của “đế quốc Mỹ” luôn không? Thời gian không có nhiều, chỉ đi về trong ngày thôi, bằng xe hơi? Ði đi đi! Tất cả như “đồng thanh tương ứng đồng khí tương cầu.” Ôi mình sẽ đi New York, đến đảo Liberty nhìn ngắm Nữ Thần Tự Do. Mình sẽ đến phố Tàu, đến Ground Zero, ngắm nghía cầu Brooklyn. Chị Bình Trịnh, độc giả ở New York, sẽ cho bọn tứ xứ chúng tôi biết thế nào là Manhattan, là New York City.

Kế hoạch phác thảo xong, còn gì quyến rũ hơn thế. Vậy là a lê hấp, mạnh ai nấy mua vé máy bay, có người đến trước, kẻ đến sau, nhưng “anh hùng” sẽ hội tụ trong Tháng Mười.


Florida có phở bò giò heo


Thời gian chờ đợi rồi cũng tới, giờ phút vác ba lô lên vai, kéo theo cái va li nhỏ, chìa cái vé máy bay để boarding là ôi thôi, sung sướng đến vô cùng. Bởi đi chơi luôn là điều thú vị nhất trên đời! Giá mà tháng nào cũng được một lần đi chơi thì chắc bài vở mang về cho tòa soạn sẽ rộn ràng, sôi động lắm.

Tôi đi cùng chị Cúc, nhưng tôi lại thích kêu chị theo kiểu giọng… Huế, thành ra chị có nick name là “Cục Cục”. Chị Cục Cục đến từ Úc, là công dân Úc, dù hiện tại đang làm việc cho hệ thống đại học California.

Hai chị em bay chuyến bay đêm nên đến Tampa lúc 10 rưỡi giờ sáng. Anh Ken Zip, chủ xị vùng Florida, đón từ phi trường rồi chở hai tụi tôi đi ăn phở Kiên Giang cho biết phở Florida ngon làm sao.










 Món ăn độc nhất vô nhị: Phở bò giò heo. (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)




Mắt mờ, bụng đói, tay run, tôi kêu ngay luôn tô đủ thứ cho dễ ăn (giả sử có bán một nồi chắc tôi cũng dám kêu khi bụng đói như con sói).

Tô phở mang ra. Lần đầu tiên trong đời, tôi nhìn có… cục giò heo trong tô phở bò. Ngộ cái là đến lúc đó, chàng độc giả xứ Mũi cũng mới biết là quê hương mình có món phở độc nhất vô nhị: phở bò giò heo.

Cũng phải giới thiệu qua một chút về anh Ken Zip. Nhiều độc giả Người Việt Online biết anh qua nick name Ốc hay Ốc Chảnh từ những trang blog của phóng viên Người Việt, cũng như qua nhiều bài viết mượt mà tình cảm trong mục Viết Cho Nhau của trang Phụ Nữ. Sau 18 năm đóng đô ở tiểu bang vàng California, chàng Ốc ôm khối vàng tích cóp được bay sang tậu nhà lập gánh mới, ý quên, lập nghiệp mới ở vùng nhiệt đới Florida nơi có tên là thành phố Bradenton.

Ăn xong, chúng tôi được dẫn đi một vòng trong xóm Saigon đó coi chợ búa. Ra là người Việt mình đâu đâu cũng có mặt, mà có người Việt là có phở, có chợ, có bánh ú, bánh tét, bánh lá dừa. Mà cũng lạ là chỉ cần nhìn chợ Việt ở những nơi không là Việt Nam là thấy ngay quê hương hiện về trong nỗi nhớ.

Tối đầu tiên, tôi được chở đi coi người địa phương câu cá trên cầu Skyway cũ, gần nơi chiếc cầu mới mang tên Sunshine Skyway được xếp thứ 3 trong số 10 chiếc cầu đẹp nhất trên thế giới.

Nhìn người ta câu cá, lòng thấy thanh thản lạ. Này máy nghe nhạc, này ít lon bia, này là ghế bố. Bốn bề lồng lộng gió. Có cá cắn câu thì vui, không thì cũng là một buổi hít thở khí trời và gió biển. Lành đến thế thì thôi.

Ngày thứ hai trong chuyến chu du, anh Ken Zip đưa Cục Cục và tôi đến chợ hải sản I.C.Sharks ở St. Petersburg. Ðến xứ biển mà không ăn hải sản thì phí đời.

Sau khi ngắm nghía mấy càng cua đá được bán với giá $34/lb (nghe đồn đấy đang là mùa cua đá, mà mỗi con khi bắt lên, người ta chỉ được bẻ đúng một cái càng, rồi phải thả cua về lại biển), chúng tôi quyết định mua 12 con ghẹ lớn với giá $35, dĩ nhiên 12 con ghẹ có tới 24 cái càng lận, tính vậy cho tiện. Mà cũng lạ là chỉ bán ghẹ đực thôi, không thể nào tìm ra một con ghẹ cái.

Về nhà, Ốc Chảnh trổ tài làm cho mấy chàng ghẹ “đứng hình” bằng cách lấy tay massage lên yếm của nó. Những con ghẹ đang hung hãn giương ngoe giương càng bỗng ngay đơ ra khi được xoa xoa êm êm. “Thiệt là đến ghẹ cũng thích được… dê!”










 Chàng ghẹ “đứng hình” khi được bàn tay massage lên yếm. (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)


Sau khi gặm mấy con ghẹ… ốp xong, chúng tôi cùng ra sân bay để đón một chị từ Oregon đến và một chị từ Paris sang.

Ông bà xưa nói “đi một ngày đàng học một sàng khôn” quả không sai. Ngoài chuyện biết làm sao cho mấy chàng ghẹ “phê càng,” ra đến sân bay Tampa, tôi còn biết thêm là có những hãng hàng không được cho ký hiệu màu xanh, có những hãng màu đỏ. Nếu đi hãng xanh thì mình cứ theo các chỉ dẫn màu xanh, từ nơi đậu xe cho đến thang máy, nơi lấy hành lý…

Ra đến phi trường thì độc giả đến từ Pháp, có nick name An Lành, đã ngồi chờ trong thấp thỏm, âu lo gần cả giờ đồng hồ, không biết đêm nay mình ăn đâu ở đâu.

Chị An Lành là người du học ở Bỉ từ trước năm 1972, chuyên ngành ngoại giao. Biến cố 75 xảy ra, chị phải ở lại luôn bên ấy trước khi chuyển sang trời Tây. Và đây là lần đầu, “bà đầm” Pháp và “bà kangaroo” Úc biết mặt nhau.

Ðón được “bà đầm” rồi thì ngồi chờ tiếp để đón thêm độc giả Bidong. Nhìn nick name là có thể đoán được chị từng là thuyền nhân có thời gian trải nghiệm cuộc đời trên đảo Pulau Bidong trước khi định cư tại Mỹ.

Nhìn nàng Oregon hiên ngang đi ra, một vai đeo ba lô, một tay kéo cái carry-on, trước bụng đeo túi bao tử, và nói, “Phải chờ lấy thêm hành lý ký gửi,” tôi thốt lên kèm tiếng cười ha hả, “Chị dọn nhà hả chị?” (mà cũng vì thế làm tôi mất mấy ngày cứ đi theo rình rình hỏi xem thiệt ra chị Bidong mang gì theo mà nhiều dữ vậy!)

Về lại nhà anh Ken Zip khi đêm buông xuống đã sâu. Bốn độc giả từ nhiều nơi hội tụ cùng tôi có đủ chuyện để nói trong khi ngồi ăn phở nấu tại nhà (có sang Mỹ rồi mới thấy ai cũng phải trở thành đầu bếp hết) và nhâm nhi thêm món ghẹ… ế trước khi lên giường làm một giấc chuẩn bị cho chuyến đi chợ trời Wagon Wheel ngày hôm sau.


(Kỳ 2: Ði chợ trời, nghe người Lào nói tiếng Việt, đến  Key West thăm nhà “Ngư Ông và Biển Cả”)

Báo chí Trung Quốc thay chính phủ chỉ trích ông Obama


VIỆT NAM (NV) –
Sau Tân Hoa Xã, tới lượt Hoàn Cầu Thời Báo – cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng Sản Trung Quốc – chỉ trích Tổng Thống Barack Obama sau khi ông tuyên bố hủy lệnh cấm bán vũ khí cho Việt Nam.

Giống như dân chúng Hà Nội, dân chúng Sài Gòn tỏ ra phấn khích trước sự kiện ông Obama thăm Việt Nam. Sự phấn khích này sinh từ hy vọng, sắp tới, Việt Nam có thể tách ra khỏi Trung Quốc. (Hình Tuổi Trẻ)

Khi tuyên bố hủy lệnh cấm bán vũ khí cho Việt Nam, ông Obama từng giải thích, quyết định đó là vì nhu cầu phát triển quan hệ với Việt Nam, không phải vì Trung Quốc. Hoàn Cầu Thời Báo nhận định, đó là “dối trá.” Theo tờ báo này thì bản chất của quyết định hủy lệnh cấm bán vũ khí cho Việt Nam là nhằm lợi dụng Việt Nam để kiềm chế Trung Quốc.

Hoàn Cầu Thời Báo còn cảnh báo, sau Hiệp Định Thương Mại Xuyên Thái Bình Dương (TPP), việc hủy lệnh cấm bán vũ khí cho Việt Nam chính là bằng chứng cho thấy, Hoa Kỳ có dụng tâm kiềm chế Trung Quốc về mọi mặt “ý thức hệ, quân sự và kinh tế-thương mại.”

Trước đây, Trung Quốc thường xuyên khuyến dụ Việt Nam rằng, một trong những nền tảng để phải gìn giữ, phát triển quan hệ Trung-Việt là “sự tương đồng về ý thức hệ.”

Nhiều người từng dự đoán, Trung Quốc sẽ rất giận dữ nếu Hoa Kỳ hủy lệnh cấm bán vũ khí cho Việt Nam vì điều này sẽ giúp Việt Nam nâng cao khả năng tự vệ, thay đổi tương quan thực lực giữa Việt Nam và Trung Quốc. Thậm chí có thể biến Việt Nam thành yếu tố quan trọng trong việc ngăn chặn Trung Quốc kiểm soát toàn bộ Biển Đông, chi phối khu vực Đông Nam Á.

Song trái với những dự đoán đó, hôm 23 Tháng Năm, sau khi ông Obama tuyên bố hủy lệnh cấm bán vũ khí cho Việt Nam, phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Trung Quốc nhận định, lệnh cấm bán vũ khí là sản phẩm của thời kỳ Chiến Tranh Lạnh và Trung Quốc hy vọng quyết định của ông Obama “hữu ích cho hòa bình và ổn định trong khu vực.” 

Trước đó một chút, vào thời điểm ông Obama lên đường đến thăm Việt Nam, phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Trung Quốc từng tuyên bố, Trung Quốc “cảm thấy vui” khi quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam phát triển.

Song “hữu ích” hay “cảm thấy vui” là ngôn từ ngoại giao. Tân Hoa Xã – cơ quan ngôn luận của chính quyền Trung Quốc – huỵch toẹt, Hoa Kỳ và Việt Nam chủ động đến với nhau là vì Biển Đông. Theo Tân Hoa Xã, quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam sẽ không bao giờ có thể trở thành thực sự thân thiết vì “khác biệt về tư tưởng.”

Tân Hoa Xã cũng không giấu diếm sự phẫn nộ đối với Hoa Kỳ khi nhận định, Hoa Kỳ là đối tượng “chuyên gây sóng gió ở Châu Á-Thái Bình Dương” và liên tục tỏ ra “thiếu kiềm chế trong việc can thiệp vào khu vực này.” Việc hủy lệnh cấm bán vũ khí cho Việt Nam, thắt chặt quan hệ với Việt Nam của Hoa Kỳ được xem là cách “tìm một chỗ đứng vững chắc tại Biển Đông trong khi không hề có liên quan.”

Xin mời xem thêm video: Hàng ngàn
người Sài Gòn mong chờ nhìn thấy tổng thống Obama

Theo Tân Hoa Xã, sở dĩ Hoa Kỳ hủy lệnh cấm bán vũ khí cho Việt Nam là vì “tin rằng Việt Nam là một quốc gia phù hợp đối với việc triển khai các ý tưởng của Hoa Kỳ ở Biển Đông.” Cũng vì vậy, Tân Hoa Xã khuyến cáo giới lãnh đạo Việt Nam phải “thận trọng với Hoa Kỳ” vì Hoa Kỳ “không thành thật.”

Sự giận dữ của hệ thống truyền thông thuộc chính quyền Trung Quốc tiếp tục gia tăng sau phát pháo lệnh của Tân Hoa Xã.

Trong khi Hoàn Cầu Thời Báo chỉ trích ông Obama cố tình thả lưới “quây” Trung Quốc trước khi mãn nhiệm kỳ, kéo Việt Nam vào hệ thống an ninh khu vực bao gồm: Úc, Nhật, Nam Hàn, Philippines, do Hoa Kỳ chỉ huy thì Trung Hoa Nhật Báo cho rằng, các quốc gia khác không được châm lửa đốt khu vực.

Theo Trung Hoa Nhật Báo, chuyến thăm Việt Nam của ông Obama là “tín hiệu xấu” cho “hòa bình và sự ổn định vì làm phức tạp thêm tình hình ở Biển Đông” và “có thể tạo ra xung đột.” (G.Đ)

Hawaii: Rớt máy bay chở người nhảy dù, 5 chết

HONOLULU, Hawaii (AP)Năm người thiệt mạng sau khi một máy bay chở người chơi môn thể thao nhảy dù bị rớt và bốc cháy vào lúc 9 giờ sáng trên đảo Kauai.

 
 Nhân viên cấp cứu tập trung gần địa điểm máy bay rơi ở Hanapepe, Hawaii, hôm Thứ Hai. (Hình: AP/Sarah Blane)

Số nạn nhân gồm phi công, hai huấn luyện viên và hai học viên.

Bốn trong số họ chết ngay tại chỗ ở bên ngoài phi trường Port Allen. Một người được đưa đi cấp cứu và sau đó tắt thở tại bệnh viện Wilcox Memorial Hospital.

Nhóm người nằm trong số người tham dự chuyến lưu diễn, xuất phát từ Port Allen Airport, do công ty SkyDive Kauai tổ chức.

Danh tính các nạn nhân chưa được tiết lộ.

Cơ Quan An Toàn Giao Thông Liên Bang (NTSB) và Cơ Quan Quản Trị Hàng Không (FAA) sẽ làm việc với các giới chức địa phương để mở cuộc điều tra.

Được biết phi cơ bị nạn là một chiếc Cessna 182H một động cơ.

Vài giờ sau đó hôm Thứ Hai, nhân viên cấp cứu đưa vào bệnh viện một người lái một máy bay nhỏ bị rơi ngoài khơi Makaha Beach Park, ở duyên hải đảo Oahu.

Theo dữ kiện bộ y tế tiểu bang Hawaii, có 20 du khách thiệt mạng trong tai nạn máy bay nhỏ hoặc trực thăng trong thời gian từ 2005 đến 2014.

Trong cùng thời kỳ, 24 cư dân thiệt mạng trong những tai nạn máy bay khác. (TP)

Thêm công nhân Bắc Hàn làm việc ở ngoại quốc đào tị

SEOUL, Nam Hàn (NV)Có thêm một số công nhân Bắc Hàn đã trốn khỏi nhà hàng do chế độ Bình Nhưỡng làm chủ ở ngoại quốc, theo tin từ Bộ Thống Nhất Nam Hàn hôm Thứ Ba, sau khi có tin từ giới truyền thông cho hay thêm 3 người đã trốn khỏi Trung Quốc và xin tị nạn.


Nữ công nhân Bắc Hàn làm việc tại một công ty may mặc của Nam Hàn có trụ sở đặt ở Kaesong, Bắc Hàn. (Hình: Chung Sung-Jun/Getty Images)

New Focus, một trang web do người đào tị Bắc Hàn điều hành, cho hay có ba nhân viên từ một nhà hàng ở Thượng Hải đã sang được quốc gia thứ ba.

Nhật báo Munhwa Ilbo ở Nam Hàn, trước đó trong ngày Thứ Ba loan tin rằng 3 người này hiện đang ở Thái Lan.

Tin tức về cuộc đào thoát theo nhóm này xảy ra sau khi có 13 người Bắc Hàn làm việc trong một nhà hàng ở Trung Quốc bỏ trốn hồi Tháng Tư.

Chính quyền Bình Nhưỡng cáo buộc chính phủ Nam Hàn là “bắt cóc” những người này, công bố trên cơ quan truyền thông nhà nước các cuộc phỏng vấn với gia đình họ.

Một giới chức chính phủ Nam Hàn cho hay không thể xác nhận là những người vừa đào thoát đã vào Nam Hàn hay chưa, cũng như tổng số người bỏ trốn và họ từng ở những nơi nào. (V.Gang)

Phùng Tuấn Vũ vẫn phong độ một bậc thầy


Ðức Tuấn/Người Việt

WESTMINSTER (NV) Ðêm hội ngộ Tây Ban Cầm Mùa Xuân 2016, với phần trình tấu đặc biệt của danh thủ guitar cổ điển Phùng Tuấn Vũ, kéo dài 2 giờ đồng hồ tối 21 Tháng Năm, tại hội trường nhật báo Người Việt.

Ðồng hồ vừa điểm 7 giờ 30 phút, hai người điều khiển chương trình, nhạc trưởng Thomas Ngô và Uyển Diễm, bước lên sân khấu nói lời chào mừng, khai mạc chương trình.


Guitarist Phùng Tuấn Vũ trên sân khấu. (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)

Như ngọn lửa âm ỉ, chỉ cần một ngọn gió thổi qua, lửa đỏ bùng lên… Ngay khi vừa bước ra sân khấu, Phùng Tuấn Vũ, khởi đi từ tiếng đàn dịu, nhẹ, “Tango en Skai,” kiệt tác của Roland Dyens, để rồi từ đó, cảm xúc, cường độ, sự phấn khích, tăng dần, tăng dần.

Chương trình được khéo léo sắp xếp, gồm các tác phẩm kinh điển Âu Châu, xen kẽ các tác phẩm dân ca Việt Nam được chuyển biên cho guitar, và hai tác phẩm Flamenco thuần túy.

Người nghệ sĩ bắt đầu bằng những bước đi cẩn trọng, và chắc, đôi lúc buông nhẹ đàn, rủ tay, có được một chút thư giãn, nhẹ nhàng hơn trong phần trình tấu.

Trả lời câu hỏi: “Sau 12 năm, trở lại biểu diễn, ở những giây phút đầu tiên anh có hồi hộp lắm không?” Ông cho biết: “Ai cũng hồi hộp, nhưng sự hồi hộp thú vị, thú vị vì sao? vì mình biết mình phải vượt qua, và chiến thắng sự hồi hộp đó, để có thể đưa chương trình đi đến chỗ thăng hoa.”

Ông nói thêm: “Thật sự ở mỗi phần biểu diễn, tôi đều có sự lo lắng, chứ không phải bài này hồi hộp, bài kia không… Thế nhưng dường như càng vào cuộc sâu, càng tự tin hơn, và như tôi nói, đối với người nghệ sĩ, cảm xúc từ con tim vẫn luôn là chìa khóa để mình chiến thắng sự hồi hộp.”

Nhạc sĩ Phùng Tuấn Vũ sinh trưởng tại Sài Gòn. Ông đến với danh sư Hoàng Bửu năm lên 9 tuổi: “Năm 9 tuổi, tôi được cha dắt đến gặp thầy Hoàng Bửu, xin thầy nhận làm học trò. Thoạt đầu thầy từ chối vì ông thấy tôi còn nhỏ quá, nhưng bố tôi nói với ông, khoan hãy từ chối, hãy nghe tôi đàn thử 1, 2 bài xem sao, nếu đạt được yêu cầu, thì xin thầy nhận tôi làm học trò, còn không thì từ chối cũng không muộn.”


Hai MC Uyển Diễm và Thomas Ngô. (Hình: Ðức Tuấn/Người Việt)

“Ấy vậy mà sau khi nghe tôi đàn hai bài, thầy Hoàng Bửu nhận tôi ngay. Từ đó thầy dẫn dắt trò từng bước, từng bước đi đến sự thành công. Tôi nhớ, đến năm 13 tuổi, được ông dẫn đi biểu diễn trên đài truyền hình, và sang năm 17 tuổi, tôi bắt đầu sáng tác.”

Nhạc sĩ Phùng Tuấn Vũ, một cựu học sinh Võ Trường Toản 1969-1976, đã nổi tiếng ngay từ trước 1975. Sau 1975, ông tiếp tục hoạt động âm nhạc, mang tiếng đàn guitar giới thiệu khắp nơi. Ðến năm 1999, ông cho ra đời CD “Như Cánh Vạc Bay,” CD guitar cổ điển đầu tiên tại Việt Nam.

Một cựu sinh viên Tây Ban Cầm Cổ Ðiển tại Nhạc Viện Sài Gòn kể lại, ngành học chính của Phùng Tuấn Vũ tại Nhạc Viện là Lý Luận, Sáng Tác, Chỉ Huy. Thế mà, một ngày nọ, Phùng Tuấn Vũ đang rảo bước trong trường thì một nhóm sinh viên chuyên ngành guitar đề nghị anh đánh thử vài bài. Tiếng đàn Phùng Tuấn Vũ đã khiến các sinh viên guitar ngạc nhiên khâm phục.

Ông Sơn Nguyễn, khán giả từng theo dõi nhiều những buổi trình tấu guitar cổ điển tại nhật báo Người Việt, cho biết: “Tôi đã nghe tên của nhạc sĩ Phùng Tuấn Vũ từ lâu, hôm nay mới được dịp chứng kiến ‘mắt thấy tai nghe’ tài năng của ông, quả thật tuyệt diệu quá!”

“Ðêm Phùng Tuấn Vũ” có một “dấu lặng” để tưởng nhớ một bậc đàn anh trong làng guitar cổ điển Việt Nam: Huỳnh Hữu Ðoan. Huỳnh Hữu Ðoan là một trong những người đồng sáng lập Hội Guitar Cổ Ðiển Nam California, là hội tổ chức Ðêm Phùng Tuấn Vũ. Ngày họ Phùng tái ngộ khán giả cũng là ngày đám tang Huỳnh Hữu Ðoan.

Một chiếc ghế danh dự hàng đầu được chọn để trống, bên trên ghi tên của guitarist Huỳnh Hữu Ðoan. Ông Trần Mạnh Ðức, hội trưởng Hội Guitar Cổ Ðiển Nam California, cho biết: “Lúc anh Huỳnh Hữu Ðoan còn nằm trong bệnh viện, chúng tôi đến thăm, anh có hứa sẽ đến tham dự chương trình này, vậy mà không lâu sau anh ra đi. Hôm nay là ngày đám tang anh.”


Gia đình cố nhạc sĩ Huỳnh Hữu Ðoan nhận hoa từ ban tổ chức. (Hình: Ðức Tuấn/Người Việt)

Phía bên cánh trái sân khấu, ngay hàng đầu là 5 chiếc ghế để hàng chữ “Gia đình Huỳnh Hữu Ðoan”; khi bắt đầu phần 2 của chương trình, gia đình cố nghệ sĩ Huỳnh Hữu Ðoan, có cả thân phụ mẫu, vợ, con và anh em của ông hiện diện.

Sau lời giới thiệu đầy xúc động của MC Uyển Diễm về phần tưởng niệm nhạc sĩ Huỳnh Hữu Ðoan, ông Võ Tá Hân đại diện Hội Guitar Nam California, lên sân khấu nói về người nhạc sĩ quá cố.

Từ hàng ghế khán giả, người thân trong gia đình nhạc sĩ Huỳnh Hữu Ðoan không khỏi bùi ngùi, xúc động.

Một phút mặc niệm được cử hành để tưởng nhớ đến người bạn, người thầy và người nghệ sĩ đã “bỏ cuộc chơi.”

Bước vào phần hai, guitarist Phùng Tuấn Vũ gửi đến khán giả một loạt ba tác phẩm dân ca Việt Nam – Lý Chim Quyên, Lý Chim Sáo, Lý Ngựa Ô – được chính ông chuyển soạn cho guitar. Khán giả thích thú với lối chơi mới, cách búng dây, gõ thùng, tạo nên âm thanh của tiếng ngựa chạy trên đường hay khi giữa phần bài nhạc, ông bất ngờ hạ dây, tạo nốt thấp cho âm thanh phù hợp với tiết tấu và âm điệu dân ca.

Sáu tấu khúc cuối cùng thật sự đưa người xem đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, như Nostalgia, Fantasie on “Se Chỉ Luồn Kim,” Koibito-oh (Người Yêu Dấu Ơi!), Punta Y Tacon, Campina Andaluza.

Ðặc biệt ca khúc “Se Chỉ Luồn Kim,” trước khi biểu diễn, Phùng Tuấn Vũ kể lại kỷ niệm giữa ông và nhạc sĩ Huỳnh Hữu Ðoan, vì nhạc sĩ Huỳnh Hữu Ðoan vẫn hay chọn bài này trình diễn trước công chúng. “Se Chỉ Luồn Kim” được Phùng Tuấn Vũ sáng tác hồi thập niên 1980.

Nếu như “Người Yêu Dấu Ơi” là bài hát quen thuộc được giới thưởng ngoạn yêu thích bởi tiết tấu chậm buồn, thì nhạc sĩ Phùng Tuấn Vũ đã khoác lên tác phẩm một chiếc áo khác: Cổ điển, để hóa trang cho ca khúc nổi tiếng ấy, đi theo cây guitar vào hồn khán giả.

Hai tác phẩm cuối, “Punta Y Tacon” và “Campina Andaluza,” đều thuộc thể loại Flamenco, của cùng tác giả Sabicas. Bình luận về hai tác phẩm này, Phùng Tuấn Vũ cho biết: “Trong suốt chương trình, phải nói bài Campina Andaluza là bài tôi ưng ý nhất, vì đó là bài Flamenco rất khó, và tôi đã tốn nhiều thời gian nghiên cứu, tập dượt cho tác phẩm này.”

Ca khúc “My Way” là “encore” của chương trình. Phùng Tuấn Vũ đã giữ bí mật đến phút chót, cho biết ông vừa chuyển soạn xong cho guitar và lần đầu “trình làng” khán giả Quận Cam.

Dân phải bắc cầu vào nhà vì dự án ‘rùa’


HÀ NỘI (NV) –
Đoạn mương hơn 500 mét nhưng làm bốn năm vẫn chưa xong, khiến hàng trăm gia đình ở các phường Phương Liên, Trung Phụng, Thổ Quan thuộc quận Đống Đa phải bắc cầu để vào nhà.

Người dân khốn khổ vì bụi bặm, lầy lội do dự án thi công chậm trễ. (Hình: Thanh Niên)

Tuyến mương Linh Quang-Xã Đàn có vị trí rất quan trọng trong việc thoát nước cho toàn bộ khu vực ga Hà Nội, Trần Quý Cáp, Văn Miếu, Khâm Thiên, Nguyễn Khuyến và các khu vực xung quanh Xã Đàn trước khi đổ ra sông Lừ. Tuy được khởi công từ Tháng Tư, 2012, nhưng do sự ì ạch trong thi công đến nay vẫn chưa hoàn thiện.

Theo tin Thanh Niên ngày 24 Tháng Năm, đến giữa tháng này công trường vẫn ngổn ngang vật liệu xây dựng, máy móc và chỉ có lác đác một vài công nhân đang thi công. Nhà dân hai bên bị ngăn cách tuyến mương chưa hoàn thiện, nên phải tự chế cầu bằng gỗ hoặc thép tạm bợ để đi vào nhà khiến người dân ngao ngán.

Bà Nguyễn Thị Tuyết, 55 tuổi, sống trong hẻm 360 Xã Đàn, bức xúc nói: “Công trình thi công nhiều năm rồi nhưng vẫn chưa xong, bởi mỗi ngày chỉ có vài công nhân làm việc, như vậy thì không biết bao giờ người dân ở đây mới hết khổ. Trời nóng thì bụi bặm, trời mưa thì lầy lội và thường xuyên bốc mùi hôi thối…”

Ông Nguyễn Phúc Hợi, đại diện Ban Quản Lý Dự Án Thoát Nước Hà Nội, chủ đầu tư dự án cho rằng: “Trong quá trình thực hiện, vướng mắc lớn nhất là việc giải tỏa, bàn giao mặt bằng cho đơn vị thi công được thực hiện nhiều giai đoạn, vì vậy vừa thi công vừa phải chờ mặt bằng nên chưa thi công được cống hộp, đường và vỉa hè. Dự kiến cuối Tháng Sáu, ban quản lý sẽ thi công hoàn thiện công trình.” (Tr.N)

Bắt chi cục phó thi hành án dân sự nghi ‘ăn’ hối lộ


ĐẮK LẮK (NV) –
Ông phó chi cục trưởng Chi Cục Thi Hành Án Dân Sự huyện Buôn Đôn, Đắk Lắk, bị khởi tố bắt giam về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” do nghi nhận hối lộ.

Hàng loạt lệnh thi hành án của tòa bị ông Ngân “lơ” không thực hiện.(Hình: Tiền Phong)

Theo tin Tiền Phong, ngày 23 Tháng Năm, ông Lê Hữu Thống, chi cục trưởng Chi Cục Thi Hành Án Dân Sự huyện Buôn Đôn, xác nhận ông Đặng Văn Ngân, chi cục phó chi cục này, đã bị cơ quan điều tra Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao bắt tạm giam từ ngày 20 Tháng Năm để điều tra về hành vi “thiếu tinh thần trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”. Theo nguồn tin ban đầu, sai phạm khiến ông Ngân bị bắt là từ quá trình cưỡng chế bán đấu giá một căn nhà đường Trần Quang Khải, nội thành Buôn Ma Thuột.

Ông Đặng Văn Ngân, sinh năm 1962, chức danh chuyên môn là chấp hành viên trung cấp, đã nhiều lần chuyển công tác qua các cơ quan khác nhau trong ngành thi hành án tỉnh Đắk Lắk, trước khi về chi cục huyện Buôn Đôn từ Tháng Mười, 2015.

Theo Thanh Niên, trong quá trình tổ chức việc thi hành sáu bản án, quyết định của Tòa Án Nhân Dân tỉnh Đắk Lắk, Tòa Án Nhân Dân thành phố Buôn Ma Thuột có liên quan đến nghĩa vụ trả nợ của bà Nguyễn Thị Nhung (ngụ thành phố Buôn Ma Thuột) đối với bảy cá nhân số tiền 7 tỉ đồng, ông Ngân đã không làm đúng trách nhiệm.

Cụ thể, ông Ngân không thực hiện việc kê biên tài sản của bà Nhung dẫn đến việc người này đã tẩu tán một phần tài sản. Theo An Ninh Thủ Đô, bà Nhung tẩu tán nhà, đất trị giá hơn 4.5 tỉ đồng. Hậu quả, bảy cá nhân trên không được thi hành theo nội dung các bản án đã có hiệu lực pháp luật. Hiện ông Ngân còn đang bị cơ quan chức năng xem xét thêm hành vi ra quyết định trái pháp luật. (Tr.N)

Thủ tướng Việt Nam chào mừng Tổng thống Obama

Thủ tướng Việt Nam, ông Nguyễn Xuân Phúc đã có lời chào mừng Tổng thống Obama trong cuộc hội kiến diễn ra vào lúc 4 giờ chiều 23 Tháng 5 tại Hà Nội. Cuộc hội đàm sau đó giữa hai bên báo chí không được phép tham gia tường thuật và loan tin.

Trước đó, trong cuộc họp báo tại Trung Tâm Báo Chí Quốc Tế Hà Nội, Tổng thống Obama tuyên bố Hoa Kỳ sẽ dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam.

Người Việt TV (c) 2016 – http://NGUOIVIETTV.com
Người Việt Online – http://NGUOI-VIET.com

Thơ Trần Văn Sơn

Tự truyện

Trăm nỗi buồn vui ba định nói với con
Lần lữa mãi xem ra chừng đã muộn
Tuổi trung niên hai con vẫn còn lựa chọn
Ba quá già để nghĩ chuyện tương lai

Chuyện ngày xưa ba mẹ mới cưới nhau
Mẹ công chức ba quanh năm đánh giặc
Ðồng lương mẹ chắt chiu từng xu từng cắc
Ðồng lương ba tiền lính tính liền

Con chào đời tháng tư bảy mươi lăm
Anh hai con chưa đầy hai tuổi rưỡi
Ba mẹ con bị ném lên vùng kinh tế mới
Ngôi nhà từ đường đảng xẻ thịt phanh thây

Ba vào tù trước ngày Dương Văn Minh đầu hàng
Nên cùng sống trong chin tầng địa ngục
Dân tộc Việt Nam gục đầu ô nhục
Quê hương điêu tàn bởi bầy thú dữ rừng sâu

Mẹ gánh hai con mỗi đứa một đầu
Thất thểu đêm ngày trốn về thành phố
Chiếu đất màn trời đầu đường xó chợ
Mưa nắng che thân ống cống gầm cầu

Ba mẹ con bị bắt nhốt vào tù
Tội duy nhất đảng cướp nhà bịt miệng
Con khát sữa khóc la khản tiếng
Bầu vú khô mẹ vắt kiệt tia máu cuối cùng

Bạn tù thương pha nước lã muối đường
Ðứa con lớn gậm khoai sùng ngộ độc
Mẹ thoi thóp ôm hai con khóc ngất
Cấp cứu rền vang tiếng vọng hư vô

Hai đại tang đỗ ập xuống bất ngờ
Ông ngoại mất tiếp theo ông nội
Mẹ lịm chết tưởng không sống nổi
Chít khăn tang trên hai mái đầu thơ

Dưới gốc cây mẹ lập bàn thờ
Và di ảnh trong trái tim hóa đá
Nhang khói lạnh tanh cảnh đời nghiệt ngã
Biết về đâu giữa sa mạc hoang vu

Mười tám năm một thoáng phù du
Người trong cuộc hàng thiên niên kỷ
Mẹ gánh hai con gánh cả thiên thu
Ðôi thúng nặng tình yêu chung thủy

Ba ra tù tháng mười một tám mươi ba
Chín năm khổ sai ba miền Nam Trung Bắc
Gia đình ta sống tiếp đời khổ nhục
Hành khất trời hành khất đất Phương Nam
Hành khất dung thân ở cuối đường hầm
Tia nắng rọi nhắc ba mặt trời vẫn mọc…


Tháng Tư…
Trần Hòa Bình

Tháng tư con chào đời
Di tản thuyền thay nôi
Con nằm ôm vú mẹ
Biển động mưa đầy trời

Con mười lăm ngày tuổi
Sốt cao sẩy đầy người
Con nằm thoi thóp thở
Thuốc chữa bầu sữa tươi

Ấp yêu vòng tay mẹ
Lớn khôn ngàn trùng vây
Gầm cầu thương xó chợ
Chiếu rách thương vòm cây

Mẹ mơ ngày đoàn tụ
Dưới mái nhà thân yêu
Bên chồng con cha mẹ
Bên bếp hồng cơm rau

Ba mơ ngày yên giặc
Ðặt tên con Hòa Bình
Hòa bình đâu chẳng thấy
Thấy khổ sai nhục hình

Khoảnh khắc bốn mươi năm
Con thành công dân Mỹ
Khốn khó bỏ sau lưng
Miền Viễn Tây hùng vĩ

Các con ngày mỗi lớn
Sống cuộc đời thảnh thơi
Nhớ tháng tư tang tóc
Di tản thuyền thay nôi

Ba mẹ ngày mỗi già
Theo nội ngoại không xa
Con còn một Tổ Quốc
Bên kia giải ngân hà

Nhớ lời ba mẹ dặn
Sống phải biết cội nguồn
Con da vàng máu đỏ
Sửa mẹ nuôi lớn khôn

Nhớ lời ba mẹ dặn
Nhân loại một mái nhà
Gia tài con sẽ nhận
Sống Tâm Ðạo mẹ cha


Tiễn bạn
(Tặng Vũ Uyên Giang)

Ðập vỡ ly tiễn bạn đêm nay
Rượu hòa máu hận thấm khăn tay
Bạn lên miền ngược nuôi mộng lớn
Ta cất lều tranh dưới tán cây

Bạn cười gằn thế sự đảo điên
Anh hùng mạt vận cố ngoi lên
Ðập ly – ly vỡ đau lòng nước
Bỏ mặc trần gian một chiếc bàn

Bạn gửi ta bao cát biệt giam
Áo tù may ấm lạnh mười năm
Vợ con biết có còn lưu lạc
Cát bụi chung thân chọn chỗ nằm

Tặng bạn ba lô thời tử thủ
Băng rừng lội suối vượt trường sơn
Dường về ngắn nhất con đường cũ
Sông núi vùng lên lẽ sống còn

Ta bạn lính – tù chung số phận
Thịnh suy thành bại vẫn còn nhau
Nay xa mai gặp đâu là bến
Buồn nhớ sân ga trễ chuyến tàu

Mình ta ôm góc núi bơ vơ
Loay hoay vạch lá lối sương mờ
Ðường về trăm nẻo mà ngăn cách
Có cách ngăn nào không ngẩn ngơ

Phát rẫy trồng rau nhổ sạch cỏ
Tóc râu tua tủa tựa người rừng
Chân tay mọc rễ vùng đất khổ
Khỉ vượn ôm con hú gọi đàn

Ta khắc lời thề trên thớ gỗ
Tháng tư ngày ấy bảy mươi lăm
Tháng tư hủy diệt đời trai trẻ
Huyệt mộ phơi sương trắng lăn trầm

Ngồi soi bóng suối đợi trăng lên
Sợ lâu ngày quên mất họ tên
Vọc nước mơ Vũ Môn cá vượt
Lều tranh đom đóm kết hoa đèn

Ta đốn rừng cây xây thành lũy
Dựng biên cương núi thẳm vực sâu
Mai kia thiên – địa – nhân tri kỷ
Ta bạn về đây ở tuyến đầu

Thơ Tú Quê

Mừng cháu biết đi

Năm tháng mừng cháu biết bò
Mười tháng cháu lại lò dò biết đi
Bước chân non nhỏ có khi
Bước đi vài bước, chuyến đi không thành
Ông nhìn cháu bước chông chênh
Như con chim nhỏ trên cành tập bay
Lòng già lại nhuốm cơn say
Mong cho cháu chóng đến ngày chạy chơi
Micah quý, cháu tuyệt vời
Micah khôn lớn giúp đời vui hơn.


Bà cháu

Ðôi khi bà có chuyện buồn
Nhằn thầm ông ngoại luông tuồng mấy câu:
Bây giờ ông đang ở đâu
Cơm canh tôi nấu đợi sao không về…
Bây giờ bà có Micah
Bà cưng bà bế đi ra đi vào
Gió lùa chiếc lá lao xao
Lời bà ru cháu nghe sao ngọt ngào
Ngoài hiên giọt nắng lên cao
Micah cười “rật” thảo nào bà thương
Chút tình bà cháu vấn vương
Mai sau cháu lớn cháu thương bà nhiều..
Ầu ơi chim vịt kêu chiều
Micah cười mỉm bà yêu nhất nhà.

Thơ Thi San

Cánh hạc bay lên
(Khóc các bạn đã, sẽ ra đi,… cho chính mình)

Người về ta lại thương ta
Rồi còn ai nữa, cũng là như nhau
Ngàn xưa bạc áng mây sầu
Ngàn sau như thị một mầu khói hương
Còn đây bao nỗi vấn vương
Hạc bay Anh-Vũ lầu vàng tiêu sơ
Một đi quán trọ ơ hờ
Ai về mơ vọng bến bờ ngàn thu

(Ðông-Chí 2005)

Thơ Sơn Cước

Chiều Sausalito, tiễn mẹ

Chiều xuân trên vịnh San Francisco
Chim biển bay âm vang lời tiễn biệt
Trên boong tàu tiếng khóc nào thương tiếc
Sóng ngập ngừng lưu luyến Sausalito

Thân xác mẹ hũ tro tròn lạnh buốt
Chúng con ôm như thuở mẹ ấp con
Ơi mẹ ơi từ nay mẹ đâu còn
Thương và nhớ, âm và dương cách biệt

Từng nắm tro mẹ trôi theo dòng nước
Hải lưu buồn xuôi mẹ Thái Bình Dương
Ôi đời mẹ một hải trình sóng ngược
Ði và Về. Ðau và Khổ. Yêu thương

Nhớ xưa mẹ ôm đàn con vượt biển
Ðất nước bạc tình mẹ tìm cửa tử
Ba nằm lại nơi trại tù Bắc Việt
Phút lâm chung mơ viên kẹo cầm tay (1)

“Tháng Tư” về mẹ nếm đủ đắng cay
Tấm thân gầy. Trắng tay. Mẹ xoay. Mẹ xở
Ngăn nước mắt mẹ xin Trời cứu khổ
Bước chân liều qua sóng dữ trùng dương…

Biển chiều nay lại tiễn mẹ lên đường
Bao giận thương tan cùng nắng gió
Nhìn bụi tro bập bềnh trên sóng vỗ
Chúng con cúi đầu tiễn mẹ đi xa.

(Sunnyvale, 4.2016)

(Nguồn: sangtao@org)


(1) Anh Xuân Ðiềm kể về bài tù khúc Chiếc kẹo nhỏ trong bàn tay người chết: “Nhà văn Duy Lam từ Bắc chuyển trại về Nam có tặng bài thơ nội dung nói về cái chết tức tưởi của Trung Tá Nguyễn Khoa Dánh. Nhà văn Duy Lam là người tù canh giữ trạm xá nơi Trung Tá Nguyễn Khoa Dánh kiệt sức đang nằm chờ chết. Hôm ấy, Trung Tá Dánh thều thào với nhà văn Duy Lam rằng ông thèm ngậm một viên kẹo trước khi lìa đời. Sau khi tìm được kẹo về thì Trung Tá Dánh cầm chặt viên kẹo trong tay tỏ vẻ vui mừng nhưng không ngậm được nữa vì giờ chết gần kề. Khi nhà văn Duy Lam vuốt mặt lần cuối cho người bạn tù thì viên kẹo rơi ra khỏi tay và nằm trên ngực áo. Ôi! Thương thay, đến chết mà ước mơ thật nhỏ bé cũng không thành sự thật.” (Xuân Ðiềm, t-van.net – 2012)

Thơ Nguyễn Ðình Bổn

Mùa sau
(Ngày biểu tình môi sinh 8.5.16)

Những ngày đô thị buồn tênh
tôi ra đứng ngó sông bềnh bồng mây
hồn tôi trôi giữa sông đầy
có lao xao sóng cùng lây lất về 

Những ngày thức tỉnh cơn mê
tôi ra đứng giữa tứ bề gươm đao
máu anh em máu đồng bào
máu ngàn năm cũ thấm vào hôm nay

Tôi gieo những hạt mầm này
cho con tôi gặt những ngày mùa sau…

(Nguồn: [email protected])

Thơ Lệ Thu

Mặt trận đời thường

Ôi đất nước cái ngày xong giông bão
Nắng mênh mông trong mắt chúng tôi cười
Mái tóc bớt xanh, da bớt thắm…
nửa đời
Người con gái trở về làm mẹ
Người con gái trở về băng vết thương đau xé
Viên đạn núp sau tim…


Chiếc lá

Ta sinh ra vốn là chiếc lá
xanh hết mình cho tất cả tháng năm xanh
Lúc tàn úa
(ta biết rằng không thể khác)
dòng nhựa cạn khô
và ta sẽ lìa cành!

Chiếc lá một ngày kia rơi xuống đất
bao nắng mưa ủ mục dưới chân người
ta thanh thản lẫn vào cùng vạn vật
dâng chút mỡ màu cho sự sống sinh sôi.


Không lời

Thơ buồn viết sợ phiền anh
Thơ vui viết sợ không thành câu vui
Tình yêu vốn vẫn không lời
Bài thơ em viết tặng người: Lặng im.


Sang đông

Anh đi rồi
Trống trải cả không gian
Ngày thắm thiết còn vương trên khăn, áo
Mùa thu hết
Ngoài trời chưa mưa bão
Em một mình đối diện với cơn mưa.



Lời của mắt

Phút biết anh là phút gặp mắt anh nhìn
Phút hiểu anh cũng là phút ấy
Vì giếng quá trong nên dễ nhìn thấy đáy
Vì mắt quá trong nên mắt nói quá nhiều

Có lẽ mắt muôn đời vẫn nói hộ lời yêu
Em chẳng dám nhìn nhiều – đôi mắt ấy
Ðừng hỏi em không nhìn sao thấy
Cho em hỏi một lời: sao anh cứ nhìn em?


Người thơ

Một mình chưng cất buồn vui
Lòng như than đỏ cháy vùi trong tro
Ngọt ngào dốc cạn đem cho
Ðắng cay giữ lại đầy kho tặng mình
Hững hờ trong cuộc mưu sinh
Ðắm say muôn kiếp cõi tình lẻ loi
Trái tim mộng mị khóc, cười
Buộc nhau chỉ sợi tơ trời mong manh.

(Qui Nhơn-Việt Nam)

Thơ Hoang Vu


Cali Mùa Hạ

Khi em thấy những chùm hoa phượng tím
Nở đầy cây là biết đã vào hè
Ở Cali còn ai nhớ tiếng ve
Nghe da diết với nắng vàng rực rỡ

Em sẽ gặp phố quen Sài Gòn nhỏ
Rất thân thương như đang sống quê nhà
Với con đường mang tên gọi Bolsa
Ngày lễ hội ở đây tưng bừng lắm

Em sẽ gặp bạn bè xưa tình thắm
Ghé biển chơi nghe sóng vỗ dạt dào
Ðứng trên bờ em sẽ thấy xôn xao
Lời tình tự gió ngàn năm vẫn thế

Em có lẽ đã từng nghe ai kể
Ðến Cali là đi dễ khó về
Ðến Cali là có thể sẽ mê
Là thủ đô người Việt Nam viễn xứ

Bài hát cũ đã trở thành quá khứ
Mỗi mùa hè nghe lại nỗi ưu tư
Vội ra đi quên câu nói giã từ
Và như thế tuổi học trò tiếc mãi.



Minh Ðức mái trường xưa

Tôi cám ơn Minh Ðức mái trường xưa
Dẫu bây giờ không còn tên gọi nữa
Tôi vẫn nhớ những lời ngày xưa hứa
Lúc chia tay để bước xuống cuộc đời

Tôi cám ơn Minh Ðức nhớ lại thời
Lớp học tôi nhiều tên phá như giặc
Bỏ ngoài tai những lời thầy cô nhắc
Nên đã rớt không thi đậu tú tài

Tôi cám ơn con đường những sớm mai
Vẫn bình yên đón chân người qua lại
Tiếc cho ai đã qua thời con gái
Chưa một lần đứng lại nhìn lá rơi

Tôi cám ơn tiếng chuông báo giờ chơi
Giữa sân trường tìm nhau trao lưu bút
Với tiếng ve gọi mùa hè cao vút
Không xa lạ sao nghe cảm giác buồn

Tôi cám ơn những kỷ niệm nhớ thương
Vì đang sống ở xứ người xa lắm
Nơi không có hoa phượng mầu đỏ thắm
Nở mùa hè gợi nhớ mái trường xưa

([email protected])

Garden Grove: Trộm viếng tiệm tạp hóa, hốt hết vé số cạo

GARDEN GROVE, Nam California (NV) Hai tay trộm sáng sớm Thứ Ba chơi bạo, dùng dây buộc cửa một tiệm tạp hóa vào xe rồi kéo sập, sau đó chuồn lẹ với mớ vé số cạo.

 
 (Vé số cạo: Getty Images/Frank Perry)

Theo đài ABC 7, biến cố xảy ra vào lúc gần 3 giờ sáng tại tiệm tạp hóa ở khu phố số 13600 trên đường Euclid.

Chủ nhân nói, video an ninh cho thấy hai tên trộm phái nam đã buộc cửa trước vào xe van rồi kéo sập.

Sau đó họ xông vào tiệm, hốt hết mớ vé số cạo, rồi tìm cách mang theo máy rút tiền ATM nhưng vì dây đứt nên đã chuồn lẹ trong vòng hai phút.

Chủ nhân cho biết tổng số vé số cạo bị mất trị giá vào khoảng $7,000.

Tiệm tạp hóa này đã từng bị trộm đến viếng vào Tháng Mười Một năm ngoái, cũng theo phương pháp tương tự.

Một vụ khác xảy ra vào tuần lễ trước đây tại một tiệm khác cách xa khoảng nửa dặm. Không rõ hai vụ có liên hệ gì hay không.

Tuy nhiên, trung úy cảnh sát Bob Bogue nhận xét: “Thật khá trùng hợp là hai tiệm cách nhau chỉ nửa dặm, xảy ra vào cùng thời gian và một chiếc mini van được sử dụng.”

Cuộc điều tra về vụ trộm đang được tiến hành.

Nhà chức trách cho biết, có nhiều cách để kẻ trộm vé xố cạo không thể lãnh thưởng các vé trúng được. (TP)

Chỉ có tình thương mới cứu rỗi dân tộc này


Song Chi

Không nằm ngoài dự đoán, cuộc biểu tình phản đối môi trường biển bị ô nhiễm và cách xử lý chậm chạp, không minh bạch của nhà nước Cộng Sản Việt Nam (VN) trước thảm họa chưa từng có vào sáng ngày 8 tháng 5, 2016 vừa qua đã bị nhà cầm quyền thẳng tay ngăn chặn và đàn áp, nhất là ở Sài Gòn. Máu của người dân đã đổ, không phải trong chiến tranh mà giữa thời bình, bởi những kẻ được nuôi bằng đồng tiền thuế của nhân dân – từ lực lượng công an cho tới Thanh Niên Xung Phong (TNXP), công an chìm mặc thường phục trà trộn trong đám đông người biểu tình và bọn côn đồ được nhà nước thuê.


Công an đánh dân biểu tình – 2016. (Hình: Facebook)

Như từ trước tới giờ vẫn thế, những cuộc biểu tình dù với lý do phản đối những hành vi gây hấn, xâm phạm chủ quyền VN của Trung Quốc hay phản đối chặt cây xanh, bảo vệ môi trường… chỉ có thể diễn ra suôn sẻ một, hai lần, sau đó là bị đàn áp.

Dù biết vậy nhưng nhìn những hình ảnh người dân, trong đó có cả phụ nữ, trẻ em bị đánh đấm, đạp… đổ máu, bị kéo lôi xềnh xệch giữa phố, bị quẳng lên xe như súc vật, người ta vẫn không khỏi bàng hoàng tự hỏi vì sao nhà cầm quyền lại có thể đối xử như vậy với những người dân chỉ có một mong muốn là biển phải được trả lại sự trong sạch, và con người có thể được sống trong một môi trường trong lành hơn?

Và tất cả đám công an chìm, công an nổi, dân quân tự vệ, TNXP… hung hãn đánh đập người biểu tình, đám dư luận viên, bồi bút hạng quèn cho tới cao cấp hơn đang ra sức bên vực đảng, bênh vực chế độ, thóa mạ, bôi nhọ, vu khống những người mong muốn VN chuyển dịch về hướng tự do, dân chủ kia, đảng đã nhồi sọ, giáo dục chúng thế nào mà chúng căm thù người ta đến thế?

Lòng thù hận, cũng là một thứ bạo lực, như lửa đốt trong lòng, khiến bọn chúng có mắt nhìn mà không thấy, có đầu óc mà không biết suy nghĩ, không phân biệt đúng sai, có miệng nhưng chỉ thốt ra toàn lời đê tiện.

Nếu nhìn lại lịch sử VN chúng ta sẽ thấy đất nước này nhiều chiến tranh, tang thương, bạo loạn hơn hòa bình, yên vui. Còn nếu nhìn lại lịch sử đảng Cộng Sản VN, ngay từ buổi đầu thành lập cho tới ngày hôm nay, cũng giống như lịch sử của mọi đảng Cộng Sản khác trên thế giới, chỉ là bạo lực, bạo lực và bạo lực. Bạo lực để cướp chính quyền. Bạo lực để giữ chính quyền.

Chủ nghĩa Mác đã phân chia con người thành những giai cấp, những đối tượng chính trị khác nhau để có những cách ứng xử khác nhau. Xã hội do vậy bị phân loại, chia rẽ, thù hằn. Khi đem áp dụng vào đất nước mình, những quốc gia chưa được xem là tiến bộ, văn minh, cộng với những hệ lụy của một xã hội phong kiến và văn hóa Nho giáo hủ cựu, đảng Cộng Sản Trung Quốc cũng như đảng Cộng Sản VN đã tạo ra những thảm kịch kinh hoàng, những vết thương khó hàn gắn.

Với VN, đó là những bi kịch mang tên “Cải Cách Ruộng Ðất,” “Nhân Văn Giai Phẩm,” “Vụ Án Xét Lại,” 20 năm cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn, rồi nào “học tập cải tạo,” “thuyền nhân,” “chủ nghĩa lý lịch,” “cải tạo tư sản mại bản,” “cải tạo công thương nghiệp,” “dân oan.”

Chính chủ nghĩa Mác Lênin cộng với đường lối chính sách lãnh đạo, tầm nhìn hẹp hòi của đảng cộng sản đã khiến xã hội VN bị phân hóa, chia rẽ sâu sắc. Và càng ngày, khi chế độ này càng trở nên độc tài hơn thì nó càng đối xử với nhân dân tệ hại hơn.

Chế độ này đã sinh ra từ bạo lực, lớn lên bằng bạo lực, được duy trì bằng bạo lực. Cộng với việc bóp nghẹt mọi giá trị tự do dân chủ, nhân quyền, chà đạp lên luật pháp, chính trị hóa và ngu dân hóa giáo dục, coi khinh tôn giáo… đảng Cộng Sản đã tạo ra một xã hội mà ở đó sự tử tế, cái đẹp, cái thiện, nhân tính dần dần biến mất, sự không tử tế, cái xấu, cái ác, thú tính ngày càng phát triển như cỏ dại, góp phần làm cho bạo lực càng lên ngôi.

Ðể đối phó với một xã hội nát bét như thế thì sử dụng bạo lực càng làm cho dân tộc VN thêm chóng bị diệt vong mà thôi.

Chỉ có tình thương mới cứu rỗi dân tộc này.

Bằng tình thương đối với chính chúng ta, với đồng bào và với các thế hệ tương lai, người Việt xuống đường đòi lại quyền tự do, dân chủ, quyền làm người, quyền được sống trong một xã hội an toàn, tử tế, tốt đẹp hơn.

Bằng tình thương người Việt đối diện với lực lượng công an, côn đồ… đang dùng bạo lực với nhân dân kia và cảm hóa họ, mở mắt cho họ, rằng họ đang chống lại ai và đang bảo vệ ai. Bằng tình thương người Việt đối thoại với đám bồi bút, dư luận viên, lập luận với họ, chỉ cho họ đúng sai, lẽ phải nằm ở đâu.

Và ngay cả với đám quan chức, lãnh đạo. Rằng nếu chống lại khát vọng thay đổi của nhân dân, chống lại xu hướng dân chủ hóa của đất nước đến cùng, họ sẽ chỉ tự chọn cho mình một lối thoát cuối cùng là phải trốn chui trốn nhủi cùng trời cuối đất, tài sản bị phong tỏa, hoặc phải bị đưa ra tòa án nhân dân xét xử sau này. Còn nếu tỉnh ngộ, đi với nhân dân, họ sẽ luôn luôn có đường sống, kể cả đóng góp cho chính quyền mới. Kinh nghiệm từ tất cả các quốc gia hậu cộng sản trên thế giới đã chứng tỏ điều đó, trừ một vài cá nhân phạm tội ác chống lại con người hay phản quốc bị truy tố, còn lại chẳng có cuộc trả thù, tắm máu nào cả. Chọn lựa cái kết nào là tùy ở họ.

Bao nhiêu năm qua, đảng Cộng Sản đã rất thành công khi tạo nên sự nghi ngờ giữa người Việt với nhau. Bằng tình thương người Việt mới thôi nghi kỵ chỉ trích nhau, vượt qua mọi rào cản về quá khứ, tôn giáo, thành phần xã hội, những khác biệt còn lại trong quan điểm chính trị… để cùng đứng chung một trận tuyến – đòi lại tự do dân chủ, quyền tự quyết cho dân tộc, xây lại khuôn mặt mới cho quê hương.

Số phận của VN đã quá nghiệt ngã trong suốt thế kỷ XX cho tới hiện tại. Dân tộc này đã quá đủ đau thương, mất mát, hận thù. Ðất nước đã bị đục khoét, băm vằm, đem cho thuê, bán, cầm cố… bao nhiêu năm, rừng vàng biển bạc, vựa lúa cánh cò bay thẳng cánh cho tới khoáng sản dưới đất chẳng còn lại gì, ngoài một đống nợ chất chồng lên đầu lên cổ các thế hệ tương lai.

Không thể để người VN cứ phải còng lưng đóng thuế nuôi một bộ máy chính quyền bất lực, tham nhũng, coi dân như kẻ thù và coi giặc là bạn, rồi phải trả nợ, gánh nợ cho cái bộ máy làm thì ít mà ăn thì nhiều và phá còn nhiều hơn nữa, nhưng lại chẳng có bất cứ một quyền gì đối với đất nước mình. Kể cả quyền được bộc lộ lòng yêu nước.

Không thể để người Việt tiếp tục phải bỏ nước ra đi làm thuê, làm gái, làm dâu khắp thế giới, nếu thành đạt thì cũng là đem trí tuệ đóng góp cho nước người. Hoặc phải cúi mặt xuống ở xứ người ta mỗi khi nghe những tin tức đáng xấu hố về đất nước, con người VN.

Không thể để VN trở thành một vùng đất, một quê hương chỉ để thương để nhớ về, chứ không thể sống.

Nhưng nếu dùng bạo lực để lật đổ chế độ sẽ chỉ đem lại hỗn loạn, chia rẽ và bi kịch thêm.

Chỉ có tình thương mới cứu chuộc dân tộc này. Khỏi cái quả đắng từ những cái nhân sai lầm, và tội lỗi của các thế hệ đi trước. Khỏi kiếp nạn Cộng Sản. Khỏi họa diệt vong, mất nước.

Ðể VN có thể hồi sinh lại từ trong hoang tàn, đổ nát.

[Nguồn: Blog Song Chi (RFA)]

Nhân việc dựng tượng Ðức Thánh Trần Ở Little Saigon

Sự hình thành của siêu quốc gia Việt Nam ở thiên niên kỷ thứ ba



Phạm Cao Dương

LTS: Vốn là một bài diễn văn đọc nên có những đoạn nhắc lại những ý tưởng mà tác giả muốn nhấn mạnh, chúng tôi cho đăng nguyên văn để độc giả thấm tư tưởng và tấm lòng của tác giả. Trân trọng (QV)



GS Phạm Cao Dương

Biến cố 30 Tháng Tư 1975 đã bẩy tung người Việt tị nạn ra khắp thế giới, xa cách quê hương và người thân của họ cả ngàn vạn dặm. Ðó là một sư thực lịch sử không ai chối cãi dược. Có điều trong cái rủi vẫn có cái may, biến cố này đã đưa tới sự hình thành của Cộng Ðồng Việt Nam Hải Ngoại, thành phần thứ hai của dân tộc Việt Nam phát triển mạnh mẽ và độc lập đối với thành phần thứ nhất còn lại ở quê nhà. Hậu quả là đến ngày nay, sau người Anh của Thế Kỷ 19, chỉ còn người Việt Nam là có thể hãnh diện để dạy con cái mình rằng, “Mặt trời không bao giờ lặn trên những phần đất có người Việt Nam cư ngụ.”

Từ cuộc di cư vĩ đại này, sự hình thành của một Siêu Quốc Gia Việt Nam đã bắt đầu với những con người của thế giới hữu hình xuất phát từ mảnh đất nhỏ bé bên bờ phía tây của Thái Bình Dương. Nó đã được hoàn tất bằng một biến cố khác mang tính cách tâm linh, vô hình và truyền thống của dân tộc Việt: việc dựng tượng Ðức Thánh Trần Hưng Ðạo vào mùa thu năm 2014, 39 năm sau. Một cơ hội lớn, ngàn năm một thuở đã mở ra cho dân tộc chúng ta.

Tôi không rõ trên giấy tờ liên lạc với Tòa Thị Chính thành phố Westminster, thuộc Quận Cam, California, ban tổ chức dựng tượng đã dùng danh xưng gì để gọi tượng nhưng ở đây tôi xin được phép dùng danh xưng là Tượng Ðức Thánh Trần. Tôi dùng danh xưng Ðức Thánh Trần là vì đây là danh xưng mà quảng đại dân gian Việt Nam từ Bắc chí Nam đã dùng và bây giờ ở hải ngoại nên dùng, để vừa tỏ ý sự tôn kính, vừa biểu lộ lòng yêu thương, gần gũi hơn là các danh xưng Hưng Ðạo Vương Trần Quốc Tuấn hay Trần Hưng Ðạo… những danh xưng được nói tới nhiều hơn trong học đường hay trong sách vở. Ðiều này cũng có nhiều lý do, tôi xin được lần lượt trình bày trong bài viết này.

Ðức Thánh Trần là nhân vật lịch sử duy nhất được dân gian coi là đã hiển linh che chở giúp đỡ mọi người, chống lại tà ma quỷ quái, từ đó được mọi người coi như một vị thánh của cả dân tộc. Khác với các nhân vật lịch sử khác như Hùng Vương, Hai Bà Trưng, Triệu Quang Phục, Lý Thường Kiệt, Lê Thái Tổ, Quang Trung Nguyễn Huệ,… tất cả đều có đền thờ và được dân chúng địa phương quanh năm hương khói và đến ngày kỵ đều được các quan lại địa phương hàng năm chính thức đến tế. Chỉ riêng có Trần Hưng Ðạo ngoài đền thờ còn được coi là đã hiển linh để phủ hộ, giúp đỡ đồng bào của mình, che chở mọi người chống lại tà ma, quỉ quái. Ðức Thánh Trần với các con trai và các gia tướng của Ngài như Yết Kiêu, Dã Tượng luôn luôn được truyền tụng là đã hiển linh trong các công tác này. Những chuyện như Phạm Nhan chuyên môn tìm ăn máu dơ của phụ nữ làm cho họ bị mắc bệnh, mảnh chiếu lấy từ đền thờ của ngài là những chuyện phổ thông trước đây ai cũng biết.

Một sự kiện liên hệ khác ít ai biết tới là sự hiển linh của Ðức Thánh Trần và sự tin tưởng của quần chúng vào sự hiển linh này đã đưa tới sự hình thành của một tôn giáo mới của người Việt gọi là Nội Giáo. Nội Giáo là tôn giáo từ bên trong để phân biệt với Ngoại Giáo du nhập từ bên ngoài mà ngài là vị thần chính được thờ. Nội Giáo là tôn giáo riêng của người Việt Nam, của nước Việt Nam độc lập. Sự xuất hiện của Nội Giáo với Thánh Ðịa là Ðền Kiếp Bạc đã nói lên tinh thần độc lập của người Việt mà cho tới thời Ngài chưa có. Cùng với Thánh Mẫu Liễu Hạnh, một trong “Tứ Bất tử” [1] của người Việt, Ngài đã được thờ như vị Cha chung của cả dân tộc:

Tháng Tám giỗ Cha, Tháng Ba giỗ Mẹ.

Tháng Tám âm lịch từ ngày 16 đến ngày 18 là ngày giỗ Ðức Thánh Trần và trong 10 ngày từ 1 đến 10 Tháng Ba âm lịch là ngày Hội Phủ Giầy ở làng Tiên Hương, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Ðịnh là ngày giỗ Chúa Liễu Hạnh, hai ngày hội lớn được rất đông người tới dự trước kia, trước thời chiến tranh và đông hơn rất nhiều trong thời hiện tại. Hội Phủ Giầy được tổ chức hàng năm là hội lớn nhất, vui nhất, có nhiều trò chơi nhất. Con số người tham dự càng ngày càng gia tăng, gia tăng gấp bội so với thời Pháp thuộc, trong đó có rất đông các cán bộ Cộng Sản “đi xe con tới dự.”

Chưa hết, song song với truyền thống thờ Ðức Thánh Trần và Chúa Liễu Hạnh, người Việt Nam còn có tục lên đồng. Nếu Ðức Thánh Trần và Chúa Liễu Hạnh chỉ được chính thức thờ ở các đền thì trong dân gian, các ngài được thờ ở rải rắc khắp nơi qua các đền miễu do các cộng đồng địa phương lớn nhỏ, do tư nhân xây dựng và được các ông đồng, bà đồng coi giữ. Nơi đây các cuộc lên đồng thường xuyên được thực hiện, kể cả hiện tại ở Westminster, ở Garden Grove ở hải ngoại mà người viết đã có dịp nhiều lần tới dự và rất vui khi thấy một tín ngưỡng xưa, có thời bị bài bác, nay lại sống lại ở nơi đất khách quê người.

Chính ở những nơi này, lịch sử của dân tộc Việt Nam, đúng hơn những bài dã sử, đã được gìn giữ xuyên qua những bài hát chầu văn, một thứ văn chương, âm nhạc vô cùng phong phú cho tới nay đã được nhiều học giả Việt Nam và ngoại quốc sưu tầm, nghiên cứu, tìm hiểu một cách khoa học tương đối đầy đủ, tường tận và bao dung hơn.

Người Tàu và người Hy Lạp khi rời bỏ quê hương ra đi tị nạn hay lập nghiệp ở hải ngoại cũng đã mang theo thần linh của họ.

Cuối cùng, sự kiện các dân di cư tị nạn khi ra đi đã mang theo các thần của mình là một sự kiện đã xảy ra từ lâu trong lịch sử nhân loại. Dân Hy Lạp trong các thế kỷ thứ bảy và thứ tám kéo dài đến hết thế kỷ thứ năm trước Thiên Chúa, khi có những cuộc tranh chấp nội bộ ở các đô thị-quốc gia, những city-states, những polis, của họ, điển hình là hai đô thị Athens và Sparta, các phe bại trận bị loại trừ (ostracized, ostracism) phải bỏ xứ mà đi. Họ đã tạo nên một đường viền Hy Lạp chung quanh Ðịa Trung Hải với những đô thị-quốc gia, những polis mới ở Nam Âu, ở Tây Á và luôn cả ở Phi Châu. Khi ra đi họ đã mang theo văn minh Hy Lạp và đặc biệt là các thần linh Hy Lạp của họ.

Với những yếu tố văn minh, văn hóa và đặc biệt là tín ngưỡng này, những đô thị-quốc gia mới của họ, mặc dù vẫn giữ được những liên hệ lịch sử, văn minh và văn hóa với các đô thị mẹ ở chính quốc, đã trở thành hoàn toàn độc lập với các đô thị-quốc gia mẹ, đã tự mình đứng vững và phát triển, không còn bị các quốc gia-đô thị mẹ chi phối về phương diện chính trị và sinh hoạt hàng ngày nữa.

Người Tàu khi di cư ra khỏi quê hương của họ cũng làm những việc tương tự. Bằng chứng là các “chùa Tàu” đã hiện diện ở khắp thế giới và ở miền Nam Việt Nam rất nhiều, đặc biệt là ở Saigon. Tất cả đã trở thành những nơi thăm viếng mà du khách khi tới Saigon đều phải biết và ít nhiều ghé qua. Chính người viết bài này hồi trước năm 1975, khi dẫn sinh viên đi du khảo quanh vùng thủ đô Saigon, cũng đã ghé thăm những nơi được coi là “cổ tích liệt hạng” này. Ðiều đáng để ý là những nơi này luôn luôn có nhiều khách hành hương tới viếng trong đó rất đông là người Việt. Nơi đây khói hương ngày đêm nghi ngút, không bao giờ tàn lạnh.

Dựng tượng Ðức Thánh Trần không chỉ là để tôn vinh một vị anh hùng có công ơn bậc nhất của cả dân tộc mà còn biểu lộ tinh thần độc lập của người Việt hải ngoại là chỗ dựa tinh thần của người Việt nhằm hướng tới một siêu quốc gia Việt Nam của thiên niên kỷ thứ ba.

Cho tới nay, cộng đồng người Việt ở hải ngoại đã được ngoài 40 tuổi, đã trải qua giai đoạn sống còn, đã mỗi ngày mỗi thêm vững mạnh về đủ mọi phương diện để trở thành thành phần thứ hai độc lập với thành phần thứ nhất của dân tộc Việt Nam.

Cộng đồng hải ngoại của chúng ta trẻ trung hơn, năng động hơn, có tiềm năng hiểu biết cập nhật hơn, có nhiều khả năng phát triển hơn nhờ đã hình thành và phát triển trong những quốc gia tân tiến nhất trên thế giới, so với thành phần thứ nhất mỗi ngày già cỗi hơn, mòn mỏi hơn, kiệt lực hơn, không còn đủ khả năng nhận thức và ngay cả sử dụng những khả năng trí tuệ vẫn còn tồn tại không ít của mình. Tuổi trẻ Việt Nam ở hải ngoại có thể vào và đã vào bất cứ một đại họcdanh tiếng nào nếu các em mong muốn và được cha mẹ khuyến khích. Rất đông các em đã đạt được điều này. Cộng Ðồng Việt Nam Hải Ngoại đã tự mình hội đủ mọi điều kiện để tự đứng vững. Chúng ta đã có đầy đủ nếu không nói là khá đông các chuyên viên trí thức thượng thặng từ các khoa học gia, các giáo sư đại học, các học giả tốt nghiệp từ các học viện lớn và hiện đang phục vụ trong các trung tâm, các viện nghiên cứu bậc nhất trên thế giới để góp sự hiện diện của mình với các sắc tộc khác. Chúng ta cũng đã có những chỉ huy cao cao cấp trong quân đội, kể cả tướng lãnh. Hãy tưởng tượng hình ảnh một vị chỉ huy dẫn đầu nhiều ngàn sĩ quan, binh sĩ dưới quyền, thuộc đủ mọi thành phần, chủng tộc, dẫn đầu các cuộc thao diễn, dẫn đầu họ chạy bộ hàng ngày hay nghiêm chỉnh chào cờ trong căn cứ của đơn vị mình. Vị chỉ huy đó là người Việt. Anh là vị tướng đi sát với binh sĩ của mình, tướng của trận mạc, không phải tướng của phe phái, nói cách khác, tướng cảnh. Con em của chúng ta đó! Hãnh diện biết là chừng nào! Chúng ta cũng có những chỉ huy trưởng khu trục hạm tối tân nhất của Hải Quân Hoa Kỳ, những nữ đại tá người nhỏ thó chỉ đứng đến nách những đồng sự hay thuộc cấp của mình nhưng vẫn được họ chào kính một cách trịnh trọng. Họ cũng là con em của chúng ta đó. Hãnh diện biết là chừng nào! Họ thuộc thế hệ một rưỡi, luôn cả thế hệ thứ hai của tị nạn Việt. Tất cả đều vẫn còn thông thạo tiếng Việt, đã trả lời dễ dàng, trôi chảy các cuộc phỏng vấn bằng tiếng Việt. Tất cả đều đã trở thành “người, ”đã “nên người, ” đã lập được sự nghiệp trên quê hương mới mà không cần tới sự trợ giúp của các “đỉnh cao trí tuệ của loài người.”

Chưa hết! Bây giờ thì họ đã ngồi lại với nhau để trở thành một lực lượng quân nhân gốc Việt trong quân đội Hoa Kỳ và sẽ dẫn đường cho thế hệ thứ ba. Cầu mong các em sẽ thành công mỹ mãn. Trong địa hạt chính trị, người Việt nay cũng đã đi rất sâu và rất cao trong hệ thống chính quyền của nhiều nước, ở đủ cả ba ngành, ngay cả ở cấp trung ương. Nhiều người trẻ cũng đã xuất hiện và đã thành công xuất sắc. Họ thông thạo ngôn ngữ, được học, được sống và hiểu biết về xã hội nơi họ đang cư ngụ. Họ bắt đầu thay thế cho thế hệ cha anh đã đến tuổi xế chiều, nhưng vẫn hiểu biết về Việt Nam và thông thạo tiếng Việt. Trong tương lai, các em sẽ còn đi xa và lên cao hơn nữa.

Sang một địa hạt khác gần gũi với mọi người hơn là địa hạt giáo dục. Ở đây tôi chỉ nói vế các cấp trung tiểu học và mẫu giáo, những cấp học cơ bản liên hệ trực tiếp tới các em nhỏ của chúng ta trong cộng đồng. Con số những thày cô giáo người Việt hiện diện trong các trường địa phương mỗi ngày một nhiều. Nghề làm thày cô giáo không còn bị chê so với các nghề khác như trong những thập niên đầu. Nhiều người tỏ ra đã yêu mến nghề dạy học ngay từ khi còn học ở bậc trung và luôn cả tiểu học. Họ đã đạt được ước vọng và sau nhiều năm hành nghề vẫn tỏ ra yêu nghề hơn bao giờ hết. Nhiều người đã chuyển sang cấp chỉ huy làm hiệu trưởng, phó hiệu trưởng các trường khi chán phụ trách lớp.

Nên nhớ là, ít ra là ở Mỹ, dạy ở cấp nào cùng được coi là quý, là trọng, không nhất thiết là ở bậc đại học, nơi kiếm được một chỗ làm rất khó vì rất hiếm vì sự cạnh tranh giữa các sắc dân Á Châu rất nhiều và nạn bè cánh, phe phái rất cũng không phải là hiếm. Yếu tố quan trọng mà các em phải dựa vào để lựa chọn là chính mình, là thiên tư và hạnh phúc của chính mình. Kinh nghiệm của cha mẹ, ông bà của các em và những người đi trước thuộc thế hệ của các ngài cũng vẫn còn là những gì đáng quý cho các em khi chọn ngành và nhất là khi hoạt động cộng đồng.

Ðể hướng về các con em nhỏ trong cộng đồng, riêng ở miền Nam California hàng trăm trung tâm Việt Ngữ đã được thành lập ở các chùa, các nhà thờ hay các lớp mượn của các trường địa phương trong những ngày cuối tuần do các thày cô đã về hưu hay các sinh viên đại học phụ trách. Hàng ngàn thầy cô đã tham gia công tác này với hàng chục ngàn trẻ em được cha mẹ mang tới dự. Hãy tưởng tượng các vị này đã kiên trì, cố gắng như thế nào để cứ tình nguyện mỗi cuối tuần mỗi đến, tuần này qua tuần khác, tháng này qua tháng khác, năm này qua năm khác, thường xuyên dạy các em, không nửa chừng bỏ dở. Họ âm thầm làm công việc của mình và dường như ít được cộng đồng biết đến, thăm viếng và khích lệ.

Cộng đồng của chúng ta đã độc lập, đã tự đứng vững và phát triển trong suốt 41 năm qua không hề phải nhờ và vào chính quốc. Trái lại, hàng chục tỷ đô la hàng năm đã được gửi về dưới hình thức này hay hình thức khác, làm giàu cho các cán bộ và các đại gia ở trong nước và gián tiếp giúp họ chuyển tiền ra ngoại quốc phòng ngừa khi tháo chạy. Có điều thay vì để yên cho thành phần thứ hai của dân tộc ở hải ngoại phát triển để hỗ trợ lẫn nhau, cùng nhau song song phát triển, cùng hướng tới một tương lai dài nhằm biến dân tộc Việt Nam thành một dân tộc lớn của nhân loại thì các “đỉnh cao trí tuệ” ở trong nước đã coi nó như một con gà đẻ trứng vàng, tìm cách ảnh hưởng tới nó, bắt nó đẻ nhiều hơn, thậm chí bắt và giết nó.

Lịch sử dân tộc Việt Nam phải được tính bằng ngàn năm

Trong một bài viết trước đây, nhằm kỷ niệm một ngàn năm Lý Thái Tổ từ Hoa Lư thiên đô ra Thăng Long, đăng trong Tập San Thế Kỷ 21, số 1, số ra mắt, người viết có đưa ra cái nhìn hơi khác về lịch sử của dân tộc Việt Nam. Ðó là lịch sử phải được tính bằng ngàn năm với ba dấu mốc chính: 111 trước Tây Lịch, 1010 sau Tây Lịch và những năm hiện tại của thiên niên kỷ thứ ba mà chúng ta đang sống, chứ không thể chỉ tính bằng chục năm, bằng trăm năm như lịch sử bình thường. Nhìn như thế để chúng ta có thể thấy những điều vô nghĩa mà nhiều người đã và đang làm. Nhìn như thế đế chúng ta có thể lạc quan về tương lai của dân tộc Việt Nam qua sự hình thành của cộng đồng người Việt ở hải ngoại trong thế kỷ 21 này.

Cơ hội ngàn năm một thuở: mặt trời không bao giờ lặn trên những miền đất có người Việt cư ngụ

Sự hình thành của Cộng Ðồng Việt Nam Hải Ngoại coi như thành phần thứ hai của dân tộc là một cơ hội ngàn năm một thuở chúng ta có được, sau khi người dân Việt Nam đã phải trải qua nhiều chục năm dài đầy chiến tranh, đau thương, chết chóc và bất hạnh. Biến cố bi thảm 1975 đã bẩy tung bà con chúng ta ra khắp thế giới để rồi sau ngót bốn mươi năm cũng họ, cũng những bà con đã bị bẩy tung ra khắp thế giới, bây giờ là người Việt hải ngoại đã định cư và đã thành công ở khắp năm châu, không nơi nào là không có. Chúng ta đã không có được một lãnh thổ duy nhất, một chính quyền chung nhưng chúng ta có những con người, có chung một lịch sử, một nguồn gốc, đã ra đi trong cùng một hoàn cảnh, một thời điểm.

Nói một cách khác, chúng ta đã có một siêu quốc gia Việt Nam không có lãnh thổ, không có chính quyền, không có thủ đô nhưng tất cả đều nằm sâu thẳm trong lòng mọi người dân của mình. Một siêu quốc gia như vậy thích hợp hơn với sinh hoạt quốc tế trong thời hiện tại, thời mà biên giới giữa các nước đã mờ dần trước sự phát triển chung của cả loài người.

Nếu như trong thế kỷ 19, một học sinh người Anh được học rằng, “Mặt trời không bao giờ lặn trên đế quốc Anh” thì khác đi một chút, kể từ thế kỷ 20, một học sinh Việt Nam phải được học rằng, “Từ sau năm 1975, mặt trời không bao giờ lặn trên những miền đất có người Việt Nam cư ngụ.” Người Tàu cũng có thể nói câu tương tự. Họ cũng hiện diện ở khắp nơi trên thế giới nhưng vẫn không thể so sánh với người Việt. Lý do là vì người Tàu bỏ nước ra đi là họ chọn tha phương cầu thực, do họ chọn lựa còn người Việt thì không được chọn lựa. Sau ba chục năm triền miên đầy đau thương giết tróc với ít ra là bốn năm triệu người đã bị hy sinh, nước mắt tràn ngập khắp Trường Sơn, ra tận Biển Ðông. Người Việt đã bất đắc dĩ phải ra đi mà không biết sẽ đi đâu. Ðến bây giờ thì tự mình và với sự giúp đỡ của các chính quyền và của người địa phương, bất chấp những sự dè bỉu, mỉa mai của nhà cầm quyền ở trong nước trong những năm đầu, các cộng đồng Việt Nam ở khắp nới trên thế giới đã trở thành vững mạnh thực sự so với thành phần còn lại ở trong nước.

Bổn phận của chúng ta là phải bảo vệ và phát triển nó. Chúng ta không thể để cho những người đang nhận sự giúp đỡ vô cùng to lớn của cộng đồng chúng ta, coi cộng đồng chúng ta là con gà mái đẻ trứng vàng bắt nó đẻ nhiều hơn, đẻ mãi, lợi dụng và giết nó. Chúng ta cũng phải lo cho chính chúng ta và con cháu chúng ta. Chúng ta đang sống ở đây và sẽ chết ở đây. Con cháu chúng ta cũng vậy. Những thế lực luôn luôn gây bất ổn từ bảy mươi năm qua sẽ không tha chúng ta, không để cho chúng ta yên. họ luôn luôn muốn làm chủ chúng ta rồi làm chủ con cháu chúng ta như họ đã làm ở trong nước, bây giờ là cộng đồng người Việt ở hải ngoại, cơ hội ngàn năm một thuở của chung cả dân tộc, cơ hội sẽ đưa dân tộc ta thoát khỏi tình trạng nhỏ bé và chậm tiến.

Bất cứ hành động nào phá hoại Cộng Ðồng Việt Nam Hải Ngoại đều là một tội đại ác đối với dân tộc. Có điều họ sẽ bất cần, sẽ tiếp tục như họ đã làm trong quá khứ như các năm 1954, 1975. Nhưng họ sẽ không làm gì được chúng ta. Chiêu bài độc lập thống nhất không còn hiệu nghiệm nữa. Chuyện đó qua rồi. Cộng Ðồng Việt Nam Hải Ngoại của chúng ta đã vững mạnh và luôn luôn được các nhà cầm quyền và luật pháp bản xứ che chở. Chúng ta cũng đã có đủ mọi khả năng để tự mình đứng vững, nhất là kể từ bây giờ, với sự phù hộ ngày đêm của Ðức Thánh Trần và bên cạnh Ngài là Chúa Liễu Hạnh.

Chúng ta không cần phải có sự giúp đỡ từ bên ngoài, nói trắng ra là từ những người này. Phạm Nhan đã bị chém đầu từ bảy thế kỷ trước tuy vẫn còn lảng vảng khắp nơi để kiếm máu dơ của phụ nữ nhưng y sẽ không làm gì được chúng ta vì chúng ta đã có Ðức Thánh Trần và Chúa Liễu Hạnh luôn luôn hiển linh và che chở cho chúng ta. Chúng ta hãy cùng nhau giữ cho tượng Ngài quanh năm sạch sẽ và nếu có, hương khói lúc nào cũng nghi ngút, để trở thành một thắng tích bất cứ ai ghé Little Saigon đều phải ghé qua để tỏ lòng tôn kính Ngài.

Ðể kết luận, tôi mượn chữ và ý của nhà văn Ngô Nhân Dụng. [2] Chúng ta đã đứng vững ít ra là hai ngàn năm và chắc chắn sẽ còn đứng vững thêm nhiều ngàn năm nữa. Vấn đề là do chúng ta. Chúng ta đã khơi lại được mạch sống của bảy trăm năm trước. Chúng ta có sống lại được với sức sống do tiền nhân truyền lại cho chúng ta hay không?

Ðiều này tùy thuộc ở chính chúng ta. Chúng ta sẽ coi quyền lực, danh lợi tiền bạc của cá nhân hay phe nhóm là trọng hay sự tồn vong và phát triển của cả cộng đồng, cả dân tộc Việt Nam và tới một giới hạn nào đó, sứ mạng Trời trao cho chúng ta là trọng.

Ðiều này tùy thuộc ở chúng ta, điều mà bà con đang sống trên đất mẹ của chúng ta xem ra khó mà làm được vì dù có muốn họ cũng không được phép làm, chưa kể tất cả đều đã quá mòn mỏi, khô cằn đến độ vô cảm, nếu không nói là kiệt lực. Tất cả chỉ còn trông cậy ở chúng ta và con cháu chúng ta. Hãy chứng tỏ chúng ta có đủ khả năng và bản lãnh; chúng ta dời bỏ quê hương ra đi không phải để tha phương cầu thực.

Little Saigon những ngày cuối Xuân 2016.

(Nguồn: [email protected])

———-

Ghi chú:

[1] Ba vị kia là Tản Viên Sơn Thần (Thần Núi Tản Viên), Phù Ðổng Thiên Vương và Chử Ðồng Tử.

[2] Qua tác phẩm Ðứng Vững Ngàn Năm của ông, Người Việt xuất bản.

Heo chứa chất cấm ở lò mổ lớn nhất Bắc Trung Bộ

NGHỆ AN (NV) – Một lò mổ heo lớn nhất vùng Bắc Trung Bộ tại Nghệ An đã bị bắt tại trận khi đang làm thịt hàng chục con heo chứa chất cấm để tung ra bán cho người tiêu thụ.

Mỗi đêm có khoảng 150-200 con heo được giết mổ tại lò mổ do gia đình ông Phạm Văn Hạnh quản lý và hoạt động. (Hình: Báo Nghệ An)

Chiều 24 Tháng Năm, ông Trần Quang Lâm, trưởng phòng Kinh Tế Ủy Ban Nhân Dân thành phố Vinh, cho biết đoàn kiểm tra liên ngành của thành phố vừa đi kiểm tra đột xuất lò giết mổ gia súc tập trung của gia đình ông Phạm Văn Hạnh, xã Nghi Phú.

Đây là một trong những lò giết mổ lớn nhất Nghệ An, và lớn nhất khu vực Bắc Trung Bộ, mỗi đêm lò mổ này giết mổ trung bình khoảng 150-200 con heo, những lúc cao điểm lên đến gần 500 con. Lò giết mổ này cung cấp 80% lượng thịt heo cho thị trường thành phố Vinh và khu vực lân cận.

Đoàn kiểm tra lấy ba mẫu nước tiểu của heo tại chuồng, và qua test nhanh phát hiện cả ba mẫu đều dương tính với chất tạo nạc Salbutamol, Clenbuterol. Đoàn đã tiến hành lập biên bản, yêu cầu ông Hạnh tạm dừng hoạt động giết mổ và lấy mẫu thịt gửi lên các cơ quan chuyên môn kiểm nghiệm một cách chính xác.

Theo báo Nghệ An, ông Hạnh cho biết số heo trên được mua từ một trại chăn nuôi ở vùng lân cận với khoảng 30 con. Trước khi bị kiểm tra phát hiện, 20 con có nghi vấn với chất tạo nạc đã được giết mổ và bán ra thị trường.

Chất tạo nạc bị cấm sử dụng trong chăn nuôi hết sức độc hại nhưng vẫn được nhiều cơ sở chăn nuôi tại Việt Nam lén lút sử dụng vì lợi nhuận, bất chấp khi ăn phải, người dân sẽ có nguy cơ bị ảnh hưởng xấu lên tim mạch, làm cho tim đập nhanh, tăng huyết áp, run cơ, rối loạn tiêu hóa, nếu nặng có thể nguy hiểm đến tính mạng và có thể là nguy cơ cho những căn bệnh khác. (Tr.N)

Huyện nghèo xây bến xe tiền tỉ để… bỏ hoang


THANH HÓA (NV) –
Chính quyền huyện Quan Hóa, tỉnh Nghệ An, lấy tiền tỉ từ ngân sách để xây bến xe khách “phục vụ người dân,” song do “quên” không làm hồ sơ, thủ tục nên bến xe “không đủ điều kiện hoạt động.”

Bến xe khách huyện Quan Hóa bị bỏ hoang gần hai năm qua. (Hình: Tuổi Trẻ)

Bến xe khách của huyện vùng cao Quan Hóa, một trong bảy huyện nghèo ở Thanh Hóa, được đầu tư bằng ngân sách nhà nước với tổng kinh phí hơn 7 tỉ đồng, nhưng đang bỏ hoang một năm rưỡi nay, có dấu hiệu xuống cấp, lãng phí.

Theo phòng kinh tế hạ tầng Ủy Ban Nhân Dân huyện Quan Hóa, bến xe khách nói trên khởi công xây dựng từ năm 2012, xây xong từ cuối năm 2014 và bỏ hoang đến nay. Trong khi đó, mỗi ngày có hơn 10 lượt xe khách chạy qua thị trấn huyện Quan Hóa, thường xuyên đón, trả khách dọc đường gây mất an toàn giao thông và bất bình cho người dân địa phương.

Nói với phóng viên Tuổi Trẻ ngày 24 Tháng Năm, ông Phạm Văn Cương, trưởng phòng kinh tế hạ tầng huyện Quan Hóa, cho biết do lúc lập dự án công trình này chủ đầu tư là ủy ban huyện “quên” không làm hồ sơ, thủ tục đấu nối đường từ bến xe khách với quốc lộ 15, nên xây dựng xong bến xe khách không đủ điều kiện hoạt động theo quy định của ngành giao thông. Ngoài ra, đến nay huyện chưa ký hợp đồng, quy chế hoạt động bến xe khách với doanh nghiệp để bến xe đủ điều kiện hoạt động.

Để chống chế những sai phạm, ông Cương lấp liếm: “Hiện nay, ủy ban huyện đang phối hợp với Sở Giao Thông tỉnh Thanh Hóa để hoàn chỉnh thủ tục theo đúng quy định của Bộ Giao Thông. Đồng thời, huyện cũng đang hoàn chỉnh thủ tục bàn giao bến xe khách cho một doanh nghiệp tư nhân ở huyện quản lý, khai thác để sớm đưa bến xe vào hoạt động.” (Tr.N)

Tin mới cập nhật