Núi Lang Biang sạt lở, điềm suy tàn của chế độ

 

*Vô Chiêu

Lời thầy dạy

Vạn vật vô thường, đổi thay là quy luật của tạo hóa. Luật này không miễn trừ cho bất cứ ai hoặc định chế nào. Quy luật huyền biến của vũ trụ, sự vật thịnh rồi lại suy, suy rồi lại thịnh, nên mới tiến bộ theo thời, cái mới ra đời thay thế cái cũ lạc hậu phải ra đi. Nhưng trước khi sự việc thay đổi xảy ra đều có hiện tượng báo trước mà nhiều khi con người không để ý. Hiện tượng đó được gọi là “Ðiềm.”


Đỉnh Lang Biang

“Ðiềm” là hiện tượng bất thường dẫn đến một suy nghiệm tiên tri, hoặc chứng nghiệm về một sự kiện sẽ xảy đối với cuộc sống con người được xác định đúng trong tương lai. Có hai yếu tố xác quyết liên quan đến khái niệm “Ðiềm” như sau:

1- Phải có yếu tố dự đoán về một sự kiện sẽ xảy ra trong tương lai và được chứng nghiệm đúng.

Thí dụ như, vài tuần trước khi xảy ra trận động đất và sóng thần năm 2011, các ngư dân tại các vùng phía Ðông Bắc nước Nhật phát hiện nhiều con cá Oarfish dính trong lưới. Họ cho là “Ðiềm gở” và dự đoán nước Nhật sẽ gặp chuyện chẳng lành.

Ðúng như dự đoán, ngày 11 tháng 3, 2011, một trận động đất có tâm chấn cách thủ đô Tokyo 382 km về phía Ðông Bắc đã xảy ra. Với cường độ 9 độ Richter, trận động đất dữ dội nhất trong lịch sử nước Nhật, gây ra nhiều cơn sóng thần khủng khiếp tàn phá miền Ðông Bắc nước Nhật, làm cho 19.000 người thiệt mạng, các ngôi làng gần biền bị tàn phá hoàn toàn.

Sau khi nghiên cứu dự đoán của các ngư dân, cơ quan truyền thông Iore của Nhật loan báo, Oarfish là loại cá hiếm, mình dẹp và có chiều dài như rắn, chỉ sống ở độ sâu vài trăm thước dưới mặt nước, tập trung trong các đường nứt của vòng đai lửa, loại cá này đã bị đẩy lên mặt nước bởi các chấn động thông thường trước khi trận động đất lớn xảy ra.

2- Có thể hiện tượng bất thường xảy ra không có dự đoán, nhưng sau khi sự kiện đã xảy ra thì có sự liên hệ đến hiện tượng bất thường trước đó.

Thí dụ như, sau trận động đất 7 độ Richter ở Tứ Xuyên vào ngày 12 tháng 5, 2008, dân cư trong vùng mới nhớ đến một hiện tượng bất thường xảy ra trước đó, là ếch nhái rời bỏ chỗ ở di cư hàng loạt ra khỏi Tứ Xuyên. Hiện tượng bất thường này được coi là “Ðiềm.” Như vậy, “Ðiềm” là dấu hiệu báo trước sự kiện bất thường sắp xảy ra. Nó được phân ra hai loại:

-Ðiềm lành báo trước sẽ gặp sự việc tốt đẹp. Chẳng hạn như cây thiên tuế trước nhà trổ hoa hay trong sân vườn có cây hoa đẹp nở nghịch mùa thì chủ nhà sắp được tài lộc.

-Ðiềm gở báo trước sự việc chẳng lành sắp đến. Như mưa sao băng, núi bị sạt lở, bầu trời không có mây đen (chuyển mưa) mà có sấm động (sấm sét), cột cờ gẫy trước khi ra chiến trận, mực nước tại bãi biển tự nhiên bị rút ra xa…

Trong cuốn “Những ngày cuối cùng của Mao Trạch Ðông,” viết theo lời kể của Tiểu Mạch (người chăm sóc sức khỏe cho Mao suốt 20 năm), thuật lại câu chuyện xảy ra vào những ngày cuối đời Mao như sau:

“Chiều Thứ Tư ngày 10 tháng 3, 1976, cô thư ký đọc báo cho Mao nghe, vào ngày Thứ Hai, 8 tháng 3, 1976 có một thiên thạch rơi với tốc độ lớn vào khí quyển địa cầu, cháy sáng như một quả cầu lửa khổng lồ rồi phát nổ trên vùng trời ngoại ô Cát Lâm. Thiên thạch nổ bắn ra khắp nơi, tạo thành trận mưa thiên thạch. Trong đó có 3 tảng lớn rơi xuống tạo thành hố sâu. Tảng lớn nhất nặng gần 1.8 tấn. Mao nghe xong, nhờ người đỡ ngồi dậy ra đứng bên cửa sổ nhìn ra ngoài, rồi trầm ngâm nói: “Trung Hoa có một thuyết gọi là Thiên Nhân Cảm Ứng, ngụ ý nói nếu nhân gian sắp xảy ra một biến cố lớn thì thiên nhiên sẽ có những điềm báo trước. Trời long, đất lở, đá lớn từ trên không rơi xuống là điềm gở. Trong Tam Quốc diễn nghĩa, trước khi Gia Cát Lượng, Triệu Vân, Quan Công qua đời đều xảy ra các hiện tượng bất thường như sao rụng, đá rơi.”

Sau hơn 4 tháng, vào ngày 28 tháng 7, 1976, trận động đất kinh hoàng xảy ra tại Ðường Sơn (Hà Bắc) làm thiệt mạng hơn 240 ngàn người và 160 ngàn người bị thương. Không biết chuyện thiên thạch rơi và cơn động đất có tác động gì đến sức khỏe của Mao không, nhưng đến ngày 9 tháng 9, 1976 thì Mao qua đời. Dư luận cho rằng, 3 tảng thiên thạch lớn rơi xuống đất là điềm báo hiệu đảng CS Trung Quốc mất 3 nhân vật cao cấp trong năm 1976, đó là Tổng Tư lệnh quân đội Chu Ðức, Thủ Tướng Chu Ân Lai và Mao Trạch Ðông.”

Năm 1976 là năm có 3 tháng dương lịch 1, 2, 3, ngày dương lịch đều trùng với ngày âm lịch. Từ ngày 1 tháng 1, 1976 (mùng 1 Tháng Chạp năm Ất Mão) đến ngày 30 tháng 3, 1976 (30 Tháng Hai năm Bính Thìn).

Và đầu năm 1997, sau cơn sao băng, một tảng thiên thạch lớn rơi xuống tỉnh Sơn Ðông, 4 ngày sau, Ðặng Tiểu Bình chết lúc 9 giờ tối Thứ Tư ngày 19 tháng 2, 1997. Ðặng Tiểu Bình là người gây ra cuộc chiến tranh Trung-Việt vào năm 1979, đã đẩy 300 ngàn quân tấn công Việt Nam để củng cố quyền lực cá nhân. Ðặng cũng chính là người đã nói câu “Việt Nam là bọn côn đồ, phải dạy cho bọn chúng một bài học” trong chuyến viếng thăm mấy nước Á Châu vào tháng 12 năm 1978.

Còn Sấm ký là những dự báo hợp lý, được đưa ra trước để tiên tri những điều sẽ xảy ra trong tương lai, nhưng rất khó bàn.
Như Sấm Trạng Trình là cuốn sách ghi lại những lời tiên tri của cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm về các biến cố chính của nước Việt Nam trong khoảng hơn 500 năm (từ năm 1509 đến năm 2019).

Chẳng hạn như câu sấm “Bao giờ trúc mọc qua sông, Mặt trời sẽ lại đỏ hồng non Tây” nói về thời Tây Sơn, Tôn Sĩ Nghị đem quân xâm chiếm nước Nam. Khi đến thành Thăng Long, Tôn Sĩ Nghị cho quân bắc một cây cầu nổi bằng tre ngang sông Hồng. Sau khi dẹp được giặc Thanh ở trận Ðống Ða vào năm Kỷ Dậu (1789), đức Nguyễn Huệ lên ngôi xưng là Quang Trung Hoàng Ðế (từ trúc để chỉ tre và non Tây là nhà Tây Sơn).

Sấm giảng là quyển sách ghi lại những lời dạy dỗ về đạo pháp của một bậc thầy, khuyên người đời làm lành lánh dữ và trong đó có nhiều lời tiên tri về một số các biến cố chính trị của đất nước sắp xảy ra. Như quyển “Khuyên người đời Tu niệm” của đức Huỳnh Phú Sổ, giáo chủ đạo Hòa Hảo viết vào năm 1939 (Kỷ Mão).

Và Cơ bút là nghi lễ cầu cơ và chấp bút, là nền tảng của đạo Cao Ðài. Cơ bút được cho là đã khai sinh ra và là phương tiện truyền giảng đạo pháp của tôn giáo này. Cầu cơ và chấp bút là những phương pháp thông linh, đạo Cao Ðài gọi là những phương pháp Thông Công.

Con hãy phân biệt và ghi nhớ.

***

Lang Biang

Lang Biang là hai ngọn núi nằm cách thành phố Ðà Lạt khoảng 12 km, thuộc địa phận huyện Lạc Dương tỉnh Lâm Ðồng. Ðỉnh Lang Biang nằm ở độ cao 2167 m so với mặt biển.

Ngày xưa người Thượng (dân tộc thiểu số) sống trong vùng này gọi một ngọn núi là Klăng (núi Ông) và ngọn núi kia là Biêng (núi Bà), ghép chung thành Klăng Biêng. Về sau người Pháp phiên âm là Lang Biang, sau đó người Kinh đổi thành Lâm Viên, gọi vùng cao nguyên này là cao nguyên Lâm Viên.

Lang Biang được ví như “nóc nhà” của Ðà Lạt và được xem như một biểu tượng của thành phố này. Trên núi có thể nhìn thấy Suối Vàng và Suối Bạc và toàn cảnh Ðà Lạt với mây trắng và sương mù.

Do nằm ở độ cao, Lang Biang được xem là một trong những ngọn núi cao nhất vùng, hiện nay được xem là khu du lịch, nơi tìm hiểu nét văn hóa dân tộc thiểu số và còn là điểm thu hút du khách thích mạo hiểm chinh phục đỉnh cao.

Ðà Lạt

Thành phố Ðà Lạt nằm trên cao nguyên Lang Biang, phía Bắc tỉnh Lâm Ðồng. Bắc giáp với huyện Lạc Dương. Ðông và Ðông Nam giáp với huyện Ðơn Dương. Tây và Tây Nam giáp với hai huyện Lâm Hà và Ðức Trọng. Hàng trăm năm trước, Ðà Lạt là địa phận cư trú của người Lạch và người Cil. Thành phố Ðà Lạt có diện tích hơn 400 km2, bao bọc bởi các ngọn núi cao và nhiều dãy núi liên tiếp:

-Phía Bắc và Tây Bắc giới hạn bởi dãy Chorơmui, Yô Ða Myut (1816 m).

-Tây Bắc dựa vào chân dãy núi Chư Yang Kae (1921 m), thuộc quần sơn Lang Biang mà đỉnh cao nhất là Chư Yang Sinh (1408 m).

-Phía Ðông là chân dãy núi Bi Doup (2278 m), dốc xuống cao nguyên Dran.

– Phía Ðông Nam chắn bởi dãy Cho Proline (1629 m).

-Phía Nam và Tây Nam có dãy núi Voi (1.754 m) và Yàng Sơreng bao bọc.

Ðà Lạt có nhiều nhiều dinh thự và biệt thự đẹp xây cất theo kiểu kiến trúc của người Pháp. Nơi cao nhất trong trung tâm thành phố là Bảo Tàng Viện và nơi thấp nhất là thung lũng Nguyễn Tri Phương.

Bác Sĩ Alexandre Yersin

Trước năm 1893, cao nguyên Lang Biang là nơi cư trú của các sắc tộc người Thượng. Người Kinh đầu tiên muốn khám phá vùng rừng núi Nam Trung Bộ là Nguyễn Thông, nhưng do nhiều khó khăn, nên mãi đến cuối đời ông vẫn không thực hiện được ý định.

-Năm 1880 và 1881, Bác Sĩ Hải Quân Paul Néis và Trung Úy Albert Septans có những chuyến thám hiểm đầu tiên vào vùng cao nguyên này. Họ được xem là người đầu tiên đặt chân đến Lang Biang, mở đường cho nhiều chuyến đi về sau của A. Gautier (năm 1882), L. Nouet (1882), Humann (1884).

-Ngày 3 tháng 8, 1891, Bác Sĩ Alexandre Yersin thực hiện chuyến thám hiểm đầu tiên với ý định tìm đường núi từ Nha Trang vào Sài Gòn, nhưng chuyến đi này thất bại.

Năm sau, Yersin thực hiện một cuộc thám hiểm từ Nha Trang, băng qua vùng cao nguyên Ðắc Lắc đến Stung Treng, nằm bên bờ sông Mekong (địa phận Miên).

-Tháng 1, 1893, Yersin nhận nhiệm vụ từ toàn quyền Jean Marie Antoine de Lanessan, 3 lần đi khảo sát bằng đường bộ từ Sài Gòn xuyên vào vùng người Thượng. Nhiệm vụ của Yersin là tìm hiểu tài nguyên về lâm sản, khoáng sản… Và chiều ngày 21 tháng 6, 1893, Yersin đã phát hiện ra Lang Biang, nên Yersin được xem là người đầu tiên tìm ra vùng đất này.

-Ngày 1 tháng 1, 1899, Doumer ký nghị định thành lập tỉnh Ðồng Nai Thượng ở Trung Kỳ, với 2 cơ quan hành chính được thiết lập tại Tánh Linh và cao nguyên Lang Biang.

-Ngày 20 tháng 4, 1916, vua Duy Tân ra đạo dụ thành lập khu thị tứ cho tỉnh Lâm Viên.
Trong hai thập niên 1900 và 1910, người Pháp đã xây dựng hai tuyến đường từ Sài Gòn và từ Phan Thiết lên Ðà Lạt. Hệ thống giao thông thuận lợi giúp Ðà Lạt nhanh chóng phát triển.

-Ngày 30 tháng 10, 1920, Toàn quyền Ðông Dương ra nghị định chuẩn y đạo dụ ngày 11 tháng 10 của vua Khải Ðịnh về việc thành lập thành phố Ðà Lạt cùng với tỉnh Ðồng Nai Thượng nhằm biến Ðà Lạt thành một trung tâm nghỉ mát ở Ðông Dương.

-Năm 1941, Ðà Lạt trở thành tỉnh lỵ của tỉnh Lâm Viên tân lập. Thị trưởng Ðà Lạt kiêm chức tỉnh trưởng tỉnh Lâm Viên.

-Ngày 10 tháng 11, 1950, vua Bảo Ðại ký dụ số 4 QT/TD ấn định địa giới thị xã Ðà Lạt.

Theo Ðịa Phương Chí Ðà Lạt (Monographie de Dalat) năm 1953, thị xã Ðà Lạt là thủ phủ của Hoàng triều Cương thổ, có diện tích là 67 km2 với dân số 25.041 người.

Sau Hiệp Ðịnh Genève năm 1954, dân số Ðà Lạt tăng nhanh bởi lượng người di cư từ miền Bắc, Ðà Lạt được phát triển như một trung tâm giáo dục và khoa học.

-Năm 1957, Ðà Lạt trở thành tỉnh lỵ của tỉnh Tuyên Ðức. Nhiều trường học, huấn luyện và viện nghiên cứu được thành lập như: Viện Ðại học Ðà Lạt (1957), Trường Võ bị Quốc gia Ðà Lạt (1959), Thư viện Ðà Lạt (1960), Trường Ðại học Chiến tranh Chính trị (1966), Trường Chỉ huy và Tham mưu (1967)…

-Sau năm 1975, dân số gia tăng bởi số lượng cán bộ và dân miền Bắc nhập cư lên khoảng 86 ngàn người. Và vào những năm đầu thập niên 1990, hàng loạt khách sạn, nhà hàng được sửa chữa, nhiều biệt thự được đưa vào dịch vụ du lịch… Ðà Lạt trở thành một thành phố du lịch quan trọng của Việt Nam.

-Tháng 2, 1976, tỉnh Tuyên Ðức, tỉnh Lâm Ðồng và thị xã Ðà Lạt xác nhập lại thành tỉnh Lâm Ðồng.

Những vụ sạt lở núi

Sạt lở núi Cấm

Ngày 5 tháng 5, 2012, đoạn gần Vồ Ðầu trên tuyến giao thông nối từ chân núi với đỉnh núi Cấm, xã An Hảo (huyện Tịnh Biên) đã xảy ra vụ sạt lở vách núi kinh hoàng. Tảng đá lớn nặng khoảng 10 tấn đã lăn từ độ cao khoảng 300m xuống, đè bẹp chiếc xe 7 chỗ ngồi, làm thiệt mạng 6 người. Ðây là tai nạn thảm khốc lần đầu tiên xảy ra tại vùng Núi Cấm.

Sạt lở núi tại Nghệ An

-Ngày 11 tháng 7, 2013, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An xảy ra vụ sạt lở núi khiến 5 người thương vong.

-Ngày 29 tháng 8, 2013, đoạn đường qua xã Chiêu Lưu, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An có hàng chục nơi sạt lở nghiêm trọng, khiến đất đá từ trên núi đổ xuống quốc lộ 7A, làm cho giao thông bị tắc nghẽn.

Sạt lở núi tại Ðiện Biên

Ngày 23 tháng 8, 2013, quốc lộ 279, đoạn đường từ huyện Tuần Giáo đi thành phố Ðiện Biên Phủ bị tắc nghẽn giao thông nghiêm trọng do sạt lở núi. Khu vực sạt lở được xác định tại đoạn qua xã Nà Nhạn, huyện Ðiện Biên. Cả một vạt núi 50 m, dài 150 m đã sạt xuống lấp ngang quốc lộ 279. Khối lượng đất đá ước khoảng 60 ngàn m3. Ðây là vụ sạt lở được ghi nhận là nghiêm trọng nhất trên địa phận tỉnh Ðiện Biên từ xưa đến nay.

Sạt lở núi tại Yên Bái

Ngày 25 tháng 8, 2013 hàng trăm tấn đất đá sạt lở trên quốc lộ 32, thuộc địa phận giáp ranh giữa huyện Than Uyên và huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái, gây tắc nghẽn giao thông.

Sạt lở núi Lang Biang

Ngày 25 tháng 8, 2013, núi Lang Biang có độ cao 2167m bị sạt lở tạo thành một vệt dài rộng từ đỉnh xuống chân núi.
Anh Bon Ðing Ðim, sống dưới chân núi cho biết trong đêm 25 tháng 8, 2013, âm thanh ầm ầm như sấm trời kéo dài 20 phút. Sáng ra, anh thấy ngọn núi Lang Biang như bị xẻ đôi.

Vị trí sạt lở xuất phát từ gần đỉnh núi, một lượng đá khổng lồ tuột xuống núi khoảng 500 thước, làm cho nhiều cây cổ thụ bị cuốn ngã theo tạo thành một vết đỏ dài giống như núi bị nứt đôi.

Theo cư dân địa phương, vào năm 1970, núi Lang Biang bị sạt lở một lần. Sau 43 năm, núi Lang Biang lại bị sạt lở thêm một lần nữa và lần này nghiêm trọng hơn lần trước.

Theo nhạc sĩ Krajan Plin, một vị cao niên trong làng sống lâu năm dưới chân núi cho biết, tất cả dân chúng sống ở vùng Nam Tây Nguyên đều coi ngọn Lang Biang là núi thần. Ông nhận định: “Sạt lở núi Lang Biang lần này sụp lở là hoàn toàn do thiên nhiên, bởi độ cao rất hiểm trở, chỗ sạt lở thì không ai có thể phá hoại bằng dụng cụ lao động hay máy móc.”

Theo truyền thuyết, ngọn núi này là công trình tạo dựng cuối cùng của thần linh và được ví như một cái rốn trời. Núi Lang Biang được xem là nơi linh thiêng như núi Cấm (Thất Sơn) vì có nhiều truyền thuyết. Các tộc người Lạch, Cil cư trú dưới chân núi đều cho rằng núi Lang Biang có một sức mạnh mà không có biến cố nào có thể làm thay đổi được. Trong cuộc sống hằng ngày, để nói đến những điều không tưởng, dân làng có câu nói: “Nếu làm được như thế, thì núi LangBiang cũng phải sụp lở.” Vì vậy, khi thấy ngọn núi bị lở, nhiều người Lạch và Cil bàn tán cho rằng, núi Lang Biang sụp lở là do thần linh đang tỏ thái độ không vừa lòng với chế độ và hiện tượng này báo hiệu một điều gì bất thường sắp xảy ra.

Sấm và điềm tiên đoán

a) Những câu Sấm và “Ðiềm” đã được công nhận là đúng

*Sấm dự đoán chủ nghĩa CS tan rã

“Bao giờ đá nổi, lông chìm.
Hồ khô, đồng cạn, búa liềm ra tro.”

Người dân cho là sấm này của cụ Trạng Trình, đoán về sự lien hệ tồn vong giữa chủ nghĩa CS và bốn nhân vật cao cấp Việt-Tàu: Tưởng, Mao, Hồ, Ðồng. Tưởng Giới Thạch mất ngày 5 tháng 4 năm 1975, được chôn trên núi ở Ðài Bắc (đá nổi). Mao chết ngày 9 tháng 9, 1976 (lông chìm). Hồ Chí Minh chết ngày 2 tháng 9, 1969, xác bị ướp lộng kiếng (hồ khô). Phạm Văn Ðồng chết ngày 29 tháng 4, 2000 (đồng cạn). Lời sấm ký hiệu nghiệm, chủ nghĩa CS tan rã khắp nơi, còn lại 4 nước cố bám con đường “xã hội chủ nghĩa” là Tàu, Việt, Bắc Hàn và Cuba. Riêng Cuba chỉ là thứ CS nửa vời!

*Ðiềm suy tàn của nền “Ðệ Nhị Cộng Hòa”

Ở vùng quê Ninh Hải, tỉnh Phan Rang, có ngọn núi Ðá Chồng. Trên núi có ba tảng đá lớn chồng lên nhau có hình thù rất dữ tợn, dân địa phương gọi là núi Mặt Quỷ. Cách núi Mặt Quỷ khoảng 1 cây số, ở chóp Bắc, có một tảng đá lớn hình tam giác nhọn, chiều ngang cỡ 6 m, cao 3m nhìn giống như con dao, nên được gọi là hòn Ðá Dao. Dân chúng xứ này có câu nói “Mặt Quỷ kỵ Ðá Dao” với ngụ ý, Ðá Dao còn thì quỷ không thể xuất hiện.

Vào buổi chiều năm 1974, từ lưng chừng núi, ngọn Ðá Dao bị sạt lở, lăn xuống chân núi… Và đến mùa xuân năm 1975, toàn vùng Văn Sơn, Bình Sơn, Khánh Hải, Ninh Chữ đột nhiên xảy ra một hiện tượng lạ chưa từng thấy. Hàng đàn sâu bọ, nhất là sâu róm màu vàng xuất hiện dầy đặc, tràn qua đường lộ và cầu Lăng Ông, tàn phá các loại hoa màu, ruộng lúa. Sâu bò đầy đường, đầy đất, nên nhiều gia đình phải di tản…

Dân miền Trung cho rằng, hiện tượng ngọn Ðá Dao bị sạt lở và sâu vàng tràn ngập là “Ðiềm gở,” sau đó không lâu, chế độ Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ vào ngày 30 tháng 4, 1975.

*Sấm ký Vô Vi

Vào hai năm 1977-1978 tại vùng Thất Sơn, từ Tịnh Biên dài đến Vĩnh Gia, Vĩnh Ðiều, dân cư ngụ đều nghe hai câu Sấm của đạo Vô Vi ở núi Trà Sư, được phổ biến bởi các đồng nhi:

Chừng nào núi cấm đá rơi,
Là ngày ma quỷ hết thời quang vinh.

Ðến khi núi Cấm bị sạt lở vào ngày 5 tháng 5 năm 2012, người viết mới nghiệm được nghĩa của hai câu này. Thì ra, chữ Cấm viết hoa và từ ngữ “quang vinh” là từ ngữ mà chế độ CS thường dùng, như khẩu hiệu “đảng CSVN quang vinh.”

Sau tháng 4 năm 1975, các ủy ban của CS mọc ra như nấm như ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố. Người đứng đầu được gọi là tỉnh ủy, thành ủy& người dân đọc chữ “ủy” thành ra “quỷ.” Quá đúng, sau tháng 5 năm 2012, phong trào đấu tranh chống Tàu cộng đã bộc phát mạnh với những diễn biến làm cho đảng CSVN phải hoảng sợ. Từ chỗ đàn áp điên cuồng những người yêu nước đến những những trò hề… và thói quen bịp bợm, lọc lừa xảo trá, cho thấy đảng CSVN đã hết thời quang vinh, đúng như câu Sấm ký.

b) Những câu tiên tri, Sấm và Ðiềm đang chờ được công nhận là đúng

*Lời tiên tri của cụ Diễn

Trước tháng 4, 1975, ở Sài Gòn có cụ Diễn, một nhà dịch học tài giỏi, đã tiên tri chính xác nhiều chuyện quốc gia đại sự, đã đoán trước sự nghiệp và số phận của nhiều nhân vật quan trọng. Cụ Diễn tiết lộ, CS sẽ chiếm Miền Nam sau khi HCM chết và rồi chúng sẽ tan rã sau cái chết của Võ Nguyên Giáp. Hiện Võ Nguyên Giáp đã sống được 102 tuổi, mọi người đang chờ ngày ông ta “đi theo” Hồ Chí Minh để kiểm nghiệm lời tiên tri của cụ Diễn.

*Năm Tỵ trong Sấm Trạng Trình

Trước khi nói đến năm Tỵ, xin nhắc lại những câu Sấm Trạng Trình mà nhiều người suy ra thấy ăn khớp với tình hình Việt Nam từ năm 1975 trở đi, khi CS xâm chiếm miền Nam, xưng là “đỉnh cao trí tuệ,” áp dụng chính sách độc tài toàn trị, chà đạp nhân quyền, áp bức tôn giáo.

Ai còn khoe trí khoe năng,
Cấm kia bắt nọ hung hăng với người.
Chưa từng thấy nay đời sự lạ,
Chốc lai mòng gá vạ cho dân!
Muốn bình sao chẳng lấy nhân?
Muốn yên sao lại bắt dân ghê mình?”

Lời bàn của Nhất Nguyên:

*Câu 1: Ai còn khoe trí khoe năng
CS luôn vỗ ngực cho mình là “đỉnh cao trí tuệ.”

*Câu 2: Cấm kia bắt nọ hung hăng với người
CS cấm và bắt dân biểu tình chống Tàu cộng.

*Câu 3: Chưa từng thấy nay đời sự lạ
-Chiếm đoạt miền Nam mà gọi là giải phóng miền Nam.
-Nhà thương Từ Dũ đổi tên thành xưởng đẻ.
-Thay đổi tên nhiều con đường mang tên của những anh hùng dân tộc bằng những tên bị CS lợi dụng.
-Ðặt tên quái thai “Kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội Chủ nghĩa.”

*Câu 4: Chốc lai mòng gá vạ cho dân!
CS vu oan giá họa cho dân, bắt người yêu nước vì phạm vào hai điều trong bộ luật hình sự: điều 79 (âm mưu lật đổ chế độ) và điều 88 (tuyên truyền chống nhà nước). Ðiển hình là thủ đoạn dùng “bao cao su” giá họa cho LS Cù Huy Hà Vũ.

*Câu 5: Muốn bình sao chẳng lấy nhân? CS giao đất đai, biển đảo cho Tàu Cộng để đổi lấy an bình, không biết thu phục nhân tâm.

*Câu 6: Muốn yên sao lại bắt dân ghê mình? CS đàn áp tôn giáo, chiếm đoạt đất đai nhà cửa. Già trẻ yêu nước đều bị tống vô tù, làm cho người dân hiền lành ghê sợ chế độ. Nói đến năm Tỵ, Sấm viết:

“Hùm gầm khắp nẻo gần xa,
Mèo kêu rợn tiếng, quỷ ma tơi bời.
Rồng bay năm vẻ sáng ngời,
Rắn qua sửa soạn hết đời Sa Tăng.
Ngựa lồng, quỷ mới nhăn răng,
Cha con dòng họ thầy tăng hết thời.”

Lời bàn của Nhất Nguyên:

*Câu 7: Hùm gầm khắp nẻo gần xa
Năm Canh Dần (2010), những con hổ Á Châu gầm thét do suy thoái kinh tế và khủng hoảng tài chánh khắp nơi trong khu vực, ảnh hưởng đến thế giới. Nhân đó, những tên CS có tiếng tăm ở Hà Nội đã lên tiếng đòi cải tổ chính trị làm cho đảng CS phải lo đối phó.

*Câu 8: Mèo kêu rợn tiếng, quỷ ma tơi bời
Rồi qua năm Tân Mão (2011), các cuộc đấu tranh của tôn giáo tại miền Nam và miền Trung, dân oan khiếu kiện, chống cưỡng chế đất đai, những cuộc biểu tình chống Trung Cộng xâm lăng… làm nhà cầm quyền Cộng sản đứng ngồi không yên.

*Câu 9: Rồng bay năm vẻ sáng ngời
Năm Nhâm Thìn (2012), các phong trào đấu tranh trong nước của năm giới (sĩ, nông, công, thương, binh) bắt đầu nổi dậy.

*Câu 10: Rắn qua sửa soạn hết đời Sa tăng
Qua năm Quý Tỵ (2013), nền kinh tế tiếp tục bị suy thoái, những cuộc đấu đá để tranh giành quyền lực ở Bắc Bộ Phủ là một điều mà mọi người tiên đoán là chế độ sắp tàn.

*Câu 11: Ngựa lồng quỷ mới nhăn răng
Ðến năm Giáp Ngọ (2014), chế độ Cộng sản mới suy sụp.

*Câu 12: Cha con dòng họ thầy tăng hết thời
Ðến đây thì những tôn giáo quốc doanh do CS dàn dựng và chỉ đạo như Cao Ðài quốc doanh, Hòa Hảo quốc doanh, Phật giáo quốc doanh, Công giáo quốc doanh… sẽ biến mất vì người dựng ra mình không còn tồn tại!

Nhận định

1- Chế độ CS sụp đổ vì mất văn hóa

Văn hóa là linh hồn của một dân tộc. Ðối với nhân loại yếu tố tinh thần này cũng quan trọng ngang với yếu tố vật chất là giống nòi và đất đai. Lịch sử nền văn minh của một dân tộc là lịch sử của sự phát triển về văn hóa. Tự phá hủy nền văn hóa sẽ dẫn tới sự diệt vong của dân tộc đó. CSVN đã và đang phá hủy nền văn hóa của dân tộc Việt bằng cách:

-Bỏ môn học Công dân Giáo dục và Việt sử (anh hùng dân tộc).
-Ðưa tiếng Tàu vào chương trình giáo dục.
-Phổ biến rộng rãi văn hóa Tàu trên khắp các tỉnh thành.
-Tiếp tay cho hàng hóa Trung Quốc lũng đoạn thị trường kinh tế VN.
-Làm ngơ trước sự hiện hiện của vài trăm ngàn người Tàu đang sống bất hợp pháp tại VN.

Vì vậy, nền văn hóa Việt ngày càng suy đồi, đưa đến tệ nạn mất đạo đức.

Trước đây, cụ Lê Quí Ðôn cho rằng có 5 nguy cơ làm hỏng đất nước, làm hỏng cả xã hội, đó là: “Trẻ không kính già, trò không trọng thầy, binh kiêu tướng thoái, tham nhũng tràn lan, sĩ phu ngoảnh mặt.”
Xã hội Việt Nam hiện nay có đủ cả 5 nguy cơ này. Và hơn nữa, tình trạng đàn áp dân chúng ngày càng gia tăng, tuổi trẻ yêu nước chống Tàu cộng bị tống vào tù, tuổi già trung với nước tham gia biểu tình cũng bị bắt giam và đày ải. Ðây là triệu chứng suy tàn và là “Ðiềm” báo trước sự sụp đổ của chế độ mất văn hóa.

2- Chế độ CS sụp đổ vì tàn ác

Sấm Trạng Trình Toàn tập (Nguyễn Thiên Thụ), phần XXV, trang 65 có ghi:
“Ðồng giao đã có câu rằng,
57. Non xanh mà mọc trắng răng mấy kỳ.
Bấy giờ quét sạch thử ly,
Xin ai nhớ lấy sấm ghi kẻo lầm.
Ðương khi sấm chớp ầm ầm,
Chẳng qua khó số để găm trị bình,
Thất phu dám chống thư sinh,
Sông ô chấp cả mấy anh thủy hoàng.
Nực cười những lũ bàng quan,
59. Cờ tàn lại muốn toan đường đấm xe.
Thôi thôi mặc lũ thằng hề,
Gió mây ta lại đi về gió mây.”

Lời bàn:
-Non xanh mà mọc trắng răng mấy kỳ
Ngụ ý nói, khi nhiều ngọn núi xanh bị sạt lở.
-Bấy giờ quét sạch thử ly
Thử ly là hồ ly, loài chồn cáo. Y nói đảng của Hồ Chí Minh. Ngụ ý cho biết, đã đến lúc người dân nổi dậy giải thể chế độ CS.
-Thất phu giám chống thư sinh
Thất phu là côn đồ. Thư sinh là học sinh, sinh viên. Công an cho côn đồ hành hung tuổi trẻ yêu nước.
-Sông ô chấp cả mấy anh thủy hoàng
Dù là nhóm nhỏ, đấu tranh ô hợp thiếu tổ chức, nhưng vẫn hiên ngang trước bạo lực. Thủy hoàng là Tần Thủy Hoàng.
-Nực cười những lũ bàng quan
Cán bộ cao cấp biết rõ sự việc đàn áp dã man của cấp dưới nhưng không hề lên tiếng, chỉ cần tham nhũng kiếm thêm tiền là tốt.
-Cờ tàn lại muốn toan đường đấm xe
Biết chế độ sắp sụp đổ, nhưng muốn đàn áp phong trào đấu tranh.
-Thôi thôi mặc lũ thằng hề
-Gió mây ta lại đi về gió mây
Hai câu này có hàm ý nói, việc mưu hại những người yêu nước như trò hề, đường ta ta cứ đi, tiếp tục đấu tranh thì chế độ CS sẽ sụp đổ.

3- Chế độ CS sụp đổ do thiên định.

*Một đoạn cơ bút của bà chúa Liễu Hạnh tiên tri về vận nước Việt Nam (1938)
“Khỉ về Gà gáy oa oa,
Khắp nơi lại dấy can qua kinh trời.
Quỷ Ma đến lúc đi đời,
Phụ Nguyên Trời đã định ngôi sẵn sàng.
Chó mừng tân chủ rõ ràng,
Bốn phương tấp nập lên đàng hồi hương.”

Lời bàn:

Hai câu đầu nói, sẽ có chiến tranh trong 2 năm Bính Thân (2016) và Ðinh Dậu (2017).
Hai câu kế tiếp cho biết, CS (Quỷ ma là CS) sụp đổ do trời đã định sẵn.
Hai câu chót báo, năm Mậu Tuất (2018) nước Việt sẽ có vị nguyên thủ tài đức xuất hiện và nhiều người Việt hải ngoại sẽ trở về quê hương xứ sở.

*Câu Sấm miền Trung
Cùng thời với núi Ðá Dao sụp lở, hai câu thơ đã xuất hiện từ miền Trung:
Bao giờ ngọn núi Lâm Viên,
Tách đôi hai miếng là điềm cộng tan.

Lời bàn:
Thời gian qua, có ai nghĩ đến núi Lâm Viên tách đôi? Và chữ cộng, mọi người đều tưởng là dấu cộng, tách ra hai miếng thì đâu còn là cộng. Có ai biết chữ cộng viết hoa là Cộng sản?
Vì vậy, hiện tượng núi Lang Biang sạt lở (đường lở như tách ngọn núi làm đôi) cùng với vụ sạt lở núi ở tỉnh Ðiện Biên (nơi CS thắng Pháp) và các vụ sạt lở núi tại Nghệ An (quê của Hồ Chí Minh) đều là “Ðiềm gở” báo hiệu sự suy tàn của chế độ.

*Sạt đình Lại Ðà
Mưa to trút xuống trong tháng 4 vừa qua, làm sạt hẳn tường đình làng Lại Ðà (cách Hà Nội 28 km về hướng Tây Bắc), nơi nổi tiếng xuất thân nhiều khoa bảng và là quê của Nguyễn Phú Trọng, tổng bí thư đảng CSVN. Theo sử sách thì việc sạt đình hay sạt tường đình chưa bao giờ được xem là điềm lành, mà đó chỉ là điềm gở, báo hiệu quyền lực bị suy sụp.

4- Ðảng CS sụp đổ do vận nước.

Theo Tam Nguyên Cửu Vận thì Ðảng Cộng Sản VN cướp chính quyền vào năm 1945, nằm trong vận 5 (1944-1963) thuộc hành Thổ. Ðến nay là vận 8 (2004-2023) cũng thuộc hành Thổ (đang thịnh) thì hành Thổ của vận 5 đã hết “vận khí” nên suy sụp. Do hết “vận khí” nên đảng Cộng Sản sắp sửa bị sụp đổ, vì vậy nhà cầm quyền CSVN bị dân chúng chống đối vì bán đất, dâng biển đảo cho Tàu cộng, cướp đất đai và đàn áp dân lành. Nền kinh tế ngày càng suy thoái, lụn bại. Tệ nạn tham nhũng và cướp bóc xảy ra khắp nơi. Nên người viết nhận định, ngày tàn của đảng Cộng Sản Việt Nam không còn bao lâu nữa, chỉ sớm hay muộn trong khoảng từ năm Giáp Ngọ (2014) đến năm Ðinh Dậu (2017) mà thôi.

Mỹ áp thuế chống bán phá giá với cá tra Việt Nam


HÀ NỘI 5-9 (NV) –
Bộ Thương Mại Mỹ thông báo quyết định tăng thuế chống bán phá giá đối với cá tra, còn gọi là cá ba sa, nhập cảng từ Việt Nam mà Hà Nội nói là không công bằng.


 





Cá tra hay ba sa đang được lọc thịt rồi làm đông lạnh xuất cảng. Bộ Thương Mại Mỹ áp đặt thuế chống bán phá giá với loại cá này đến từ Việt Nam. (Hình: AFP/Getty Images)

Theo các tin tức từ Bộ Thương Mại Mỹ, trong lần cứu xét hành chánh lần thứ 9, cá tra hay ba sa, phi lê đông lạnh xuất xứ từ Việt Nam, của một số công ty bị áp đặt thuế chống bán phá giá khá cao.

Mức thuế này áp dụng cho các lô hàng xuất cảng sang đây trong giai đoạn từ 1/8/2011 đến 31/7/2012 thuộc hàng của các công ty Vĩnh Hoàn và Hùng Vương bị tăng gần gấp đôi, bên cạnh một số công ty khác bị đánh nhẹ hơn.

Công ty Vĩnh Hoàn bị áp đặt 0.42 USD/kg trong khi Hùng Vương bị áp đặt tới 2.15USD/kg. Một số công ty khác bị đánh thuế chống bán phá giá (anti-dumping tax) từ 0.99 USD/kg tới 2.11 USD/kg.

Hiệp hội Xuất khẩu Thủy Sản của Việt Nam (VASEP) hồi đầu năm đã khiếu nại với Bộ Thương Mại Hoa Kỳ (DOC) về nguyên tắc cứu xét chống bán phá giá. Trước đây, Bộ Thương mại Mỹ dùng nước Bangladesh vốn có nhiều điều kiện tương đồng với Việt Nam để so sánh đối chiếu, nhờ vậy mà thuế suất áp đặt thấp hơn nhiều. Nay đột nhiên Hoa Kỳ lấy Indonesia để so sánh, mà phía Việt Nam nói rằng “mâu thuẫn với chính quyết định của DOC trước đó vào ngày 8/12/2012 khi công bố danh sách 6 quốc gia sẽ được sử dụng làm nước thay thế để tính toán mức thuế chống bán phá giá, trong đó Indonesia không nằm trong danh sách 6 nước này.

Việt Nam đã khiếu nại cách tính toán của DOC tại Tòa Thương Mại Quốc Tế của Hoa Kỳ (US CIT), yêu cầu coi lại tính chính xác trong cách tính toán cùa DOC. Đồng thời đòi DOC chọn quốc gia khác hợp lý hơn cho so sánh.

Nay Bộ Thương Mại Mỹ đưa ra quyết định với mức áp đặt thuế chống phá giá mà phía Việt Nam gọi là “một cách vô lý”. Việt Nam cho rằng Indonesia là nước nhập cảng cá ba sa phi lê từ Việt Nam chứ không xuât cảng thứ này ra thị trường thế giới như Việt Nam.

Xuất khẩu thủy sản của Việt Nam vừa bị cạnh tranh gay gắt từ các nước khác trong khu vực, lại còn bị đánh thuế chống bán phá giá, không kể những khó khăn nội tại của ngành này ở trong nước.

Năm 2012, Việt Nam xuất cảng ra thị trường thế giới một số lượng cá tra trị giá $1.8 tỉ USD. Trong đó xuất cảng sang Mỹ được $358 triệu USD, chiếm khoảng 20% tổng số. Thị trường Hoa kỳ là thị trường xuất cảng cá tra lớn nhất của Việt Nam, nhưng nếu coi tất cả Âu châu là một thị trường thì Mỹ đứng thứ nhì.

Đã từng có những nghiên cứu nêu ra các thất lợi của vấn đề xuất cảng thủy sản nói chung và cá tra nói riêng của Việt Nam.

Theo cuộc nghiên cứu của thạc sĩ Nguyễn Tường Huy, hoạt động xúc tiến thương mại cho cá tra của Việt Nam “yếu kém và chồng chéo” giữa hai Bộ Công Thương và Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn.

Trong khi đó, các công ty xuất cảng thì lại bán phá giá lẫn nhau, kéo theo phẩm chất sút giảm khiến nước Nga có thời gian cấm cá tra Việt Nam. (TN)

Gọi Thu về

 

Cao Mỵ Nhân/Người Việt Utah

Có phải mùa thu lại sắp về
Mây vừa lững thững tiễn hè đi
Không gian bát ngát mầu mây khói
Và lá vàng bay… rớt cận kề

Anh cũng như mùa thu lãng đãng
Kiếm tìm em ở cuối đường hoa
Ðâu còn thanh sắc, trời xuân vẫn
Từ độ nào xưa, sớm cách xa

Em viết thơ xuyên suốt cuộc đời
Bỏ bao năm tháng để rong chơi
Mỗi lần thương nhớ, anh đành đọc
Thơ, chỉ thơ thôi, chẳng thấy người

Ôi, biết làm sao quên được nhỉ
Những vần điệu cũ đã thân quen
Thì, ta cứ đón thu về nhé
Rồi mỗi người… ôm nỗi nhớ riêng

(Hawthorne, 31 tháng 7, 2013)

Bài thơ cho cha

 

Nguyên Bình/Người Việt Utah

Viết gì đây khi dòng đời vội vã
Cướp mất cha yêu quý của con rồi
Mỗi bước chân con lạc giữa dòng đời
Như có bóng hình cha cùng chung bước

Ơn của cha làm sao con đếm được
Tựa núi cao, như vũ trụ ngàn sao
Dẫu đời cha có cực nhọc thế nào
Cha chịu khổ để đời con không khổ

Cha dạy con làm người nên nhớ Tổ
Yêu quê hương, sống nghĩa khí cương thường
Bước vào đời dù vấp ngã đau thương
Con can cảm đừng chùn chân nhẹ bước

Biển có sâu người ta đo bằng thước
Tình của cha là vô tận chiều dài
Nuôi con lớn cha không ngại tháng ngày
Con no ấm dù đời cha vất vả

Khắp thế gian muôn người, muôn vạn ngã
Chỉ cha là tất cả của đời con
Công dưỡng nuôi cao hơn núi Thái Sơn
Tình phụ tử lấy gì so sánh được

Con không khóc mà sao hàng mi ướt
Giọt lệ này làm mực viết thành thơ
Ðời của con chỉ còn lại giấc mơ
Cùng cha bước trên dòng đời xuôi ngược…

Jewelry of thousand years old of Vietnamese


From VietNamNet Bridge



To introduce to visitors at home and abroad about the processing techniques, the meaning of use and the artistic value of ancient jewelry of Vietnam, the National History Museum (No. 1 Trang Tien, Hanoi) has organized an exhibition entitled “Ancient jewelry of Vietnam.”

The four-month exhibition is showcasing almost 140 priceless pieces of ancient Vietnamese jewelry.

Opened on August 30, the exhibition hopes to help domestic and international visitors improve their understandings of the development of Vietnamese aesthetics throughout the different periods of its history.

The display includes pieces dating back to the prehistoric cultures of Dong Son, Sa Huynh, and Oc Eo, shaped from materials ranging from crystal, stone, and gems to metal and even bone.

One of its highlights is a rare collection of royal Nguyen dynasty gold, silver, jade, ivory, and tortoiseshell jewelry. The workmanship of these pieces represents the peak of the jeweler’s craft.

National History Museum Deputy Director Nguyen Dinh Chien noted the exhibition’s pieces are selected from thousands of years ago right up until the early 20th century.

Below are some items on display at the exhibition:


 










Silver bracelets carved peony and the long-lived letter (Chinese script) of the 19th-20th century, from the collection of royal antiques of the Nguyen Dynasty.












Gem earrings of the Dong Dau culture, 3,500-3,000 years ago. This is unique kind of earrings which has been only found in Dong Dau culture.












Bronze earrings of the Oc Eo culture, the 4th-6th century.




 










Gem earrings of the Dong Nai culture, 2500-2000 years ago, excavated at the Giong Ca Vo site, Sai Gon.












Silver necklace, 19th-20th century, from the collections of royal antiques of the Nguyen Dynasty.












 Bronze gloves with bells of the Dong Son culture, 2500-2000 years ago.



 










String of mollusk shell beads of the Bau Tro culture, 5000-4500 years ago, excavated at the Xom Tham site in Quang Binh province.












Gem musical stone of the 19th-20th century, from the collection of royal antiques of the Nguyen dynasty.

Tin Tức Cộng Ðồng Người Việt Utah

 

Phóng viên Người Việt Utah thực hiện

Buổi Nói Chuyện Về Hình Luật Hoa Kỳ: Chủ Nhật, ngày 15 tháng 9, 2013

Trong tinh thần đồng hương hỗ trợ nhau, một số anh chị em người Việt sinh sống tại Utah, hợp sức nhau tổ chức một buổi nói chuyện miễn phí về luật pháp Hoa Kỳ, qua sự trình bày của hai luật sư Andrea Garland và Mary Jane Ciccarello, cùng Rosa Oakes, vị chủ trì điều phối các chương trình thông dịch viên của Tòa án ở Utah.

Buổi nói chuyện sẽ diễn ra vào ngày Chủ Nhật, 15 tháng 9 năm 2013, lúc 02:00 giờ đến 04:00 giờ chiều, tại Café Thảo Mi, địa chỉ 1773 W. Carriage Square, Taylorsville, UT 84119.

Xin kính mời quí đồng hương đến tham dự đông đảo.

Lễ Hội Tết Trung Thu 2013 – Phổ Quang Moon Festival 2013: Thứ Bảy, ngày 21 tháng 9, 2013

Theo lịch sinh hoạt hàng năm của Chùa Phổ Quang, Tết Trung Thu là một trong những sinh hoạt truyền thống dành cho trẻ em Việt Nam đang sinh sống tại hải ngoại. Ðây là một nét đẹp văn hóa của dân tộc, cần được trân trọng bảo tồn và phát huy ý nghĩa của nó để trẻ thơ có một ngày Tết Trung Thu trọn vẹn và bậc phụ huynh chúng ta có dịp hồi tưởng lại một chút gì hồn nhiên và thiêng liêng cho tuổi thơ của mình đã đi qua.

Như thường lệ, năm nay anh chị em thanh thiếu niên Phật Tử Chùa Phổ Quang sẽ tổ chức Lễ Hội Tết Trung Thu 2013 tại sân chùa Phổ Quang (1185 West 1000 North, Salt Lake City). Chương trình bắt đầu vào lúc 4:00 giờ chiều Thứ Bảy, ngày 21 tháng 9 năm 2013 (đúng ngày trăng tròn 17 âm lịch), gồm có nhiều gian hàng thức ăn, trò chơi giải trí, thi đua trò chơi, múa lân, đốt lửa ngắm trăng, phát quà, phát bánh kẹo, phát bánh trung thu, phát bong bóng và lồng đèn.

Lễ Hội Tết Trung Thu 2013 năm nay có một chương trình ca nhạc văn nghệ đặc biệt với ca sĩ Ðan Kim V-Star Thúy Nga, các anh chị em ca sĩ địa phương như Kim Ngọc, Jimmy Nhựt, Lâm Hồ, M.C. Công Minh, M.C. Thái Hương, Ban Nhạc Sweet Melody, Ðoàn Múa Phật Tử Chùa Phổ Quang, các em học sinh lớp Việt Ngữ Khai Tâm, và nhiều tiết mục tham gia của các bạn bè thân hữu rất hấp dẫn. Tất cả đều miễn phí và vào cửa tự do. Xin quí vị xem phần quảng cáo trong số báo này để biết thêm chi tiết.

Các bạn muốn ghi danh thiện nguyện hoặc tham gia đóng góp tiết mục cho chương trình văn nghệ, trò chơi, v.v… Mọi chi tiết xin liên với Hòa (801) 231-0054 hoặc chị Victoria Thủy (801) 462-5190.

Ðêm Ca Nhạc Dạ Vũ “Mùa Thu Này…”: Thứ Bảy, ngày 21 tháng 9, 2013 tại TM Lounge

Ðể đem lại sự vui nhộn và tươi trẻ cho các bạn yêu văn nghệ khi mùa thu sắp đến, một chương trình Ca Nhạc Dạ Vũ chủ đề “Mùa Thu Này…” sẽ được tổ chức tại TM Lounge (Thảo Mi) 1773 Carriage Square, Taylorsville, Utah với ca sĩ Ðan Kim V-Star Thúy Nga, nghệ sĩ Thanh Thanh Tâm, Lâm Hồ, Thái Nhật…

Chương trình bắt đầu lúc 10:00 PM đến 2:00 AM Thứ Bảy, ngày 21 tháng 9, 2013. Giá vé ủng hộ $20 (thêm $5 mua tại cửa). Vé có bán trước tại Café Thảo Mi (801) 906-0120, Vietlink Travel (801) 231-0054.

Mọi chi tiết liên lạc Hòa (801) 231-0054 hoặc Thủy (801) 462-5190.

Tết Trung Thu do Hội Sinh Viên Việt Mỹ tại Ðại Học Utah Tổ Chức: Thứ Bảy, ngày 28 tháng 9, 2013

Năm nay Hội Sinh Viên Việt Mỹ tại Ðại học Utah (VASA) sẽ tổ chức Tết Trung Thu từ 6 giờ chiều đến 10 giờ tối Thứ Bảy, ngày 28 tháng 9 năm 2013, tại công viên Germania Park, 5243 South Murray Parkway Ave., Murray, Utah.

Chương trình Tết Trung Thu dành cho mọi lứa tuổi, có nhiều tiết mục vui nhộn và hấp dẫn như phát bánh Trung thu và lồng đèn miễn phí cho các em đến tham dự, và có nhiều trò chơi trúng giải thưởng, vẽ mặt, thủ công, v.v…

Từ đánh nhau dẫn đến bắn nhau, 3 người bị thương tại West Valley City

 

*Người Việt Utah

WEST VALLEY CITY, UtahSáng sớm hôm Thứ Năm, ba người đã bị thương sau khi một trận đánh lộn giữa hai nhóm thanh, thiếu niên tại một công viên ở West Valley City, Utah, kết thúc bằng một vụ nổ súng bắn nhau.

Trung Sĩ Jason Hauer, thuộc Sở cảnh Sát West Valley, xác nhận rằng có hai thanh niên và một thiếu niên trúng đạn bị thương nặng, và thủ phạm gây ra vụ bắn người đã tẩu thoát.

Giới chức cảnh sát đã không đưa ra thêm các chi tiết chung quanh vụ bắn nhau này, chỉ cho biết rằng cuộc điều tra đang tiến hành, và lực lượng cảnh sát đang được triển khai để lục soát công viên Parkway Park, ở số 2700 S. 3420 West, cùng khu vực lân cận. Cảnh sát cũng không thể cho biết mặt mũi của thủ phạm vụ nổ súng, mà nay đang đào tẩu, ra sao.

Vụ ẩu đả diễn ra vào lúc 10 giờ 16 phút tối hôm Thứ Tư khi hai phe thanh, thiếu niên, không rõ có liên hệ gì tới băng đảng hay không, khởi sự đánh nhau vì một nguyên do chưa được xác định rõ. Những gì cảnh sát đang có trong tay là một số viên đạn và vỏ đạn được để lại tại hiện trường sau vụ bắn nhau cũng như một số nhân chứng sẵn lòng hợp tác với nhà chức trách trong cuộc điều tra. (Theo Bob Mims/The Salt Lake Tribune)

Cáo Bạch của Ðức Tăng Thống Thích Quảng Ðộ

LỜI TÒA SOẠN:

Ðức Tăng Thống Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, Ðại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ, vừa gửi đến phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế tại Paris ngày 1 tháng 1, 2013 để phổ biến Cáo Bạch mà ngài gửi đến cho toàn thể Chư Tăng, Ni, Phật tử trong và ngoài nước về quyết định ngài từ nhiệm chức vụ Tăng Thống vì lý do đạo đức trong nội bộ Hội Ðồng Lưỡng Viện đối với Hòa Thượng Thích Chánh Lạc, chủ tịch Văn Phòng II Viện Hóa Ðạo, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Hoa Kỳ đã vi phạm trọng giới DÂM và VỌNG với những bằng chứng cụ thể, minh bạch không chối cãi – mà trong thời gian qua Viện Tăng Thống đã nhận được nhiều thỉnh nguyện thư, tâm thư, trình thư của Tăng, Ni và cộng đồng Phật tử hải ngoại liên tục tố cáo Hòa Thượng Thích Chánh Lạc.

Sau đây là nội dung Cáo Bạch của Ðức Tăng Thống Thích Quảng Ðộ, chúng tôi sẽ tiếp tục phổ biến tin tức sự việc trọng đại này đã đem lại đau buồn và mất niềm tin đối với cộng đồng Phật tử.

Tuần Báo Người Việt Utah

 

Thì Thầm Với Nhau

 

Chị Huyền Nhi,

Em biết chàng đã lâu lắm rồi, nhiều lần con tim em bị xao xuyến bởi vì tài năng của chàng… Chàng đối với em như là một thiên thần, hoàng tử! Một người trong mộng hoàn toàn, có thể làm cho cuộc sống của em đầy ý nghĩa và hạnh phúc nếu em lấy được chàng. Tuy nhiên, đó là điều em hằng ước mơ bao lâu nay. 

Rất tiếc là chàng không hề biết chuyện một người con gái đang thầm lặng yêu chàng! Chàng lúc nào cũng xem em như người bạn và đối xử hay nói một cách khác hơn như người em gái!

Tụi em thường đi ăn chung và đùa giỡn với nhau rất thân mật tự nhiên, nhưng chưa bao giờ chàng cố ý nắm tay em. Theo chị nghĩ em có nên tiếp tục thầm yêu trộm nhớ, tiếp tục như những ngày tháng qua? Hay là em nên cho chàng biết là em yêu chàng để tiến xa hơn trong tình ái? Em rất ngại ngùng, bởi mình là gái ai lại có thái độ tỏ tình với phái nam trước!
Xin chị cho tí “advise.”

Minh Trang

Trang thân,

Chao ôi! Thời buổi này mà cũng có người yêu một cách trầm lặng, kín đáo như vậy! Phải nói là Huyền Nhi rất khâm phục cái tình cảm mà Trang đã dành cho chàng nào đó! Cũng có khi chàng ấy, dù là trai nhưng tính tình nhút nhát, không dám thổ lộ ngay với gái! 

Ở đời Trang cũng nên nhớ mình sống không phải dựa vào sự hiện diện của người mà phải tin vào ở chính mình nữa thì mới đáng để sống. 

Huyền Nhi tin rằng Trang mà thật sự yêu chàng thì thời gian rồi sẽ được bồi đắp bằng một tình chân thật. Cách tốt nhất là cho chàng biết sớm càng tốt bằng các cử chỉ thân thiện hơn, tất nhiên chàng sẽ hiểu… Nếu mà Trang vẫn e dè ngại ngùng, lỡ ra có kẻ khác sẽ nói trước thì lúc đó quá muộn màng…  

Nếu cần Huyền Nhi nói hộ cho! Nói đùa thế thôi. Chúc Trang hưởng được hạnh phúc mà Trang hằng mong đợi và hãy can đảm lên!

Huyền Nhi

Quyền bình đẳng về cơ hội làm việc tại Hoa Kỳ

 

*Tom Huỳnh, J.D.
(949) 943-4396

Chánh phủ liên bang Hoa Kỳ có những đạo luật về quyền bình đẳng trong vấn đề việc làm, nhằm giúp cho một số người trong hoàn cảnh nào đó được xem là thành phần được bảo vệ (protected class) không thể bị kỳ thị về cơ hội làm việc trên đất Mỹ, từ giai đoạn tuyển dụng, trong thời gian làm việc, hay khi bị sa thải.

Thành phần được bảo vệ bởi các luật lệ này bao gồm những ai bị kỳ thị vì giới tính, chủng tộc, màu da, tôn giáo, nguồn gốc quốc gia, trên 40 tuổi, và những người bị khuyết tật hay sức khỏe yếu kém.

Ủy Ban Cơ Hội Làm Việc Bình Ðẳng (Equal Employment Opportunity Commission – EEOC) là cơ quan thuộc chính quyền liên bang Hoa Kỳ có trách nhiệm áp dụng các luật lệ căn bản sau đây nhằm cấm tình trạng kỳ thị và sách nhiễu trong vấn đề việc làm:

– Khoản VII của Luật Dân Quyền ban hành năm 1964 (Title VII of the Civil Rights Act of 1964) chống kỳ thị trong việc làm dựa vào giới tính, chủng tộc, màu da, tôn giáo, hoặc nguồn gốc quốc gia;

– Luật Lương Bổng Ðồng Ðều ban hành năm 1963 (The Equal Pay Act of 1963 – EPA) bảo vệ cho nam và nữ làm những công việc nói chung là giống nhau và trong cùng một nơi, không thể bị kỳ thị về lương bổng vì khác giới tính;

– Luật Kỳ Thị Tuổi Tác Trong Việc Làm ban hành năm 1967 (The Age Discrimination in Employment Act of 1967 – ADEA) bảo vệ cho người từ 40 tuổi trở lên không thể bị kỳ thị trong việc làm vì lớn tuổi;

– Khoản I của Luật Người Mỹ Bị Khuyết Tật ban hành năm 1990 (Title I of the American with Disability Act of 1990 – ADA) cấm kỳ thị trong vấn đề việc làm đối với những cá nhân có khả năng nhưng bị khuyết tật; và

– Luật Dân Quyền ban hành năm 1991 (The Civil Rights Act of 1991) quy định vấn đề bồi thường thiệt hại về tiền bạc trong trường hợp cố tình kỳ thị trong việc làm.

Nói chung, cơ quan EEOC có trách nhiệm thi hành các đạo luật của chính phủ liên bang Hoa Kỳ về sự bình đẳng trong cơ hội làm việc, nhằm ngăn cấm sự kỳ thị trong mọi khía cạnh liên quan đến việc làm, bao gồm việc tuyển dụng, sa thải, trả lương, chỉ định việc làm, thuyên chuyển, thăng thưởng, giảm hoặc tăng giờ làm việc, gọi đi làm trở lại, v.v… cho đến những phúc lợi phụ, chương trình về hưu, nghỉ phép, hoặc bất cứ đòi hỏi hoặc điều kiện làm việc nào khác.

Các đạo luật của chánh quyền liên bang về sự bình đẳng trong cơ hội làm việc cũng cấm việc sách nhiễu tình dục và các hình thức sách nhiễu khác tại nơi làm việc dựa trên chủng tộc, màu da, giới tính, tôn giáo, nguồn gốc quốc gia, khuyết tật, tuổi tác, hoặc kỳ thị phụ nữ trong lúc mang thai. Các luật này cũng ngăn cấm mọi hình thức trả thù người phản đối hay đứng ra tố giác các vụ kỳ thị, hay đã làm chứng hoặc tham gia vào cuộc điều tra về những hành động kỳ thị trong việc làm.

Tuy nhiên, cũng cần biết rằng EEOC chỉ giới hạn trách nhiệm thực thi các luật chống kỳ thị việc làm trong lãnh vực tư nhân và các cơ quan chánh quyền cấp tiểu bang và địa phương mà thôi, dầu rằng những luật lệ chống kỳ thị trong việc làm vừa kể trên đây cũng được áp dụng chung cho các cơ quan liên bang. Muốn có thêm thông tin trong việc thực thi các luật chống kỳ thị về việc làm trong lãnh vực cấp liên bang, xin liên lạc với văn phòng Cơ Hội Làm Việc Bình Ðẳng (EEO) tại cơ quan liên bang nơi xảy ra sự kỳ thị.

Giới hạn áp dụng của luật liên bang cấm kỳ thị trong việc làm

Các đạo luật bình đẳng về cơ hội làm việc của chánh phủ liên bang do EEOC thi hành cũng có một số giới hạn trong việc áp dụng. Hiện nay, tất cả chủ nhân các hãng xưởng hoặc doanh nghiệp trong lãnh vực tư, các chính quyền tiểu bang và địa phương, và các trường học có từ 15 công nhân viên trở lên, bắt buộc phải tuân hành Khoản VII của Luật Dân Quyền 1964 và Khoản I của Luật Người Mỹ Bị Khuyết Tật năm 1990, nghĩa là không được phép kỳ thị trong việc làm dựa vào chủng tộc, màu da, giới tính, tôn giáo, hoặc nguồn gốc quốc gia; và không được kỳ thị việc làm đối với những cá nhân có khả năng nhưng bị khuyết tật.

Luật Kỳ Thị Tuổi Tác Trong Việc Làm 1967 (bảo vệ mọi người nam nữ từ 40 tuổi trở lên trong trường hợp bị kỳ thị việc làm vì tuổi tác) được áp dụng cho tất cả chủ nhân các doanh nghiệp trong lãnh vực tư, các chính quyền tiểu bang và địa phương, và các trường học có từ 20 công nhân viên trở lên. Ngoài ra, các cơ quan giới thiệu việc làm, các nghiệp đoàn lao động, các chương trình thực tập hoặc huấn nghệ, cũng phải tuân hành các luật vừa kể trên.

Riêng về Luật Lương Bổng Ðồng Ðều năm 1963 (cấm trả lương không đồng đều dựa trên giới tính) được áp dụng cho tất cả các cơ quan và doanh nghiệp, không phân biệt số công nhân viên làm việc.

Luật cấm kỳ thị trong việc làm dựa trên tình trạng di trú

Ngoài các luật cấm kỳ thị trong việc làm do EEOC thi hành, Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ cũng có bộ phận đặc trách thi hành một số điều khoản của bộ luật di trú (Immigration and Nationality Act ữ 274B, 8 U.S.C. ữ 1324b.), nhằm ngăn cấm sự phân biệt đối xử dựa trên nguồn gốc quốc gia khi thuê mướn, giới thiệu, tuyển dụng, hay sa thải đối với những ai là công dân Hoa Kỳ hoặc ngoại kiều có quyền lao động tại Hoa Kỳ, bao gồm những thường trú nhân, di dân và người tị nạn.

Các luật cấm kỳ thị trong việc làm do tiểu bang ấn định

Cùng với các đạo luật của chính phủ liên bang cấm kỳ thị trong việc làm như đã nói trên, mỗi tiểu bang tại Hoa Kỳ cũng có đặt ra những bộ luật liên quan đến vấn đề này, được áp dụng song hành với các luật của chánh phủ liên bang. Và mỗi tiểu bang đều có cơ quan đặc trách vấn đề kỳ thị trong việc làm, phối hợp với văn phòng EEOC tại địa phương để thi hành các đạo luật bình đẳng về cơ hội làm việc.

Những hình thức kỳ thị thường xảy ra trong vấn đề việc làm

Kỳ thị về nguồn gốc quốc gia, chủng tộc, màu da: Ðây là các hình thức kỳ thị bị ngăn cấm bởi Khoản VII của Luật Dân Quyền 1964. Kỳ thị bất cứ một ứng viên xin việc hay nhân viên đang làm việc vì nguồn gốc quốc gia cũng như chủng tộc, mầu da, tôn giáo và giới tính là bất hợp pháp. Không ai có thể bị từ chối cơ hội làm việc bình đẳng vì sinh quán, tổ tiên, văn hóa, hoặc vì đặc tính ngôn ngữ chung của một nhóm sắc tộc. Cơ hội làm việc bình đẳng cũng không thể bị từ chối vì kết hôn hoặc liên hệ với người thuộc một nhóm hay quốc gia nào đó; hoặc vì là hội viên hay có liên hệ với những nhóm sắc tộc được chú ý; hay vì đi học hoặc tham gia vào những trường, nhà thờ hoặc đền chùa được coi là thuộc một nhóm nguồn gốc quốc gia; hoặc vì mang một tên họ thuộc nhóm nguồn gốc quốc gia nào đó.

Khoản VII của Luật Dân Quyền 1964 cũng ngăn cấm vấn đề sách nhiễu dựa trên nguồn gốc quốc gia. Nói xấu người thiểu số hoặc có hành vi bằng lời nói hoặc cử chỉ nhắm vào quốc tịch của một cá nhân sẽ được coi là sách nhiễu nếu gây ra một môi trường làm việc có tính cách đe dọa, thù nghịch hoặc làm quấy rầy một cách vô lý đến hiệu năng làm việc, hay gây ảnh hưởng xấu đến cơ hội làm việc của một cá nhân hay đồng nghiệp.

Chủ nhân có trách nhiệm giữ cho nơi làm việc không xảy ra những vụ sách nhiễu về nguồn gốc quốc gia, chủng tộc hay màu da. Chủ nhân có thể phải chịu trách nhiệm về bất cứ sự sách nhiễu nào tại nơi làm việc do công nhân viên, quản lý hay giám thị gây ra, bất luận những hành động đó có được chủ nhân cho phép hay không.

Sách nhiễu tình dục: Ðây là một hình thức kỳ thị giới tính, vi phạm Khoản VII của Luật Dân Quyền 1964. Sách nhiễu tình dục là những hành động tình dục không được tán thưởng; đòi hỏi ân huệ tình dục hoặc những hành vi bằng lời nói hay việc làm có bản chất tình dục khi sự chấp nhận hoặc từ chối hành vi này gây ảnh hưởng đến việc làm của một cá nhân, gây trở ngại một cách vô lý đến hiệu năng làm việc của một cá nhân, hoặc tạo ra một môi trường làm việc đe dọa, thù nghịch hoặc xúc phạm. Nạn nhân cũng như kẻ sách nhiễu có thể là nữ hay nam. Kẻ sách nhiễu có thể là cấp chỉ huy của nạn nhân, một đại diện của chủ nhân, đồng nghiệp, hoặc cũng có thể là người ngoài không phải là nhân viên. Nạn nhân không nhất thiết phải là người bị sách nhiễu, mà có thể là bất cứ ai bị ảnh hưởng bởi hành vi sách nhiễu. Sự sách nhiễu tình dục bất hợp pháp có thể xẩy ra dù không gây thiệt hại kinh tế cho nạn nhân, hoặc cũng không làm cho nạn nhân bị mất việc.

Quy định buộc công nhân viên chỉ được nói tiếng Anh mà thôi: Ðây là một thứ quy định có thể được xem là vi phạm Khoản VII của Luật Dân Quyền 1964, ngoại trừ khi chủ nhân chứng minh được quy định này là cần thiết cho thương nghiệp. Tuy nhiên, nếu chủ nhân tin quy định “chỉ nói tiếng Anh” là quan trọng và cần thiết cho thương nghiệp, chủ nhân phải thông báo rõ ràng cho công nhân viên biết khi nào họ phải nói tiếng Anh, và hậu quả nếu vi phạm. Bất cứ quyết định nào bất lợi cho công nhân viên căn cứ vào sự vi phạm quy định “chỉ nói tiếng Anh” sẽ bị coi như bằng chứng kỳ thị nếu chủ nhân không báo trước cho công nhân viên biết rõ về quy định này.

Kỳ thị người nói tiếng Anh không đúng giọng: Nếu từ chối cơ hội làm việc của một cá nhân vì giọng nói hoặc cách nói của đương sự, chủ nhân phải đưa ra một lý do chính đáng không có tính cách kỳ thị. Chủ nhân không thể từ chối tuyển dụng một người có khả năng làm việc khi giọng nói hoặc cách nói của đương sự không tạo ảnh hưởng tai hại gì cho hiệu năng làm việc.

Buộc nhân viên hoặc ứng viên xin việc phải thông thạo Anh ngữ có thể sẽ vi phạm Khoản VII của Luật Dân Quyền 1964, nếu quy định này được áp dụng nhằm loại bỏ những cá nhân có nguồn gốc quốc gia nào đó chứ không liên hệ đến hiệu năng việc làm.

Kỳ thị người lớn tuổi: Luật Kỳ Thị Tuổi Tác Trong Việc Làm 1967 (ADEA) bảo vệ các cá nhân từ 40 tuổi trở lên không thể bị kỳ thị trong vấn đề việc làm vì đã lớn tuổi.  

Các sự bảo vệ của luật ADEA áp dụng cho cả người đi xin việc làm cũng như đang làm việc. Theo luật ADEA, bị coi là bất hợp pháp nếu kỳ thị một người trong vấn đề liên quan đến việc làm vì người đó trên 40 tuổi (bất kể nam nữ). Các hình thức kỳ thị bị ngăn cấm bao gồm yếu tố thời hạn, điều kiện, hay các đặc quyền về tuyển dụng, sa thải, thăng cấp, lương bổng, phúc lợi, giờ làm việc, bồi thường, bổ nhiệm, huấn nghệ, v.v…

Kỳ thị người bị khuyết tật: Khoản I của Luật Người Mỹ Bị Khuyết Tật năm 1990 (ADA) cấm chủ nhân trong lãnh vực tư, chính quyền tiểu bang và địa phương, những cơ quan công tư giới thiệu việc làm và các nghiệp đoàn lao động, không được kỳ thị trong những thủ tục nộp đơn xin việc, thi tuyển, sa thải, thăng cấp, thù lao, chương trình học nghề; hay trong việc cấp phát những đặc lợi làm việc khác nhắm vào những cá nhân có khả năng nhưng mang khuyết tật. Luật này cũng đòi hỏi chủ nhân phải tạo sự thích nghi cho những ứng viên hoặc nhân viên có khả năng nhưng có khuyết tật, nếu điều đó không gây “khó khăn quá đáng” cho thương nghiệp của chủ. Luật ADD được tu chính vào năm 2009 với những thay đổi rất quan trọng, nhờ đó mà có thêm rất nhiều người mang một số tật bệnh hay có sức khỏe yếu kém từ nay có thể hội đủ tiêu chuẩn được hưởng sự bảo vệ của luật ADD để có việc làm theo đúng khả năng và tình trạng thể chất của mình.

Trả đũa nhân viên vì đã phản đối sự kỳ thị: Rất nhiều người đi làm dầu nhận thấy có sự kỳ thị nhưng cũng không dám lên tiếng vì sợ bị trả thù (bị đuổi việc, bị sách nhiễu, v.v…) Tuy nhiên, sẽ bị coi là bất hợp pháp bởi luật chống kỳ thị, nếu có hành động trả đũa một nhân viên hay cá nhân nào vì họ phản đối các hình thức kỳ thị vi phạm các đạo luật về sự bình đẳng trong cơ hội làm việc; hay vì đã tố giác hoặc nạp đơn khiếu nại sự kỳ thị với cơ quan EEOC; hay vì làm chứng, tham dự trong cuộc điều tra kỳ thị dưới một hình thức nào đó, một diễn tiến tranh chấp, hay một vụ thưa kiện trong khuôn khổ cho phép bởi các đạo luật chống kỳ thị trong việc làm.

Nói chung, chánh quyền liên bang và các tiểu bang đều có những đạo luật nhằm bảo đảm quyền bình đẳng trong cơ hội làm việc cho mọi người, từ giai đoạn tuyển dụng, trong thời gian làm việc, và nhất là trong vấn đề sa thải. Dầu vậy, các trường hợp kỳ thị trong việc làm vẫn thường xuyên xảy ra, đặc biệt là những vụ sách nhiễu tình dục (sexual harassment) tại nơi làm việc, và vấn đề thiếu công bằng khi sa thải công nhân viên. Nguyên nhân của các hình thức vi phạm vừa kể hầu hết là do cấp quản lý hay giám thị tại nhiều cơ sở doanh nghiệp đã không có sự hiểu biết tường tận về luật lệ hiện hành, và nạn nhân cũng thường ít khiếu nại vì không hiểu rõ những quyền lợi pháp lý của mình.

Ðặc biệt trong vấn đề sa thải công nhân viên, mặc dầu hầu hết người đi làm việc tại Hoa Kỳ đều được tuyển dụng theo hình thức “employment at will,” nghĩa là người chủ có quyền sa thải người đi làm bất cứ lúc nào và không cần lý do, nhưng các cơ sở doanh nghiệp có thể sẽ vi phạm luật lệ cấm kỳ thị nếu sa thải nhân công dựa trên sự phân biệt về giới tính, chủng tộc, màu da, tôn giáo, nguồn gốc quốc gia, tuổi tác, tình trạng khuyết tật và sức khỏe, hay tình trạng di trú.

Tóm lại, mọi người ở Mỹ đều có quyền bình đẳng trong vấn đề việc làm, không thể bị kỳ thị hoặc bị sách nhiễu trong lúc làm việc hay khi đi xin việc, không thể bị sa thải bất công, và cũng không thể bị trả đũa nếu tố giác hay làm chứng về một vụ kỳ thị.

Nếu nghĩ rằng mình bị đối xử kỳ thị trong vấn đề việc làm và muốn được hưởng sự bảo vệ của luật pháp, nạn nhân cần phải mau chóng tiến hành thủ tục khiếu nại theo đúng thời hạn quy định bởi luật liên bang và tiểu bang, vì luật pháp có những giới hạn chặt chẽ về thời gian dành cho việc khiếu nại các hình thức kỳ thị trong vấn đề việc làm.

Advice for College from Higher Ed Experts: Jim Terhune, Student Life


By Jim Terhune, CollegeXpress



Ever wish you could get the college facts straight from the source—those higher ed MVPs like deans of admission, directors of financial aid, and executive coaches? Well, we’re bringing you the next best thing: a one-on-one chat with the people at the top! So keep reading for an expert take on the ins and outs of admission, college life, and campus survival.











Photo from Head4Success.com


This conversation concerns student life. We asked Jim Terhune, V.P. for Student Affairs and Dean of Students at Colby College in Waterville, Maine, for his take on everything from the biggest surprises about college life to top do’s and don’ts to the best place to grab a bite. Keep reading for his insider college advice!



Student Life Insights


How does “real” college life differ from the movies?

I guess to a certain degree the answer depends on what movies you are talking about. College life–at least for most people–is not one wild party frequented exclusively by movies stars who want to be your best friend. And, though I am surely biased on this point, the faculty and deans are not one-dimensional villains driven by an uncontrollable desire to make students’ lives miserable.



To the contrary, we’re teachers who want for you to succeed and to help you get the most out of your college experience. By and large, as is true of most things, “real” college life is a lot more ordinary and complex than the way college life is portrayed in the movies. By ordinary I mean that there is no magical or mystical transformation that occurs when you step onto a college campus as a student. At first there is a lot about being at college–particularly if being at college for you includes living on your own away from home–that is new and different. The academic expectations are different. The relationships with faculty are different. And figuring out how to balance life and work and family and friends takes some time. But you work it out and very quickly your life at college starts to feel very normal and natural.



How can students find extracurricular organizations that fit them?

There is no “one size fits all” answer when it comes to what activities will prove most valuable to students. Each student needs to figure that out on his or her own. I encourage students to get involved in one or two activities that have particular meaning for them and give enough time to them to get an accurate sense of whether or not they will ultimately prove to be a good fit. In the end, for most students it is less about the activity of focus of the group/organization that is most important–it is about the people who are involved in it and finding a group where the other students involved share your interests and values.



What might students find surprising about campus life?

I think the most surprising aspect about life on campus for new students is how much time they have, and how hard it is to manage their time well. College students, even those with the most demanding schedules, spend way less time in formal class/lab settings than they did in secondary school. It is easy for students to think of their schedule exclusively in terms of when they have class and maybe athletic practice or music/theatrical rehearsal. They believe they have a lot of time to get work done and socialize, etc.



We encourage students to include time for sleeping, meals, activities, socializing, and most importantly studying out of class in constructing their daily and weekly schedules. Students who look at their schedules in a holistic way actually find they have much more “free” time than those who are less organized. The important thing is to see their lives in a comprehensive way rather than as chopped up component parts.


What are your top “do’s and don’ts” for soon-to-be college freshmen?

Do: Read everything that your college sends you and be sure to complete tasks on time (e.g., submit housing forms, register for courses, etc.).

Don’t: Let your parents/families choose your courses or look over your shoulder when completing these forms.

Do: Spend time thinking about why you are going to college and what you want to take away from your college experience. It is easy to get caught up in doing things because others around you are doing them, even if they don’t match up with what you want. Be open to new ideas and directions, but have some ideas about what you are hoping to achieve in college.

Don’t: Try to plan out every detail of all four years before you even start. Some of the best things that will happen to you will be things that you cannot anticipate right now. Most of them are not accidents. Rather they are the result of absorbing the experience and moving forward in a thoughtful way.

Do: Continue to work hard in all of your classes during your last months in secondary school. The best predictor for struggling academically in college is coasting and letting grades slide at the end of secondary school. Really! We see it all the time. The academic expectations are going to be far greater in college and the worst thing you can do is get into bad study habits just before you start.

Don’t: Give into the notion of the senior slump.

Do: Talk with your family about how often you want to communicate with them while you’re at college. Between calling and e-mailing and texting, it is really easy now to be in constant contact with people at home. But a big part of college is about living and managing your life on your own, and that requires establishing new norms with respect to communicating with your family.

Don’t: Go for six weeks without calling, e-mailing, or texting your family. It is good to strive to become a more independent and self-reliant person. But that doesn’t mean going into the witness protection program. The right amount of communication differs for people given their own unique circumstances. Talking on the phone once or twice a week is probably average. Talking on the phone once or twice a day is too much.

What challenges do you find college students typically face?

I’ve mentioned a couple already. Time management is a big one. Likewise, figuring out how to manage academic expectations is a challenge for just about every student in one way or another. On the personal/social side, I think the most common challenge has to do with finding a group of friends who share one’s interests and values. In most cases, at the end of secondary school students have made friendships and established social groups that have evolved over several years wherein the members know each other in a variety of ways that give a sense of comfort and belonging.



Students starting college are dropped into a new living and social setting and have to make their way with very little information. As a result it is common for new students to find themselves in friend groups and social settings that aren’t necessarily a great match for them personally early on in their college careers. But, when students have a sense of what they want from college and are deliberate about reflecting on their experience, they are able to adjust as they go.



So, again, the important thing is to be open to new things and understand that the choices you make will ultimately shape your time at college. Finally, students need to remember that there are lots of people at your college who are there to help you.  Deans and counselors and advisors and coaches and peer mentors of many varieties exist precisely to help you succeed. Use them. They can be enormously helpful in negotiating the bumps in the road that you may encounter.



How can students best survive midterm and finals weeks?

This is the one where deans and faculty advisors sound like your parents: The best way to manage midterms and finals is to stay current in your academic work throughout the semester. Do the reading when it is assigned. Speak to the professor or teaching assistant if and when you encounter difficulty in a class. Start working on papers and labs and other graded assignments well ahead of time and make sure you hand them in when they are due. And when it comes time to actually take midterms and finals, study hard but avoid cramming and all-nighters. It is far better to get plenty of sleep, eat well, and carve out time for exercise in ways that are more or less consistent with the rest of the term than it is to try to adopt some frantic exam schedule where you are sleep deprived, hopped up on caffeine and cold pizza, and glued to a study carrel in the library.



Having said all that, I know that many of you are going to have to figure all this out for yourselves and that being told to eat your vegetables by some dean is more likely to elicit eye rolls than gratitude. This is one of those hard and immutable truths that we all have to come to accept eventually: when it comes to doing your homework, getting plenty of sleep, and eating well, your mother was right. Deal with it.

Las Vegas lại bị lụt nặng vào dịp cuối tuần

 

Người Việt Las Vegas

LAS VEGAS, Nevada – Hôm Chủ Nhật, các cộng đồng dân cư gần vùng núi non tại Las Vegas đã bị mưa bão trút xuống gây ngập lụt trên một số con đường.

Ðây là lần thứ hai mà lụt lội kéo đến kinh đô giải trí của thế giới cũng vào dịp cuối tuần, tương tự như trận mưa lụt xảy ra nơi đây hồi tuần trước đó. Mưa lớn đã gây ngập lụt và lở đất nặng, với những dòng nước đục ngầu chảy như thác qua các đường phố tại Las Vegas, khiến nhiều cư dân không kịp trở tay.

Nước lụt dâng lên rất nhanh tại vùng Kyle Canyon.

Lúc gia đình của May Krampetz đang chạy xe trên đường Rainbow Canyon Boulevard thì bị nước lụt bao vây, khiến cho chiếc xe SUV của họ bị đẩy dồn vào một đống đất đá bị nước cuốn trôi nằm ngổn ngang trên đường và kẹt lại tại một gốc cây. Toán cấp cứu của thành phố đã phải thực hiện một cuộc cứu ứng khẩn cấp để đưa các phụ nữ và trẻ em ra khỏi chiếc xe này đến nơi an toàn.

Nhiều người đi cắm trại trong vùng cũng bị kẹt lại tại chỗ. Giao thông trên các xa lộ 157 và 158 đã phải bị ngưng trệ suốt nhiều tiếng đồng hồ để chờ nước lụt rút đi. (Theo CNN)

Chết trong an bình

 

Loving and Dying

Ðôi khi là một nhà sư tôi được yêu cầu đến tụng kinh cho tang lễ. Tôi cảm thấy buồn cho gia quyến của người chết nhưng đôi khi tôi cũng cảm thấy không giúp được gì vì có quá nhiều khó xử trong vai trò của một nhà sư đi tụng kinh đám tang.

Một ngày nọ, một phụ nữ trẻ tuổi đến gặp tôi. Cha cô mới chết sáng hôm đó. Ông mới chỉ 42 tuổi. Cô nói với tôi bằng tiếng Phúc Kiến: “Xin mời thầy đến tụng kinh. Xin thầy mở con đường cho cha tôi.” Tôi nhìn cô ta với tất cả tấm lòng từ bi mà tôi có thể tập trung. Tôi có thể cảm thấy sự bối rối và đau khổ của cô. Cô khoảng chừng 20 tuổi và là một người con gái có hiếu. Trong thâm tâm tôi nói thầm với mình: “Trời ơi tôi sẽ mở đường cho người như thế nào đây? Con đường tưởng tượng nào tôi sẽ vẽ trong không khí cho hồn tưởng tượng đặt chân lên? Làm sao tôi có thể nói với người phụ nữ trẻ tuổi tội nghiệp đang ở trong tình trạng buồn phiền và bối rối rằng không có con đường nào như cô có lẽ đã tưởng tượng như thế?”

Ðức Phật cũng có lần ở trong tình thế như vậy và ngài đã trả lời ra sao? Một hôm một người trẻ tuổi lại gần Ðức Phật và hỏi ngài: “Bạch Thế Tôn, cha con chết. Xin mời Ðức Phật đến và cầu nguyện cho cha con, cứu độ linh hồn ông ấy để ông ấy có thể đi lên thiên đàng. Những người Bà La Môn cử hành những nghi thức này nhưng Ðức Phật lại còn mạnh hơn họ nhiều. Nếu ngài sẽ làm điều đó, chắc chắn hồn cha con sẽ bay thẳng về thiên đàng.”

Ðức Phật trả lời, “Rất tốt, hãy đi ra chợ và và đem về cho ta hai cái bình đất và một ít bơ.” Người trẻ tuổi sung sướng vì
Ðức Phật đã hạ cố thi hành một số thần thông để cứu linh hồn cha của mình. Anh ta vội vã đi ra phố và mua các thứ mà Ðức Phật bảo. Ðức Phật chỉ dẫn cho anh ta để bơ vào một bình và để đá vào bình kia. Rồi ném cả hai bình đó xuống ao.
Người trẻ tuổi làm theo và cả hai bình đều chìm xuống đáy ao. Rồi Ðức Phật tiếp tục: “Bây giờ hãy lấy một cái gậy và đập vỡ hai bình đó ở dưới ao.” Người trẻ tuổi làm theo. Hai cái bình bị đập vỡ và bơ thì nhẹ đã nổi lên còn hòn đá vì nặng nên vẫn ở dưới đáy ao.

Rồi Ðức Phật nói: “Bây giờ nhanh lên đi tập họp tất cả những thầy tu. Hãy nói với họ đến và tụng kinh để bơ chìm xuống và viên đá nổi lên.” Người trẻ tuổi nhìn Ðức Phật, sửng sốt, nói, “Bạch Ðức Thế Tôn, ngài có nói thật không ạ. Chắc chắn ngài không thể trông chờ bơ nhẹ mà chìm và đá nặng mà nổi. Ðiều đó ngược lại với qui luật tự nhiên.”

Ðức Phật mỉm cười và nói: “Này con, con đã thấy nếu cha con có một cuộc đời lương thiện thì những hành vi của ông cũng nhẹ như bơ cho dù thế nào thì ông cũng lên thiên đàng. Không ai có thể cản được, ngay cả đến ta. Không ai có thể chống lại nghiệp luật thiên nhiên. Nhưng nếu cha ngươi có một cuộc đời bất thiện thì cũng giống như hòn đá nặng, cha ngươi sẽ bị chìm vào địa ngục. Dù tụng kinh nhiều đến đâu đi nữa bởi tất cả các thầy tu trên thế giới này cũng không thể gây thành khác được.”

Người trẻ tuổi hiểu rõ. Anh chữa lại quan niệm sai lầm của anh và ngừng đi loanh quanh đòi hỏi cái không thể được. Nụ cười của Ðức Phật đã đi tới điểm: Không ai có thể cứu chúng ta, tối thiểu của tất cả sau khi chúng ta chết. Theo nghiệp luật, chúng ta là sở hữu chủ của những hành vi của chúng ta, chúng ta là người thừa hưởng những hành vi của chúng ta.

Những hành vi của chúng ta thực sự là tài sản của chúng ta. Chúng là chỗ nương tựa thực sự của chúng ta, là những thân nhân thực sự của chúng ta. Chúng là trung tâm từ đó chúng ta xuất phát. Khi chúng ta chết, chúng ta không mang được dù chỉ có một xu với chúng ta, hay bất cứ thứ đồ gì của cá nhân chúng ta. Cũng chẳng có thể mang được một trong những người thân để cùng đi với chúng ta. Giống như chúng ta đến một mình theo nghiệp của chúng ta thì chúng ta cũng phải ra đi một mình. Nếu chúng ta hiểu rõ nghiệp luật, thì chúng ta sẽ cảm niệm thấy sống một cuộc đời lương thiện quan trọng đến như thế nào trong khi chúng ta còn sống. Ðợi đến lúc chết thì sẽ quá muộn. Có một chút gì đó có thể làm được.

Trích đoạn từ:
Chết trong an bình
Loving and Dying

Tỳ Kheo Visuddhacara
Thích Tâm Quang dịch
Phật Lịch 2548-2004

Vui cười

 

Thiên đàng cộng sản

Trong lớp học ở Bắc việt, thầy giáo hỏi học sinh:

-Trò biết ông Adam và bà Eva người nước nào không?

Học sinh lúc nào cũng bị nhồi sọ về chủ nghĩa CS suốt năm suốt tháng suốt ngày nên trả lời:

– Dạ người Liên Xô.

Thầy giáo:

-Giỏi, nhưng em làm sao biết người Liên Xô?

Học sinh thưa:

– Dạ biết, vì sống theo chủ nghĩa mà con đã học hàng ngày: CS là vô sản, không tiền bạc, không ruộng nương, không nhà cửa cao sang, nên lao động tích cực. tiến nhanh tiến mạnh lên Xã Hội Chủ Nghĩa, không bận tâm đến chi cả, chỉ mơ đến Bác Hồ thì đó là cảnh đưa nước nhà đến cảnh thiên đàng nơi địa giới.

––––––

Thế có tức không?

Thầy:

– Ðảng là gì? Nhà nước là gì? Dân là gì?

Trò Tý:

– Ðể con về hỏi Ba con đã.

Hôm sau trò trả lời:

– Thưa thầy, ba con nói trong gia đình: Ba con là “Ðảng”, má con là “Nhà nước” quản lý và con là “Dân.”

Một hôm Tý về nhà trễ bị ba bắt nhịn đói và quỳ ở một góc nhà, hắn hậm hực:

-Coi đó! “Ðảng và Nhà nước” ngồi ăn với nhau. Bắt “Dân” quỳ gối. Thế có tức không?

––––-

Bao giờ tiếp tục

Buổi chiêu đãi các phái đoàn CS các nước đến thăm Hà Nội được kết thúc trong sự lưng lửng bao tử của hầu hết thực khách. Bởi sự tiết kiệm quá đáng của Ba Xuẩn chỉ thị cho nhà bếp.

Hắn đứng xoa tay tuyên bố:

-Rất cảm kích các đồng chí từ phương xa đến dự buổi tiệc hôm nay, chúng tôi thay mặt đảng CSVN tuyên bố tạm kết thúc và sẽ tiếp tục…

Nói nửa chừng Ba Xuẩn nhớ có đồng chí cố vấn vĩ đại Trung Quốc ngồi kế bên, bèn xin chỉ thị!

-Xin đồng chí cho biết bao giờ tiếp tục buổi tiệc họp mặt kế tiếp?

Ðồng chí cố vấn Trung Quốc nhắc khéo:

-Thì cứ tuyên bố sẽ được tiếp tục khi đồng chí dứt lời!

–––––

Kén chồng

Một bộ đội bị cho ăn thiếu thốn bèn lên nhà bếp xỏ ngọt anh hỏa đầu quân:

-Theo tôi cô nào kén chồng muốn cho được tấm chồng xứng đáng phải chọn anh.

Anh nhà bếp mới hỏi:

-Tại sao phải chọn tớ?

-Thì được ăn đầy đủ mập thây ra, không cần phải nghĩ đến người khác thiếu ăn thiếu uống.

Anh nhà bếp biết anh này nói xỏ nên tức mình trả lời:

-Còn theo tớ nghĩ, cô nào kén chồng thì nên chọn anh gởi thân gởi phận mới đáng tấm chồng, mưa nắng khỏi lo.

Bộ đội mới hỏi lại:

-Tại sao lại chọn tớ chứ? Mưa nắng sao khỏi lo?

-Bởi mồm anh vẩu (hô) quá, thì che nắng che mưa cho cô ta khỏi phải mang dù cho đỡ cực thân chớ sao?

(Một độc giả góp bài cho tuần báo Người Việt Las Vegas)

Sinh-Lão-Bệnh-Tử

 

Nguyệt Cầm


Trong đời mỗi một con người ai mà chẳng phải trải qua bốn giai đoạn “Sinh-Lão-Bệnh-Tử” này. “Sinh” – là cái lẽ chạm ngõ đầu tiên của một con người được đặt mình vào sự sống của vũ trụ.

“Lão” – là cái lẽ tất yếu của một quá trình biến chuyển phù hợp với quy luật tạo hóa. Và “Bệnh” – cũng là một yếu tố đan cài, thường trực (rình rập) trong mỗi con người từ lúc sinh ra cho tới khi trút hơi thở cuối cùng. Vẫn có thiểu số người từ lúc sinh ra cho tới lúc lìa dương thế, họ chưa một lần nếm phải bệnh tật và cơn đau, chưa một lần phải uống thứ thuốc nào gọi là “thuốc bệnh.” Song dù có là như vậy thì ai dám chắc rằng con người đó hoàn toàn không mang bệnh, nếu không là căn bệnh của thể xác thì hẳn cũng sẽ là căn bệnh của tâm lý, tinh thần. Như vậy, “Bệnh” cũng là một “ải quan” mà mỗi người đều phải trải qua. Rồi với “Tử” thì sao? “Tử” là một “ải quan cuối cùng” trong vòng đời của mỗi người, để rồi đưa họ về một thế giới khác, cái “thế giới không là thế giới,” thế giới mà người ta gọi là nơi “sự sống vĩnh viễn.” Tuy nhiên, vòng “tử” ứng với mỗi con người lại với một nghiệp không ai giống ai. Lẽ “tử” ứng với mỗi con người là một dấu ba chấm tha hồ mà luận bàn.

Nếu trừ xuất đi ba cái vòng “Sinh,” “Lão,” “Tử” thì hãy thử suy ngẫm xem “tâm lý” và “thể trạng” của người đang mang bệnh sẽ như thế nào?

Như đã phác gợi ở phần trên, “tâm lý” và “thể trạng là hai trạng thái khác nhau trong mỗi một con người, nó vừa tách biệt nhau lại vừa như móc nối và cộng sinh với nhau. Giữa chúng là một mỗi quan hệ tất yếu và mang tính biện chứng của logic khách và chủ quan.

Trở lại vấn đề, khi xét về bệnh tật của một con người, ở đó sẽ diễn ra một chuỗi những phức tạp, hay nói cách khác, ở đó như một phức thể của một vấn đề.

Bệnh ư? bệnh thì tồn tại ở hai dạng chính. Ðó là bệnh thể xác và bệnh tinh thần. Ở mỗi dạng lại có nhiều hệ, tiểu loại khác nhau. Tuy nhiên, ở đây tôi đang muốn tìm hiểu quan hệ song đôi, mỗi liên hệ, tác động, cộng sinh giữa hai dạng bệnh này trong mỗi một con người.

Trước hết, xin nói về dạng bệnh thể trạng.

Khi một con người đang mang phải trong mình một căn bệnh nào đó thì bản thân họ luôn phải đương đầu, đối chọi với cơn đau, bệnh tật đó. Nội tại của cơn đau thể xác ít nhiều kéo theo nỗi đau hay chấn động lớn nhỏ về tâm lý, tinh thần. Ðó là một thực tế hợp với quy luật logic tâm lý. Dù chúng ta có yêu đời, có lạc quan đến mấy chăng thì vẫn không thể không bị chấn tâm về tâm lý, tinh thần. Bệnh tật đang chặn lấy cuộc sống mà chúng ta đang yêu, thì làm sao mà không ảnh hưởng được chứ? Như vậy, từ căn bệnh thể xác dù muốn hay không, ở mức độ ít nhiều, đã có ảnh hưởng đến tâm lý, tinh thần.

Ðể chiến thắng được nó thì cần đến thuốc, đó là phương tiện của khoa học và duy vật. Ở một phương diện khác của siêu nhiên, duy tâm, tinh thần thì cần đến một tâm lý tốt, một tâm lý thư thái, tin yêu, đón đợi, hy vọng. Có như vậy căn bệnh của thể xác họa may mới được đẩy lùi.

Tiếp theo xin được bàn về dạng bệnh “tâm lý,” “tinh thần”

Ở dạng bệnh “tâm lý,” “tinh thần” trong mỗi một con người đều có những khởi nguyên hoàn toàn không giống nhau.

Song, chúng đều có một điểm quy chiếu chung, đó là đều xuất phát từ những chấn động của các mỗi quan hệ từ cuộc sống. “tương tư” là bệnh, “trầm cảm” là bệnh, “stress” là bệnh, “tâm thần” lại càng là bệnh… Chúng là những hệ, những tiểu loại của dạng bệnh tâm lý, tinh thần.

Ðiều đáng nói ở dạng bệnh tâm lý, tinh thần này đó là: các dạng phát nguyên của chúng thường gây ảnh hưởng kéo theo đến các bệnh thể xác. Ví như: đơn cử như “stress” thường kéo theo triệu chứng loạn nhịp tim, huyết áp tăng hoặc giảm v.v… Ở trường hợp ngược hướng, một số dạng bệnh tâm lý, tinh thần chỉ tồn tại ở chính nó, tức không kéo theo đến các bệnh thể xác. Trường hợp này có thể là do kháng thể, sức khỏe của người nào đó tốt nên không bị kéo theo. Tuy nhiên trường hợp này chỉ rơi vào thiểu số người.

Suy cho cùng “bệnh” là một “ải quan” mà con người phải trải qua. Trong “bệnh” có dạng bệnh thể xác (thể trạng), có dạng bệnh tâm lý, tinh thần. Song, giữa hai dạng bệnh này đều có mỗi quan hệ, tác động, cộng sinh với nhau. Nguyên nhân của dạng bệnh này có thể là kết quả của dạng bệnh kia và ngược lại.

“Ải quan” “bệnh” mà mỗi con người đều phải trải qua tựa hồ như một chi tiết trong một cỗ máy, một móc xích trong một hệ thống vận hành của quy luật nhân sinh quan, tạo hóa, chứa đựng trong nó quan niệm triết học và tôn giáo.

Chung quy lại: “Sinh” – “Lão” – “Bệnh” – “Tử” nào có chừa một ai!

Mang theo quê hương-Tết Trung Thu

 

Người Việt Las Vegas

Tết Trung Thu là ngày Tết của nhiều dân tộc ở Châu Á như Việt Nam, Trung Hoa và Ðại Hàn…

Tết Trung Thu được tổ chức vào ngày 15 Tháng Tám âm lịch, được gọi là Tết Rằm Tháng Tám, Tết Nhi Ðồng, hay Tết Trẻ Em.

Trung Thu là ngày Tết coi mặt trăng là biểu tượng, nên có nhiều truyền thuyết về mặt trăng.

Tuy ngày nay khoa học phát triển, con người đã đặt chân lên mặt trăng, hiểu rõ nó là cái gì, nhưng nhiều người vẫn thần tượng hóa giữ mãi phong tục cổ xưa là có chị Hằng sống trên đó!

Vào đêm Rằm Tháng Tám, trăng rất tròn và đẹp, trời trong sáng, và khí hậu mát mẻ.

Trong dịp này, có nhiều thú vui để trẻ em và người lớn vui chơi.

Trẻ em thì rước đèn, ca hát các bài Trung Thu, vui hưởng bánh kẹo cùng các thứ trái cây do cha mẹ bày ở ngoài sân dưới hình thức mâm cổ.

Theo tục lệ, việc trẻ con thưởng thức bánh kẹo, trái cây trong đêm Trung Thu này được gọi là “Phá cỗ.”

Người lớn thì tổ chức các đội múa lân, ăn bánh trung thu, uống trà tàu và thưởng trăng. Người ta còn mua bánh trung thu và hoa quả để cúng gia tiên trong dịp này, một dịp vui chơi thỏa thích và đầy ý nghĩa.

Người Hoa cũng coi đây là ngày vui mừng khi dân chúng thu hoạch được thành quả lao động của họ trong năm, họ tổ chức lễ tế tổ tiên còn mua bánh Trung Thu và hoa quả để cúng gia tiên trong dịp này.

Người Trung Hoa cũng coi đây là ngày vui mừng khi dân chúng thu hoạch thành quả lao động của họ trong năm, nhân dịp này họ tổ chức lễ tế tổ tiên, ông bà và đoàn tụ gia đình.

Giờ phút ấm cúng nhất là sau khi cúng bái, cả nhà ngồi xung quanh một chiếc bàn, vừa ăn bánh trung thu vừa ngắm vầng trăng sáng tưởng nhớ đến chị Hằng trên Cung Trăng!

Người Ðại Hàn coi ngày Tết Trung Thu là ngày quan trọng, thể hiện niềm vui sau một thời gian từ gieo hạt vào mùa xuân, chăm bón trong mùa hè để đến mùa thu gặt hái thành quả lao động thu hoạch tốt đẹp của mình.

Tập quán người Ðại Hàn thường có câu nói: “Tháng Năm của nông dân, Tháng Tám của thần tiên.”

Tóm lại, Tết Trung Thu là ngày vui đầy ý nghĩa của ba nước Việt Nam, Trung Hoa, Ðại Hàn và cũng là ngày mà trẻ con và người lớn có dịp vui chơi thỏa thích theo phong tục cổ truyền Á Ðông.

Ðức Mẹ La Vang-Mẹ Việt Nam


Huyền Nga
LasVegas


Nhân ngày chuẩn bị Ðại Hội La Vang năm 2013 với chủ đề “Về Bên Mẹ Tạ Ơn Chúa” tại LasVegas, từ Thứ Sáu 18, Thứ Bảy 19, đến Chúa Nhật 20 tháng 10 năm 2013 tại Ðền Thánh Mẹ La Vang LV, NV.

Tôi xin có “đôi dòng lịch sử” viết vài hàng về Ðức Mẹ La Vang.

Mãi cho tới ngày nay, người Công Giáo Việt Nam miền Quảng Trị thuộc giáo phận Huế còn nhắc lại cho nhau biết rằng trong thời gian từ năm 1765 đến năm 1802, Giáo Hội Công Giáo Việt Nam nói chung, vùng Quảng Trị Thừa Thiên nói riêng, tất cả đều lâm vào cảnh bão lụt, mất mùa, đói kém, chiến tranh khổ cực… Riêng người Công Giáo còn bị các vua chúa thời đó cấm cách, bắt bớ, tù đày, bách hại, lầm than trăm chiều.

Nhất là vào thời năm 1798, dưới triều Tây Sơn, vua Cảnh Thịnh đã ban hành một chỉ dụ bắt đạo Công Giáo toàn quốc và đàn áp rất khắc nghiệt, khiến cho giáo dân ở gần đồn Dinh Cát (nay là tỉnh Quảng Trị) thuộc mấy họ đạo như Cổ Vưu, Thạch Hãn, Hạnh Hoa v.v… phải bỏ nhà cửa ruộng vườn, chạy lên rừng xanh núi hiểm, chui rúc trốn vào những hang đá quạnh hiu, các bụi cây khóm lá trú ẩn nơi rừng Lá Vằng cách tỉnh lỵ Quảng Trị chừng 5 cây số,và cố đô Huế khoảng năm sáu chục cây số, mà ngày nay ta gọi là La Vang, để tránh những cuộc truy nã cực kỳ ghê sợ.

Ở nơi rừng thiêng nước độc này, những người Công Giáo lánh nạn đã phải trồng khoai cấy lúa để tìm kế nuôi nhau sinh sống. Ban ngày lén lút cày sâu cuốc bẫm, lao động cực nhọc, tối đến họ tụ họp lại, khuyến khích, thúc giục nhau giữ vững lòng tin cậy, lúc nào cũng trung thành nơi Thiên Chúa, và Ðức Mẹ Maria. sốt sắng đọc kinh lần hạt, tha thiết xin Chúa Mẹ phá tan mọi sự dữ và gìn giữ họ được bình an qua cơn bách hại.

Thế rồi một hôm, theo truyền tụng kể lại, trong khi các giáo dân đang quay quần cầu nguyện hàng ngày như thường lệ, bỗng nhiên họ thấy một bà đẹp đẽ mặc áo choàng bất thần xuất hiện trong một ánh hào quang chói lọi, mặc Việt phục, vai khoác một chiếc áo quàng trắng toát, tay bồng Chúa Giêsu Hài Ðồng, có hai thiên thần cầm đèn cháy sáng đứng chầu. Bà rất xinh đẹp, phong thái uy nghi mà hiền hậu, giản dị, trang nghiêm, lộng lẫy mà nhân từ, đứng bên một cây đa, cổ thụ cành lá tỏa xanh um, bóng rợp ngất trời, giữa đám đông như một bà mẹ đến với đàn con yêu dấu. Người ngỏ lời an ủi và nói rằng hãy lấy lá cây quanh đó, nấu nước uống, mọi bệnh tật sẽ được chữa lành, và dùng mọi thứ hoa quả tại rừng Lá Vằng ăn cho đỡ đói lòng. Lạ thay, một khi nghe theo thì bệnh nhân đều bình phục, và già trẻ không còn thấy thiếu thốn, bơ vơ như trước, và ai cũng hiểu là Người đã truyền phép mầu vào đám dược thảo rải rác thành thuốc ở chung quanh để con dân Chúa dùng trị bệnh chính là Ðức Mẹ La Vang.

Ðức Mẹ còn hứa rằng từ nay về sau bất cứ ai đến cầu xin Mẹ tại nơi này, Mẹ sẽ ban ơn phù trợ trong suốt thời gian trốn lánh vì Ðạo Chúa. Mẹ đã hiện đến với họ nhiều lần như vậy để an ủi, khích lệ và ban muôn vàn ơn lành cho lớp người con cái Mẹ rất đau khổ trong cảnh bị bắt bớ khó khăn này. Ðức Mẹ đã hiện đến với những người Công Giáo sống lánh nạn trong khu rừng La Vằng (tức La Vang) là một biến cố có thật, nói lên lòng yêu thương, săn sóc của Ðức Mẹ đối với những người con Mẹ, đã hết lòng khấn xin Mẹ trong những lúc hiểm nghèo khổ cực liên hệ đến đời sống Ðức Tin của mình
Mãi đến năm 1886, các vụ bách hại chấm dứt. Từ đó, linh địa La Vang đã gắn liền với lịch sử đạo Công Giáo việt Nam chúng ta. Giáo quyền địa phương, giáo phận Huế ngay thời gian đầu đã chính thức nhìn nhận linh địa La Vang. Ðức Cha Gaspar Lộc, giám mục giáo phận đã ban lệnh xây cất ngôi thánh đường ngay tại chính nơi Ðức Mẹ đã hiện ra để dâng kính Mẹ dưới tước hiệu Ðền Thánh Mẹ La Vang.

Ngôi thánh đường này được xây cất theo theo lối kiến trúc Việt Nam, có hai tháp chuông và diện tích có thể dung nạp được chừng 400 người. Công việc xây cất gặp nhiều trở ngại, một đàng vì vấn đề chuyên chở vật liệu tới La vang thời đó rất khó khăn, đàng khác vì sự quyên góp tiền bạc càng chật vật hơn thập bội. Dân chúng miền Quảng Trị, Thừa thiên đã vốn nghèo túng, lại còn cộng thêm với hậu quả tang thương của sự tàn phá do giặc Văn Thân vừa mới chấm dứt. Do đó, việc thực hiện ngôi thánh đường này phải kiên trì kéo dài sau 15 năm, tức từ năm 1886 đến năm 1901 mới hoàn thành.

Lịch sử giáo phận Huế còn ghi lại rằng trong suốt 3 ngày, từ ngày 6 đến ngày 8 tháng 8 năm 1901, giáo dân thuộc giáo phận Huế gồm 3 tỉnh Thiên, Trị, Bình đã hưởng ứng lời kêu gọi của Ðức Cha Gaspar Lộc, nô nức từng đoàn lũ lượt kéo nhau về La Vang dự lễ thánh hiến Ðền Thánh và cuộc cung nghinh thánh tượng Ðức Mẹ La Vang được tổ chức một cách vô cùng long trọng và sốt sắng. Ðây chính là Ðại Hội Ðức Mẹ La Vang lần thứ nhất trong lịch sử Giáo phận Huế. và cũng được ghi nhận rằng trong dịp Ðại Hội này có tới 12 ngàn người từ khắp nơi kéo nhau về tham dự, ngoài ra cũng có một số rất đông người thuộc các tôn giáo khác hiếu kỳ có mặt.

Vào sáng sớm của ngày Ðại Hội chính, tức ngày 8 tháng 8 năm 1901. Ngay từ lúc trời vừa rạng đông từng đoàn giáo dân được ví như nguồn nước chảy theo con đường từ nhà thờ giáo xứ Cổ Vưu tiến về thánh đường La Vang dài hơn 3 cây số, cung nghinh Thánh tượng Ðức Mẹ La Vang để tham dự nghi lễ đại trào do đức Cha Gaspar Lộc cử hành. Cũng trong dịp này Ngài đã làm phép tượng Ðức Mẹ La vang đầu tiên và đặt ngay sau bàn thờ chính, nơi Ðức Mẹ hiện ra đứng bên gốc cây đa đại thụ mà ngày xưa theo lời dân chúng truyền khẩu.

Thế rồi như để tán dương và khuyến khích lòng sùng kính Ðức Mẹ của dân tộc Việt Nam, dưới tước hiệu Mẹ La vang, ngày 22 tháng 8 năm 1960. Ðức Giáo Hoàng Gioan XXIII đã long trọng ban sắc chỉ nâng đền thờ La Vang lên bậc Vương Cung Thánh Ðường dâng kính Ðức Mẹ La Vang.

Riêng hàng Giáo Phẩm Việt Nam cũng đã họp tại Huế ngày 13 tháng 4 năm 1961, các ngài quyết định chọn Thánh điện La vang làm Ðền Thờ Quốc Gia dâng kính Ðức Mẹ và nhận nơi đây làm trung tâm hành hương Thánh Mẫu toàn quốc. Chính vì quyết định lịch sử này mà Ðại Hội Thánh Mẫu La Vang lần đầu tiên sau bao thế kỷ, năm 1961 đã được Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam tích cực cổ võ tổ chức vô cùng long trọng. Ðại Hội Thánh Mẫu La Vang năm 1961 đã khai diễn tại trung tâm hành hương Thánh Mẫu toàn quốc La vang từ ngày 16 đến ngày 22 tháng 8 năm 1961, có đến khoảng hơn 200 ngàn người từ Bến Hải tới mũi Cà Mâu lũ lượt như dòng thác chảy đổ về tham dự Ðại Hội. Nhiều cảnh vô cùng cảm động đã diễn ra và rất nhiều người được ơn lạ lùng của Mẹ La Vang trong những ngày Ðại Hội này.

Ðến La Vang tham dự Ðại Hội Thánh Mẫu, người ta quên hết cảnh hoa lệ đô thành. Họ bất chấp hoàn cảnh đi về trắc trở khó khăn. Họ không sợ nắng mưa, cát bụi, họ tự chọn màn trời chiếu đất để nghỉ trú, họ bỏ giầy, đi chân không, quỳ dang tay, hôn đất, lần hạt cầu nguyện, sốt sắng nhập hàng đi kiệu cung nghinh Thánh tượng Mẹ. Họ viếng Ðàng Thánh Giá trên những quãng đường dài cả ngàn thước mà họ không nghĩ đến vất vả nhọc mệt trèo đồi xuống dốc… nhất là họ tự động kết thành những đợt sống người đông đảo vô cùng, dồn dập đến các tòa Giải Tội, ngày cũng như đêm để chứng minh lòng thống hối chân thành của họ.

Sau những ngày Ðại Hội Thánh Mẫu lịch sử ấy, hàng năm cho đến nay từng đoàn hành hương con cái Mẹ thập phương vẫn tiếp tuc đua nhau về cầu nguyện với Mẹ La Vang tại linh đài ân sủng này. Tin tức từ bên nhà cho biết mỗi năm, cuộc hành hương Ðại Hội vĩ đại có tới hàng mấy chục ngàn người đổ về Ðại Hội La Vang. Như vậy chứng tỏ giáo dân Việt Nam dù thời nào, hoàn cảnh nào họ luôn vững một lòng tin cậy phó thác hướng về linh địa Mẹ La Vang. Mẹ Việt Nam mến yêu của mình để cầu xin và tìm ở nơi đó nguồn an ủi, nâng đỡ Ðức Tin theo vết tiền nhân Tử Ðạo, tiên tổ của mình.

Hình ảnh Mẹ La Vang luôn gắn liền với lòng sùng đạo của người Công Giáo Việt Nam, cho nên dù sống tại quê nhà hay nơi hải ngoại, họ luôn hướng tấm lòng về cầu khấn với Mẹ La Vang, Mẹ Việt Nam là nguồn Ân Phúc tuôn tràn xuống khắp nơi và bất cứ ở đâu ta cũng có thể cầu xin ơn lành cùng Mẹ. Có lẽ chính vì lý do ấy nên ngay trên đất Hoa Kỳ này, người ta đã thấy nhiều giáo xứ, họ đạo Việt Nam mang danh tước hiệu Ðức Mẹ và xây dựng một số Ðền Thánh Mẹ La Vang khắp nơi tại các tiểu bang: Portland Oregon. Albuquerque New Mexico. New Orleans, Santa Ana CA, Washington, Miami. Las Vegas Nevada, Virginia, Massachusetts v.v…

Sự kiện Ðức Mẹ hiện ra tại La Vang là một sự kiện lịch sử có thật chứ không phải do óc tưởng tượng của các tín hữu dựng nên. Thẩm quyền của Giáo hội đã nhìn nhận việc Ðức Mẹ hiện ra qua các đức giám mục sở tại kiến thiết thánh đường dâng kính Mẹ và nhất là qua việc Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam đã quyết định chọn Ðền Thánh Ðức Mẹ La Vang là Ðền Thánh và là Trung Tâm Thánh Mẫu toàn quốc, qua việc các ngài đã xin Tòa Thánh nâng Ðền Thánh Mẹ La Vang lên bậc Vương Cung Thánh Ðường. Sự nhìn nhận việc Ðức Mẹ hiện ra này còn được chính Tòa Thánh công nhận qua sắc chỉ của Ðức Thánh Cha Gioan XXIII chấp nhận lời đệ xin của Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam, và qua những chứng từ sống động của Ðức Thánh Cha Gioan Phao Lồ II, nhất là qua việc đức hồng y chủ tịch Hội Ðồng Giám Mục và đức tổng giám mục Huế xin được ngài chuẩn y phép tổ chức năm Toàn Xá Ðức Mẹ La Vang.

Ðức Mẹ La Vang đã đi vào tâm hồn của người Công Giáo Việt Nam cũng như đi vào lòng dân tộc chúng ta trong sự thăng trầm lịch sử, và là Ðấng phù trợ con Dân Chúa trong cơn thử thách. Lòng sùng kính Ðức Mẹ không chỉ đưa chúng ta tới những hành động thuần túy tôn giáo và lễ nghi: như đi hành hương, rước kiệu, dâng hoa, cung nghinh… mà với bổn phận “Nhập thể hóa” Tin Mừng và “Kitô hóa” môi trường, và theo giá trị của Phúc Âm thôi thúc chúng ta hãy noi gương tình yêu thương của Thiên Chúa đối với nhân loại, thành tâm cầu nguyện sao cho nước Việt Nam chúng ta chóng thoát khỏi cảnh đói khổ, lầm than, và có được một cuộc sống thật sự trong tự do, dân chủ.

Tâm trạng lão niên

Ta như xe cũ chạy không xa
Mòn bánh, máy hư mãi ở nhà
Lúc mới tuyệt vời nhiều kẻ thích
Người thân, bạn quí đến thăm ta.

Ta như tàu nhỏ, lắm phong ba
Chuyên chở lâu năm khắp nước nhà
Mòn mỏi, đau lòng nhìn quốc biến
Cuối đời – bỏ xác ở nơi xa!

Ta như cây cổ thụ sân nhà
Bóng mát cháu con – chắn bão qua
Cằn cỗi, gãy cành, khan nhựa sống
Trông chờ tin nhạn – các con xa!

Ta như trâu yếu lúc chiều tà
Ra sức kéo cày giúp thế gia
Trả nghiệp xong rồi – nằm tưởng nhớ…
Sức tàn, lực kiệt chẳng còn xa!

Ta như ngựa chiến mãi xong pha
Mỏi mệt, đau chân lúc tuổi già
Luyến tiếc thời xuân bao mộng đẹp!
Qua rồi số phận phải bôn ba.

Ta như đò nhỏ giúp sang sông
Ðưa khách bốn phương lúc rạng đông
Thời gian mục mát – nằm tàn tạ!
Tự hỏi mọi người có nhớ không?

Ta như ngôi biệt thự tan hoang
Hư hoại nhiều năm, không chỉnh trang
Thuở mới khánh thành lộng lẫy lắm!
Không gì tồn tại với thời gian.

Ta như trái chín ở trên cây
Gió bão đong đưa sắp rụng đầy
Muốn thấy cháu con vui hưởng quả
Những ngày còn lại thế gian này!

Ta như những cánh chim xa quê
Mong đợi có ngày bay trở về
Khi đất nước thanh bình tự chủ
Nhưng tàn đời vẫn sống trong mê!

Ta như sương khói lúc chiều đông
Tươi tỉnh phút giây cũng động lòng
Hơi thở ra rồi, không trở lại
Cuộc đời huyễn mộng – Có thành Không

Bàn về chữ Nhân

Huyền Nhi
Las Vegas

Không biết ai đã thóc mách với tuần báo “Người Việt LasVegas” là Huyền Nhi tôi đã từng viết những chuyện vui tào lao, chuyện tầm phào ở các báo Cali, nên bổng một buổi chiều Chủ nhiệm Thế Phong xuất hiện ngay tại tệ xá và khẩn khoản mời Nhi viết giúp cho báo “Người Việt Las Vegas”!

Huyền Nhi tôi định gác bút “retired” ẩn danh ẩn tánh, thế mà có người ‘chỉ chọt’ để cho ông phải tới năn nỉ, ỉ ôi… làm cho phái nữ này mềm lòng khó mà từ chối, nhất là ông nói đây là tờ báo ấn hành do một số anh chị em có tâm hồn nghệ sĩ tại địa phương cố gắng hình thành một cơ quan thông tin ngôn luận với những tin tức đặc biệt về Las Vegas hầu làm nhịp cầu truyền thông với đồng bào, và góp phần xây dựng cộng đồng ngày càng thêm vững mạnh trong mọi lãnh vực, nhất là hy vọng gây được tiếng vang tốt đẹp cho thành phố cờ bạc, chứ không như cách nghĩ phổ biến cho rằng Las Vegas chỉ biết “đỏ đen”!

Do đó Nhi tôi đành phải nhận lời, dù rằng thì giờ rất eo hẹp, cũng như tình trạng của bà con, cô bác, anh chị em sống tại thành phố “mặt trời mọc” này, phải đầu tắt mặt tối lo đời sống thực tế cho bản thân hoặc gia đình con cái.

Việc đầu tiên là đề tài viết cái gì đây? Nhi tôi bấm óc suy nghĩ, và chợt nhớ đến những con người có tính khiêm nhường, nhũn nhặn, thiện chí trong mọi công tác phục vụ cộng đồng, đó là “nhân nghĩa.” Do đó Nhi tôi vội cầm bút viết lia lịa và đặt ngay tựa bài này là: Bàn về chữ “Nhân.”

Chữ “Nhân”xuất phát từ chữ Hán, theo tự điển Hán Việt thì có tất cả là bốn nghĩa khác nhau:

Chữ “Nhân“mà dịch ra tiếng An Nam của nước ta rồi chuyển sang tiếng Nôm đời vua Quang Trung vào thế kỷ thứ 18, và khi tiếng Quốc ngữ được nhà truyền giáo Alenxander De Rhode sáng lập vào đầu thế kỷ thứ 19 mà ngày nay gọi là tiếng Việt thì được dịch là“loài người.” Theo Nhi tôi được biết từ ngàn xưa cho đến nay, người ta quan niệm con người mà dùng chữ “Nhân” thì thường nói đến tánh tình hay dùng để tôn xưng một vị có lòng cao thượng, nhân ái, nhân chính, nhân dũng, nhân đạo, nhân đức, nhân giả, nhân hậu, nhân nghĩa, nhân nhượng, nhân tài, nhân từ v,v…

Chữ “Nhân” còn được định nghĩa là cái gốc sinh ra việc khác: Nguyên nhân nếu kể ra thì nhiều quá. Thí dụ: Nguyên nhân đi đến “thất tình” bị mọc sừng, bị lường gạt “chất ngân,” bị phá sản, thất bại trên thương trường… may mắn thì được phát tài, trúng số, gặt máy casino trúng “royal flush,” ba bốn số 7.

Nhân duyên, nhân gia, nhân hệ, nhân thân, nhân thuộc là phần chữ “Nhân” được biểu hiện cho sự hôn nhân như sui gia, cha chồng và bà con bên ngoài. Ngoài ra, chữ “Nhân” còn có nghĩa là hạt giống, phần giữa của bánh trái.

Thương người như thể thương thân, gọi là nhân ái, nhưng các chàng trai đừng nghĩ là khi gặp phái nữ nào cũng xáp vào và dùng hai chữ này thì kẹt lắm đấy!

Người mà biết lo cho dân, lấy cái đau của dân làm cái đau của chính mình, thì người đời thường gọi là Nhân chính, Nhân dũng, Nhân nghĩa… Người mà biết kính trọng mạng sống của kẻ khác hay con vật, biết thương kẻ yếu hèn, chịu chia sớt, giúp đỡ ai khốn khổ, nghèo nàn thì gọi là Nhân đạo… Người mà có mọi tính tốt đối với đời, xã hội hay tập thể bằng đức hạnh Nhân từ thì gọi là Nhân đức. Người mà có lòng trọng người bằng những đức tính khiêm cung, lễ độ, tình nghĩa, thì ngày xưa người đời thường gọi là Nhân giả hay Nhân nhân.

Nhân hậu là người nhân từ trung hậu, là người có một cách sống trong suốt cuộc đời mà những điều tốt đến với họ. Nhân huệ gần như đồng nghĩa với Nhân hậu, nhưng Nhân huệ thường gặt hái kết quả nhất thời, như làm ơn cho ai một điều gì đó mà không nghĩ đến sự đền đáp sau này.

Ngày xưa khi hai người đàn ông cùng chung một tư tưởng, chí hướng hay quan niệm gì đó, họ thường kết nghĩa anh em rồi người này gọi tôn xưng người kia là anh thì chữ “Nhân” được kết hợp với chữ “Huynh” (từ chữ Huynh đệ) nên gọi là “Nhân huynh.”

Nhân nghĩa hay Nhân ngãi đồng nghĩa với nhau, là người có lòng ngay thẳng biết thương người, nhưng một người mà thương một người thì gọi là “Nhân tình,” không nhất thiết phải khác phái, như hai gã đàn ông nắm tay với nhau, hay hai chị phái nữ cùng nhau cặp kè rất tâm tình, người đời thì gọi là đồng tình luyến ái!

Nhân nhượng là người có lòng tốt, không có tính tranh chấp, biết nhường nhịn kẻ có tài có đức hơn mình để hành sử một việc làm đem lại lợi ích chung, còn để làm lợi ích riêng tư thì theo Nhi tôi còn phải hậu xét.

Người có tài năng và tài trí, thì thường được gọi là Nhân tài, nhân tài là người có tài mà còn phải có đức nữa thì mới xứng đáng gọi là nhân tài, chứ chỉ có tài mà thôi thì ở cái xã hội Hoa Kỳ này họ đi đầy đường đầy hẻm, như ăn trộm thiện nghệ cũng là người có tài, mấy anh chàng “cua” cô nào cũng được cô nấy thì cũng là người có tài tán gái!

Phần bàn trên là chữ “Nhân” được sử dụng cho từng người hay gọi là cho cá nhân nào đó. Còn chữ “Nhân” mà áp dụng vào cho tập thể hay nói đến đại đa số như: Nhân loại, Nhân bản, Nhân dân, Nhân quyền, Nhân văn, Nhân vật… thì lại khác.

Ngày nay xã hội mỗi ngày mỗi phức tạp, đời sống con người thường bị động hơn là tịnh, sự động của mỗi cá nhân thường liên hệ đến những cá nhân khác hay một tập thể hoặc nhiều tập thể… Cho nên bản tính của chữ Nhân này luôn có chất chính trị tiềm ẩn bên trong hay lộ liễu ở bên ngoài. Như khi nói đến nền tảng của con người là những căn bản tối thiểu trong cuộc sống đó là văn hóa, tư tưởng, truyền thống thì gọi là Nhân bản.

Quyền sống như tự do ngôn luận, tự do đi lại và tự do chọn lựa thì gọi là Nhân quyền. Còn một khối người chủ xướng làm việc có tính cách phát triển cho con người mỗi ngày một văn minh hơn cho lịch sử văn hóa nước nhà, tự điển gọi là Nhân văn. Và những người có mặt trong một thời đại, nhóm hay trong guồng máy điều hành nào thì gọi là Nhân vật, đối với các nhà làm phim ảnh thì gọi là tài tử, và các anh chị em cộng sự với nhau để ra báo thì gọi là Nhân viên tòa soạn.

Trong văn chương chữ “Nhân” được đề cao, thể hiện đức tính của con người hay một nhân vật nào đó cho câu văn thêm phong phú. Như chữ Nhân ảnh là người hay động vật có tư tưởng, trong “Cung oán” có câu “Ai đem nhân ảnh nhuộm mùi tà dương.” Cũng như trong tiếng Nho có câu thành ngữ muốn nói đến người nghèo thường kém ý chí thí bảo là “Nhân cùng chí đoản, mã xấu mao trường,” nghĩa là người nghèo chí ngắn, ngựa ốm lông dài!

Theo bà của Nhi tôi kể lại một câu chuyện diễn tích mà người xưa đã dùng chữ Nhân như sau: Một hôm vào tiết Thanh Minh, Thôi Hộ là một thi sĩ nổi tiếng đời Ðường, đi dạo chơi Nam Kinh đô chợt thấy trong xóm có một ngôi nhà, tứ bề trồng đặt hoa đào, thi sĩ gõ cửa xin nước uống. Một tiểu thư mở cửa ra chào hỏi và xin được biết tên họ người lữ khách qua đường, rồi cho người khách uống một bát nước. Tiểu thư có nhan sắc tuyệt trần, dáng điệu lả lướt như một nàng tiên hạ phàm, lời nói thanh tao, niềm nở mời khách thật là lịch duyệt. Thôi Hộ tạ ơn và xin cáo từ.

Thắm thoát một năm trôi qua, cũng vào độ tiết Thanh Minh như năm trước, thi sĩ trở lại xóm củ tìm mỹ nhân, nhưng bóng dáng yêu kiều của người thiếu nữ không thấy, mà cửa của căn nhà khóa chặt…. Thi sĩ bèn làm một bài thơ cho người thiếu nữ vắng bóng và đề lên trên cửa như sau:

Khứ niệm kim nhật thứ môn trung
Nhân diện đào hoa tương ánh hồng
Nhân diện bất trí hà xứ khứ
Ðào hoa y cựu tiếu đông phong

Tạm dịch rằng:

Năm ngoái ngày nay ở chốn này
Hoa đào mặt ngọc ngó hây hây
Mà nay mặt ngọc đi đâu vắng
Cợt gió hoa đào vẫn cứ đây

Nhi tôi xin kể tiếp, sau khi đọc qua bài thơ của thi sĩ, người con gái kia cảm thấy tâm hồn xao xuyến, và lòng cứ vương vấn mãi mối sầu không nguôi. Ðộ một tháng sau chàng thi sĩ tài hoa giàu tình cảm trở lại ngôi nhà xưa mong gặp lại nàng tiểu thư năm trước. Nhưng đâu còn nữa, cuộc đời của người con gái đã trở về với cát bụi, chỉ vì đọc thơ Thôi Hộ dán trên cửa, nàng cảm lụy khách tài hoa phong nhã nên quên ăn mất ngủ tương tư sầu mà chết.

Qua câu chuyện trên, Nhi tôi thấy ngày xưa sao mà con gái dễ yêu, để phải chết về mấy tên thi sĩ thế! Cỡ mà ngày nay thì mấy tên thi sĩ chỉ có chết với cái Nhân diện của phái kẹp tóc nhà ta mà thôi.

Theo thuyết nhà Phật thì Nhân là do cái này sinh ra cái kia, cũng như đem hạt giống trồng sẽ sinh ra quả, nên trong truyện Kiều có câu “Âu đành quả kiếp nhân duyên, cũng người một hội một thuyền đâu xa.” Chữ Nhân duyên ở trong câu này là muốn nói lên duyên phận vợ chồng lấy nhau, rồi có đoạn cũng dùng chữ Nhân như “Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều,” tức là những điều do con người định ra, hơn cả trời định.

Chữ Nhân qua câu thành ngữ “Báo tử lưu bì, nhân tử lưu danh” nghĩa là “Hùm chết để da, người chết để tiếng.” Theo sách thành ngữ điển tích thì đời người trăm năm có là bao, quá ngắn ngủi như bóng cầu bay qua cửa sổ, và con người cứ lẩn quẩn trong vòng tứ khổ: Sinh, lão, bệnh, tử. Sinh ra để rồi chết, nhưng trước khi chết con người cần phải lưu lại cho thế nhân một điều đáng kể. Không được lưu danh thiên cổ cũng phải để tiếng lành lại cho con cháu, quả thật chí lý!

Hầu hết, từ thuở xa xưa cho đến nay, bất cứ đạo lý nào muốn được tồn tại cũng đều phải đặt nặng vấn đề ý nghĩa của chữ Nhân trong đạo lý. Như đại từ đại bi, chúng sanh bình đẳng là ý thức của Phật Thích Ca, còn việc yêu người như yêu mình, xem thù như bạn là tâm ý của Ðức Chúa Jesus. Ðó là hai đạo lý đã trải qua bao thế kỷ mà còn tồn tại và được sự hưởng ứng khắp nơi, là nhờ sự quán triệt về Nhân sinh quan, tức là đặt vấn đề hạnh phúc con người là cứu cánh.

Ðể thành Nhân thì phải do chính mình và tự trau giồi Nhân cách, nhân tính, luôn học cái hay cái tốt của người tài giỏi hơn mình, đạo đức hơn mình và có lòng nhân ái hơn mình thì thành nhân mới có cơ thành tựu.

Nhi tôi chỉ muốn nói đến cái tinh thần của chữ Nhân trong dân gian, để chúng ta có cơ hội tìm được người xứng đáng tôn vinh thành bậc Nhân sĩ. Tuy nhiên, kẻ hèn mọn này xin bà con, cô bác đọc xong bài này thấy có điều gì sơ sót mà rộng lòng tha thứ tức là đã được gọi là Nhân thứ rồi, mà hay hơn nữa là nếu ủng hộ về tinh thần hay vật chất bất cứ qua hình thức nào như: Thực thi những công tác tương trợ giúp người lớn tuổi cao niên.

-Những nhân tài ẩn danh biết đàn biết hát khá, xin hợp tác cùng nhau tổ chức thường xuyên các cuộc vui giải trí “Free” cho đồng bào.

-Quý chủ nhân thương mại có những cơ sở dịch vụ linh tinh cần thiết phục vụ đồng bào, xin đăng quảng cáo vào tuần báo “Người Việt Las Vegas,” hiện nay là tờ báo duy nhất, món ăn tinh thần của mọi gia đình LV, nội dung gồm đầy đủ các tiết mục: chính trị, xã hội, kiến thức y học, sức khỏe và đời sống, văn hóa nghệ thuật, thi ca, tư vấn tình yêu, gia đình, hạnh phúc v.v…

Quý vị đó sẽ được gọi là Thân hào nhân sĩ. viết nói quanh nói quẩn thế mà cũng cả bốn năm trang giấy, thôi thì Nhi tôi xin chúc bà con, cô bác một kiếp nhân sinh tràn đầy nhân đức.

Xin hẹn bài báo tới, Nhi tôi sẽ cống hiến đề tài hấp dẫn hơn “Bàn về chữ Thất.”

Sơ lược qua vòng loại các khu vực bóng tròn thế giới (Kỳ 2)

 

Tư Túc Cầu/Người Việt

Trên trang thể thao ngày Chủ Nhật, 1 tháng 9, 2013 tuần rồi, chúng tôi đã đề cập đến các vòng loại khu vực Châu Á, Châu Phi, Bắc Trung Mỹ và vùng Caribbean. Kỳ này chúng tôi đề cập đến các khu vực Nam Mỹ và Châu Âu. Riêng khu vực Châu Ðại Dương (OFC) đã có kết quả là đội tuyển Tân Tây Lan sẽ là đội đá playoffs với đội thứ tư của khu vực CONCACAF.

– Khu vực Nam Mỹ (CONMEBOL): Với 9 đội tuyển dự tranh vòng loại cho 4 vé chính thức và đội thứ năm đấu playoff với đội thứ năm của Châu Á.

– Khu vực Châu Âu (UEFA): Có tất cả 53 đội dự tranh để chọn ra 13 đội có mặt tại vòng chung kết World Cup năm tới.

Khu vực Nam Mỹ: Trừ Argentina, vẫn còn phải chờ

Vì đội tuyển Brazil là nước đứng ra tổ chức giải nên khu vực Nam Mỹ chỉ còn 9 đội tuyển thi đấu vòng loại khu vực này để chọn ra bốn đội chính thức góp mặt tại World Cup 2014 trong khi đội đứng thứ năm sẽ gặp đội thắng giữa Jordan và Uzbekistan của Châu Á.

Tiền đạo Lionel Messi (trái) dẫn banh trước hai cầu thủ Colombia chạy theo truy cản trong trận đấu vòng loại World Cup 2014 khu vực Nam Mỹ diễn ra trên sân Monumental, Buenos Aires, Argentina ngày 7 tháng 6, 2013. (Hình: Daniel Garcia/AFP/Getty Images)

Cho đến thời điểm hiện tại đã qua 12 hoặc 13 trận đấu, Argentina đứng đầu khu vực này được 26 điểm chắc chắn có mặt tại Brazil hay trường hợp tệ nhất cũng được đá playoff với Jordan hoặc Uzbekistan. Trong khi đó các đội còn lại theo thứ hạng là Colombia 12 trận, 23 điểm thứ nhì; Ecuador 12 trận 21 điểm thứ ba; Chile 13 trận, 21 điểm thứ tư; Uruguay, 12 trận 16 điểm thứ năm; Venezuela 13 trận, 16 điểm thứ sáu; Peru 12 trận, 14 điểm thứ bảy; Bolivia 13 trận 10 điểm thứ tám; và Paraguay 12 điểm 8 điểm chót bảng.

Ngoại trừ hai đội Bolivia và Paraguay đành ở nhà xem tivi, trong khi các đội còn lại đều có hy vọng ít nhiều tùy theo số điểm có được.

Giới cá cược đều tiên đoán bốn đội chính thức lọt vào vòng chung kết World Cup lần này là những đội Argentina, Colombia, Ecuador, Uruguay và Chile. Nhưng kết quả thực sự chỉ biết khi tiếng còi trọng tài kết thúc trận đấu cuối cùng ngày 15 tháng 10, 2013.

Khu vực Châu Âu (UEFA): Chuyện còn dài để nói

Với 53 đội tuyển dự tranh khu vực này được chia ra làm 9 bảng A, B, C, D, E, F, G, H, I trong đó 8 bảng đầu mỗi bảng gồm 6 đội trong khi bảng I cuối cùng chỉ có 5 đội. Chín đội đứng đầu bảng chính thức tiếp tục ra sân tại Brazil vào tháng 6, 2014 trong khi 8 đội thứ nhì các bảng có thành tích tốt nhất sẽ rút thăm bắt cặp so tài với nhau qua hai trận playoffs lượt đi và về. Bốn đội nào thắng sẽ được vé đến Brazil.

Trước khi trái bóng bắt đầu lăn trở lại trên sân cỏ các trận đấu vòng loại World Cup 2014 khu vực Châu Âu ngày 6 tháng 9, 2013, với kết quả và thứ hạng của các đội tuyển trong 9 bảng cho thấy các đội sau đây có nhiều hy vọng tiếp tục ra sân tại Brazil trong tháng 6, 2014:

Bảng A: Gồm có Bỉ (Belgium), Croatia, Serbia, Wales, Scotland và Mecedonia. Theo kết quả Bỉ hiện đứng đầu bảng với 19 điểm chắc chắn sẽ lên máy bay đến Brazil hay tệ nhất cũng được đá playoffs trong khi Croatia cùng 7 trận đấu với Bỉ nhưng kém hơn 3 điểm cũng nuôi hy vọng nếu không đánh ngã được Bỉ để chiếm ngôi đầu bảng thì cũng đứng hạng nhì để đá playoff. Còn các đội Serbia 7 điểm, Wales 6 điểm, Scotland 5 điểm và Macedonia 4 điểm chắc chắn sẽ rời khỏi sân chơi World Cup.

Bảng B: Còn đến 4 trận đấu mới kết thúc bảng này, và cuộc chiến sẽ rất gay go giữa Italy 14 điểm, Bulgaria 10 điểm và Cộng Hòa Czech 9 điểm. Trong khi ba đội còn lại là Armenia 6 điểm, Denmark 6 điểm và Malta 3 điểm gần như hết hy vọng.

Dù có nhận định đội này mạnh, đội kia yếu thế nào đi nữa nhưng trên sân cỏ nhiều bất ngờ có thể xảy ra. Ðội tuyển Italy chỉ cần sảy chân một hoặc hai trận, con đường đến Brazil sẽ trở nên xa thăm thẳm. Ðiều này cũng không ngoại lệ đối với Bulgaria và Cộng Hòa Czech.

Nhưng nhiều hy vọng vẫn là đội tuyển Italy, bốn lần vô địch thế giới, sau đó là cuộc chạy đua giữa Bulgaria và Czech cho vị trí thứ hai.

Ðội tuyển Ðức trước trận đấu vòng loại World Cup 2014 với Cộng Hòa Ireland diễn ra tại Dublin, Ireland ngày 12 tháng 10, 2012. (Hình: Patrik Stollarz/AFP/Getty Images)


Bảng C
: Ở bảng này, gặp 5 đối thủ toàn dưới cơ nên đội tuyển Ðức dễ dàng tung hoành ngang dọc qua 6 trận đấu được 16 điểm chắc chắn lọt vào vòng chung kết World Cup Brazil trừ phi bốn trận còn lại tuyển Ðức đều thua vì… bán độ.

Hy vọng đứng ở vị trí thứ nhì bảng là cuộc cạnh tranh gay gắt giữa ba đội tuyển đồng 11 điểm là Austria, Thụy Ðiển (Sweden) và Cộng Hòa Ireland.

Với số điểm bằng nhau, bốn trận còn lại là bốn trận sinh tử của cả ba đội, nhiều khi phải tính đến hiệu số bàn thắng bại, tổng số bàn thắng cũng như bàn thắng trên sân khách… để phân định ngôi thứ nhì bảng.

Hai đội đứng cuối bảng này là Kazakhstan 1 điểm và Faroe Islands 0 điểm đều ngậm ngùi từ bỏ giấc mơ đến Brazil năm tới.

Bảng D: Ðây là bảng dễ dàng cho Hòa Lan (Netherland) toàn thắng cả sáu trận được 18 điểm chắc chắn tiếp tục cuộc chơi tại World Cup Brazil. Trong khi vị trí thứ hai bảng cũng sẽ là cuộc so tài “một mất một còn” giữa Hungary 11 điểm, Romania 10 điểm, Turkey 7 điểm và Estonia 6 điểm.

Trong số bốn đội này, lợi thế nằm ở đội tuyển Hungary và Romania còn hai đội Turkey và Estonia vừa thi đấu phải vừa cầu nguyện cho hai đối thủ còn lại của mình phải… thua mới có hy vọng. Còn Andorra thua cả sáu trận 0 điểm coi như bị loại.

Bảng E: Qua 6 trận đấu, đội tuyển Thụy Sĩ (Switzerland) tương đối lợi thế hơn khi được 14 điểm và hiệu số bàn thắng bại +7, đứng thứ nhì là Albania 10 điểm, thứ ba Iceland 9 điểm, thứ tư Norway 8 điểm còn Solvenia 6 điểm trong khi Cyprus chỉ 4 điểm đứng chót bảng xem như bị loại.

Thụy Sĩ chưa hề nếm mùi thất bại (4 thắng 2 hòa) cho nên nếu tiếp tục thi đấu với phong độ ổn định cho bốn trận sắp tới, đừng có bất ngờ “ngựa về ngược” nào xảy ra, chắc chắn Thụy Sĩ sẽ là một trong 32 đội có mặt tại vòng chung kết World Cup. Trong khi đó hy vọng có được vị trí thứ hai để đá playoff sẽ là cuộc chạy đua không ngừng nghỉ giữa ba đội Albania, Iceland và Norway. Hai đội nào trong số ba đội này bị “sảy chân” nhiều nhất sẽ rời khỏi cuộc chơi.

Bảng F: Ðược xem là bảng gay go khó khăn với sáu đội tuyển Bồ Ðào Nha (Portugal), Nga (Russia), Israel, Azerbaijan, Bắc Ireland (Northern Ireland) và Luxembourg. Trong đó chạy đua đến ngôi đầu bảng sẽ là ba đội Bồ Ðào Nha 14 điểm qua 7 trận đấu trong khi Nga được 12 điểm với 6 trận, và Israel, 11 điểm 6 trận. Mới đây, Nga vừa mất 3 điểm quý giá khi để thua Bắc Ireland 1-0 đem lợi thế nhiều hơn cho Bồ Ðào Nha và Do Thái. Cho nên khi trái bóng còn lăn, khó có thể nói trước kết quả, dù sao hai đội nhiều hy vọng đứng nhất nhì bảng vẫn là Bồ Ðào Nha và Nga. Còn Israel cũng hy vọng nhưng vừa đá vừa… cầu nguyện. Ba đội còn lại là Bắc Ireland 6 điểm, 6 trận, Azerbaijan 4 điểm 7 trận và Luxembour, 3 điểm 6 trận ra sân đá chỉ cho vui vì chắc chắn sẽ là khán giả xem World Cup rồi.

Bảng G: Qua 6 trận đấu, đội tuyển Bosnia and Herzegonia hiện đứng đầu bảng với 16 điểm với 5 tháng 1 hòa gần như chắc chắn chiếm ngôi đầu và có mặt tại Brazil năm tới trong khi vị trí thứ hai sẽ là cuộc tranh tài giữa Hy Lạp (Greece) 13 điểm và và Slovakia 9 điểm. Với khoảng cách biệt 4 điểm, khó lòng cho Slovakia vượt qua Greece để chiếm ngôi thứ nhì. Ba đội còn lại Lithuania 5 điểm, Latvia 4 điểm và Liechtenstein 2 điểm hầu như không còn gì để nói ngoại trừ nằm nhà nghỉ ngơi.

Bosnia là đội tuyển đang lên trở thành một trong những đội mạnh nhất Châu Âu, hiện xếp hạng 13 thế giới, nhưng mới đây trong trận giao hữu trên sân nhà gặp tuyển Hoa Kỳ, sau khi dẫn trước 2-0 hiệp đầu nhưng trong hiệp hai, các cầu thủ Hoa Kỳ đã thực hiện cuộc lội dòng nước ngược ngoạn mục trong đó một mình tiền đạo trẻ 23 tuổi Jozy Altidore (hiện chơi cho đội Sunderland Anh quốc), trong một trận chơi cực hay lập cú hat trick góp công lớn cùng đồng đội đem chiến thắng cuối cùng 4-3 về cho Hoa Kỳ.

Tiền đạo Bồ Ðào Nha sút banh trước hai đối thủ Russia trong trận đấu vòng loại World Cup 2014 diễn ra tại Luz Stadium, Lisbon ngày 7 tháng 6, 2013. (Hình: Francisco Leong/AFP/Getty Images)


Bảng H:
Gồm sáu đội Montenegro, Anh, Ukraine, Poland, Moldova và San Marion. Trong sáu đội này, hai đội đứng chót bảng là Moldova 5 điểm 7 trận, và San Marino 0 điểm 6 trận coi như bị loại. Bốn đội còn lại đang ráo riết chạy đua cho hai vị trí đầu bảng. Montenegro hiện được 14 điểm 7 trận đấu tạm thời đứng đầu bảng trong khi đội tuyển Anh chỉ 12 điểm nhưng đá ít hơn một trận còn Ukraine 11 điểm 6 trận và Poland 9 điểm 6 trận. Ngoại trừ Poland ít hy vọng hơn, ba đội còn lại sẽ là cuộc cạnh tranh không ngừng nghỉ. Chỉ cần đội nào bị níu chân hoặc ngã ngựa một lần cũng đủ rời khỏi cuộc chơi.

Nếu bất ngờ Anh không lọt được vào vòng chung kết hay không được đá playoff, thật là một thảm họa cho làng bóng tròn Anh vốn hiện có Premier League nổi tiếng là league hấp dẫn và hay nhất trên thế giới và chắc chắn huấn luyện viên Anh hiện thời phải đội nón ra đi.

Bảng I: Bảng này chỉ có năm đội Tây Ban Nha (Spain), Pháp (France), Finland, Georgia và Belarus. Có thể nói đây là cuộc chạy đua giữa hai đội tuyển Tây Ban Nha và Pháp ở hai vị trí đầu bảng.

Ðội tuyển Tây Ban Nha đương kim vô địch thế giới nhưng ở vòng bảng này đã thi đấu không thật sự sáng chói chỉ với 3 thắng 2 hòa được 11 điểm trong khi Pháp cũng tệ không kém, với 3 thắng 1 hòa 1 thua được 10 điểm.

Ðiều đáng kể ở đây là trong ba trận đấu còn lại không có cuộc đối đầu giữa Tây Ban Nha và Pháp cho nên nếu cả hai Pháp và Tây Ban Nha, đội nào bị đối phương cầm chân hoặc vượt qua cầm chắc sẽ nhường chỗ ngồi trên máy bay đến Brazil cho đối thủ của mình.

Ðiều đáng nói ở đây, giữa hai đội Tây Ban Nha và Pháp chắc chắn phải có đội đá playoffs. Ðây là điều không vui chút nào cho các cổ động viên của cả hai đội tuyển.

Riêng ba đội còn lại là Finland 6 điểm 5 trận, Georgia 4 điểm 5 trận, Belarus 4 điểm 6 trận coi như không còn hy vọng đành chờ world cup 2018 để tiếp tục ra sân trở lại ở vòng bảng.

Tin mới cập nhật