Westminster và cảnh khuyển Pako

 

Đằng-Giao/Người Việt

WESTMINSTER, California (NV)Dưới sự vận động tích cực của Thị Trưởng Trí Tạ, Hội Đồng Thành Phố Westminster đã đồng ý tái lập chương trình cảnh khuyển cho sở cảnh sát vào Tháng Mười, 2014, sau hơn 19 năm gián đoạn.

Pako, niềm hãnh diện của cảnh sát Westminster. (Hình: Sở Cảnh Sát Westminster cung cấp)

Theo Sở Cảnh Sát Westminster, chương trình cảnh khuyển của thành phố này được bắt đầu từ năm 1979 và bị gián đoạn vào năm 1995 vì lý do tranh chấp nghiệp đoàn.

Ông Trí Tạ kể: “Cảnh Sát Trưởng Kevin Baker vừa đề nghị chương trình K-9 này là tôi tán thành ngay vì tôi thấy được cái lợi ích của một cảnh khuyển.”

Và một cuộc săn lùng ráo riết đã bắt đầu. Tháng Tư năm nay, tức là sau sáu tháng, Pako đã được gia nhập sở cảnh sát.

Đồng thời, cảnh sát viên Travis Hartman được tuyển chọn làm người quản khuyển (K-9 handler).

Được hỏi về cảm nghĩ của anh khi được thông báo sẽ là người được giữ Pako, Travis dừng một lúc trước khi trả lời.

Anh nói một cách cảm động: “Từ hồi mới 10 tuổi đến giờ, tôi luôn luôn ước ao được làm người quản khuyển. Nhưng khi được báo tin rằng mình được chọn, tôi lại không thể tin được.”

Nén sự xúc động, anh tiếp: “Tôi không bao giờ, không thể tin – chưa tin được giấc mơ ấy bây giờ đã thành hiện thực.”

“Mấy đêm liên tiếp tôi không thể ngủ và khi đi làm cũng không tập trung được,” anh cho biết.

“Pako trị giá $10,000 và do một vị mạnh thường quân ẩn danh tặng cho sở cảnh sát,” ông Trí cho hay.

Đội K-9 Pako và Travis. (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)

Ông thêm: “Tổng số tiền chi phí, dạy dỗ, bác sĩ và sửa chữa chiếc xe K-9 cho Pako trước khi đưa chú về đã lên tới hơn $30,000. Nhưng Pako sẽ đem lại lợi ích cho thành phố Westminster và cư nhân gấp bao nhiêu lần nhiều hơn. Chắc chắn là vậy.”

Ông Matt Edinger, một cảnh sát viên, đồng ý.

Ông nói: “Có nhiều tình huống mà một mình Pako có thể thay thế năm hay sáu cảnh sát viên.”

“Thí dụ như khi cần phải lùng sục một tòa nhà trong bóng đêm để tìm kẻ gian, Pako đem lại kết quả trong vài phút trong khi năm sáu cảnh sát, nếu theo đúng thủ tục lục soát có thể mất cả đêm,” ông Edinger giải thích. “Trong tình huống con tin, hung thủ có thể làm ngơ cảnh sát nhưng khi thấy Pako, họ đầu hàng ngay.”

“Cảnh sát viên” Pako thuộc giống Dutch Shepherd, được sinh ra và huấn luyện tại Hòa Lan trước khi được đưa về trường huấn luyện cảnh khuyển Adlerhorst, một trại chuyên nuôi và luyện tập cảnh khuyển tại Riverside.

Ông Trí chấn phấn: “Pako rất gần với loại chó của Navy SEAL mà mấy năm trước đã giúp Hoa Kỳ loại bỏ Osama bin Laden.”

Cảnh sát viên Travis thêm vào: “Pako không phải là loại chó ác độc chỉ biết tấn công. Nó chỉ tấn công khi tối cần thiết.”

Thị Trưởng Trí Tạ rất gắn bó với chương trình này đến mức ông đã cùng đi với Phó Cảnh Sát Trưởng Dan Schoonmaker lên trung tâm Adlerhorst để đón Pako.

Thị Trưởng Trí Tạ (phải) và cảnh sát viên Travis Hartman nhận Pako. (Hình: Trí Tạ cung cấp)

Một trong những ưu điểm của Pako là sự điềm tĩnh, từ tốn khi cần. Nhưng khi lâm trận, Pako lại rất nhanh nhẹn, mạnh mẽ và dũng cảm.

Trước khi đưa Pako về, ông Travis đã được huấn luyện rất kỹ một số khẩu lệnh sơ khởi  để có thể tiếp xúc với nó.

“Tôi học cách ra lệnh cho Pako bằng tiếng Hòa Lan. Và tôi sẽ phải học nhiều ngữ vựng hơn,” ông Travis kể. “Và chúng tôi, Pako và tôi, sẽ còn phải tập dượt thường xuyên.”

Trường Adlerhorst International Inc. là một trung tâm tuyển mộ và đào tạo cảnh khuyển cho công lực Hoa Kỳ.

Ông Travis nói: “Từ năm 1976 đến giờ, trung tâm này đã cung cấp cho hơn 500 đơn vị ở Hoa kỳ và toàn thế giới và đã trở thành một trong vài trung tâm quân/cảnh khuyển tư nhân lớn nhất thế giới.”

“Hiện tại, sau 240 giờ mà tôi và Pako đã phải huấn luyện, tôi vẫn phải đưa Pako quay lại Adlerhorst hàng tuần để trau dồi thêm kỹ năng,” cảnh sát viên này nói thêm.

“Để tuyển chọn giống chó tốt, trung tâm Adlerhorst đã cân nhắc rất kỹ về sự di truyền và có bác sĩ thú y kiểm tra hông, lưng và khuỷu chân từng con trước khi quyết định,” ông Trí thêm vào. “Theo tôi biết, tất cả quân và cảnh khuyển tại Hoa Kỳ đều được sàng lọc, tuyển chọn và huấn luyện tại Châu Âu. Tôi chưa hiểu vì sao. Nhưng tôi biết chắc, Pako hiện là ‘cảnh sát viên’ nổi tiếng nhất của Westminster.”

Bà Quả Phụ Trần Lương Biện

Nhật tái khởi động nhà máy điện nguyên tử

TOKYO, Nhật (AFP)Chính phủ Nhật hôm Thứ Ba chấm dứt việc tạm ngưng hoạt động của các nhà máy điện nguyên tử, do ảnh hưởng của trận động đất và sóng thần năm 2011 khiến dân chúng lo ngại về sự an toàn.


Biểu tình phản đối tái khởi động nhà máy điện nguyên tử, trước văn phòng thủ tướng Nhật ở Tokyo. (Hình: AP Photo/Shizuo Kambayashi)

Công ty điện lực Kyushu Electric Power khởi động một lò nguyên tử tại Sendai, nằm cách Tokyo chừng 1,000 km về phía Tây Nam.

Lò nguyên tử được xây dựng đã 31 năm này, hoạt động theo các quy định nghiêm ngặt được đưa ra sau cuộc khủng hoảng lò nguyên tử Fukushima, dự trù sẽ đạt được tối đa công suất vào lúc 11 giờ trưa, nghĩa là chỉ nửa tiếng sau khi được khởi động và sẽ bắt đầu cung cấp điện lực vào ngày Thứ Sáu.

Việc tái sử dụng các lò nguyên tử xảy ra hơn bốn năm sau khi một trận động đất và sóng thần tiếp theo đó làm các lò nguyên tử ở nhà máy Fukushima bị thiêu chảy, khiến các lò còn lại ở mọi nơi cũng bị ngưng hoạt động vì lý do an toàn.

Vụ này gây ô nhiễm phóng xạ trong một khu vực rộng lớn và buộc hàng chục ngàn người phải rời bỏ nhà cửa đi lánh nạn và có thể sẽ không bao giờ được quay trở về. (V.Giang)

Dân biểu Mỹ đi Israel nghe phản đối thỏa ước nguyên tử với Iran

WASHINGTON DC (NV)Một phái đoàn dân biểu Hoa Kỳ vừa đến Israel để nghe thủ tướng nước này phản đối thỏa ước nguyên tử giữa Hoa Kỳ và Iran, theo tin của Fox News.

Tổng Thống Barack Obama từng làm việc cật lực để được Quốc Hội chấp thuận thỏa ước này, trong đó hạn chế chương trình phát triển nguyên tử của Iran để đổi lấy việc nước này được bãi bỏ những cấm vận kinh tế trị giá hang tỷ đô la.

Dân biểu phụ tá khối thiểu số Hạ Viện Steny Hoyer (Dân Chủ-Maryland), trưởng đoàn 22 người đi qua Israel gặp Thủ Tướng Benjamin Netanyahu. (Hình: AP/J Scott Applewhite)

Đảng viên Cộng Hòa của lưỡng viện đều nhất loạt chống lại nhưng vẫn cần phải có đủ một đa số của 2/3 tổng số phiếu, gồm sự ủng hộ tích cực của phía Dân Chủ, mới vượt qua được sự phủ quyết của tổng thống.

Những chuyến đi Israel nối tiếp nhau, phe Dân Chủ mới trở về hôm Thứ Hai, còn Cộng Hòa thì sẽ lên đường nội trong tuần này, khiến thủ tướng Israel, ông Benjamin Netanyahu, có cơ hội thúc đẩy mạnh hơn việc chống lại thỏa ước nguyên tử với Iran.

Dân Biểu Steny Hoyer (Dân Chủ-Maryland), phụ tá trưởng khối thiểu số, làm trưởng đoàn 22 người, mà chính ông cũng chưa dứt khoát bỏ phiếu thuận hay chống thỏa ước trước khi lên đường. Ông nói rằng, phái đoàn gặp ông Netanyahu vào cuối tuần trong gần hai giờ, và rằng ông thủ tướng Israel trình bày quan điểm của mình chứ không thuyết phục họ nên bỏ phiếu như thế nào.

Ông Hoyer nói: “Nhưng rõ ràng là ông ấy hy vọng họ sẽ bỏ phiếu chống lại thỏa ước vì đó là một thỏa ước tồi, cho phép Iran chế tạo một quả bom nguyên tử trong vòng 13 năm.”

Nếu tất cả dân cử Cộng Hòa lưỡng viện đều kiên định lập trường chống lại thỏa ước, muốn chống sự phủ quyết của tổng thống phải cần thêm của Dân Chủ 43 phiếu ở Hạ Viện và 13 phiếu ở Thượng Viện. (TP)

Thể Dục Khí Công Hoàng Hạc kỷ niệm 9 năm thành lập


Văn Lan/Người Việt

SANTA ANA, California (NV)Gia Ðình Thể Dục Khí Công Hoàng Hạc vừa có buổi lễ kỷ niệm chín năm thành lập, được tổ chức tại Trung Tâm Công Giáo Việt Nam, Santa Ana, hôm Thứ Bảy, 8 Tháng Tám.

Sau nghi thức khai mạc, ban hợp ca Gia Ðình Hoàng Hạc hát bài “Việt Nam Minh Châu Trời Ðông” và “Khỏe Vì Nước” của nhạc sĩ Hùng Lân. Toàn ban hợp ca với đồng phục màu đen và logo chim hoàng hạc đang tung cánh thong dong, tiếng ca đầy khí thế với những nội lực thật mạnh.


Gia Ðình Hoàng Hạc hợp ca bài “Việt Nam Minh Châu Trời Ðông.” (Hình: Văn Lan/Người Việt)

Tiếp theo, anh Mã Gia Trí, một thành viên Gia Ðình Hoàng Hạc, nói về lợi ích của bộ môn khí công này. Với những slide show của Hiệp Hội Y Tế Mỹ, anh trình bày hiện nay y khoa đã chứng minh rằng những yếu tố góp phần vào bệnh tật của con người là do: cao huyết áp, cao đường, cao máu, hút thuốc và trầm cảm. Con số thống kê ở Mỹ đưa ra 17.3 triệu người chết hàng năm, 85.6 triệu người sống bị tai biến hoặc bị nghẽn tim, tốn hơn $321 tỷ để chữa trị.

Ðây là những vấn đề lớn của con người, và y học cũng có những lời khuyên để bảo vệ sức khỏe, về cách ăn uống như bớt ăn thịt động vật, và nên tham gia các loại vận động rất tốt cho sức khỏe như bơi lội, Taichi (khí công), đi bộ… Và như vậy, bốn điều quan trọng trong cuộc sống con người phải chú ý là tập thể dục, ăn uống, cách sống và tăng miễn nhiễm để chống lại các độc tố tấn công vào cơ thể.

Tiếp theo, cô Kiều Hạnh, một thành viên khác của Gia Ðình Hoàng Hạc, giới thiệu những tin tức và hình ảnh về những hoạt động, sinh hoạt, giao lưu của Hoàng Hạc Khí Công trên thế giới như Úc, New Zealand, Ðan Mạch, Pháp, và các tiểu bang khác trên nước Mỹ, nhất là ở Orange County, nơi có cộng đồng người Việt rất đông.

Tiếp theo, Bác Sĩ Phạm Gia Cổn, người sáng lập Hoàng Hạc Khí Công, giới thiệu về bộ môn này. Ðây là một phương pháp luyện tập khí công dưỡng sinh y võ nhạc, kết hợp hài hòa giữa tĩnh luyện và động luyện, thật dễ nhớ, đơn giản với bốn chữ “bấm-vòng-vươn-buông.”

Thể Dục Khí Công Hoàng Hạc thể hiện những động tác của đôi cánh tay thật nhuần nhuyễn, khoan thai, liên tục và nhịp nhàng với những chuyển động đơn giản và thanh thoát của đôi chân hòa nhịp với hơi thở tự nhiên.


Gia Ðình Hoàng Hạc biểu diễn Khí Công Hoàng Hạc. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

Khí Công Hoàng Hạc chú trọng vào tính đơn giản, tự nhiên và nhẹ nhàng, thích ứng với mọi thể trạng của từng cá nhân, mọi lứa tuổi, nhất là những người cao tuổi, kể cả những người thể chất yếu đuối đã trải qua những cơn bệnh ngặt nghèo.

Tất cả Gia Ðình Hoàng Hạc lên sân khấu biểu diễn những thế tập dưỡng sinh dưới sự hướng dẫn của Bác Sĩ Phạm Gia Cổn, và bên dưới quan khách được mời làm theo với sự hào hứng tuyệt vời. Nhân dịp này, một CD đầu tiên dạy bảy thế tập luyện được trao tặng quan khách, trong thời gian tới sẽ ra mắt tiếp CD với 18 thế.

Theo Bác Sĩ Phạm Gia Cổn, nếu một người chịu khó tập luyện thường xuyên bộ môn này, kết quả sẽ đến là một phần thưởng xứng đáng cho sức khỏe. Ðể chứng minh, ông mời bà Hoàng Ngọc Cam lên sân khấu biểu diễn khí công, với một cái phẩy tay nhẹ nhàng, bà làm vỡ đôi tấm ván khiến mọi người vỗ tay tán thưởng nhiệt liệt.

Phần văn nghệ giúp vui thật hào hứng với sự đóng góp của các hội viên trong Gia Ðình Hoàng Hạc, trong khi đó mọi người được mời thưởng thức những món ăn tinh khiết và trái cây mùa Hè.

Những hội viên trong đồng phục màu đen xúm xít chụp hình lưu niệm với nhau, cười nói vui vẻ trong phong thái thật trẻ trung hồn nhiên. Không ai nghĩ rằng đó là những người đã bước qua số tuổi quá 70. Tất cả đều chung vui cắt bánh mừng sinh nhật Hoàng Hạc được chín tuổi.

Hoàng Hạc Khí Công được Bác Sĩ Phạm Gia Cổn sáng lập cách đây chín năm, bước đầu chỉ có một số anh em quy tụ, cùng nhau tập luyện và giúp cho sức khỏe cộng đồng và càng ngày phát triển như đến ngày hôm nay.

Với ý nghĩa hoàng hạc là một loại chim cao quý, sống thọ, cuộc sống quy tụ cùng nhau, và cử chỉ điệu bộ rất thanh thản nhẹ nhàng, nên bộ môn và tên gọi Hoàng Hạc Khí Công ra đời là như thế, theo Bác Sĩ Cổn cho biết.

“Mọi người, dù chưa đến tuổi hạc cũng nên nghĩ đến sức khỏe mà ra sức tập luyện một bộ môn thể dục phù hợp cho mình,” ông nói thêm.

Người Tây phương nói sai về cuộc chiến Việt Nam


Trọng Ðạt

Cựu Tổng Thống Nixon viết trong hồi ký (1): Thực không cố biến cố nào trong lịch sử Hoa Kỳ bị hiểu lầm hơn cuộc chiến Việt Nam, hồi đó đã được tường trình sai và bây giờ người ta vẫn nhắc tới một cách sai lạc.

Thật là hy hữu có lắm người sai lầm như vậy. Chưa bao giờ hậu quả những sự hiểu lầm của họ đã bi đát như thế.


(Nguồn: Google)

Việt Nam đã là đề tài của hơn 1,200 cuốn sách, hàng nghìn bài báo, mấy chục cuốn phim và tài liệu truyền hình, đa số kết luận như sau:

– Cuộc chiến VN chỉ là nội chiến.
– Hồ Chí Minh trước hết là người quốc gia sau đó là người CS, được đa số người hai miền ủng hộ.
– Ngô Ðình Diệm là bù nhìn của thực dân Pháp.
– Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam là một phong trào cách mạng không phụ thuộc vào Bắc Việt.
– Việt Cộng được lòng dân làng quê với chính sách nhân đạo của họ.
– Lời tuyên bố của Hiệp Ðịnh Genève 1954 đòi hỏi chính phủ Diệm và Mỹ phải tuyển cử thống nhất hai miền.
– Phần nhiều lính Mỹ (ở VN) nghiện ngập, tàn ác vô nhân đạo…
– Mỹ bại trận về quân sự.
– Trận Mậu Thân 1968 là thất bại quân sự của Mỹ
– Người Mỹ cố ý oanh tạc các mục tiêu thường dân ở BV
– Thuyết Domino được chứng tỏ là sai.
– Cuộc sống tại Ðông Dương tốt đẹp hơn sau khi Mỹ rút đi…

Và Nixon kết luận tất cả những nhận định trên đây đều sai lạc.

Không riêng gì người Mỹ, nhiều người Pháp, người Âu Châu khác cũng nhận định sai về cuộc chiến VN. Tôi xin đề cập một số trường hợp điển hình như dưới đây:

Hai sử gia người Pháp Jean Lacouture và Philippe Deviller cùng viết La Fin d’une Guerre Indochine 1954, (Kết Thúc một Cuộc Chiến Ðông Dương 1954) in 1960. Năm 1969 cuốn sách được dịch và xuất bản bằng tiếng Anh End of a War Indochina 1954, trong phần đề tựa bản dịch này Jean Lacouture nói: Hai cuộc chiến (Ðông Dương lần I và II) rất giống nhau.

1- Trong cả hai trường hợp các cường quốc Tây phương (tức Pháp, Mỹ) đã muốn biến đổi chế độ cai trị người Việt, cũng như sự lãnh đạo và mức sống tiến bộ như họ muốn chọn cho VN, nhưng đều thất bại.

2- Trong cả hai trường hợp, các cường quốc Tây phương đã không biết tới tinh thần thống nhất cơ bản, sâu xa của dân tộc VN và đã dai dẳng cố giữ cái biên giới về địa lý cũng như ý thức hệ mà người VN bác bỏ.

3- Trong cả hai, người Tây phương nói là họ chống CS xâm lăng do Mạc Tư Khoa và Bắc Kinh xúi giục nhưng họ không chịu nhìn nhận nguyên do cơ bản mà Việt Minh hay Việt Cộng chiến đấu.

4- Trong cả hai, đoàn quân viễn chinh rõ ràng là người ngoại quốc xa lạ đối với đất nước (VN) và bị đại đa số người dân (VN) chống đối, cộng thêm vào đó là thủy thổ bất phục như rừng già, đầm lầy, sốt rét ngã nước…

Ðiểm thứ nhất Jean La Couture nói người Tây phương áp đặt một chế độ hay sự lãnh đạo lên nước VN là hoàn toàn sai. Người quốc gia VN tự nguyện theo chế độ dân chủ thân Tây phương và lựa chọn người lãnh đạo để chống CS xâm lược.

Ðiểm thứ hai ông ta nói tinh thần thống nhất sâu xa của dân tộc VN là cơ bản cho sự chiến đấu, thực ra đây chỉ là luận điệu tuyên truyền của CS: Người Việt Nam thời ấy nông vi bản, họ ngày ngày vác cuốc ra đồng mà chẳng cần biết thống nhất là gì. Chẳng ai muốn thống nhất bằng núi xương sông máu, chẳng ai muốn con em họ phải vác súng vượt Trường Sơn, mười người vô Nam chỉ có một người quay trở về. Tại sao không thống nhất bằng hòa bình mà phải chém giết nhau? Ðó là tội ác chứ không thể gọi là tinh thần dân tộc.

Nỗ lực thống nhất đất nước năm 1975 đã được cựu đảng viên Bùi Tín gọi là “Cuộc Ăn Cướp Vĩ Ðại,” các đảng viên CS tranh nhau cướp nhà, cướp tài sản của người miền Nam công khai, xua đuổi dân đi kinh tế mới để đưa bè đảng vào ăn trên ngồi trốc, nay hầu hết nhà mặt đường Sài Gòn đã đổi chủ. Các chức vụ béo bở hái ra tiền đều vào tay băng đảng viên từ miền Bắc đổ vào. Máy móc, xe cộ, lúa gạo bị cướp mang đi hàng loạt. Cựu đảng viên Dương Thu Hương nói năm 1975 một nước mọi rợ đánh chiếm một nước văn minh, thể hiện đó không phải là thống nhất đất nước mà là một nước nghèo đói lạc hậu đi ăn cướp một nước giầu, trù phú.

Ðiểm thứ ba ông ta ngụ ý ca ngợi mục tiêu cao đẹp của Việt Minh hay Việt Cộng chiến đấu giành độc lập và thống nhất tổ quốc. Sự thực thì họ chẳng có nguyên do chính đáng nào ngoài việc áp đặt chủ nghĩa chuyên chính vô sản Ðệ Tam quốc tế lên đầu lên cổ toàn dân VN và chiếm đoạt vựa lúa miền Nam.

Ðiểm chót cùng, theo Lacouture, đoàn quân viễn chinh Pháp và sau này Mỹ là người ngoại quốc đều bị đại đa số dân Việt chống đối; sự thực thì chỉ có những người CS chống đối mà thôi. Trong cuộc chiến 1946-1954, những năm đầu người Pháp bị thù ghét vì họ tái chiếm Ðông Dương, lập lại chế độ thực dân nhưng sau đó họ hợp tác và giúp đỡ người VN chống Việt Minh, tay sai CS quốc tế. Cuộc chiến VN lần thứ hai, người Mỹ giúp đỡ miền nam tận tình để chống CS tàn ác bảo vệ tự do, không có lý do gì người VN lại thù ghét họ.

Stanley Karnow đề tựa cuốn “Dien Bien Phu, The epic Battle America Forgot” (Ðiện Biên Phủ, Trận Ðánh Oai Hùng Người Mỹ Ðã Quên) của tác giả Mỹ Howard Simpson. Tại trang XI Karnow cho biết ông đã hỏi Võ Nguyên Giáp tại Hà Nội: Các ông chiến đấu chống Mỹ tới bao giờ thì ông ta trả lời là hai mươi năm nữa, có thể một trăm năm nữa, bất kể thiệt hại bao nhiêu. Và Karnow kết luận, Mỹ cũng như Pháp trước đây đã đương đầu với một kẻ địch coi mục tiêu thiêng liêng là sẵn sàng hy sinh ghê rợn để đạt tới, và ông khuyên Mỹ phải quan tâm bài học này.

Sự thực không phải người Mỹ chịu thua chiến lược cố đấm ăn xôi bằng cách đẩy thanh niên vào chỗ chết của Võ Nguyên Giáp, của CSVN mà vì TT Johnson sai lầm đã áp dụng chiến lược hạn chế (limited war) không dám làm mạnh năm 1965, 1966… để cho cuộc chiến kéo dài và cuối cùng thua ở mặt trận tại đất nhà chứ không phải thua VC.

Trong lời mở đầu tác phẩm, tác giả Simpson nói về trận Ðiện Biên Phủ, ông chỉ trích Pháp chủ quan khinh địch nên đã thảm bại, ông cũng nói thập niên 60 & 70 người Mỹ cũng khinh địch (BV, VC) như Pháp trước đây (trang XX).

Thật ra Pháp thất trận Ðiện Biên Phủ vì yếu hơn Việt Minh đã được Trung Cộng viện trợ ồ ạt về quân sự. Thập niên 60 & 70 hỏa lực Mỹ đã đè bẹp CSBV, VC tại miền Nam VN và đã giết được mấy trăm ngàn tên địch nhưng thua vì mặt trận ở tại đất nhà

Trang XXIV ông nói: Mặc dù đạo quân thực dân là quá khứ nhưng di sản của nó vẫn còn, quân đội VNCH không bao giờ phủ nhận được cái gốc gác của nó là quân đội thuộc địa do người Âu Châu huấn luyện. Nay Mỹ thay Pháp, cái màu thực dân vẫn còn và đã tạo cho VC có đề tài tuyên truyền đây là quân đội tay sai. Ðối với chúng ta, “thực dân” vẫn là nhãn hiệu lịch sử đối với nhiều nước thế giới thứ ba, nó vẫn là một biểu tượng xấu.

Ðây chỉ là sự tưởng tượng của một người không tiếp xúc gần gũi với miền nam VN trong thời kỳ chiến tranh: Quân đội Mỹ không được quyền bắt bớ người dân như thời Pháp thuộc, trái lại họ giúp đỡ và bảo vệ người Việt. Người dân thường bỏ chạy về phía VNCH và quân đội Mỹ khi bị VC tấn công

Trang XXV ông viết: lính Mỹ không biết mục đích chiến đâu, đó là điều bất lợi; trong khi kẻ địch (VC) tin vào mục đích chiến đấu nên chịu gian khổ, chết nhiều cho mục tiêu

Hoàn toàn sai, tác giả ca ngợi đối phương quá đáng, con người ta chẳng có ai xương đồng da sắt, ai cũng sợ chết, những người theo Việt Minh thập niên 40, 50 và theo VC thập niên 60, 70 phần nhiều vì sợ mà phải theo, hoặc bị ép buộc tham gia, biết là gian khổ, nguy khốn cũng không dám bỏ trốn.

Neil Sheehan đặc phái viên UPI và New York Times trong đề tựa cuốn The Battle of Dien Bien Phu (Trận Ðiện Biên Phủ) của Jules Roy (cựu đại tá Không Quân Pháp) đã viết: năm 1963, 9 năm sau trận ÐBP, các tướng lãnh… nhà ngoại giao Mỹ cũng sẽ chịu chung số phận người Pháp trước đây. Bảo Ðại suy đồi bị đầy sang Pháp, Ngô Ðình Diệm quan liêu, xa lánh người dân… Người CS đã đuổi quân Pháp khỏi VN nên được người dân tin tưởng, Hồ Chí Minh là nhà lãnh đạo quốc gia lớn nhất được lòng dân. Mỹ trợ giúp Miền Nam thực chất chỉ là tàn tích từ thời thực dân để lại, tham nhũng có từ thời Bảo Ðại,… Mỹ thất bại ở VN cũng nhiều cái giống như Pháp.

Sheehan một ký giả nổi tiếng được giải thưởng Pulitzer nhưng đã trắng trợn xuyên tạc sự thật, khuynh tả rõ ràng không một chút khách quan. Nếu nói người CS đuổi thực dân ra khỏi VN nên được người dân tin,… Hồ Chí Minh là người quốc gia được lòng dân thì sao năm 1954, người CS và Hồ Chí Minh về tiếp thu Hà Ðông, Hà Nội, Hải Phòng thì đã có hàng triệu người bỏ xứ vào nam. Nếu người CS và Hồ Chí Minh là người quốc gia thì tại sao phải yêu Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, họ là người quốc gia hay thực sự họ là tay sai của CS quốc tế?

Sheehan ca ngợi đối phương lộ liễu: Về trận Ðiện Biên Phủ ông chê Tướng Pháp Navarre và bộ tham mưu không nhận thức được là lý thuyết quân sự Tây phương thất bại trước chiến lược của địch (Việt Minh) nên đã thảm bại.

Sự thực là do Trung Cộng trợ chiến khiến lực lượng VM tại đây quá đông đảo, gấp 4 hoặc 5 lần Pháp, hỏa lực pháo binh và phòng không của VM quá mạnh đã chế ngự và đè bẹp quân Pháp, chẳng có gì liên hệ tới chiến thuật… chiến lược.

Chỗ khác ông ta nói: người Mỹ không biết rằng dân quê VN thắng chế độ Diệm, một chế độ cũng thối nát độc ác như bọn tay sai thực dân trước đây. Nguyên do CS lan rộng ở miền quê miền Nam VN từ 1957 tới 1961 là do sự thối nát, gia đình trị của ông Diệm,… Mỹ không thực tâm muốn chế độ Diệm phải cải tổ.
Nhà báo Sheehan không hiểu gì về tình hình quân sự và cuộc chiến tại miền Nam:
Trước khi tập kết ra Bắc năm 1954, họ đã để lại nhiều cán binh nằm vùng chờ thời. Năm 1957 sau khi đã hoàn thành Cải Cách Ruộng Ðất, đấu tố mà CS Nga Tầu ép phải thực hiện, Hà Nội phát động cuộc chiến tranh du kích để chiếm vựa lúa miền Nam mà họ thèm khát từ trước. Kế đó họ cho những đảng viên tập kết băng qua vùng khu phi quân sự tại sông Bến Hải vào Nam hàng đàn hàng lũ chứ chẳng có ai tại miền nam muốn nổi dậy chống chính phủ, VC bắt ép thanh niên miền quê gia nhập các đơn vị Mặt trận giải phóng miền nam, ai từ chối thường bị sát hại để làm gương.

Tác giả Jules Roy nói về sự thất bại của Pháp tại Ðiện Biên Phủ(trang 289): Lý do tại sao kẻ thắng trận ÐBP lại là kẻ trang bị yếu hơn? Suy cho cùng một bên có và một bên không có niềm tin của người dân muốn chiến đấu hay họ muốn bác bỏ. Ông này đã từng là đại tá trong quân đội Pháp mà không nắm vững tình hình chiến sự tại ÐBP: Trong khi Việt Minh (VM) đưa 6 sư đoàn chính qui thiện chiến nhất của họ bao vây ÐBP, đông gấp 4 hoặc 5 lần Pháp. Hỏa lực pháo binh của VM bắn như mưa đè bẹp quân Pháp, cao xạ VM chế ngự bầu trời và vô hiệu hóa không quân quá yếu của Pháp, toàn bộ chiến trường Ðông Dương Pháp chưa có tới 200 máy bay cánh quạt và vận tải. Trong một trận đánh qui ước bên nào lực lượng mạnh, đông thì nắm chắc phần thắng trong tay.

Trang 294 ông nói: Nhiều năm sau trận đánh, Jules Roy trong chuyến viếng thăm ÐBP ông quan sát cảnh người dân làm ruộng, sinh sống, chắt chiu kiếm lúa gạo… và tìm ra nguyên do: men chiến đấu khiến họ liều thân lao vào súng máy, hàng rào kẽm gai là vì lý tưởng tự do và danh dự được làm bộ đội cụ Hồ.

Sự thật thì chẳng ai muốn lao vào chỗ chết, chẳng có ai xương đồng da sắt, ai cũng sợ chết nhưng kỷ luật khắt khe của bộ chỉ huy CS không cho phép người chiến sĩ lùi bước. Nhiều nhà báo, chính khách, giới quân sự Tây phương ca ngợi tinh thần chiến đấu của Việt Minh, VC, họ có mất gì đâu một lời khen ngợi, ta thường nói “được tiếng khen thì ho hen chẳng còn.”

Không những truyền thông báo chí mà ngay cả các chính khách tên tuổi cũng nhận định sai về tình hình chính trị quân sự của VN. Tác giả Fredrik Logevall trong cuốn Ember of war… (2) trang 478 có nói về ÐBP: Thượng Nghị Sĩ Kennedy cho biết đổ tiền của và người vào những khu rừng núi Ðông Dương một cách vô ích vì không có hy vọng thắng. Dù Mỹ có giúp đỡ cũng không thể thắng địch khi chúng ở khắp mọi nơi… được người dân có cảm tình và che chở.

Sự thực thì người dân sợ cả Việt Minh và thực dân Pháp, họ sợ VM hơn Pháp vì VM ghê rợn hơn, thu thuế, theo dõi và thường thủ tiêu họ. Tại hậu phương VM, người dân trốn về vùng Quốc gia do Tây kiểm soát rất nhiều. Họ phải che chở VM vì nếu không sẽ bị trả thù thê thảm, chứ không phải vì có cảm tinh

Trang 484 sách kể trên nói: Ngoại Trưởng Eden (Anh) không tin là viện trợ của Trung Cộng (TC) cho Việt Minh là quyết định, theo tin tức của tình báo thì lượng viện trợ của Mỹ cho Pháp lớn hơn của TC cho VM rất nhiều. Ông cho rằng dù Mỹ can thiệp để TC không còn viện trợ cho VM, ông và những người Anh khác vẫn tin VM là một đe dọa lâu dài. Ông Ngoại Trưởng Eden nói, dù VM không nhận được giúp đỡ của TC họ vẫn là mối đe dọa, thế thì họ lấy súng đạn ở đâu? chắc họ mua súng lậu? Ông nói Pháp được Mỹ viện trợ nhiều hơn là VM được Tầu viện trợ, nhưng Tướng tư lệnh Navarre lại nói những năm 1953, 54 Ðông Dương lâm vào tình trạng hấp hối, chẳng lẽ Pháp mạnh hơn VM mà lại sắp thảm bại sao? Tướng Navarre, tư lệnh quân Pháp tại Ðông Dương cho biết rằng những năm 1953 & 1954, quân lưu động VM rất mạnh, khoảng 9 sư đoàn, gấp ba quân lưu động Pháp gồm 7 Liên đoàn lư động và 8 tiểu đoàn nhẩy dù (3).

Trang 495 nói:Walter Robertson, phụ tá bộ trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ đặc trách Viễn đông sự vụ có nói với ký giả Sulzberger tờ New York Times ngày 22-4-1954: Người VN ghét thực dân nhưng Mỹ lại kết với ông vua bù nhìn của Pháp đó là ông Bảo Ðại gớm ghiếc, Robertson chán nản lẩm bẩm “chỉ cần Hồ Chí Minh về phía chúng ta thì có thể thay đổi tình hình nhưng tiếc rằng ông ta là kẻ địch.”

Nhiều sử gia và chính khách Tây phương, trong đó có TT Eisenhower, cho rằng ông Bảo Ðại theo Tây nên bị dân VN oán ghét, ông Hồ Chí Minh chống Pháp nên được dân quí trọng. Ðó chỉ là những nhận định chủ quan… hoàn toàn sai lạc, họ nghĩ người Việt ghét thực dân, ai chống thực dân sẽ được coi như anh hùng, ái quốc.

Người dân ghét Tây, điều này không ai có thể phủ nhận được nhưng đồng thời họ cũng sợ hãi Việt Minh: Giữa Pháp và Việt Minh, thực tế đa số họ vẫn chọn sống trong vùng quân Pháp kiểm soát vì sống với Việt Minh chẳng khác nào sống trong cơn ác mộng, đói khát, hà khắc, tàn bạo. Người Tây phương không hề biết rằng người ta theo VM hay VC vì sợ hãi hoặc bị ép buộc hơn là tự nguyện. Theo tờ tường trình của Tướng Leclerc gửi chính phủ Pháp ngày 27 tháng 3, 1946 thì tính tới cuối năm 1945, VM đã thủ tiêu, giết hại tổng cộng khoảng 50, 000 người. (4)

Người bị trị đều ghét thực dân, nhưng giữa thực dân và CS họ vẫn thích sống với thực dân hơn: Năm 1997 chính phủ Anh trao trả nhượng địa Hồng Kông cho Trung Cộng nhưng dân Hồng Kông đã biểu tình phản đối, có người nhẩy lầu tự tử, họ đòi được sống dưới ách nô lệ của thực dân hơn là chuyển sang sống với CS vô nhân.

Theo lời kể của ông Ðoàn Thêm (5), chính phủ Bảo Ðại chấp chính từ tháng 7, 1949 đến đầu năm 1950, cựu hoàng về nước trị vì đã gây được niềm tin tưởng nơi người dân y như nhà có nóc. Từ đấy, dân chúng tại hậu phương Việt Minh hồi cư tấp nập về thành thị, các tỉnh Bắc Ninh, Hà Ðông, Hà Nội, Sơn Tây… Trong tháng 7, 1949 mỗi ngày có vài nghìn người, riêng ngày 30 tháng 10 tại Bắc Ninh, Hà Nội, Hà Ðông, Sơn Tây…, số người trở về lên tới 35 ngàn người. Giải pháp Bảo Ðại đem lại thắng lợi, người dân bõ già Hồ về với cựu hoàng.

Diện tích vùng thuộc Pháp tại Trung châu tăng lên gấp ba, số ruộng cầy cấy tăng lên nhiều. Gạo xuất cảng từ 59 ngàn tấn năm 1945 tăng lên 379 ngàn tấn năm 1950, nhân công dồi dào, an ninh bảo đảm hơn, các ngành sản xuất than đá, vải sợi, xi măng, đường… đều tiến bộ. Trị giá nhập cảng năm 1946 là 16 tỷ đồng quan Pháp đến năm 1949 tăng lên 73 tỷ đồng. Hàng hóa tràn ngập các cửa hiệu, chợ búa, các ngành sản xuất cũng tiến hẳn lên, lương bổng công tư chức khá cao. Cựu hoàng về nước đem theo nhiều thuận lợi, hàng nhập cảng ngày càng nhiều. Mỹ, Anh, Úc… và nhiều nước trên thế giới tự do thừa nhận chính phủ Quốc gia, tình hình kinh tế, chính trị, ngoại giao, quân sự đều sáng sủa. Thủ đô chính trị là Sài Gòn, các phái đoàn ngoại giao đều thiết lập ở đó. Người dân bỏ hậu phương Việt Minh vì quá gian khổ và vô lý: Giành độc lập bằng bạo lực, đưa đất nước vào cảnh núi xương sông máu. Họ kéo nhau về vùng quốc gia thuộc Pháp vì cuộc sống ở đây dễ thở và sung túc hơn nhiều. Ðối với người hồi cư, hình ảnh của Hồ Chí Minh, của đảng Lao Ðộng là những biểu hiện gớm ghiếc, ghê sợ…

Tóm lại, những nhận định sai lạc như trên của truyền thông báo chí Tây phương có nhiều ác ý và ảnh hưởng tai hại, nó đã thúc đẩy phong trào phản chiến lên cao đưa cuộc chiến Ðông Dương tới chỗ sụp đổ tan tành.


Chú thích:

(1) Richard Nixon: No More Vietnams, chương 1 The Myths of Vietnam, trang 9.

(2) Fredrik Logevall: Embers of War, The Fall of An Empire And The Making Of America’s Vietnam, Sụp Ðổ Của Ðế Quốc Pháp Và Sự Khởi Ðầu Cuộc Chiến Của Người Mỹ tại Việt Nam.

(3) Henri Navarre, Agonie de l’Indochine trang 47.

(4) Quân sử 4, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trong giai đoạn hình thành 1946-1955, Bộ Tổng Tham Mưu VNCH năm 1972.

(5) Ðoàn Thêm: Những Ngày Chưa Quên, quyển thượng trang 138-140, 173-174, 206-210
(Nguồn: datnguyen2750@att. net)

Bác Sĩ Đặng Đình Bình

Ông Trần Văn Chủy

Tí bụi


Quế Hương

Hồi mới đến ở, nhà tôi cứ tì tì mất dép. Ðôi xăng-đan con mới xỏ chân ngày mồng một Tết, mồng hai phải đi dép cũ! Anh bạn đến chơi lịch sự cởi giày ở tấm chùi chân trước hiên, ra về chỉ còn đôi vớ! Học trò đến thăm có đứa đi chân không về! Tôi than phiền với người hàng xóm, chị ấy bảo: “Thằng Tí chứ ai vô đây. Sư tổ ăn cắp vặt. Cô vô nhà hắn mà chửi.” Tôi không biết chửi. Vả lại không bắt quả tang làm sao mà chửi… hắn! Thế là tôi bắt đầu cảnh giác. Khi có khách, tôi nhìn chằm chằm ra cổng.


Hình minh hoạ.

Rồi nhà tôi bỗng xuất hiện một vị khách không mời. Ðó là một con chó đen tuyền, gầy gò ngồi trực trước cửa. Ngó bộ dạng chẳng mấy khi được no của hắn tôi thấy thương ném cho mấy mẩu xương. Hôm sau, hắn lại xuất hiện, mắt dán vào tôi. Không cầm lòng được, tôi lại cho ăn. Cứ thế ngày lại ngày, giữa hắn và tôi bỗng hình thành một mối dây buộc chặt. Có xương tôi để dành cho hắn. Ði ăn giỗ ở nhà mẹ tôi cũng nghĩ đến hắn và nhặt cả túi xương về. Tôi mở cửa cho hắn vào nhận quà. Hắn nhìn đống xương ứa nước dãi nhưng chưa ăn ngay. Hắn nằm soài trước hiên, gối đầu lên hai chân trước thở hắt ra sung sướng như một kẻ được nằm nghỉ trên chiếc giường thân thuộc của mình, mắt vẫn ngó tôi đợi chờ một cái vuốt ve. Bao giờ ăn hắn cũng chừa lại một mẩu to nhất tha về. Thế rồi một lần hắn đang ăn bỗng có tiếng huýt gió. Lập tức hắn bỏ bữa rồi len lén tha một chiếc dép chạy ra cổng. Thì ra thủ phạm trộm dép nhà tôi chính là hắn. Nói đúng hơn là tên huýt gió. Thấy tôi cảnh giác, nó huấn luyện con chó thành tòng phạm.

Hắn vẫn ngồi trước cổng nhà tôi dẫu cổng và cả lòng tôi đã khép. Thấy tôi, hắn vẫy đuôi. Tôi bỏ đi, hắn tru lên thảm thiết. Giận dữ tôi ném chiếc dép còn lại mà hắn đã tha mất một chiếc qua rào nhưng hắn không thèm nhặt. Ném một mẩu xương hắn cũng không buồn ăn. Hắn chỉ nhìn tôi và cái cổng đóng chặt như muốn hỏi tại sao không mở cho hắn.

Tôi gặp hắn đi cùng một thằng nhóc ra chợ. Tôi lơ hắn còn hắn chạy đến vẫy đuôi tíu tít mừng tôi “Win. Lại đây!” Thằng nhóc gọi. Thì ra hắn tên Win. Còn thằng kia chắc là Tí bụi vì trông hắn rất “bụi.” Loắt choắt, bẩn thỉu, ranh ma. Mua xong, ra đến cửa chợ tôi bỗng nghe tiếng chân sầm sập và tiếng la í ới: “Trộm… trộm… bắt lấy…” Một con chó đen miệng ngậm tảng thịt lao ra khỏi chợ, ngang qua tôi bỗng dừng lại. Chỉ cần tích tắc khựng lại ấy, người đuổi theo đằng sau đã kịp quật một gậy. Ðau quá hắn khuỵu xuống. Chiếc gậy lại nhắm đầu hắn vút tới. Tôi kịp thấy đôi mắt hắn nhìn tôi da diết… Không nghĩ, tôi đưa chiếc giỏ thức ăn đỡ đòn cho hắn. Con chó thoát hiểm gượng dậy lảo đảo chạy tiếp, còn tôi ngồi giữa đống đồ ăn tung tóe với bao câu rủa ráy: “Ðiên. Tự nhiên hứng!” Chắc là chủ. Ngó thế mà chủ của con chó ăn cắp! Ðền đây! Ba chục ngàn! Hơn một ký thịt đấy!… Mất toi tiền vô duyên.

Trưa hôm ấy, một đôi dép phiêu bạt bỗng về lại mái nhà xưa. Từ đó cổng nhà tôi hay mở và con Win vào nằm xoài trước mái hiên đầy nắng. Nó ăn, lơ mơ ngủ rồi sực nhớ đến chủ lại tất tả ra về. Thỉnh thoảng tôi gói cái gì đó trong bao nylon. Con chó thật khôn, thấy đưa bao nylon là biết ngay quà của chủ lập tức ngậm ở miệng chạy về. Trong bao nylon đôi khi còn là mấy chiếc áo cũ. Soạn đồ của con, tôi chạnh nghĩ đến chiếc áo bẩn ngắn cũn cỡn không cài khuy của Tí bụi…

Con Win ngày càng nặng nề. Thì ra hắn sắp làm mẹ. Một lần có giỗ, đợi hắn không ra, tôi cầm bịch thức ăn hỏi nhà Tí bụi. Hắn ở tuốt xóm trong, bên hồ rau muống của bà Tư… Không ai thấy cha hắn. Hai mẹ con sống lăn lóc ở hè phố bụi bờ. Bà Tư cho che tạm túp lều bên hồ rau muống để vừa canh rau cho bà vừa có chỗ chui ra chui vào. “Nhà” Tí bụi mùa Hè mát nhưng mùa Ðông lạnh lùng! Túp lều đầy rác, nhỏ nhoi như tai nấm, không biết tựa vào đâu để trốn gió. Những tấm nylon che chắn tạm bợ cứ lật lòng khoe túp lều nát rác đuổi nhau loăng quăng. Bà mẹ tâm thần của Tí bụi ngày nào cũng đi kiếm rác rồi tẩn mẩn đếm như người ta đếm tiền, thỉnh thoảng phì cười một mình. Con Win có nhiệm vụ không cho người lạ vặt rau muống của bà Tư, không cho bà điên ra khỏi nhà ban đêm và theo Tí bụi kiếm ăn. Thấy tôi, hắn nhổm dậy mừng rồi lại nằm xuống hãnh diện liếm mấy chú cún bé xíu trên chiếc bao tời rách như muốn khoe rằng con hắn đấy! Còn Tí bụi đang luộc rau muống bằng rác, chùi tay vào quần giương mắt ngó tôi.

Trong túp lều rách nát ấy, những sinh vật khốn cùng lại rất thương nhau. Thấy cách Tí bụi săn sóc bà mẹ điên và bầy chó, tôi nhận ra sau lớp bụi đời và cáu bẩn, tâm hồn hắn vẫn lóng lánh những sắc mầu đáng quý. Bầy chó con dễ thương lên từng ngày. Tí bụi bảo con đẹp nhất sẽ tặng tôi. Nhiều đêm tôi thức giấc, túp lều ngập rác mà không thiếu tình yêu ấy bỗng hiện ra… Cả những dự tính. Chẳng hạn chuyện Tí bụi học chữ, đi bán vé số thay vì moi rác và ăn cắp… .

Sáng ấy, tôi có tiết thao giảng. Vừa dắt xe ra đã thấy Tí bụi đợi cổng:

– Cô ơi! Con Win…

Tí bụi không nói hết nổi câu, nghẹn ngào… Con Win xong đời rồi! Nạn đập chó, bắt mèo đang hoành hành. Tôi đoán ra ngay cớ sự, nhưng tiết dạy đang chờ. Tôi đạp xe đi, Tí bụi, con Win và bầy con chưa mở mắt của nó theo tôi đến tận cổng trường.

Bà mẹ điên của Tí bụi đang lang thang khắp xóm tìm con Win, gặp ai cũng hỏi: “Thấy hắn mô không? Ðêm qua tui trốn hắn đi chơi… Chừ hắn trốn tui đi chơi…”

Dấu máu con Win vẫn còn trên lối xóm. Hắn bị bọn bắt chó quật gậy sắt vào đầu khi chạy theo bà điên…

Trời trở lạnh. Túp lều bên hồ rau muống đầy gió và im lặng. Những mảnh nylon rách te tua vẫn cuồng loạn trong vũ khúc gió. Rác loăng quăng chơi trò đuổi nhau. Không thấy Tí bụi. Lù lù trong túp lều trống hoác là ổ chó chưa mở mắt. Chúng đang đói lạnh vì thiếu mẹ. Tôi cầm đĩa sữa đến và thấy lũ chó châu đầu rúc vào một đống đen đen. Nhìn kỹ thì Tí bụi… Nó trùm bao tời, khoanh người ủ ấm cho lũ chó con.

Tí bụi ngủ. Bầy chó con cũng ngủ. Còn tôi… bầm lòng!

(Nguồn: Việt Nam Thư Quán, qua sangtao@org)

Ông Trần Mâu Kích

Những con đường đã thay tên


Henry Ngo

Trở về xứ Việt sau ba mươi mấy năm xa cách, ngày ra đi mái tóc còn xanh trong đầu còn vang vẳng tiếng hát: “Sài Gòn đẹp lắm, Sài Gòn ơi! Sài Gòn ơi!” Bây giờ tóc đã muối tiêu, tìm đâu cho ra tên thành phố cũ… Tình cờ lọt vào vòng vây của những con đường mang tên phụ nữ mới lạ, nào là Nguyễn Thị Nghĩa với Lê Thị Riêng. Tôi moi óc để tìm tên đường của hai vị anh hùng Võ Tánh và Ngô Tùng Châu, nhất định tuẫn tiết để giữ thành chứ không đầu hàng quân địch. Nhưng hỡi ơi, Võ Tánh đã đổi thành công thần Nguyễn Trãi, thôi cũng tạm ổn. Nhưng người bạn Ngô Tùng Châu đã đổi thành Lê Thị Riêng, chị cán bộ trẻ tuổi này là ai mà có người xấu miệng đã vu cho chị là người tình riêng của bác.


Còn đâu những con đường thanh lịch xưa của Sài Gòn. (Lan Huong’s photo)

Nhắc đến người yêu của bác phải kể đến tên đường Nguyễn Thị Minh Khai, xưa là đường Hồng Thập Tự. Người nữ đồng chí này là vợ của chàng đồng chí Lê Hồng Phong, bác đã mượn vợ của chàng trong thời kháng chiến. Không biết đến khi cách mạng thành công bác có chịu trả vợ lại cho chàng không, chứ trường Gia Long đến giờ vẫn giữ tên người yêu của bác. Còn chàng Lê Hồng Phong đi chiếm trường của cụ Petrus Ký, chiếm luôn tên đường của cụ ở gần ngã bảy Sài Gòn.

Tôi phải cần rất nhiều thời gian mới có thể làm quen với các tên anh Tám chị Bảy trên những con đường ở Sài Gòn. Nào là công viên Lê Văn Tám, phở gà Hiền Vương với những con gà treo béo ngậy bị chị Võ Thị Sáu thay tên. Không biết các chị đã làm gì cho đất nước, hay chỉ là các chị giao liên bán hột vịt lộn, giấu vài quả mìn, quả lựu đạn trao cho các anh đặc công đi giật cầu sập cống giết hại dân lành.

Ra đến trung tâm của hòn ngọc Viễn Ðông, tôi nhớ ngay đến câu vè của dân gian sau ngày “giải phóng,” hay nói trắng ra là ngày Cộng Sản nuốt trọn miền Nam:

Nam Kỳ Khởi Nghĩa tiêu Công Lý.
Ðồng Khởi vùng lên mất Tự Do.

Nếu đi tà tà đến nhà thờ Ðức Bà, vòng quanh công trường Alexandre de Rhodes, tôi sẽ bị dội cơ vì tên đường Lê Duẩn. Cái tên làm tôi nhớ đến hai câu thơ của một nhà thơ đỏ sắt máu nịnh thần:

Chúng muốn biến ta thành quỷ đỏ.
Ta sẽ vươn lên như một thiên thần.

Nghe đâu phong phanh tên đường Lê Duẩn sắp bị đổi tên, vì các viên chức cao cấp nhà nước tối nào cũng nằm mơ thấy bác hiện về đòi bóp cổ, nếu không lập tức hạ ngay cái tên đã hạ thủ bắt bác phải chết tức tưởi một cách dần mòn.

Từ quận một, chạy dọc theo con đường Cách Mạng Tháng Tám dài hun hút dẫn đến xa lộ xuyên Á. Con đường ngày xưa mang tên Ðức Tả Quân Lê Văn Duyệt chạy ngang ngã ba Ông Tạ. Dọc đường treo đầy những chú cầy tơ quay vàng óng mà mới thoạt nhìn cứ tưởng là những con heo sữa. Ðấy! Biểu tượng của nền văn hóa vùng ngoài đã xâm nhập vào đây cho dân Sài Gòn biết nhâm nhi câu Sống ở trên đời…

Ra đến xa lộ xuyên Á thì hỡi ơi, đại lộ hoàng hôn đã đổi thành đại lộ Trường Chinh. Nghe đến tên này con cháu các tay đại điền chủ, đại tư sản mại bản như tôi đều bị dị ứng…

Nhóm trẻ hậu bối họ tụ lại trong khu đô thị mới của Phú Mỹ Hưng. Con đường Nguyễn Văn Linh ngang qua bệnh viện Pháp-Việt, huyết mạch của những mô hình xây theo lối sống hiện đại của nước ngoài, là con đường chạy ẩu nhất thế giới.

Trở lại tên những con đường ở Phú Mỹ Hưng, chả biết lúc còn sinh thời các đồng chí đàn em này có thắm thiết huynh đệ chí tình hay không mà lúc chết được tụ lại một khối làm hàng xóm láng giềng với nhau. Thú thật với các bạn, nếu có ai tặng tôi căn hộ ở Phú Mỹ Hưng chưa chắc gì tôi đã nhận (nói vậy mà không phải vậy). Vì không muốn ngày nào cũng phải đọc tên những đồng chí để nổi tính sân cho hại đến thân tâm.

Từ đại lộ Nguyễn Văn Linh đến đèn đỏ quẹo phải ra đường Nguyễn Hữu Thọ, cứ thế chạy mãi đến đường Lê Văn Linh. Nguyên một bộ chính trị nằm chình ình giữa phố, cứ tưởng rằng người chết đi là yên chuyện, nhưng người vẫn hiện về nhát ma thiên hạ trong các bảng tên đường.

Theo thói quen cứ 6 giờ sáng tôi phải dậy đóng đồ thể thao vào để chạy bộ, cho dù ở công viên 23 tháng 9 gần New World hay những con đường rợp bóng mát của Phú Mỹ Hưng. Ðặc biệt ở khu đô thị mới thiên hạ hơi bị cổ cao, mặt người nào cũng hếch lên cho ra dáng Việt kiều lắm bạc nhiều tiền mới ở được nơi đây.

Ra tập thể thao phải dắt theo hai con chó ngoại lai, một to lớn mặt thật có ngầu như chó Ngao, một bé tí tẻo teo như con chuột nhắt. Giá tiền có khi lên đến hai ngàn đô cho một cậu chó, hơn cả giá một cô gái Việt Nam nghèo phải gả cho người nước ngoài như Ðài Loan hay Hàn Quốc.

Thôi giã từ khu đô thị mới cho người nước ngoài, tôi tìm về khu dân dã chính cống Việt Nam chay. Khu giáp ranh Phú Nhuận, Bình Thạnh và Tân Bình. Có những con đường nghe tên rất gợi hình, gợi cảm ở gần bên nhau như những nguyên liệu tạo nên một sản phẩm hữu ích cho người. Chẳng hạn đường Huỳnh Văn Bánh ở gần đường Nguyễn Văn Ðậu, chạy xa xa gặp đường Ðoàn Văn Bơ. Nếu nhào nặn các vị Bánh, Bơ, Ðậu ta sẽ có tên đường Nguyễn Thị Bông Lan.

Ôi lịch sử Việt Nam ngày xưa tôi đã học, sao quá oai hùng! Mỗi lần đọc lên tôi thấy hào khí nổi lên bừng bừng, nhiều khi muốn ứa nước mắt vì cảm động. Cảm xúc này đã trỗi dậy khi tôi đọc được tên một vị anh hùng nào ghi trên bảng tên đường như Trần Hưng Ðạo, với chiến công hiển hách trên sông Bạch Ðằng, hình ảnh ngài rút gươm chỉ dòng sông Bạch Ðằng thề rằng: Chưa tan lũ giặc ta chưa về. Hay những anh hùng áo vải Lê Lợi, Nguyễn Huệ mơ thành người Quang Trung. Một Lê Lai liều mình cứu chúa, đổi áo cẩm bào. Một Phạm Ngũ Lão ngồi đan giỏ, nghĩ chuyện cứu nước, bị ngọn giáo của quân giặc xuyên vào đùi mà vẫn không nhúc nhích…

Nhưng nay Sài Gòn yêu mến của tôi đã bị đổi tên, đổi theo một số con đường thân thương khác bằng những cái tên “nhà quê” nào lạ hoắc.

Tôi hoàn toàn bị dị ứng rồi các bạn ạ!

(Nguồn: [email protected])

Thơ Ðặng Kim Côn

Giữa nhau

Hôm qua nghe nắng mềm như nước
Lành lạnh khẽ chao nghiêng bước ai
Vẫy tay bóng rẽ đôi ngôi nắng
Chải mấy giọt chiều xanh xuống vai

Thấy mình âm u như ngày mưa
Thấy em lặng lẽ chiều xa ấy
Không nói gì, hay nói nhiều cũng vậy
Giữa nhau là im lặng xốn xang xưa

Bên bờ mùa đông bên dòng mùa hạ
Không hẹn tìm nhau mà hỏi mai nào
Nắng xuân chực giữa đời nhau úa
Như lá trên cành thu xuyến xao

Là giữa nhau còn đêm tối nhau
Lá rơi hun hút xuống mồ sâu
Mai kia mốt nọ là mai mốt
Mai mốt phải là hôm nay đâu!


Tháng Bảy Thu chưa

Tháng Bảy này không có mưa Ngâu,
Ngưu Lang Chức Nữ biết giờ đâu,
Sông Ngân thăm thẳm mờ mây khói,
Quạ có cần đâu chuyện bắc cầu

Năm xưa em về mưa gì rơi
Thu chưa, sao lá úa chân người
Tháng Bảy con đường xao xuyến gió
Tiếng lá chao nghiêng chiều Ngâu rơi

Thuở ấy mưa theo em về, lạnh
Buồn vương dáng phố trời liêu xiêu
Nghe sao tiếng bước rơi đâu lạ
Mình đang đâu đây, hỡi buổi chiều?

Bàn tay lạnh níu bàn tay lạnh
Ánh mắt thầm đưa tiếng bước thầm
Nên chiều mưa cũng bất ngờ như hẹn
Người trăm năm không về với trăm năm

Em đâu nhớ mưa sau lưng quá xa
Nên không biết mùa thu hẹn tới,
Bởi mùa nào cũng trông mong vời vợi
Và ngày nào em cũng mới… hôm qua

Cũng bâng khuâng lá vàng nỗi nhớ,
Người đến người đi như mưa thu,
Chiều hai nơi ngồi nhìn mưa đổ
Nghe mình xoáy trong những đám mây mù

(Nguồn: sangtao@org)

Thơ Viên Dung


Thử khi về chỗ biệt ly

1
khi về bến biệt thấy ly
biệt ly đứng đó ù lì
điệu kia cấm hát còn y bên lòng

‘nhạc vàng’ đó cấm như không
cần chi nghe lén ngoài trong
khúc ca dĩ vãng gợn hồng dấu xưa

rồi khi cấm đoán tiễn đưa
dẫu quay lưng ý chưa vừa
nên ngoài biển lớn nhớ mùa vàng son

2
ánh trăng thơm em da non
những ngày hạ đỏ trăng tròn
hẹn em nguyệt ngọt về ngon giấc tình

phường ấy tấy đỏ phương tình
về chỗ biệt, ly đinh ninh
những người tưởng biết như tình chưa quen

hạ nóng hơn thời biết em
phượng rơi rơi chỗ ươn hèn
đã ly về biệt vẫn phiền biệt ly

3
ngực tròn căng thơm dậy thì
ôm tôi hồi thủa biệt ly
đến khi về hỏi tình si phương nào

lệ vào ly biệt bôn đào
biệt ly tình đó xanh xao
tưởng như ai tiếc uổng đào hố chôn

về chỗ biệt đỏ hoàng hôn
tình không dễ nối, bồn chồn
phân ly vẫn hệt như hồi bỏ đi

(29.06.2015)

Thơ Trần Huy Sao

Thơ gởi bạn
(Về Vi Vi Võ Hùng Kiệt)

Bạn bỏ đồng bằng lên ở miền cao
Chắc đã ớn thầm dòng đời bụi bặm
Về với thiên nhiên núi cao rừng thẳm
Học người xưa làm ẩn sĩ đó chăng?

Ẩn sĩ thời nay còn nhiều vướng bận
Rứt chưa ra mà trói buộc bất ưng
Biết tính bạn kẻ tài hoa phóng túng
Chốn xôn xao lề thói vốn không quen

Ta ở lại chẳng còn nơi chốn đến
Trượt ngã hoài giữa phiền trược vây quanh
Ðời vẫn cứ bất thường cơn nóng lạnh
Quẩn quanh đây không thấy bạn chia cùng

Bạn cũng tệ, đã làm ta mất hứng
Bỏ đi không ới gọi tiếng nào
Khi ghé lại căn nhà xưa vắng, lạ
Ðường trở về, buồn. Bước thấp bước cao

Ðời thiếu bạn cũng chập chùng chao đảo
Huống bạn hiền tâm đắc chuyện thơ văn
Bạn cùng ta đi nốt cuộc phong trần
Bút với cọ lạc giữa đời cơm áo

Cứ giữ lại những buồn vui thơm thảo
Buổi bạn bè còn thù tạc hôm mai
Khi chợt buồn thì làm ơn nhớ lại
Dẫu xa xôi thì vẫn thấy như gần

Bạn ở vùng cao ta ở đồng bằng
Bụi bặm dòng đời không vươn tới kịp
Khi nào rảnh hay lúc nào có dịp
Ghé về đây thở hít chút cho vui

Chuyện thường ngày áo cơm đời mệt đuối
Cách gì đây mà níu lấy cho gần
Ta ngưỡng mộ kẻ tài hoa là bạn
Sống an nhiên nặng tình nghĩa bạn bè

Ðời nghệ sĩ chẳng đặt điều câu nệ
Cứ xuề xòa đâu thể mất lòng ai
Nghĩ tới bạn viết bài Thơ cảm khái
Ðọc cho vui khi chợt nhớ… đồng bằng!


Ngồi đợi đông vui

ngày chu-lai-pho hai con về không
bận bịu cả năm có ngày lễ lớn
đầu tháng Bảy đã bắt đầu chộn rộn
anh Hai chị Ba cả nhà chờ hai con

nói chờ hai nhưng thiệt lòng chờ bốn
vợ dắt chồng về chồng dắt vợ về
ngôi nhà xưa vốn thường ngày quạnh quẽ
nay con cháu về rộn rã tưng bừng

đặc biệt năm nay út Uyên có tin mừng
Trần gia lại có thêm thành viên mới
Ba được lộc trời có thêm cháu ngoại
đông càng đông thêm vui lại vui hơn

tính lại thời gian giờ các con khôn lớn
theo dòng đời hội nhập đất quê xa
Ba cứ lui cui góp nhặt nỗi quê nhà
ngó tới ngó lui đã dặm trường xa ngái

ngôi nhà xưa giờ nắng mưa dầu dãi
bước chân đời đã mỏn dấu thiên di
Ba cứ ngồi lì một chỗ không đi
chờ con cháu về ngắm nhìn cho đã

dặn mấy con đi dọc dài trăm ngả
cũng đừng quên về lối nhỏ nhà xưa
nơi một thời mình khăn gói gió đưa
ghé tới ở lì lớp tre tàn măng mọc

nhớ tìm về dẫu đường đời ngang dọc
gầy buổi đông vui cho thỏa nhớ đời nhau
các con xa nhưng còn tình yêu dấu
cứ để lại đây Ba giữ giùm cho…
(Hiên Trăng, 04.07.2015)


Lời tiễn đưa lần cuối
(Tưởng nhớ con, Trần Minh Trí)

thể nào con cũng về xóm cũ
ngó tìm khói bếp rủ chiều trôi
bữa cơm chưa kịp trời sụp tối
leo lét vàng hoe ánh đèn dầu

bầy chim bay muộn giạt về đâu
con dế kêu sương trời khuya lạnh
gió bạt ngàn qua thung hiu quạnh
xóm nghèo rưng nỗi nhớ hồi xưa

con xa lâu quá rồi nắng mưa
đã gội phôi pha ngày tháng buồn
con cá ra sông tìm biển lớn
biền biệt mù khơi một lối về

những người xưa cũ đã hồn quê
bàng bạc hương bay chìm khuất núi
kỷ niệm nghiến lòng đau tro bụi
chỉ còn nỗi nhớ gởi đời sau

đời sau vướng lụy cuộc bể dâu
trôi giạt tha phương chờ mỏi mắt
kẻ ở người đi tìm đâu thấy
để xóm làng buồn lặng ngẩn ngơ

Ba nỗi buồn bỏ lại trong thơ
bỏ rớt bên rừng Ngo đồi Trọc
bụi mâm-xôi trĩu cành trái ngọt
vị sim rừng hoang dại Dốc Trời

con cá Tràu cá Giếc chơi vơi
lạc dòng suối khô Cam Ly hạ
con hến oải mình bờ cát cạn
chia lòng đau con Rạm phơi mình

Xóm mình chắc rồi buồn câm nín
đón con về thăm mái nhà xưa
một lần về lại, còn đâu nữa
là biệt ly rồi đó, Trí ơi!…

Escondido, 02.07.2015
(Nguồn: sangtao@org)

Thơ Phan Khương

Bụi mù

Mùi hương cứ tưởng hơi tình cũ
Cay đắng ngập ngừng trôi tiếng ru
Ðêm về ngả gối tình thôi mộng
Mắt nhắm tim anh bụi vấy mù


Tiếng rơi

Em ngồi đan áo vàng mong đợi
Vỡ mảnh gương đời vạn tiếng rơi
Vòng tay xưa cũ xô tình vắng
Áo trắng mênh mang nặng một đời


Xô dạt

Bể dâu một cõi đời xô dạt
Áo lính hoang tàn chiến trận tan
Người về khập khiễng tình xa tít
Ðón nắng xuân sang dấu muộn màng

Hoa buồn trẩy bước sầu cô quạnh
Lối cũ quen đường mộng chối quanh
Em đứng bên trời xưa có biết
Ðất ướt nơi này quá mỏng manh.


Mộng ảo

Một mảnh vườn xưa một góc trời
Tình lăn xuống phố bước chơi vơi
Ðời đem mộng ảo người si dại
Một kiếp rong chơi héo hắt cười.


Xuân về em nhớ ai

Sóng lặng thuyền trôi không vỡ nước
Ðường về u uất bóng tà dương
Nghìn đêm mây trắng vây quanh gối
Lác đác thu vàng nắng sợi vương

Ðá khóc chân trần quen lối cũ
Mây về len nhẹ mắt em sâu
Vàng bay khói thuốc vương màu nhớ
Một khoảnh tình riêng một nỗi sầu

Anh đợi màu hoa giăng trước ngõ
Em về bước nhỏ rõ kiêu sa
Tóc mây thả gió chiều e thẹn
Ta đợi sang mùa em mãi xa

Ta tưởng mùa xuân trong mắt ai
Tóc ươm hoa bướm nắng xô dài
Má hồng gửi gió thêm e thẹn
Mây trắng xuân về em nhớ ai…

Thơ Nguyễn Bắc Sơn


Nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn vừa qua đời tại Phan Thiết, ngày 4 tháng 8, 2015. Chúc linh hồn ông sớm về cõi vĩnh hằng… Sự ra đi đẹp như những vần thơ của ông: (BichHuyen;
[email protected])


Nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn, thời trẻ.

Thổ Cúc


1.
Cúc vàng sân ga
Con tầu mất hút
Tiếng còi trong ta
Nhoi nhói dội về
Cùng gió nồm
Ðau buốt.

2.
Lắng nghe hồn hoa
Loài cây tịch tịnh
Cây có nói gì đâu
Mà nở ra con bướm sầu

3.
Cúc mọc lên từ đất
Ðất là mẹ của ngàn hoa
Thy sỹ hồn nhiên đi qua
Mỉm cười chào cánh hoa thổ cúc

4.
Kẻ làm thơ chết đi
Sẽ biến thành hoa cỏ
Chờ những cơn mưa nhỏ
Biến thành hạt vô vi


Ba về trước nhé
(Khóc Ba, thi sĩ Nguyễn Bắc Sơn)

*Thái Bình

Ðời là cuộc nhẹ nhàng
Ðời chỉ là buông bỏ
Ra đi cũng nhẹ nhàng
Ra đi trong lãng đãng

Ðọc ba nghìn cuốn sách
Bảy năm hiểu Thích Ca
Cũng để về đâu đó
Ðâu cũng đất hán hồ

Thôi Ba về trước nhé!
Sá chi hạt bụi trần
Nhìn Ba cười mãn nguyện
Sao lòng vẫn rưng rưng.

(4.8.2015)
(Nguồn: sangtao@org)

Thơ Giao Yên

Gặp

Tạt vào quán cơm tấm
Gặp mối tình bao năm
Ta ra người phiêu bạt
Em ra người đông con


Nắng sớm vườn chanh

Gặp em nắng sớm vườn chanh
Muốn quen chua quá thôi đành làm ngơ
Cố quên nào dễ phai mờ
Em nhan sắc lắm – ta khờ dại thêm.


Bạn ơi nâng cốc

Bạn ơi! Nâng cốc chớ phân vân
Cám cảnh lòng rung chén rượu ngần
Thức giả khéo khôn đầy tánh đất
Bình dân rổn rảng khỏi ai lầm.


Lối rối hương quen

Những lần nhớ nét hoa dung
Ta buồn vung vãi – buồn lung tung xèng
Lu bu nỗi nhớ rối mèm
Quẹo vào khuôn mặt vội quên ta rồi!
Người quên – Ta nhớ mãi thôi!
Nỡ đâu mà trách trã người – người dưng
Biết vườn em chẳng đặng đừng
Chập chờn chật vật vô cùng bướm chen
Về qua lối rối hương quen
Niềm gieo chiều xuống cho đêm đậm màu.


Nữa mai

Em bỗng lớn rồi! Thật vậy sao!
Cho con phố cũ biết xôn xao
Cho ta nghe tiếng chim vang hót
Xin cứ líu lo tựa thuở nào

Chim biết bay đừng bay xa nhé!
Xin em đừng cất bước xa ta
Cho ta nghe ấm qua làn gió
Ấm nét ngây thơ bỗng mặn mà

Em ơi! Phố cũ sẽ buồn tênh
Mai áo em bay tận cuối miền
Thấy nhớ nhung treo đầy trĩu nhánh
Ta lỡ nhớ rồi! Quên chẳng quen

Nữa mai có phải xa biền biệt
Lỡ gặp lại nhau cứ hỏi han
Lời em loang tận lòng ta ấm
Ta khỏi gục say khỏi lạnh tràn.

Làm ăn ở VN: Muốn yên thân phải hối lộ cán bộ thuế

HÀ NỘI (NV) Ðó là kết quả đánh giá cải cách thủ tục hành chính thuế của Phòng Thương Mại và Công Nghiệp Việt Nam sau khi khảo sát hơn 2,500 doanh nghiệp đang nộp thuế ở Việt Nam.


Theo báo Thanh Niên, hôm 11 tháng 8, Phòng Thương Mại và Công Nghiệp Việt Nam (VCCI) và Tổng Cục Thuế tổ chức hội thảo “Ðánh giá mức độ hài lòng của doanh nghiệp về cải cách thủ tục hành chính thuế” tại Hà Nội.








Cán bộ thuế ở Việt Nam thường tìm đủ mọi cách để gây khó cho doanh nghiệp để nhận tiền “lót tay.” (Hình: Thanh Niên)


Theo ông Ðậu Anh Tuấn, trưởng ban pháp chế VCCI, việc đánh giá mức độ hài lòng của doanh nghiệp về cải cách thủ tục hành chính thuế trên 5 lĩnh vực gồm: tiếp cận thông tin; thực hiện thủ tục thuế; thanh kiểm tra thuế; phục vụ của công chức thuế và kết giải quyết công việc.


Công bố kết quả khảo sát, ông Tuấn cho biết, trong năm 2014, nghiệp vụ của cán bộ thuế có sự cải thiện, song vẫn tồn tại một số vấn đề trong đó đáng chú ý nhất là những khoản “chi phí không chính thức,” với 32% doanh nghiệp khẳng định, họ phải trả chi phí “lót tay” (hối lộ) không chính thức cho cán bộ thuế.


Theo đó, có 19% doanh nghiệp nhà nước bị hành phải chi “thêm,” trong khi đó 33% doanh nghiệp dân doanh buộc phải chi khoản này. Ðặc biệt, có tới 41% doanh nghiệp FDI (doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) phải mất khoản phí này cho cán bộ thuế để được yên ổn đầu tư. Chi phí “lót tay” này thường xảy ra trong lúc cán bộ xuống doanh nghiệp kiểm tra, thanh tra thuế.


Các tỉnh có tỷ lệ doanh nghiệp lo ngại cao nhất về chi phí không chính thức này là: Gia Lai, Lai Châu, Hà Nội, Khánh Hòa và Bình Dương với tỉ lệ từ 44-58%, tùy từng địa phương. Trong khi đó, có tới gần 60% doanh nghiệp ở Hà Nội, Lai Châu, Gia Lai, Khánh Hòa và Nghệ An đều lo ngại bị phân biệt đối xử khi không “lót tay” cho cán bộ thuế.


Mặt khác, hơn 50% doanh nghiệp tham gia khảo sát cho biết, bị gặp phiền hà khi làm thủ tục thuế. Cụ thể, đăng ký thuế và kê khai thuế là hai nhóm thủ tục các doanh nghiệp gặp phiền nhiễu nhất. Ngoài ra, có một bộ phận cán bộ thuế còn yêu cầu doanh nghiệp cung cấp những giấy tờ không cần thiết nhằm tìm cách moi thêm “tiền trà nước” của doanh nghiệp. (Tr.N)

Bạc Liêu: ‘Hà bá’ chực chờ nuốt chửng nhà dân

BẠC LIÊU (NV)Nhiều người sống gần khu vực cống Giá Rai, như “ngồi trên đống lửa” khi hàng ngày thấp thỏm lo sợ không biết khi nào nhà mình bị “hà bá” nuốt chửng dưới lòng sông.


Ngày 10 tháng 8, Dân Trí đưa tin, nhiều hộ dân sống gần khu vực cống Giá Rai, phường 1, thị xã Giá Rai cho biết, gần đây họ luôn phải sống trong cảnh lo sợ cho tính mạng và tài sản của gia đình bị nước cuốn trôi do đất bị sạt lở bởi cả khu vực đang chịu ảnh hưởng rất lớn của dòng nước ra vào khi cống hoạt động.








Phần nhà ở còn lại của gia đình bà Tiếng không biết bao giờ bị trôi theo dòng nước. (Hình: Dân Trí)


Chẳng hạn như hộ bà Lý Thị Tiếng (62 tuổi), ấp 2, phường 1, tiếp giáp với khu vực cống đang chịu ảnh hưởng khá lớn. Cả trăm mét vuông nhà đất cặp bờ sông đã biến mất dưới lòng sông từ nhiều tháng qua, trong khi khu vực nhà ở còn lại cũng đang bị đe dọa nghiêm trọng, không biết lúc nào trôi theo “hà bá.” Trong khi đó, hộ bà Nguyễn Thị Ðặng (58 tuổi), gần đó cũng bị thiệt hại không nhỏ khi toàn bộ phần nhà phía sau hàng chục mét vuông cũng bị sạt lở xuống lòng sông.


Không chỉ riêng hộ bà Ðặng, bà Tiếng mà còn nhiều hộ dân ở hai bên bờ sông Giá Rai gần khu vực cống Giá Rai cũng đang lo lắng cho “số phận” chỗ ở của gia đình mình. Nhiều người cho biết, do không thể di dời đi nơi khác nên đành “đánh liều” làm nhà để ở, bởi mỗi khi mùa mưa, mở cống dòng nước xiết tấn công ào ạt trông rất sợ.








Vết tích phần nhà sau của bà Ðặng còn sót lại. (Hình: Dân Trí)


Theo người dân, nguyên nhân chính là do thời gian qua cống Giá Rai mở cửa để lấy nước ra vào. Cống Giá Rai có 3 cửa, nếu mở cửa giữa thì không ảnh hưởng nhiều, nhưng nếu mở cửa trái hay phải, thì khu vực tương ứng sẽ bị ảnh hưởng bởi dòng chảy cực mạnh dẫn đến làm sạt lở đất.


Cụ thể, thời gian gần đây cống Giá Rai bị hư cửa bên trái và cửa giữa hướng từ quốc lộ 1A đi vào, nên ban điều hành chỉ mở được cửa bên phải. Vì vậy mà khu vực nhà dân ở phía hữu ngạn dòng sông, trong đó có họ gia đình bà Tiếng, bà Ðặng bị sạt lở nặng.


Chưa hết, theo mô tả của phóng viên Dân Trí, một đoạn kè bằng đá bên bờ phải cũng đã bị sụp xuống sông mà nếu sửa chữa, gia cố sẽ tốn một khoản kinh phí hàng tỷ đồng.


Tin cho hay, trước đó Phòng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn thị xã Giá Rai cũng đã xác định, ấp 1 và ấp 2 là cửa ngỏ về xã Phong Thạnh và Tân Phong, có cả trăm hộ dân đang sinh sống trên phần đất có nguy cơ sạt lở cao. Người dân cũng đã báo lên chính quyền địa phương tình trạng sạt lở gây nguy hiểm này từ nhiều năm qua, nhưng đến nay vẫn chưa được giải quyết. (Tr.N)

Giang hồ bắt nông dân nộp tiền ‘bảo kê,’ chính quyền bất lực

ÐẮK LẮK (NV)Nhiều nông dân trồng tiêu ở huyện Cư Kuin phải cắn răng trả tiền “bảo kê” cho bọn giang hồ để không bị chặt phá. Trong khi chính quyền địa phương bất lực đứng nhìn.


Theo tin Tuổi Trẻ, ngày 7 tháng 8, công an xã Ðray Bhăng và công an huyện Cư Kuin đang truy bắt một nhóm người chuyên trộm cắp, “bảo kê” có tổ chức. Trước đó, nhóm “anh chị” này đã thực hiện các vụ trộm cắp, phá hoại các vườn tiêu rồi buộc người dân phải đóng “hụi chết” cho chúng để được “bảo vệ.”








Một người dân xã Ðray Bhăng xót xa bên những gốc tiêu của gia đình bị cắt phá mà không tìm ra thủ phạm. (Hình: Tuổi Trẻ)


Báo này cho hay, nhiều hộ dân tại các xã Ea B’hốk, Ðray Bhăng, Ea Ninh… của huyện Cư Kuin rất hoang mang trước nạn trộm tiêu xảy ra dồn dập. Cụ thể, gia đình bà Lê Thị Mai, thôn Kim Châu, xã Ðray Bhăng có rẫy tiêu 3 năm tuổi khoảng 1,000 trụ, ở cách nhà chừng 3 cây số, có dựng lều và nhờ người cháu canh rẫy. Thế nhưng đầu tháng 8 vừa qua, chỉ trong một đêm mấy chục bụi tiêu đã bị cắt trụi.


“Khoảng một tháng trước, có hai thanh niên vào gặp đứa cháu vờ hỏi xin số điện thoại của chồng tôi. Sau đó họ gọi cho gia đình đặt vấn đề sẽ nhận trông coi vườn tiêu cho gia đình với giá 10,000 đồng/trụ/năm, bảo đảm không bao giờ bị mất trộm. Chồng tôi không biết là ai và nghĩ vườn mình thì tự canh tốt nhất nên cúp máy. Sau đó, chúng tôi nhận được tin nhắn từ số máy trên có nội dung “tiêu đẹp hè.” Và ngay tối hôm đó, hàng chục trụ tiêu của gia đình bị phá tan hoang,” bà Mai kể.


Trong khi đó, ông Trần Văn Quân, ở xã Ea Bhăng còn đau hơn vì đã mất tiền “bảo kê” mà vẫn bị… mất trộm. Trước đó, đầu năm 2015, ông Quân đã trả cho nhóm bảo kê 5 triệu đồng/năm để vườn tiêu của ông bảo đảm không có ai phá. Thề mà giờ, hàng chục trụ tiêu bị chặt bức gốc.


Do bị phá hoại, trộm cắp tiêu, để tự bảo vệ người dân đã rào lưới, thậm chí bẫy điện cho vườn nhà, mặc dù biết như thế là phạm luật.


Trả lời phóng viên Tuổi Trẻ ngày 10 tháng 8, ông Nguyễn Ðình Hoan, trưởng công an xã Ðray Bhăng xác nhận, ở xã đang có một nhóm tội phạm chuyên trộm dây tiêu, nhận bảo kê vườn cây của người dân.


Theo tố cáo, nhóm này ra giá, nếu chủ vườn không đồng ý để cho chúng trông coi thì sẽ bị phá hoại vườn cây. Nhiều người bị đe dọa nên lo trả tiền cho chúng. “Chúng tôi đã tổ chức mật phục để bắt quả tang nhằm có căn cứ điều tra mở rộng, nhưng rất tiếc vẫn chưa bắt được (!). Ðiều đáng nói là phần lớn người dân dù bị mất trộm, bị phá hoại nhưng không ai dám khai báo với công an vì sợ bị chúng trả thù,” ông Hoan thông tin.


Trong khi đó, ông Trương Văn Phụng, trưởng công an xã Ea Bhốk cho biết, xã chưa có thông tin về nạn bảo kê, nhưng nạn phá hoại vườn cây, trộm dây tiêu thì tháng nào cũng xảy ra. Theo ông Phụng, từ đầu năm đến nay đã xảy ra gần 20 vụ trộm dây, phá hoại tiêu. Tuy nhiên đến nay chưa bắt được vụ nào. (Tr.N)

Tin mới cập nhật