Làm sao để được vay tiền và mua một căn nhà?

 


Thị trường nhà đất tại Hoa Kỳ đang ở trong giai đoạn hồi phục, và những vụ mua bán nhà được tiên đoán sẽ tăng trong năm 2013 và kéo dài sang năm tới.










(Hình minh họa: Joe Raedle/Getty Images)


Nếu bạn ở trong số nhiều người đang dự tính mua một căn nhà trong năm nay, nên bảo đảm hiểu rõ tiến trình thực sự của nó – đặc biệt đối với món thế chấp nhà của bạn.

Hiểu rõ thủ tục thế chấp nhà có thể giúp bạn tiết kiệm tiền bạc trong vụ mua nhà của bạn, và những kỳ thanh toán hàng tháng sau này.

Ðối với những người mua nhà ngày nay, có nhiều loại vay tiền mua nhà được cung cấp trên thị trường. Một ngân hàng thế chấp có thể cung cấp cho bạn sự hướng dẫn, nhưng trách nhiệm thuộc về bạn trong việc lựa chọn chương trình thế chấp thích hợp nhất cho các nhu cầu dài hạn và ngắn hạn của bạn.

Lãnh vực đầu tiên mà bạn phải chú trọng là “cỡ món vay”; bạn nên vay bao nhiêu tiền.

Các ngân hàng thế chấp sử dụng các công thức để tính toán xem nên cho bạn vay bao nhiêu để bạn có thể đủ sức trả nợ. Các công thức sẽ xem xét các yếu tố như chi phí hàng tháng của bạn, lợi tức gộp của bạn, tài sản của bạn, và các nguồn tài chánh khác.

Tuy nhiên, cũng nên ghi nhận rằng công thức của một ngân hàng cho vay để tính cỡ tối đa của món vay sẽ không cho bạn biết bạn nên vay của ngân hàng bao nhiêu – thay vào đó nó sẽ chỉ cho bạn biết bạn có thể vay của ngân hàng bao nhiêu tiền.

Nên hiểu biết tình trạng tài chánh của bạn, để bạn có thể lựa chọn một món thế chấp có cỡ thích hợp nhất đối với bạn. Các ngân hàng có thể cho bạn vay nhiều hơn số tiền vừa phải đối với bạn.


Hãy xem xét mọi loại thế chấp

Loại thế chấp thông thường nhất là loại thế chấp cổ điển với lãi suất cố định 30 năm. Một món thế chấp cổ điển là một món thế chấp được bảo đảm bởi Fannie Mae hoặc Freddie Mac, và thường thấp hơn giới hạn tối đa do Cơ Quan Gia Cư Liên Bang (FHA) ấn định cho vùng của bạn.

Các giới hạn món vay thế chấp cổ điển khởi sự ở mức $417,000 và có thể lên tới $625,500, tùy theo nơi bất động sản tọa lạc.

Tuy nhiên, các món thế chấp cổ điển không phải chỉ có một cỡ thích hợp với tất cả mọi người, còn có các loại thế chấp khác nhằm đáp ứng các nhu cầu của người mua nhà. Trong số các món thế chấp thông dụng nhất và không thuộc loại cổ điển có những món vay FHA.

Các món vay FHA là các món vay được bảo đảm bởi Cơ Quan Gia Cư Liên Bang (Federal Housing Administration), nhưng được cung cấp bởi những ngân hàng thế chấp truyền thống. Các món thế chấp FHA cung cấp các lãi suất và điều khoản thế chấp tương tự như việc tài trợ cổ điển và đã trở nên phổ biến nhờ những tiêu chuẩn cứu xét dễ dãi và tiền đặt cọc thấp.

Chẳng hạn, FHA chỉ đòi hỏi một khoản đặt cọc 3.5% đối với hầu hết những vụ mua nhà, và đòi hỏi lãi suất cao hơn đối với những người mua nhà có điểm FICO dưới 740.

Một loại vay không cổ điển khác là loại thế chấp VA dành cho các cựu chiến binh, được cung cấp bởi Bộ Cựu Chiến Binh (Department of Veterans Affairs). Các món vay VA được cấp cho những người vay trong quân đội và không đòi hỏi tiền đặt cọc gì cả.

Ngoài ra còn có chương trình Conventional 97 – một chương trình cho phép người mua chỉ đặt cọc 3% được cung cấp qua Fannie Mae và cho phép việc sử dụng các quỹ hiến tặng từ gia đình hoặc các thân nhân.

Nói chung, có hơn nửa lố loại vay mà một người mua nhà có thể chọn lựa. Bạn nên thấu hiểu các giải pháp để đi tới một lựa chọn tốt hơn.


Hãy xem xét mọi loại vay

Các sản phẩm thế chấp có nhiều loại khác nhau, và thường có một loại “thích hợp nhất” đối với các nhu cầu tài chánh của bạn.

Chẳng hạn, các món thế chấp với lãi suất thả nổi (ARM: Adjustable-Rate Mortgages) thường cung cấp các lãi suất thấp hơn trong một thời gian sơ khởi được định sẵn, và rồi lên xuống để đáp ứng các điều kiện của thị trường đang diễn ra. Do đó, nếu bạn dự tính sống trong căn nhà mới của bạn trong một thời gian có hạn định, thời kỳ lãi suất thấp lúc đầu được cung cấp bởi một món thế chấp với lãi suất thả nổi có thể đáng để bạn lựa chọn.

Các món thế chấp với lãi suất thay đổi được cung cấp với lãi suất sơ khởi hấp dẫn thường kéo dài 3, 5, và 7 năm. Cũng có loại ARM 10 năm.

Ngược lại, các món thế chấp với lãi suất cố định giữ nguyên lãi suất trong suốt cuộc đời của món vay, cho phép một chủ nhà dự trù ngân sách và kế hoạch thanh toán trong một thời gian rất dài. Các món thế chấp với lãi suất cố định được cung cấp với các thời hạn 10, 15, 20, 25 và 30 năm, với các thời hạn 15 năm và 30 năm thông dụng nhất đối với những người mua nhà.

Ðó là vì các món thế chấp cố định 15 năm và 30 năm thường cung cấp lãi suất thấp nhất so với các loại thế chấp lãi suất cố định kia.

Khi lựa chọn giữa một món thế chấp với lãi suất thả nổi và một món thế chấp với lãi suất cố định, hãy xem xét các điều kiện thị trường hiện tại, cùng với khoảng thời gian mà bạn dự tính sống trong căn nhà. (n.n.)

Một sinh viên đâm 14 người ở Houston

 


HOUSTON, TX (USA Today)Ít nhất 14 người bị thương tại khuôn viên trường đại học cộng đồng CyFair ở Houston hôm Thứ Ba, khi một sinh viên chạy từ tòa này qua tòa nhà khác dùng dao găm và vật nhọn khác đâm những người trạm chán tình cờ.










Một nạn nhân được trực thăng cảnh sát  tải thương tới bệnh viện. (Hình:/Johnny Hanson, Houston Chronicle via AP)


Hung phạm sau đó đã bị bắt, theo lời cảnh sát Thomas Gilliland Harris County. Mặc dầu nhận được báo cáo có nhiều hung thủ nhưng các cảnh sát nói rằng sau khi xem lại băng hình của các máy kiểm soát an ninh, chỉ thấy có một hung thủ duy nhất.

Sự việc xảy ra vào lúc khoảng 11.20 giờ sáng. 4 trong số nạn nhân bị thương nặng nhất được trực thăng đưa đến bệnh viện, 2 người ở tình trạng trầm trọng. Những người bị thương được chở đi bằng xe.

Trường đã phát lệnh báo động trên website khuyên mọi người không ra ngoài và toàn khu vực bị phong tỏa.

Trường CyFair ở thành phố Cypress, 25 dặm Tây Bắc Houston, thuộc hệ thống đại học Lone Star College. Hệ thống này gồm 6 trường với 90,000 sinh viên trong đó 18,000 ở CyFair. (HC)

Làm sao tăng điểm tín dụng khi vay tiền mua nhà?

 


Lãi suất thế chấp cực kỳ thấp đã gia tốc sự hồi phục của thị trường địa ốc trong năm ngoái, với những vụ mua bán nhà và giá nhà đều trên đà gia tăng.










(Hình minh họa: Joe Raedle/Getty Images)


Chỉ riêng trong tam cá nguyệt thứ ba của năm 2012, những món thế chấp mới lên tới $521 tỉ đã xuất hiện trên các báo cáo tín dụng của người tiêu thụ, đánh dấu tam cá nguyệt thứ tư liên tiếp trong đó những vụ khởi động thế chấp gia tăng.

Không có dấu hiệu nào chứng tỏ hoạt động trong thị trường địa ốc đang chậm lại, với Hiệp Hội Ngân Hàng Thế Chấp (MBA: Mortgage Bankers Association) tiên đoán những vụ khởi động thế chấp lên tới $1,300 tỉ trong năm nay.

Những vụ khởi sự mua nhà được dự đoán sẽ lên tới $585 tỉ trong năm 2013, đánh dấu một mức tăng 16% so với năm 2012. Trong khi đó, những vụ tái tài trợ được dự đoán lên tới $785 tỉ trong năm tới.

Giữa lãi suất thấp và các chương trình thế chấp mà người vay có thể kham nổi, như các món vay của Cơ Quan Gia Cư Liên Bang (FHA) và chương trình được gọi là Conventional 97 (người mua nhà được vay tới 97% trị giá căn nhà), những người mua nhà khôn ngoan nên dứt khoát lựa chọn các món thế chấp của họ trước khi lãi suất thế chấp tăng và giá nhà tăng thêm.

Tuy nhiên, trước khi bạn bắt đầu tiến trình để nhận được một món vay mua nhà, hãy thu xếp các vấn đề tài chánh của bạn cho ngăn nắp. Bước đầu tiên là đối phó với báo cáo tín dụng của bạn.


Một báo cáo tín dụng là gì?

Một báo cáo tín dụng là một hồ sơ về tiểu sử tài chánh của bạn. Nó cho biết chi tiết đủ thứ, từ các món vay mua xe và các kết toán thẻ tín dụng cho tới những vụ cầm cố và những vụ phá sản. Thường thường, các thông tin trong báo cáo tín dụng của bạn tồn tại trong bảy năm. Và, trong khi không phải là một phần chính thức trong báo cáo tín dụng của bạn, điểm tín dụng là sự đánh giá được căn cứ trên các thông tin trong bản báo cáo.

Ðối với những người mua nhà ngày nay và những gia đình tái tài trợ, có một điểm tín dụng tốt có thể đưa tới lãi suất thế chấp thấp hơn và các chương trình thế chấp với một số tiền đặt cọc nhỏ hơn.

Tuy nhiên, điểm tín dụng của bạn cũng được sử dụng trong những khía cạnh khác của đời sống:

-Những hãng bảo hiểm sử dụng điểm tín dụng của bạn để quyết định thang bảo phí của bạn.

-Các chủ nhân sử dụng điểm tín dụng của bạn để quyết định có thuê mướn bạn, thăng chức hoặc chỉ định bạn vào chức vụ khác hay không.

-Các chủ đất có thể sử dụng điểm tín dụng của bạn để quyết định có cho bạn thuê nhà hoặc căn chung cư hay không.

-Các cơ quan chính phủ và tư pháp có thể sử dụng điểm tín dụng của bạn cho các vấn đề pháp lý và xét xem bạn có đủ điều kiện tham gia chương trình hay không.

Báo cáo tín dụng của bạn là ấn tượng đầu tiên của bạn trong thế giới tài chánh. Nó thường được sử dụng để ước lượng mức độ trách nhiệm tiền bạc của bạn. Ðây là một trong nhiều lý do tại sao việc duy trì điểm tín dụng cao là điều có tầm mức quan trọng.


Những ngân hàng thế chấp sử dụng cách tính điểm FICO

Có hàng chục công ty báo cáo tín dụng và bạn có thể thấy quảng cáo của họ trên TV hoặc Internet. Tuy nhiên, trong lãnh vực thế chấp nhà, có ba công ty đóng vai trò quan trọng nhất: Equifax, Experian và TransUnion. Tập hợp lại, ba công ty này được gọi là các cơ quan tín dụng lớn và mỗi cơ quan bán nhiều sản phẩm tính điểm tín dụng khác nhau.

Dành cho các mục tiêu thế chấp nhà, mỗi cơ quan bán một điểm tín dụng ảnh hưởng tới những người xin vay tiền thế chấp:

-Equifax sử dụng một hệ thống tính điểm tín dụng được gọi là Equifax Beacon 5.0, với thang điểm từ 334 đến 818.

-Experian sử dụng một kiểu đánh giá rủi ro được gọi là Experian/Fair Isaac Risk Model v2, với thang điểm từ 320 đến 844.

-TransUnion sử dụng cách tính điểm được gọi là FICO Risk Score 04, với thang điểm từ 309 đến 839.

Khi một ngân hàng thế chấp “rút” ra báo cáo tín dụng của bạn, đây là ba điểm tín dụng sẽ được xem xét. Ngân hàng cho vay của bạn sau đó sẽ lấy điểm ở giữa trong ba điểm, và đây sẽ là điểm tín dụng được gán cho bạn.

Chẳng hạn, nếu các điểm tín dụng của bạn là 620, 640 và 700, “điểm” của bạn là 640. Một thí dụ khác, nếu điểm tín dụng của bạn là 700, 719 và 720, điểm tín dụng của bạn là 719. Các điểm tín dụng không được gộp lại hoặc tính trung bình.

Các điểm tín dụng được gọi là điểm FICO, được đặt tên theo Fair Isaac Co., một công ty tiên phong trong việc tính điểm tín dụng.


Làm thế nào để thúc đẩy điểm tín dụng của bạn?

Khi bạn yêu cầu được cấp một báo cáo tín dụng, cùng với điểm tín dụng của bạn, các cơ quan tín dụng thường đề nghị vài phương cách để bạn có thể cải thiện điểm tín dụng của bạn.

Ðối với những người có điểm tín dụng thấp, đây có thể là một bản đồ chỉ dẫn để cải thiện điểm FICO. Ðối với những người có điểm tín dụng rất cao, nó có thể là các thông tin không quan trọng, bạn không thể được thêm điểm vì có điểm FICO cực kỳ cao.

Hãy xem xét các khuyến cáo của các cơ quan tín dụng, nhưng nên nhớ rằng chỉ có một vài phương cách chắc chắn để cải thiện điểm tín dụng của bạn.

1-Trả các hóa đơn của bạn đúng hạn, luôn luôn như vậy.

2-Duy trì kết toán thẻ tín dụng thấp so với mức tín dụng được cấp cho bạn.

3-Chỉ xin thẻ tín dụng của cửa tiệm khi tuyệt đối cần thiết.

4-Trả các hóa đơn bác sĩ và tiện ích trước hạn chót.

5-Duy trì hiệu lực của các thẻ tín dụng cũ, và thỉnh thoảng đem ra sử dụng.

Một cách lý tưởng, các kết toán thẻ tín dụng của bạn không nên vượt quá 30% kết toán được cấp cho thẻ. Nếu bạn gặp khó khăn trong việc đáp ứng đòi hỏi này để có một điểm tín dụng cao, hãy yêu cầu công ty thẻ tín dụng tăng giới hạn vay tiền của bạn.

Cuối cùng, nếu đã xảy ra một biến cố không tốt cho báo cáo tín dụng của bạn, hãy tránh các công ty sửa chữa tín dụng cho tới khi bạn đã thực hiện bổn phận cần thiết của bạn. Thường thường, thời gian là biện pháp sửa chữa tốt nhất cho một báo cáo tín dụng “xấu.” (n.n)

Động đất ở Iran: 37 chết – Hơn 800 bị thương

 


TEHRAN, Iran (AP) Một trận động đất 6.1 xảy ra lúc 16.22 giờ địa phương (4.58 am PDT) hôm Thứ Ba tại khu vực dân cư thưa thớt phía nam Iran.









Một phụ nữ bị thương đang được săn sóc tại chỗ sau động đất. (Hình: AP/Fars News Agency/Mohammad Fatemi)


Thị trấn Kaki bị tổn thất nặng nhất. Chính quyền địa phương cho biết có 37 người chết và 850 người bị thương trong số đó 100 người phải đưa vào bệnh viện.

Kaki ở 60 dặm Đông-Nam Bushehr, thành phố ven bờ vịnh Ba Tư nơi có nhà máy điện nguyên tử đầu tiên của Iran do Nga trợ giúp xây dựng. Tỉnh trưởng Bushehr nói rằng nhà máy nguyên tử không bị tổn hại gì và không có phóng xạ thoát ra ngoài.

Thông tấn xã IRNA nhà nước Iran loan tin dân chúng Kaki hoảng sợ bỏ chạy ra ngoài đường và sau đó đã có hàng chục hậu chấn.

Các quốc gia bờ bên kia vịnh Ba Tư như Bahrain, UAE và Qatar cũng cảm thấy rung động và các cao ốc phải tạm thời di tản để đề phòng. (HC)

Ford Focus bán chạy nhất thế giới, Corolla về nhì

 


LOS ANGELESXe bán chạy nhất trên thế giới của năm 2012 là chiếc Ford Focus do một công ty Hoa Kỳ chế tạo, LA Times trích dẫn báo cáo của RL Polk & Co.








Kiểu Ford Focus năm cửa được trình làng trong ngày hội chợ xe năm 2010 ở Los Angeles. (Hình: David McNew/Getty Images)


Năm ngoái, hơn một triệu chiếc xe Ford kiểu Focus được bán ra trên toàn thế giới, trong đó khoảng một phần tư tiêu thụ tại Hoa Kỳ. Trong khi đó, chiếc Toyota Corolla về nhì với gần 873,000 chiếc.


Hãng Ford báo cáo, nếu kể cả kiểu xe tải F-series và xe du lịch Fiesta, Ford có được ba trong 10 kiểu xe bán chạy nhất thế giới.


Đặc biệt nhờ tiêu thụ mạnh mẽ ở Hoa Kỳ và Canada, kiểu xe tải F-series đứng được hạng ba, và cũng là xe tải duy nhất trong danh sách xe bán chạy.


Kiểu xe Zhiguang của công ty chế tạo xe hơi Trung Quốc Wuling là xe bán chạy đứng hạng tư, với số bán hơn 769,000 chiếc. Đây là một kiểu xe van hầu hết chỉ tiêu thụ tại nội địa.


Kiểu Toyota Camry bán chạy nhất ở Mỹ, về hạng năm trên toàn thế giới, với số bán gần 730,000 chiếc.


Ford Fiesta đứng hạng sáu với hơn 723,000 chiếc bán được. Volkswagen Golf về hạng bảy với hơn 699,000 xe, tiếp theo là Chevrolet Cruze với hơn 661,000. Honda có hai kiểu đứng cuối cùng trong danh sách 10 xe bán chạy nhất trên thế giới, và cả hai cũng tiêu thụ mạnh tại Hoa Kỳ. Civic về hạng chín với hơn 651,000 chiếc, và sau cùng là CR-V với gần 625,000 chiếc. (TP)

Hội H.O. Cứu Trợ TPB&QP/VNCH

Hội H.O. Cứu Trợ TPB&QP/VNCH
(Disabled Veterans and Widows Relief Association)
A Non-Profit Corporation – No. 3141107 EIN: 26-4499492
P.O. Box 25554, Santa Ana, CA 92799
Phone: (714) 539-3545, (714) 371-7967
Email:
[email protected]; [email protected]
Website: http://www.camonanhtb.com
Chi phiếu xin đề: Hội H.O. Cứu Trợ TPB&QPVNCH


Hải ngoại không quên tình chiến sĩ
Ðồng hương nhớ mãi nghĩa thương binh


Danh sách ân nhân gửi tiền đến hội:
(Tính đến ngày 31 tháng 3, 2013)


Bà Trương Sang, Saint Paul, MN $50
Nhung Nguyễn, Cerritos, CA $200
Bà Dương Thị Hiền, Bakersfield, CA $100
Cô Thi N. Nguyễn, từ Ðan Mạch $488 (để giúp 4 TPB)
Ô. Ðôn Cao, Wealthy Investmensts Inc., Pearland, TX $500
Bà Hồng V. Vũ, Grapevine, TX $714 (để giúp 7 TPB theo danh sách)
Dân Thế Lê, Garden City, KS $300
Thuận Lê, Houston, TX $100
Hiền Ngọc $20, Vũ M. Lê & Vị ẩn danh $100, Oklahoma City, OK $140
Ms. Liên Lê, La Puente, CA $50
Stephen Ðặng, Houston, TX $30
Phan Vang, Norcross, GA $100 (để giúp QP Trần Thị Vui, vợ của Cố Ngô Văn Tăng)
Anh Trần, Rancho Cucamonga, CA $50
Wessel Day Spa, Paso Robles, CA $25
Rosette Nguyễn, San Jose, CA $50
Lam Trương, Torrance, CA $25
Sương Võ, Dallas, TX $50
Minh Võ, Rainbow City, AL $30 (còn tiếp)


Danh sách mạnh thường quân ủng hộ ÐNH “Cám Ơn Anh” Kỳ 6:


Trịnh Khắc Châu, Santa Ana, CA $50
ÔB. Nguyễn Ðức Tuấn, Anaheim, CA $50
Nguyễn Hồng Vũ, San Jose, CA $50
ÔB. Lê Xuân Vũ. Garden Grove, CA, $50
ÔB. Phạm Q. Bình, Portland, OR $50
ÔB. Vũ Tiến Thuận, Montgomery Village, MD $50
ÔB. Vũ P. Peter, San Jose, CA $50
Bùi Lệ Cảnh, Antelope, CA $50
Cường Mai & Associate, Santa Ana, CA $50
Nguyễn K. Chân, San Diego, CA $50
Trần Anh Long, Grand Prairie, TX $50
Ðức Ðặng Karate,Orange, CA $50
Vị ẩn danh, $50
Nguyễn Sơn, Houston, TX $100
ÔB. Vũ B. Hoàn, Annandale,VA $100
Thịnh, Vịnh, Hân, Cấp, Santa Ana, CA $200
Dương T. Tùng, Texas City, TX $100
Gia Ðình Kiểm Báo KQVNCH, $650
Trần N. Phổ, Artesia, CA $50
ÔB. Ðàm Kim Anh, Santa Ana, CA $100
ÔB. Nguyễn Cầu, Garden Grove, CA $100
Kiểm Báo KQVNCH, Santa Ana, CA $200
Bargain Auto Parts, San Jose, CA $300
ÔB. Lý Ðại Nguyên, Westminster, CA $100
ÔB. Vũ Văn Nghi & Chị Tý Nhuần, Carlsbad, CA $200
Jarett Hoàng Nicole, Fountain Valley, CA $500
Diamond Palace, LLC. Garden Grove, CA $500
Thanh Sơn Tofu, Garden Grove, CA $500
ÔB. Hồ Ðắc Cam Bill, Fountain Valley, CA $1,000
Bà Nguyễn Nguyệt Ánh, $40
Nguyễn Diễm & Bảo Tuyết, $40
Thu Hồng & Ý Lan, $40
Chị Thoa, $20
Hồ Thị Văn, $20
Khóa 9B/72 Thủ Ðức Ðồng Ðế, $300
Nguyễn Văn Châu, Montclair, CA $25
Ngô Hữu Nguyên, Fort Wayne, IN $100
Happy Nail & Spa, Los Angeles, CA $200
Võ Văn Ðồng, Reseda, CA $200
Neal Nguyễn Farm, Indianapolis, IN $500
Nguyễn Trung, Sacramento, CA $500
Nhóm Thân Hữu Khóa 12 Thủ Ðức, $160
Trần Minh Ðức, Rosemead, CA $50
Hồ Hào, Moreno Valley, CA $50
1 thiếu tá TQLC, $100
Khóa 6/68 Tự Quyết SVSQ TB/TÐ & Ðồng Ðế, $200
Nguyễn Mỹ Diệu Linh, Saddle Back, CA $100
Mụi Lea, San Diego, CA $100
Ðinh Vân, Fairfax, VA $100
Ðinh Thanh Loan, Houston, TX $100
Võ Doãn Phúc Khóa 12 SVSQ TÐ, Úc Châu, $100
Hội Ái Hữu Gò Công Nam Cali, $1,200
Nguyễn T. Lan, Irving, TX $50
ÔB. Ngô Albert, Irvine, CA $50
Ðỗ H. Hoàng, Marana, AZ $50
Bà Phạm Nguyên, Garden Grove, CA $100
Phan Duy Phương, Westminster, CA $100
ÔB. Vũ Thị Nhạc, Westminster, CA $100
Ðỗ Huỳnh, Irvine, CA $100
ÔB. Phan Thanh Nhàn, Kechi, KS $200
Nguyễn T. Quang, Garden Grove, CA $300
Ðặng N. Bích, Fullerton, CA $500
Bà Nguyễn Thị Kim Anh, Garden Grove, CA, $500
Trần N. Minh, San Bruno, CA $1,000
Hoa Phát, Westminster, CA $1,000 (còn tiếp)


Danh sách TPB/VNCH đã được giúp đỡ:


Bùi Văn Phong, Cần Thơ, B2 CLQ Sq:143.242. Cụt 2 chân.
Nguyễn Văn Năm, Vĩnh Long, B2 ÐPQ Sq:635.739. Cụt 2 chân.
Phùng Mậu, Trà Vinh, B1 CLQ Sq:160.123. Mù 2 mắt.
Nguyễn Văn Lý, An Giang, HS ÐPQ Sq:314.342. Cụt 2 chân.
Trịnh Thôn, Cần Thơ, NQ Sq:281.054. Cùi 80%.
Trần Ðình Quyết, Sóc Trăng, B2 CLQ Sq:302.945. Mù 2 mắt.
Trần Văn Năm, Ðồng Tháp, HS CLQ Sq: 510.047. Mù 1 mắt. Liệt bán thân.
Nguyễn Trọng Phú, Cần Thơ, B1 KQ Sq: 603.942. Mù mắt trái, mờ mắt phải.
Lê Văn Tài, Vĩnh Long, TS CLQ Sq: 509.172. Liệt bán thân.
Nguyễn Hồng Phước, Cần Thơ, TS1 ÐPQ Sq: 509.760. Cụt chân trái. Liệt chân phải.
Cao Văn Chấn, An Giang, TS ÐPQ Sq: 356.154. Cụt chân trái. Cụt tay trái.
Châu Tý, Bạc Liêu, TS1 ÐPQ Sq: 340.868. Mù mắt trái. Liệt tay phải.
Nguyễn Văn Bồ, An Giang, HS CLQ Sq: 503.044. Cụt 2 chân.
Ðỗ Văn Quân, Vĩnh Long, B2 CLQ Sq: 207.071. Cụt 2 chân.
Trần Văn Nam, Kiên Giang, ChU ÐPQ Sq: 902.119. Mù 2 mắt.
Bùi Văn Viên, Kiên Giang, ChU ÐPQ Sq:092.676. Cụt 2 tay. Cụt Ệ bàn chân phải.
Phạm Văn Cu, Long An, Sq:342.801. Mù 2 mắt. Cụt tay phải.
Nguyễn Thanh Triệu, Trà Vinh, NQ Sq:837.213. Liệt bán thân.
Phan Niên, Quảng Nam, Sq:494.212. Cụt 2 chân.
Huỳnh Cường, Quảng Nam, Sq:105.468. Cụt chân phải. Gãy chân trái.
Lê Dần, Quảng Ngãi, Sq:321.056. Cụt 2 chân.
Nguyễn Dương, Quảng Nam, Sq:??? Cụt 2 chân.
Nguyễn Tuấn Khanh (Khâm), Quảng Ngãi, Sq:??? Cụt tay trái. Mù mắt trái.
Huỳnh Ðình, Quảng Nam, Sq:117.431. Cụt 2 tay. Mù 2 mắt.
Nguyễn Non, Quảng Nam, Sq:183.805. Cụt 2 tay.
Nguyễn Văn Trọng, Quảng Ngãi, Sq:429.322. Mù 2 mắt.
Phùng Kim Cang, Bình Ðịnh, Sq:409.754. Cụt 2 chân.
Phạm Ngọc Anh, Quảng Ngãi, Sq:209.745. Mù 2 mắt. Cắt thận.
Phan Tý, Quảng Ngãi, Sq:125.572. Cụt 2 chân.
Nguyễn Thế Hữu, Quảng Ngãi. Sq:190.911. Mù 2 mắt.
Phạm Xi, Quảng Ngãi, Sq:104.208. Mù 2 mắt. Cụt 2 ngón tay phải.
Nguyễn Công Chính, Quảng Ngãi, Sq:135.17? Cụt chân phải. Cụt bàn chân trái.
Nguyễn Thanh, Quảng Ngãi, Sq:211.201. Mù 2 mắt.
Trần Khiêm, Quảng Ngãi, Sq:204.077. Cụt 2 chân.
Trần Lê Thanh, Quảng Ngãi. Sq:203.454 Cụt 2 chân.
Trần Thanh Hải, Quảng Nam, Sq:809.723. Cụt 2 chân.
Nguyễn Ngọc Chi, Quảng Nam, Sq:209.985. Cụt 2 chân. Cụt các ngón tay trái.
Ðoàn Ngọc Hoa, Quảng Nam, Sq:137.272. Liệt 2 tay, 2 chân. Bị thương ở đầu.
Cao Thanh Sơn, Quảng Nam, Sq:809.557. Cụt chân trái. Mù mắt phải.
Nguyễn Phước, Bình Thuận, Sq:153.751. Cụt 2 tay. Mù 2 mắt.
Trần Vàng, Quảng Nam, Sq:132.42?. Cụt 2 chân. Cụt tay trái. Mờ mắt trái.
Nguyễn Văn Giáo, Quảng Nam, Sq:824.832. Cụt chân phải. Liệt bàn chân trái.
Trần Quang Quốc, Quảng Ngãi, Sq:202.286. Cụt chân phải. Gãy chân trái. Gãy tay phải.
Huỳnh Dần, Quảng Ngãi, Sq:126.182. Cụt chân trái. Gãy chân trái.
Võ Thân, Quảng Ngãi, Sq:408.72?. Mù 2 mắt. Cụt chân trái.
Nguyễn Văn Tuấn, Quảng Nam, Sq:??? Cụt 2 chân.
Phạm Ngọc Minh, Quảng Ngãi, Sq:572.226. Cụt 2 chân.
Dương Văn Lý, Quảng Nam, Sq:183.875. Cụt 2 chân.
Lê Văn Lâm, Quảng Ngãi, Sq:246.528. Cụt 2 chân.
Nguyễn Bửu, Quảng Nam, Sq:700.99? Gãy chân trái. Mù 1 mắt.
Phạm Dương, Quảng Ngãi, Sq:874.156. Cụt chân trái. Cụt bàn tay phải.
Trần Lai, Quảng Nam, HS ÐPQ Sq:234.012. Cụt 2 chân.
Ung Văn Tỵ, Quảng Nam, Biệt Kích. Cụt 2 chân.
Lê Văn Hồng, Khánh Hòa, Sq:700.606. Mù 2 mắt.
Nguyễn Luận, Quảng Nam, TS1 CLQ Sq:201.628. Mù mắt trái. Cụt chân phải.
Phan Văn Hùng, Dalat, Sq:408.085. Mù 2 mắt.
Nguyễn Văn Kẽm, Lâm Ðồng, Sq:408.138. Cụt chân phải. Gãy tay trái.
Hồ Lũy, Daklak, Sq:400.797. Cụt chân trái. Cụt các ngón 2 tay.
Phan Dư, Bình Ðịnh, Sq:910.475. Mù 2 mắt.
Bùi Hoành, Quảng Nam, Sq:113.081. Cụt chân trái. Mù mắt trái.
Võ Văn Nam, Quảng Ngãi, Sq:205.929. Mù 2 mắt.
Nguyễn Văn Lý, Quảng Ngãi, B1 CLQ Sq:214.297. Mù mắt trái. Gãy chân trái.
Võ Văn Nho, Quảng Nam, TrU CLQ Sq:208.211. Cụt 2 chân.
Trương Tuấn, Quảng Nam, B1 ÐPQ Sq:696.226. Cụt tay trái. Mù mắt phải.
Nguyễn Lại, Quảng Nam, B2 CLQ Sq:371.999. Mù 2 mắt. Cụt 2 tay.
Võ Kim Anh, Quảng Nam, Sq:351.063. Gãy 2 chân.
Nguyễn Văn Hai, Quảng Ngãi, Sq:402.142. Liệt 2 chân.
Huỳnh Ngọc, Quảng Nam, Sq:117.491. Cụt 2 chân.
Phan Ớt, Thừa Thiên, Sq:202.409. Cụt 2 chân.
Lê Văn Thức, Quảng Trị, Sq:877.803. Cụt 2 chân.
Thái Xuân Hiền, Quảng Trị, Sq:120.143. Mù 2 mắt. Bị thương ở cổ.
Võ Viết Trinh, Quảng Trị, Sq:295.786. Cụt chân phải. Mù mắt phải.
Nguyễn Ðức Hớn, Thừa Thiên, Sq:201.719. Cụt chân trái. Gãy chân phải.
Huỳnh Văn Nguyện, Thừa Thiên, Sq:205.010. Liệt 2 chân.
Trương Ưu, Quảng Trị, Sq:700.337. Cụt 2 chân.
Hồ Ðấu, Thừa Thiên, Sq:204.433. Cụt 2 tay. Mù 1 mắt.
Trần Bốn, Thừa Thiên, Sq:201.883. Mù 2 mắt. (Còn tiếp)


Danh sách QP/VNCH đã được giúp đỡ:
(Xin xem kỳ tới)

Ðá nát vàng phai

 


Trang CCB/NV vừa nhận được bài viết sau đây do một độc giả, chiến hữu MucVu chuyển đến. Nội dung bài viết nhắc đến một thời gian đã hằn sâu trong tâm trí Quân Cán Chính VNCH. Trang CCB xin mạn phép tác giả Kim Thanh được chuyển đến độc giả chiến hữu của Trang CCB/NV nhân những ngày trong Tháng Tư Ðen để như một chia sẻ với toàn dân trong nước đang phải chịu ách cộng sản và đang đứng lên xóa bỏ nó.


Thẹn mình đá nát vàng phai (Kiều)


Kim Thanh


Giữa năm 1976, từ trại Long Giao, Nguyễn bị đưa ra Bắc, cùng với các thành phần “ác ôn, có nợ máu” gồm An Ninh, Tình Báo, Chiến Tranh Chính Trị, Bộ Binh, Cảnh Sát, Tuyên Úy – toàn thứ dữ dằn dưới mắt Việt Cộng.


Gần ba ngàn người bị xếp như cá hộp dưới hai khoang hầm tàu chở than, nguyên là của Việt Nam Thương Tín được cải danh Sông Hương. Ai ở đâu là chết dí chỗ đấy, tiểu tiện phải bước qua những thân người nằm rũ liệt, nghe chửi thề inh ỏi khi lỡ đạp lên bụng một ông khó tính, mới đến được cái thùng gỗ nhỏ đặt ở cầu thang. Nước uống và lương khô được thòng dây xuống, y như cảnh trong một phim buôn bán nô lệ đã xem đâu rồi. Hai ngày sau cập bến Hải Phòng. Xe lửa và molotova bít bùng dàn chào sẵn để rước về các vùng biên giới, như Yên Bái, Lao Kay… Bạn bè lạc nhau từ đây. Nguyễn đi Hoàng Liên Sơn. Cửa toa đóng kín, khiến hai ông trung tá chết ngộp, xác vứt bên đường. Ngồi xe hơi thì bị trẻ con ném đá, và những bà già Bắc kỳ tốc váy chửi rủa tục tằn, với sự đồng lõa của bọn cán bộ.

Hoàng Liên Sơn với rặng Fansipan trùng điệp. Những ngày vào rừng, lên núi đốn tre, chặt gỗ, giơ tay vóc từng nắm sương la đà dày đục, nếm thử thấy tê buốt – như môi hôn phút chia lìa vội vã. Những đêm lạnh cóng phải đứng ngủ cho bớt run rẩy trong chiếc chăn đơn cũ mục. Trên đường lao động, Nguyễn gặp lại bằng hữu thất tán từ các chiến trường xưa, không hẹn mà bị “gom bi” đầy đủ. Nhìn nhau cười như mếu, thấm thía lời huênh hoang của một tên cán bộ: “Các anh có mà chạy đằng giời!” Thỉnh thoảng lên núi Nguyễn và đồng tổ đội gặp một nhóm Biệt Kích, bị bắt từ thời Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, đang lao động tự giác, không có vệ binh canh giữ. Họ nhìn đám tân tù binh, vẻ thương hại, lắc đầu thông cảm, nhưng cũng có anh không dằn được bực tức, lớn giọng: “ÐM, mấy cha làm ăn, đánh đấm thế nào mà bây giờ kéo nhau ra đây cả lũ?” “Cả lũ” im lặng, xấu hổ, nghe xót xa bởi lời trách móc không sai. Nói thế, nhưng khi thấy bọn Nguyễn lóng cóng không buộc chặt nổi bó nứa, họ ùa đến ân cần phụ giúp, hướng dẫn tận tình, hoặc chia cho sắn luộc và bánh in khô Trung Quốc.

Sức khỏe suy sụp dần. Sau một lần khiêng gỗ té xỉu giữa đường, Nguyễn được chuyển vào đội Rau Xanh, gồm toàn bô lão – còn gọi là đội “sứt cán gãy gọng.” Vì còn trẻ và tạm lành lặn, chàng bị nhường ngay chức trưởng tổ phân, ngày ngày phải hốt đủ mười chuyến phân bắc, tức phân người, “có chất lượng” giao cho tổ khác đem ủ thẳng dưới các luống khoai, hoặc chế biến thành nước tưới rau. Lúc đầu thấy hãi hùng, muốn nôn ọe, rồi ráng nhập thiền để mất đi cảm giác, ý niệm, nhìn nhưng chẳng biết đó là gì nữa. Hết phân bắc đến phân chuồng (trâu bò), cũng tởm không kém, rồi phân xanh (lá ngâm mục).

Mới đầu, đa số còn phát biểu linh tinh lắm. Hệ thống ăng ten chưa được thiết lập qui mô. Trong đội Rau Xanh có ông đại úy cảnh sát già gân Hoàng Bá Linh. Ông Linh là người Quảng Bình, hay Quảng Trị, trực tánh, ưa kể chuyện tiếu lâm và chuyện chế độ cũ, nói năng rất “phản động”, thuộc loại điếc không sợ súng. Trong một buổi học tập của đội, ông đã phát biểu, lên án “bọn CTCT ngụy” như sau: “Bọn ngụy tuyên truyền rất bố láo bố lếu về Bác Hồ vĩ đại, vô vàn kính yêu của ta, ví dụ họ nói nguyên văn như ri, tổ cha thằng già Hồ Chí Minh là tên giết người bán nước, làm tay sai cho thằng Xịt Ta Lin và thằng Mao Xếnh Xáng… Họ xuyên tạc bộ đội anh hùng của ta nguyên văn như ri, là chúng nó ốm đói quá, bảy thằng Việt Cộng đu một cọng đu đủ mà không gãy… Thật là mất dạy hết sức!”, v.v… Và cứ thế ông nói dai, nói dài, nói lớn “nguyên văn như ri, như ri”, với giọng nặng trịch, nhừa nhựa thuốc lào. Tất cả sĩ quan cải tạo xanh mặt, cản không được, ngồi im, lo lắng cho ông. Phải hơn hai phút sau thằng cán bộ quản giáo mới hiểu ra, lên tiếng cắt ngang, hầm hầm quát bảo ông im ngay. Nó ức lắm, nhưng lúc ấy vì quá bất ngờ chưa biết kết ông vào tội gì. Hôm sau, ông bị dẫn đi “làm việc” khá lâu, rồi bị biệt giam một tháng. Ra khỏi phòng biệt giam, ông tiếp tục mở máy, như cũ, cười hề hề: “Tui đâu ngán thằng mô.”

Sau tám tháng, cả trại bị “biên chế” đi Sơn La, ở chung với tù hình sự, loại “đầu gấu” chuyên giết người, hiếp dâm, trộm cướp. Một vùng đèo heo hút gió, nước độc rừng thiêng, gần Ðiện Biên Phủ, qua hết dãy núi cao là sang đất Lào. Quanh năm chỉ thấy mây trời lơ lửng và đám người Mán, người Mèo tiếng nói líu lo, mỗi lần xuống núi mặc áo quần sặc sỡ, đàn ông thổi kèn mở đường, đàn bà gồng gánh theo sau. Cùng trại có các linh mục, cảnh sát, sĩ quan đủ binh chủng, vài nhà văn quân đội như, Nguyễn chỉ còn nhớ, Thảo Trường, Văn Quang và Phan Lạc Phúc. Có nhị vị cựu và đương kim Ðại tá Linh mục Tuyên úy Lê Trung Thịnh và Ðinh Cao Thuấn. Nguyễn nằm kế bên Trung Tá Ðặng Bình Minh, phi đoàn trưởng trực thăng của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, mùa Ðông được anh cho một áo jacket nhà binh rằn ri cũ. Cách Nguyễn hai người là Trung Tá Vũ Hoài Ðức, chỉ huy phó trường ÐH/CTCT, người hiền lành, đạo đức y như Ðại tá Chỉ huy trưởng Nguyễn Quốc Quỳnh. Ở một đội khác có một cựu tùy viên của cố Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, đeo kính trắng, tôi quên tên. Ai nấy thiếu ăn, xác xơ, bắt đầu thấm đòn độc của Việt Cộng: chủ trương cải tạo bao tử, nghĩa là bắt đói triền miên, để chế ngự ý chí, và cả tư cách nữa! Lao động vinh quang là trồng lúa, sắn, ngô, khoai trên những thửa đất hoang, khô cằn sỏi đá.

Hơn hai năm sau, Trung Cộng uy hiếp biên giới, Việt Cộng lo sợ, vội vàng chuyển tất cả về Vĩnh Phú mà chúng gọi là miền trung du, đất tổ Hùng Vương. Hùng Vương đâu chả biết, chỉ thấy toàn núi rừng thâm u và bộ mặt kinh niên hắc ám của các cai tù, và những thằng ăng ten, trật tự, thi đua ngu ngốc làm khổ đồng đội còn hơn chính kẻ thù. Trại rộng thênh thang chia làm bảy khu, gọi là K, cách nhau trung bình năm, sáu cây số, nằm tít phía sau thung lũng sông Hồng. Từ Sài Gòn ra Vĩnh Phú thăm chồng, các bà “vợ ngụy” xem như chặng đường thánh giá mới, phải vượt rừng băng sông, đi đủ các loại xe, kể cả xe trâu và xe đạp ôm. K7 gần nhất, giam riêng các biệt kích. Ở giữa, một K dành cho các thiếu niên phạm pháp, đa số về tội ăn cắp – có đứa chỉ mới tám tuổi. Nguyễn ở K1, xa nhất, tuốt sâu trong núi.

Tại Vĩnh Phú, có anh bạn trường Ðại Học CTCT Ðà Lạt, Nguyễn Ngọc Nhung, Ðại úy phòng Khảo Hạch, kiếm đâu ra được chức thủ kho dụng cụ lao động, cũng nhàn. Một hôm, Nhung kể, một tên công an vẻ phách lối đến mượn cái xẻng. Theo thủ tục phải ghi tên vào sổ. Thủ kho, người Bắc, lịch sự hỏi:

– Xin cán bộ cho biết quý danh.

Tên nọ không hiểu “quý danh”, há mồm, ngơ ngác, suy nghĩ một hồi, rồi đột nhiên sừng sộ:

– Anh vi phạm lội qui. Ai cho anh lói tiếng lước ngoài hử?

Nhung sửng sốt, á khẩu. May phước, nhờ các bạn tù xúm vào thông dịch giùm, anh mới thoát nạn, sau khi bị xỉ vả tận tình.

– Giờ lày mà còn ôm chân đế quốc, lói tiếng nóng…

Còn Nguyễn về đội Nông Nghiệp. Phải lội vào một thửa ruộng bỏ hoang từ bao đời để luân phiên kéo cày thay cho trâu bò. Nước bùn đen đặc quánh, đỉa bơi lổn ngổn, thò chân xuống thấy ghê rợn -làm chàng nhớ những đầm lầy cũng kinh khiếp dưới địa ngục mà thi hào Dante phải vượt qua với Virgile, trong La divina Commedia. Ba hôm sau, một số đội viên – có Ðại úy Cảnh sát Phạm Bá Ðiềm, bạn thân từ Sơn La – lên cơn sốt cấp tính, chỉ hai ngày là hôn mê, rồi chết. Người sống sót rụng dần lông chân. Phải mất thêm vài mạng nữa, đội mới có lệnh “giải thể.”

Thửa ruộng lại bị bỏ hoang, Nguyễn trở về đội Rau Xanh, như hồi ở Hoàng Liên Sơn, lại vào tổ phân, lần này giao cho thợ bón kiêm chuyên viên tưới là phi công Air Vietnam Nguyễn Hữu Trí, trung tá biệt phái. Nói chuyện mới biết Trí bay đường Hồng Kông và Tokyo, có chuyến với Bội Trân, em gái Nguyễn, mà anh tả đúng hình dáng, nên chàng tin lắm. Chim bằng gãy cánh, Trí tiếc nhớ trời xanh, giờ giải lao ngước nhìn lên cao, uất ức, thở dài.

Tết đầu tiên tại Vĩnh Phú, trại được nghỉ lao động ba ngày, và tự do đi lại các khu vực. Nguyễn tìm đến dãy nhà giam riêng “bò lục” (tiếng lóng chỉ đại tá) để thăm Ðại Tá Nguyễn Quốc Quỳnh, vị chỉ huy trưởng kính thương của trường Ðại Học Chiến Tranh Chính Trị Ðà Lạt – nơi mà chàng được phục vụ gần ba năm trong chức vụ Trưởng khoa Nhân Văn Xã Hội và Sĩ Quan Phụ Khảo cho đến ngày tan hàng. Nguyễn thấy ông cũng vừa bước ra sân, nơi đang diễn nhiều trò vui do tù sáng chế để giết thời gian và nỗi nhớ nhà. Ông nhận ra chàng ngay. Chung quanh rất đông người, và dĩ nhiên ăng-ten được rải đầy. Gặp ông, chàng mừng quá, nói lớn:

– Chào bác, bác vẫn khỏe chứ ạ?

Ông nắm tay chàng một lúc lâu, và chậm rãi nói, giọng xúc động:

– Cám ơn anh, tôi vẫn khỏe. Còn anh thế nào, có bệnh hoạn gì không? Tôi biết anh ở đây lâu rồi, mà không gặp được.

Nguyễn cố nuốt những giọt lệ làm nghẹn cổ họng, xót thương cho phận vàng phai và đá nát. Cho đất nước bất hạnh. Cho cả chính mình. Hồn bỗng rưng rưng, thầm gọi tên một thời yêu thương và thù hận tưởng đã chết theo cùng với mùa xuân tang tóc và những giấc mơ phai. Một thời vì ông chợt hiện về nguyên vẹn. Như mới hôm qua…

Sài Gòn, đầu Tháng Năm, 1975. Hai ngày sau khi đứng nhìn từ một góc đường Lê Văn Duyệt, uất hận và nước mắt lưng tròng, những chiếc xe tăng chở đầy Cộng quân vào thủ đô, nghe tên nằm vùng Trịnh Công Sơn hớn hở ca mừng chiến thắng, kêu gọi nối vòng tay lớn, và chạy tới chạy lui dò la tin tức người thân, bạn bè ai còn ai thoát, tôi tìm được địa chỉ của Ðại tá Nguyễn Quốc Quỳnh và đạp xe đến thăm cùng với hai cựu SVSQ khóa 4, Nguyễn Gia Hưng và Nguyễn Dự, bất ngờ gặp lại trên đường. Phu nhân và cô con gái, vì quen mặt hồi ở Ðà Lạt, tiếp tôi không e dè. Ðại Tá Quỳnh ra phòng khách, áo sơ mi bỏ trong quần tây, chân đi săng đan. Trông ông mệt mỏi, có vẻ chán nản, dù bề ngoài vẫn giữ phong cách nho nhã, lịch sự cố hữu. Chúng tôi không nói gì nhiều. Có lẽ trước thảm họa chung ai cũng có nỗi ưu tư riêng, cùng nặng nề như nhau. Suốt ba hôm liền, tôi bị hối hận dày vò, tự trách đã vụng suy, khí khái hão, không nghe lời cô em tiếp viên đưa gia đình lên chuyến Air Vietnam cuối cùng, khiến tất cả đành phải ở lại, một số dắt díu nhau trở về Nha Trang để thấy cửa nhà, tài sản rơi vào tay bọn cách mạng 30 – hạng khố rách áo ôm trước kia đã chịu ơn ba mẹ tôi, nay trở mặt, gán lên đầu ông bà đủ thứ tội. Còn Ðại Tá Quỳnh, tôi không biết ông đang tiếc gì, nghĩ gì, vì suốt buổi chỉ nghe ông lặp đi lặp lại:

– Không thể ngờ nhanh như thế!

Ðâu phải một mình ông. Không ai ngờ, kể cả Dương Văn Minh, tên tướng thiếu tài, khờ dại, được sinh ra chỉ để phản bội, và bọn “hàng thần lơ láo” tại dinh Ðộc Lập trưa ngày 30 Tháng Tư. Kể cả lũ vượn người khoác lác ở Bắc bộ phủ. Kể cả tên đồng minh Kissinger xảo quyệt, tác giả của cái gọi là Hiệp Ðịnh Paris quái gở bán đứng miền Nam, người được báo chí Mỹ bơm lên như nhà ngoại giao vĩ đại, nhưng thực chất chỉ là một tên trí thức cơ hội chủ nghĩa và đầy ảo tưởng, chưa tiêu hóa kịp những bài học bang giao quốc tế ở trường Harvard. Kể cả anh tướng hai sao và ba hoa nọ đã thề thốt ở lại để ăn mắm tôm cà pháo với đồng bào, vậy mà vào phút chót nhờ có trực thăng riêng mới vọt ra được hạm đội Mỹ. Không thể ngờ nhanh như thế! Tôi chỉ biết gật đầu, đồng ý với ông. Cuối cùng, tôi cất tiếng hỏi:

– Ðại tá có ý định sẽ làm gì ?

Ông lưỡng lự vài giây, rồi trả lời:

– Tôi chưa biết sẽ phải làm gì. Nhưng ở hoàn cảnh nào tôi cũng chấp nhận những gì tệ hại nhất sẽ xảy đến cho tôi.
Như là mặt trái của bổn phận và vinh quang, tôi hiểu như thế qua những lời chậm rãi, đắn đo của ông. Những lời tôi nghe quen từ đâu rồi bỗng mang một ý nghĩa cao đẹp, phi thường trong bối cảnh bấy giờ. Những lời đã theo tôi suốt tám năm đày ải, và cùng với hình ảnh của Guillaumet, viên phi công lâm nạn lầm lũi bước lê trên cát sa mạc, không chịu ngồi chờ chết, trong “Terre des hommes” của Saint-Exupéry học lúc trẻ, đã khích lệ, vực tôi đứng dậy để tiếp tục sống còn.

Tôi cảm động, và khi từ biệt, siết chặt tay ông, khẽ nói:

– Có một điều đại tá nên chắc chắn là dù ngày mai ra sao tôi sẽ không bao giờ quên Ðại tá và những gì Ðại tá đã làm cho tất cả chúng tôi.

Và cho riêng tôi. Ông là một chỉ huy trưởng nhân hậu, có đức có tài, hơn ai hết, đã làm tôi thấy yêu thích và kiêu hãnh với đời quân ngũ bất đắc dĩ. Một chỉ huy trưởng quả cảm và xứng đáng, có tinh thần trách nhiệm cao độ – quyết ở lại với thuộc cấp cho đến phút cuối, mặc dù ông có một người con rể là đại tá không quân Mỹ và đủ phương tiện để tẩu thoát một mình như đám tướng tá tham sinh úy tử kia đã tranh nhau đào ngũ trước khi tai họa giáng xuống. Quả vậy, chín giờ sáng 30 Tháng Tư, tại Tiểu Ðoàn 50 CTCT, đường Phan Ðình Phùng, bấy giờ là bộ chỉ huy tiền phương của trường Ðại Học CTCT, ông vẫn chỉ thị các sĩ quan hiện diện và sinh viên sĩ quan các khóa tiếp tục chiến đấu và phòng thủ, để rồi, cuối cùng, phải buông súng, bất lực trước mệnh nước. Tôi không bao giờ quên được khẩu lệnh cuối cùng, ngắn ngủi, thật buồn bã của ông cho ban tham mưu, sau khi Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng:

– Phát hết lương khô và cho anh em tan hàng!

… Thế rồi, mỗi người chia một nẻo. Ông cũng đi trình diện “cải tạo” ở một nơi nào đó. Tôi bị tống vào Long Giao để gặp lại gần toàn bộ sĩ quan Ðại Học CTCT, trong số có người bạn thân, Ðại Úy Ðỗ Huy Hoàng, chủ bút tờ Ức Trai của trường. Những chiều lao động về rảnh rỗi, tôi mò sang đội của Hoàng, hoặc Hoàng sang tôi, để tâm sự vụn cho bớt nhớ nhà. Nhất là bớt tức. Có cái gì uẩn ức, hằn học nằm trong tiềm thức của mỗi tên tù. Ðau xót và căm giận còn hơn bị tình phụ. Nhưng không biết tức ai. Lãnh đạo hèn nhát đã cao bay xa chạy. Thù hận Cộng Sản thì chẳng ai dám hé môi nói với ai. Cuối cùng, chỉ có Thượng Ðế nghe đủ những lời ta thán, chửi thề vu vơ. Trong câu chuyện, chúng tôi điểm mặt từng người quen, và khi biết toàn trường vào tù, cả hai cùng thở dài, ngán ngẩm.

Tôi còn gượng chọc Hoàng:

– Ức Trai hay Ức Gái gì rồi cũng chui vô rọ hết!

Tại Long Giao, lúc ấy, tôi ở cùng đội, cùng tổ với Ðặng Phùng Hậu, bác sĩ trưởng bệnh xá trường Ðại Học CTCT, và một nhóm quân y. Cả tổ, vì tự ái, tự trọng, không ai than vãn về chuyện ăn uống, đói khát trong tù, kể cả sau này khi viết hồi ký. Hậu vui tính, kể đủ chuyện, nhờ vậy những ngày ảm đạm, bực bội qua khá nhanh. Mỗi tối, Hậu thì thầm nói chuyện với tôi về thời cuộc, và lần nào anh cũng lẩm bẩm kết thúc bằng câu:

– Ðịt cụ, đau như hoạn, tức như bò đá!

Bên dãy cấp tá có Lê Ân, thiếu tá văn hóa vụ trưởng của trường. Những lần thấy nhau qua hàng rào kẽm gai, ông lộ vẻ mừng rỡ, rồi lắc đầu nói, giọng Quảng lai Huế rất “trademark” của ông:

– Cháng gướm (chán gớm)!

Trong câu chuyện, anh em thường hỏi về đại tá chỉ huy trưởng. Không ai biết chính xác ông ở đâu. Có tin ông đã chết. Hoặc đang ở ngoại quốc. Hoặc trốn trong một khu rừng. Nhiều đêm trằn trọc, tôi khổ tâm vì dĩ vãng, cứ ám ảnh mãi, như cuốn phim quay lại, tự động, chậm chạp, lê thê. Nhớ không sót từng khuôn mặt, từng buổi giảng dạy, từng dịp lễ. Nhớ từng đêm Giáng sinh giá buốt và tiếng chuông nhà thờ ngân nga, từng buổi dạ vũ tưng bừng, mệt nhoài, từng con phố chìm trong sương mờ che khuất đường về…

Bây giờ Ðại Tá Quỳnh đứng đó, bên Nguyễn, giữa một ngày xuân héo hon. Người gầy nhom, gương mặt hốc hác, má trũng sâu. Nhìn lại hình hài mình, chàng thấy đâu hơn gì. Chỉ một thoáng mơ, bỗng hiện về trong đáy hồn rời rã cả khung trời yêu thương Ðà Lạt và kỷ niệm rực rỡ của tháng ngày cũ có hạnh phúc còn thơm hương mimosa, có tình yêu chưa biết nói lời phản trắc, có một Ðại Tá Quỳnh uy nghi trong quân phục đại lễ gắn cấp hiệu cho sinh viên các khóa, nay còn đâu! Mới có bốn năm vật đổi sao dời mà cả hai đã trở thành thảm hại đến thế ư? Ông mặc bộ treillis bạc màu, chân đi dép râu, sau lưng viết chữ Quỳnh thật to bằng mực tím. Thấy không ai để ý Nguyễn bèn hỏi rất khẽ:

– Ðại tá nghĩ sẽ có ngày về không?

Ông lấy tay che một bên tai, có vẻ chú ý lắm mới nghe lọt hết. Và trả lời nhanh, chắc ngại bọn ăng-ten cứ lượn qua lượn lại trước mặt:

– Tôi nghĩ là rất khó lòng, mặc dù vẫn cố hy vọng. Ðiều quan trọng là anh gắng giữ gìn sức khỏe tốt để có sức chịu đựng. Gặp anh em khác cho tôi gửi lời thăm!

Một thằng sà tới. Nguyễn vội nói lớn:

– Bác được thư gia đình thường chứ?

Ðại Tá Quỳnh chưa kịp đáp thì hắn đã gay gắt bảo Nguyễn, giọng trọ trẹ:

– Tôi lưu ý anh, không được quan hệ với các anh đại tá.

Chàng phản pháo liền:

– Nhưng anh là ai? Hôm nay ngày Tết được miễn!

Thằng nọ mặt hầm hầm, lớn tiếng:

– Tôi ở trong ban Trật Tự. Ðề nghị (tiếng Việt Cộng có nghĩa “yêu cầu”) anh chấm dứt quan hệ linh tinh.

Chàng quay sang Ðại Tá Quỳnh:

-Thôi xin từ giã bác, chúc bác mạnh khỏe, bình an trong năm mới.

Rồi nhìn thẳng mặt thằng trật tự, giận dữ bỏ đi. Nguyễn gặp Ðại Tá Quỳnh được một tháng thì hai đội bò lục – đội trưởng là Lê Ðình Luân và Dương Hiếu Nghĩa – chuyển xuống K5, cách đó độ sáu cây số, cùng với các linh mục tuyên úy mà bọn công an đặc biệt căm thù.

Rồi một hôm, mẹ tôi lặn lội đến thăm, có Bội Trân hộ tống. Lần đầu được phép, sau năm năm chờ đợi. Mất ba ngày đường trên hai chuyến xe lửa từ Nha Trang ra Hà Nội, từ Hà Nội lên Ấm Thượng. Qua sông Hồng bằng phà máy, tới K1 bằng xe trâu. Tại nhà tiếp tân, lúc đó khá đông người, ba mẹ con ôm nhau khóc, rồi nói cười, mừng mừng tủi tủi, trước những cặp mắt cú vọ của lũ vệ binh và quản giáo. Mẹ thút thít, xoa nắn hai cánh tay và ngực tôi, như lúc nhỏ tôi từ Sài Gòn về quê Nha Trang nghỉ hè, chê con gầy quá, tội con quá! Mẹ bạc gần nửa mái đầu, da sạm nắng, tay nổi gân xanh. Suốt năm, Bội Trân nói, mẹ đi thăm nuôi “mệt nghỉ” rồi lo tìm đường cho con vượt biên, làm sao mà không già yếu cho được. Ba ông con trai lớn và một chàng rể tương lai đi cải tạo bốn nơi khác nhau, cô con gái út bị bắt ngay trên ghe nhỏ, giam tại A30. Chưa đứa nào thoát được, mẹ tiếp lời, trừ Thể Trân ra riêng, vì cả nhà bị chúng nó theo dõi sát nút.

Bội Trân đẹp như trước kia, nổi bật giữa phòng tiếp, dù thôi trang điểm. Nhưng tóc cài hờ hững, mắt buồn vời vợi, mất hết vẻ hồn nhiên, tinh nghịch cố hữu, khiến tôi ngậm ngùi tưởng đến những mỹ nhân tự thuở xưa hương sắc không phai giữa gió đời vùi dập, kiêu sa trước nghịch cảnh, như các nhân vật nữ trong những vở kịch cổ Hy Lạp. Em kể, và mẹ lắng nghe, thỉnh thoảng gật gật đầu, phụ họa:

– Nhà mình tịch thu được chúng nó trả một nửa, nửa kia làm trụ sở thanh niên phường. Ba làm rẫy, mẹ lén nấu rượu chuối cho ba uống thay Martel. Em phụ bán nước mía với em Huyền Trân. Chị Thể Trân đến được Mã Lai với chồng con. Chị vẫn nhắc chuyện anh cho cậu em chồng hai quả trứng vịt lộn trong kỳ thi ở trường Chiến Tranh Chính Trị và ông Ðại tá chỉ huy trưởng hiền từ của anh. Chị nói anh ngang tàng, đôi lúc chị tức anh lắm, nhưng vẫn thương anh, hơn bất cứ ai, bởi anh là mẫu người của đàn ông, có chết cũng không than van, cầu khẩn, lúc nào cũng hào hùng, kiêu hãnh, giống như con chó sói bị thương trong bài “La mort du loup” của Vigny mình học năm nào đó… Anh nhớ không, hồi nhỏ, một lần anh đánh lộn với mấy thằng lối xóm chuyên chận đường chọc ghẹo tụi em, bị chảy máu mũi, mắt sưng vù, mà anh vẫn cắn răng chịu đau, không khóc, lại còn bị ba mắng cho nữa…

Tôi lắc đầu, cười buồn. Ôi, xa rồi kỷ niệm, nhắc làm chi hỡi em? Và đổi đề tài:

– Kha bây giờ ra sao? Có khỏe không em?

Kha là hôn phu của Bội Trân, phi công A37, dưới tôi hai lớp tại Jean-Jacques Rousseau. Sắp cưới thì mất nước. Vì Bội Trân ở lại, Kha cũng không đi.

Nghe tôi hỏi, Bội Trân chớp mắt, buồn rầu nhìn ra sân. Bầu trời thấp, đục, giăng mây xám, như sắp đổ mưa. Gió rừng tuôn qua vách nứa ngập gian nhà trống trải, không cửa, lạnh từng cơn. Em thì thầm:

– Mẹ và em đã ghé thăm Kha ở Hà Nam Ninh trên đường lên anh đây. Cũng tàn úa, như anh, như mọi người, sức khỏe giảm sút nhiều… Em sẽ chờ anh ấy, bao lâu cũng được.

Tôi quay sang mẹ, bùi ngùi nói:

– Tất cả đều do lỗi của con. Phải chi ngày đó con biết nghe lời em đưa gia đình…

Mẹ ngắt lời:

– Cả nước đều lầm, đâu phải riêng con. Chuyện cũ, thôi đừng nghĩ đến nữa.

Bội Trân tiếp:

– Nhưng có thế này em mới được về “phục viên” ở hẳn với ba mẹ chứ! Em vẫn thương anh và hãnh diện vì anh.
Mẹ và em nói đủ thứ chuyện, nhưng không đề cập đến một tin tôi chờ mà ngại không dám hỏi. Dường như hiểu ý, lúc mẹ quay qua tiếp một bà đồng hành ngồi cùng bàn, Bội Trân nắm bàn tay tôi, siết chặt, và khẽ nói:

– Lệ Ngà đã lấy chồng. Hai năm sau khi anh ra đi. Em đâu ngờ!

Tự dưng tôi buột miệng, không chút mỉa mai:

– Hai năm là còn khá thủy chung đấy chứ em!

Tôi tưởng sẽ phải đứng tim, ngất xỉu. Nhưng lạ quá, chỉ thấy buốt nhói một chút như kim châm. Có lẽ vì đã chuẩn bị đón nhận sự thật quá lâu, từ năm năm rồi. Một thiên thu. Chợt nhớ một anh bạn Thiết Giáp vừa vào Long Giao mấy tháng đã nhận được thư vợ xin anh cho phép “bước thêm một bước nữa” và ký vào tờ đơn ly dị và giấy nhường tài sản kèm theo, và cả đời tôi không quên được giọng cười khinh bạc của anh sau khi viết trả lời: “Nhất trí. Cho cô hết. Nhưng khuyên cô không nên bước, mà nên chạy cho nó nhanh.” Tôi không được như anh ta. Bởi vô vàn kỷ niệm ngát hương ngày mới yêu ùa về, thay nhau vỡ như bong bóng. Lệ Ngà. Bạn học thân thiết của Bội Trân.

Tà áo thiên thanh và dòng tóc buông lơi trong nắng sớm phi trường Liên Khương, những lần em bay lên gặp anh. Lệ Ngà. Những chiều đi dưới mưa lất phất qua những đồi thông, em hát nho nhỏ bài “Le jour où la pluie viendra… Ngày mà mưa đến, sẽ có bao nhiêu là giọt kim cương cho tình ta…” Những ly rượu Bordeaux sóng sánh ngọt lịm môi em trong quán L’eau Vive và bản “Appassionata” trên phím dương cầm thánh thót như từng giọt lệ rơi, thiết tha như lời tuyệt vọng gọi người tình về. Những vòng tay cuống quýt tìm nhau trong hoàng hôn tím trên đồi Cù. Những lời thề nguyền yêu đương cho đến lúc đầu bạc răng long. Lệ Ngà. Hạnh phúc dối gian và ảo vọng phù du. Tôi nhắm mắt giây lâu, nghe vị đắng và cơn giận thấm dần xương tủy. Và thở dài nhè nhẹ, nhìn Bội Trân không nói.
Ðâu phải tình cờ em nhắc đến con chó sói bị thương, cùng đường, của Vigny.

Em tiếp, giọng buồn rưng rưng:

– Không hiểu sao Ngà biết em sắp đi thăm anh. Ðến gặp em, lần đầu tiên sau mấy năm biệt tích. Em không nỡ đuổi. Khóc suốt buổi, nhưng không nói một lời gì về anh. Khi chia tay, chị ta nhờ em trao anh những phong chocolat Meunier mà chị ta nói ngày xưa anh rất thích, và cho em một số tiền làm lộ phí, nhưng dĩ nhiên em không nhận gì hết… Em biết tính anh quá mà!

Tôi nói cám ơn em. Rồi cả hai im lặng, đuổi theo ý nghĩ riêng…

Hai giờ trôi qua mau. Tên cán bộ vén tay áo xem đồng hồ, bảo tất cả chuẩn bị ra về, vác quà vào trại. Khi ôm hôn tôi từ biệt, lợi dụng tiếng ồn ào, Bội Trân nói một hơi, thật nhanh, qua màn lệ, bằng tiếng Pháp:

– Ba dặn anh đừng tin bọn Cộng sản, đừng khai thật, khai sao lặp lại y như vậy, đừng tin các phong trào phục quốc, tất cả đều là cạm bẫy của Việt Cộng. Em nghe đài VOA và BBC nói các nghị sĩ, dân biểu Mỹ, và cả thế giới đang quan tâm đến số phận của các anh. Ðừng tuyệt vọng nghe anh. Nhớ đọc kinh, cầu nguyện nhiều xin Chúa và Ðức Mẹ che chở. Cả nhà chờ anh đó. Em thương anh. Em thương anh.

Mẹ và em về hơn hai tháng, Nguyễn được chỉ định vào đội Xây Dựng, có nhiệm vụ cất nhà ở cho tù, heo, và cán bộ, và bắc cầu qua suối cho dân. Lúc đầu chàng phụ tá cho Lưu Ninh, thiếu tá Bộ Binh, trong tổ vữa (trộn hồ), và sau khi Ninh qua “khâu” lợp chàng được thăng chức tổ trưởng, và tổ phó là Ðào Văn Bảnh, Trung tá Bộ Tổng Tham Mưu. Bảnh tính tình điềm đạm, cởi mở, sau trở thành một trong những bạn tù thân thiết nhất. Không có tổ viên. Suốt ngày hai tên hì hục trộn hàng đống vữa lớn, nhỏ, để sẵn, chờ một toán đem xe cải tiến, do ông nhà báo Việt Tấn Xã Ðinh Phụng Tiến chỉ huy, đến xúc giao cho các thợ xây. Trong đội, nằm cạnh chàng, có Ðại đức Nguyễn Long, quê Quảng Ngãi, lo nấu nước, làm tạp dịch. Ông hiền lành, thật thà, ưa giúp đỡ mọi người. Nhiều đêm, vài anh nổi hứng, oang oang kể chuyện đàn bà con gái, chơi bời trước kia. Ông cũng bị nghe, và lần nào cũng lầm rầm bên tai Nguyễn:

– Mô Phật! Chơi chi mà chơi dữ rứa hè!

Bữa nọ, một bà già khu gia binh cho đội một con chó con vừa chết. Một anh gốc Hố Nai xung phong trổ tài nấu rựa mận với muối, rau muống, và củ riềng – mọc đầy bên vệ đường. Mỗi người được chia hai miếng bằng ngón chân cái. Ai cũng “hồ hởi” ăn, trừ Ðại Ðức Long. Ông đi tìm Nguyễn, cho phần của ông, mặc dù quanh năm ai cũng thiếu chất thịt và ông chưa được thăm nuôi. Ông nói:

– Tôi còn tu. Anh ăn giùm cho!

Một hôm, đội được điều động làm công tác “đột xuất” (bất ngờ) là ra “nghĩa địa”, tức một bãi đất trống sát chân núi, làm cỏ và cắm mộ bia cho các anh em đã nằm xuống. Nguyễn đếm gần hai trăm mộ – kỳ thực chỉ là những nấm đất vùi sơ với mảnh gỗ nhỏ ghi vội tên người chết. Trong số có vài ông tỉnh trưởng, trung đoàn trưởng. Có Trung tá Nguyễn Văn Năm, thuộc trường Ðại học CTCT, người hiền như Bụt, nổi tiếng về khoa bói toán, bấm độn, và một người quen biết từ trại Sơn La, Trung Tá Ðặng Bình Minh – cả hai trúng nắng cùng một lúc ngoài hiện trường lao động, được chở về trại cùng trong một chiếc xe trâu, hôn mê và qua đời cùng một giờ. Anh em kể, vợ phi công Minh, một dược sĩ trẻ đẹp, mới thăm anh vài ngày trước, từ Hà Nội trở lại thăm tiếp khi anh vừa mất, được dẫn ra nghĩa địa, khóc như mưa, rồi cắt tóc để lại trên mộ cùng với một bài thơ. Nguyễn vừa giẫy cỏ vừa thầm khấn các anh phù hộ cho tất cả tai qua nạn khỏi và mau về sum họp với gia đình. Và thắc mắc không hiểu sao bữa nay bọn cai tù lại tử tế như vậy. Thì ra, về sau mới biết, có một phái đoàn cao cấp đến thăm trại.

Cuối năm 1980, cả đội của Nguyễn được điều động đến K5 xây hội trường và khu gia binh cho công an. Tại đây, Nguyễn rất mừng được thấy lại Ðại Tá Nguyễn Quốc Quỳnh, mỗi buổi sáng tập họp. Kỳ này, trông ông đỡ tiều tụy. Tết 1981, mẹ chàng và Bội Trân ra Vĩnh Phú lần thứ hai, với Huyền Trân, cô em út xinh đẹp vừa tròn mười tám.

Chàng soạn một ít bánh mì khô, đường và mì gói, mấy viên thuốc cảm, bỏ vào một bọc ni-lông, chờ buổi chiều các đội đi tắm suối chung lẻn đến phía các “bò lục”, gặp Ðại Tá Quỳnh trao cho ông, nói:

– Tôi mới được thăm, xin biếu đại tá.

Hai tháng sau, đến lượt ông được thăm, và một buổi sáng Nguyễn đang đánh vữa thì đội của ông đi ngang. Ông gật đầu ra dấu cho chàng đến sát hàng rào kẽm gai và dúi vào tay một gói lương khô đủ loại. Thằng vệ binh thấy được, chạy tới khám. Không có thư từ, mật hiệu, nó trả lại, mồm càu nhàu:

– Quà với cáp linh tinh!

Lúc này, tổ vữa làm việc gần bếp và giếng nước cơ quan. Một hôm, một trung sĩ công an còn trẻ, lạ hoắc, lén vệ binh, đến gần, run run hỏi nhỏ:

– Các anh có B6, cho tôi xin một ít. Nhà tôi mới sinh bị phù (thũng) nặng.

Việc xảy ra đột ngột, Nguyễn và Bảnh đưa mắt nhìn nhau, không đáp, sợ bị gài bẫy. Anh ta vội tiếp:

– Nói thật đấy mà! Không tin, các anh cứ vào đây xem.

Suy nghĩ một hồi, Nguyễn đánh liều đi theo anh ta, còn Bảnh ở lại canh chừng đống vữa và tên vệ binh. Vào nhà, thấy chị vợ da mét xanh, mặt mày, tay chân sưng húp, nằm bên đứa con đỏ hỏn, bé như con chuột. Chị ta nói thuốc bệnh xá cấp thiếu, và không có thức ăn bổ dưỡng.

Hai anh chàng phân vân mãi. Ðối tượng giúp đỡ phải là bạn tù chứ, của đâu mà lo cho công an! Nhưng hầu hết anh em đều đã được thăm nuôi, hoặc nếu chưa, đã được Bảnh, Nguyễn và bạn bè chia sẻ phần nào rồi. Cuối cùng, động lòng trắc ẩn, cả hai góp lại được chừng bốn mươi viên B6 để dành từ các lần tiếp tế, đã quá hạn, nhưng không còn gì hơn, và một hộp sữa đặc cho đứa bé, đem giấu dưới một gốc cây, làm hiệu cho anh ta đến lấy. Hai tuần sau, một buổi trưa, chị vợ đang nấu bếp cơ quan thấy hai chàng thợ vữa đến, vội tiến ra, nhìn trước nhìn sau, bảo:

– Cảm ơn hai anh, hôm nay em đã đỡ nhiều. Có suất cơm trắng và miếng thịt trâu bồi dưỡng em mang cho hai anh ở gốc cây kia. Nhớ xem chừng cán bộ bảo vệ, kẻo em bị kiểm điểm…

Rồi từ đội Xây Dựng, Nguyễn được Linh Mục Trần Thanh Cao, giỏi nhạc, đẹp trai, vui tính, có quen biết ngoài đời, bốc về đội văn nghệ mới thành lập do ông làm đội trưởng, để tỵ nạn lao động vài tháng, mặc dù chàng dốt đặc về ca nhạc kịch. Nhân tài, cũng cỡ chàng, biệt phái từ các đội. Có ba anh giả ba sơn nữ Phà Ca mang gùi, đeo vòng, lắc lư múa theo bài Tiếng chày trên sóc Bom Bo, trông xa, và vì vắng đàn bà lâu ngày, thấy cũng hấp dẫn không thua Thanh Nga. Có tổ cải lương với đầy đủ vai hề, đào thương, kép độc. Ðội được lệnh trình diễn giúp vui một phái đoàn thanh tra trung ương. Cha Cao cho Nguyễn vào ban hợp xướng, bè alto ngang phè phè. Ông khuyến khích các ca viên:

– Ăn sắn và hút thuốc lào mà hát như vậy là được rồi!

Một hôm, trại phó đến thăm. Ban hát đang tập một bài có nhắc tên Hồ Chí Minh và hang Pắc Pó, hay ao sen, ao cá gì đó, do cha Cao đặt hòa âm thành bốn bè, mỗi bè tập riêng. Hắn chăm chú nghe, vui vẻ, rồi bỗng nhăn mặt, gọi cha Cao lại, giận dữ quát:

– Anh bôi bác cách mạng đấy phỏng? Tên Bác kính yêu như thế mà… mà anh dám đổi nà Hô, Hố, Hộ, Hổ như thế thì… thì nà anh nếu náo thật!

Cha phân trần, nhưng hắn gạt đi:

– Bỏ, bỏ tất! Bè với không bè!

Lần khác, hắn đến xem tập kịch. Hắn lại nhăn mặt, lại gọi cha Cao, chỉ tay về phía ông trung tá nhà văn trọng tuổi, bút danh Ký giả Lô Răng, đóng vai một cán bộ huyện. Nguyễn đứng gần cha Cao, nghe hắn bảo:

– Thay anh kia cho tôi! Cán bộ cách mạng chúng tôi không bao giờ đi chân thọt! Anh có ý đồ phải không?

Cha Cao ngẩn người ra, cứng họng. Bấy giờ, Nguyễn mới nhìn kỹ ông kịch sĩ xui xẻo. Quả thật, chân bước của ông hơi khập khiễng.

Văn nghệ xong, đội giải tán trong sự tiếc nuối của các nghệ sĩ bất đắc dĩ. Cha Cao đi trồng mía. Nguyễn bị hoàn trả về đội xây, đánh vữa trở lại với Ðào Văn Bảnh.

Bất ngờ, lại bị “biên chế” nữa. Các sĩ quan cấp tá và tuyên úy một sáng sớm phải lên đường di chuyển về một nơi nào không rõ. Nguyễn ngồi trong hàng nhìn theo bóng Ðại tá Quỳnh và bạn bè, có cả Ðại đức Long và cha Cao, lầm lũi bước lên xe, mang theo những túi tư trang gọn nhẹ, như chính cuộc đời trống vắng, buồn tênh của đám tù nhân. Lần đó, chàng nghĩ khó còn gặp lại nhau, và tự dưng lòng nao nao như mất người thân thuộc.

Năm sau, đội Xây Dựng được trở về K1. Mỗi tối, khi cửa buồng giam đóng lại, từng nhóm tụm năm tụm ba nhỏ to nói chuyện, đánh cờ, uống nước trà, hoặc bàn luận thời cuộc từ những tin tức hiếm hoi, thường phóng đại, do các bà thăm nuôi cung cấp. Thời gian này, Nguyễn được nhóm thân hữu đặt biệt danh “bình luận gia tin tức quốc tế”. Một cách thành thật, tự tin, chàng phân tích theo chiều hướng có lợi, hợp với ước vọng của mọi người, trong khi thực tế có lẽ khác xa. Bọn cán bộ hình như về sau cũng muốn thả lỏng, miễn đừng ai phá phách, trốn trại, trốn lao động, hoặc công khai “phản động”. Những giàn ăng-ten bị bứng hết, và anh em có thể phát biểu vung vít, thoải mái, trong nội bộ từng nhóm. Bảy năm rồi còn gì! Ðau khổ đã thành thói quen. Nhớ vợ thương con cũng đã chìm sâu vào tận cuối hồn. Không còn những anh đêm khuya khóc rưng rức trong chăn của thời gian đầu xa gia đình êm ấm. Trái tim hóa thành đá hết rồi. Giờ đây, phản kháng, dưới hình thức nào đó, bùng lên từ sự chịu đựng câm nín dồn ép qua nhiều năm. Có người khai bệnh nghỉ lao động dài dài. Hoặc giả khùng chửi xéo chế độ. Hoặc còn đập cả vệ binh hỗn láo để rồi, dĩ nhiên, bị biệt giam và hành hạ dã man. Nguyễn bắt đầu để râu, làm tên quản giáo Vinh – nói ngọng, chữ tr thành t, chữ l thành n – rất ngứa mắt, bắt kiểm điểm, nên thấy hắn từ xa chàng lánh mặt.

Trong buồng giam có một anh chuyên “chiếu phim”, tức kể chuyện, thật hay và duyên dáng. Tối đến, tù nhân bu quanh, thay nhau rót trà, mời kẹo, đấm lưng cho anh ta, để được nghe kể đủ thứ chuyện, từ Cô gái Ðồ Long đến La valse dans l’ombre qua Thần điêu đại hiệp. Một anh nữa, Trung Úy Phạm Hữu Lý, xuất thân trường Ðại Học CTCT, hát nhạc vàng rất mùi. Suốt một đêm giao thừa, Lý ca một hơi hơn một chục bản tình lâm ly, như Chiều mưa biên giới anh đi về đâu hoặc Xuân này nếu con không về, chắc mẹ buồn lắm, làm ai nấy mắt cay sè, muốn khóc. Bọn vệ binh gác cửa, đa số là thanh niên mới lớn, nghệt cổ ra nghe, thậm chí còn bảo “anh lào đó hát nại” vài câu…

Ðại Tá Nguyễn Quốc Quỳnh và hầu hết các nhân vật trong “truyện” này kẻ trước người sau đã đến bến bờ tự do. Từ Rose City, thỉnh thoảng tôi gọi ông hay viết thư thăm hỏi. Ðại úy Hoàng Bá Linh, Thiếu tá Lê Ân, Trung tá Ðào Văn Bảnh đã mất sau khi ra khỏi tù, trong những hoàn cảnh khác nhau. Phi công Nguyễn Hữu Trí không rõ trôi dạt phương nào, cũng như cha Trần Thanh Cao và thầy Nguyễn Long.

Mẹ tôi, đã ngoài tám mươi, vẫn còn nơi quê nhà, ở với Huyền Trân và chồng con. Ba tôi mất, không được gặp mặt. Những người em “cải tạo” về, lần lượt định cư tại các nước, trừ Kha chết trong tù. Bội Trân ở vậy, không yêu ai nữa, đúng theo lời thề hứa, trước khi trở thành một nữ tu dòng kín, giữa tuổi thanh xuân, làm nhiều con tim tan nát. Lệ Ngà yên ngủ giấc ngàn thu, sau một cơn bạo bệnh, trả hết cho dương gian những si mê và tình yêu mật đắng. Còn tôi, sau bao năm vật vã để vá lại mảnh đời rách mướp, đã bắt tay được với hạnh phúc – nhỏ nhoi so với nỗi đau ngút ngàn phải trải qua. Nhưng hồn vẫn chơi vơi theo kỷ niệm chỉ chực òa vỡ mỗi lần ở đầu dây tiếng mẹ và em từ bên trời cũ, hoặc Ðại Tá Quỳnh từ Florida, vang lên.

Nữ tu Marie-Amélie Bội Trân nhắc Nguyễn nên tha thứ, tha thứ, tha thứ, và nói tất cả chỉ là thử thách Chúa đã gửi đến. Nhưng đối với bạo quyền Việt Cộng, chàng nói, làm sao tha thứ cho được? Ðó là một bọn người gian manh, độc tài, chuyên chế, đã dìm cả đất nước vào cảnh lầm than, đói khổ, qua ba mươi năm, và bây giờ lại còn đốn mạt dâng đất, dâng biển cho quan thầy Trung Cộng, mối họa muôn đời của dân tộc. Hận thù, Nguyễn sẽ không bao giờ quên, mặc ai phỉnh gạt, kêu gào hòa giải hòa hợp. Vì chàng vẫn tin – theo như lời viên đại tướng tổng tài La Mã nói với Ben-Hur lúc còn là một tù nhân chèo thuyền (galérien) trong phim cùng tên, Ben-Hur- rằng hận thù cho sức mạnh, làm ta sống còn.

Portland, cho Mùa Quốc Hận 2013

[Viết lần đầu năm 2005, một năm trước ngày mẹ mất (tại Nha Trang, 7/2006)]

WikiLeaks công bố 1.7 triệu hồ sơ mật của Mỹ

 


LONDONWikiLeaks vừa công bố hơn 1.7 triệu hồ sơ mật của Mỹ, gồm các báo cáo về ngoại giao và tình báo, liên hệ đến mọi quốc gia trên thế giới, theo tường thuật của The Guardian.









Một trang mạng của WikiLeaks hồi Tháng Hai, 2012. (Hình: Karen Bleier/AFP/Getty Images)


Julian Assange, chủ nhân trang mạng cho biết, các dữ kiện chưa từng được tiết lộ trước đây, gồm những báo cáo ngoại giao trong thời gian từ đầu 1973 đến cuối 1976, qua những hình thức liên lạc ngoại giao như công điện, báo cáo tình báo và liên lạc thư tín của Quốc Hội. Đáng chú ý là trong đó có nhiều văn kiện của cựu ngoại trưởng Henry Kissinger, là người từng làm ngoại trưởng Mỹ và cố vấn an ninh quốc gia trong thời kỳ dữ kiện tiết lộ, và nhiều văn kiện do chính ông viết hoặc được gửi trực tiếp đến ông.


Ông Assange nói, WikiLeaks đã làm việc trong suốt năm qua để xem xét và phân tích cả một núi dữ kiện lưu trữ trong văn khố quốc gia Hoa Kỳ, trước khi được tung ra dưới một hình thức dễ tham khảo, mà WikiLeaks gọi tên là Public Library of US Diplomacy (PlusD). Đồng thời WikiLeaks miêu tả đây như là một bộ sưu tập hồ sơ mật của Mỹ, hay những liên lạc ngoại giao trước đây.


Ông Assange hiện đang tạm trú trong tòa đại sứ Ecuador ở London, nơi ông xin tị nạn từ hồi Tháng Sáu năm ngoái, sau khi vận động thất bại để khỏi bị dẫn độ về Thụy Điển, nơi ông phải ra trả lời trước tòa về những cáo buộc, rằng ông đã hiếp dâm và tấn công tình dục hai phụ nữ. (TP)

Tử vi Ðông Phương

Tử vi Ðông Phương do chiêm tinh gia & Ðịa Lý Phước Lộc biên soạn

13391 Magnolia St ., Garden Grove , CA 92844

Ðiện thoại: (714) 530-7068


 


Tuổi Tý

-Giáp Tý 30 tuổi: Ðã giải quyết được phần nào chuyện tình cảm rối rắm khiến đầu óc nhẹ nhàng hơn. Công việc làm vẫn tốt đẹp, có quý nhân nâng đỡ. Có của hoạch tài nhỏ bất ngờ.

-Nhâm Tý 42 tuổi: Thật cẩn thận trong nghề nghiệp, trong sự làm ăn kẻo có tiểu nhân rình rập, chờ tìm cơ hôi khuấy phá. Tình cảm cá nhân vui vẻ, thoải mái. Tài lộc bình thường.

-Canh Tý 54 tuổi: Nên tận tâm hướng dẫn con cái, hòa mình với chúng, đừng trách cứ, nghiêm khắc chỉ làm sự xa cách thêm trầm trọng mà thôi. Ðã có nhiều tin vui cho nghề nghiệp và tài lộc giải tỏa sự căng thẳng.

-Mậu Tý 66 tuổi: Vẫn còn phải bôn ba trong công việc của mình nhiều mà chưa đạt được kết quả như ý, tuy có một số thuận lợi đáng kể. Coi chừng tiểu nhân ganh ghét, nói xấu. Gia đạo bình yên.


Tuổi Sửu

-Ất Sửu 29 tuổi: Có sự trục trặc công ăn việc làm. Nên chăm chỉ cần cù để đừng mắc vào những khuyết điểm của tuổi trẻ, gây trở ngại cho nghề nghiệp đang làm. Tình cảm cá nhân vui.

-Quý Sửu 41 tuổi: Tính chuyện đi xa nhưng vẫn còn trở ngại đôi chút. Cẩn thận về giấy tờ liên quan đến pháp lý cũng như khi lái xe cộ, cần tập trung kẻo dễ bị phạt vì vi phạm lưu thông.

-Tân Sửu 53 tuổi: Chuyện chờ đợi tin vui vì nghề nghiệp đã đến. Sắp xếp, chuẩn bị thật kỹ trước khi bắt tay vào công việc mới để đỡ vất vả lúc khởi đầu. Gia đình, con cái mang nhiều niềm vui cho bản thân.

-Kỷ Sửu 65 tuổi: Ðừng thúc ép con cái về tài chánh thái quá gây ra sự cách xa, rạn nứt giữa cha mẹ và các con, ảnh hưởng rất xấu cho tương lai sau này. Coi chừng về sức khỏe.


Tuổi Dần

-Bính Dần 28 tuổi: Cố gắng trấn áp chuyện tình cảm kẻo càng đi sâu, càng lún lầy, tinh thần càng rối loạn. Nên nghe lời người thân thộc, lớn tuổi đã có kinh nghiệm chỉ dẫn để qua khỏi cơn rối này.

-Giáp Dần 40 tuổi: Nghề nghiệp, công việc kinh doanh chưa có gì tiến bộ cho lắm. Ðã thế lại gặp nhiều chuyện lộn xộn về tình cảm cá nhân làm rối trí thật nhiều. Phải thật bình tĩnh để giải quyết từng phần.

-Nhâm Dần 52 tuổi: Tài lộc mang đến niềm vui thật nhiều. Tuy nhiên, trong gia đạo có sự hiểu lầm gây căng thẳng. Phải nên dùng mềm mỏng nhu thuận giải quyết mới được. “Cứng quá tất gẫy mà thôi”.

-Canh Dần 64 tuổi: Công việc tưởng như bế tắc, khó có cơ hội thực hiện, lại được quý nhân giúp đỡ hóa giải được. Có tin vui từ xa tới. Gia đạo bình an. Ði xa có lợi.


Tuổi Mão

-Ðinh Mão 27 tuổi: Không nên ham vui đi chơi xa hoặc tụ tập bạn bè đông đúc sẽ có tai họa không ngờ được. Hãy còn trong thời gian đề phòng chuyện rủi xảy đến.

-Ất Mão 39 tuổi: Thành công trong nghề nghiệp, mọi việc đều được đắc ý, tiền tài vượng. Tuy vậy, cần đề phòng kẻ tiểu nhân ganh ghét, mưu hại. Tình cảm cá nhân vui vẻ.

-Quý Mão 51 tuổi: Một vài tin tức mang lại hy vọng cho công việc mới sắp tới. Không nên đùa giỡn với chuyện tình cảm kẻo rút chân ra thì đã trễ. Gia đạo hơi xào xáo đấy.

-Tân Mão 63 tuổi: Những trở ngại về chuyện làm ăn không còn nữa. Mọi sự đã như ý. Tuy vậy, tiền bạc chưa được hài lòng nhiều. Phải thời gian ngắn nữa mới thoải mái.


Tuổi Thìn

-Mậu Thìn 26 tuổi: Tình cảm cá nhân thoải mái. Tài chánh tương đối ổn định. Công việc làm có đôi chút rắc rối, phải âu lo. Nhưng lại có quí nhân giúp đỡ. Mọi chuyện lại an bình.

-Bính Thìn 38 tuổi: Công việc làm ăn hơi bị xuống trong thời gian này, chỉ vượng ở cuối tuần. Tài chánh tương đối yếu kém nhưng chưa phải là tuyệt vọng, kiên nhẫn một chút.

-Giáp Thìn 50 tuổi: Không nên phát ngôn không cẩn trọng kẻo bị họa khẩu thiệt vào thân. Cẩn thận thật nhiều về xe cộ.


-Nhâm Thìn 62 tuổi: Vẫn hãy còn phải nhẫn nhịn, có như thế mới tránh được khắc khẩu, thị phi ở mọi nơi. May mắn nhỏ về tiền bạc cũng như có hỷ sự trong gia đình.


Tuổi Tỵ

-Kỷ Tỵ 25 tuổi: Tình cảm cá nhân lủng củng khiến tinh thần không được tập trung. Lúc này, nên lo về chuyện học hành hoặc trau dồi nghề nghiệp tốt hơn, đừng lo nghĩ vẩn vơ.

-Ðinh Tỵ 37 tuổi: Trong gia đạo, không nên ương ngạnh thái quá khiến cho những người thân mất vui. Công việc và tài lộc vẫn tiến triển tốt đẹp. Cẩn thận có tiểu nhân ganh ghét.

-Ất Tỵ 49 tuổi: Nghề nghiệp gặp trở ngại bất ngờ do chuyện thân nhân trong gia đình gặp không may. Lo lắng, suy nghĩ là chuyện dĩ nhiên, nhưng cần bảo trọng về sức khỏe đấy.

-Quý Tỵ 61 tuổi: Sức khỏe khả quan. Nhận được tin vui về học vấn của con cái. Nghề nghiệp và tiền bạc hanh thông. Có quý nhân trợ giúp mọi mặt. Cẩn thận về xe cộ.


Tuổi Ngọ

-Canh Ngọ 24 tuổi: Vẫn còn gặp chuyện hên may trong nghề nghiệp, tuy phải di chuyển nhiều. Trong tình cảm, đừng giận hờn vô lối để rồi lại mang những sự buồn phiền vào thân.

-Mậu Ngọ 36 tuổi: Quyết định được những dự tính đã ấp ủ từ lâu. Nhưng chắc chắn không hanh thông ngay đâu mà còn gặp một vài trở ngại nhỏ trước đã. Tài lộc tương đối tốt đẹp, gia đạo đầm ấm vui vẻ.

-Bính Ngọ 48 tuổi: Có những chiều hướng tưởng như thật tốt đẹp cho công việc làm ăn. Nhưng phải coi chừng, tính toán cho kỹ, kẻo bắt tay vào việc mới gặp rắc rối, phiền toái đó.

-Giáp Ngọ 60 tuổi: Tất cả mọi công chuyện đều vẫn diễn tiến một cách tốt đẹp. Có tài lộc bất ngờ mang đến. Con cháu mang về nhiều niềm vui cho gia đạo.


Tuổi Mùi

-Kỷ Mùi 35 tuổi: Nên dùng những lý luận để bẻ gẫy những sự thị phi, những lời nói có hàm ý bôi bác có hại cho bản thân, hơn là nổi nóng quá độ sẽ mất sự khôn ngoan. Tài lộc vẫn tốt đẹp.

-Ðinh Mùi 47 tuổi: Phải thật cẩn thận, cân nhắc kỹ càng trong công việc, nhất là khi phải hùn hạp với người khác kẻo dễ bị “tiền mất tật mang”. Lưu ý về con cái khi chúng giao du với bè bạn.

-Ất Mùi 59 tuổi: Công việc trở ngại bất ngờ khiến phải ưu tư, suy nghĩ nhiều. Nhưng yên tâm, sẽ có quý nhân trợ giúp và qua được sự khó khăn này. Ði xa, cẩn thận nhiều về xe cộ.

-Quý Mùi 71 tuổi: Có hỷ tín của con cháu trong nhà khiến gia đình nhộn nhịp hẳn lên. Tiền bạc tuy hao tốn, nhưng lại có món tiền bất ngờ mang đến. Cẩn thận về sức khỏe.


Tuổi Thân

-Canh Thân 34 tuổi: Những ngày cuối tuần sẽ có nhiều niềm vui mang đến. Lúc đầu nhiều chuyện rắc rối thị phi khiến bực mình, tinh thần không được thoải mái. Tài lộc có đôi chút âu lo vì chi phí nhiều.

-Mậu Thân 46 tuổi: Cẩn thận nhiều về xe cộ, nhất là những lúc di chuyển về đêm hôm tối trời. Cũng cẩn thận những kẻ gian phi trộm cắp. Tài lộc bình thường và có may mắn nhỏ.

-Bính Thân 58 tuổi: Có tin tức vui của thân nhân ở xa. Chuyện làm ăn thay đổi chưa được như dự tính, không những thế còn gặp một vài trục trặc nhỏ. Gia đạo bình yên.

-Giáp Thân 70 tuổi: Nên cố gắng bình tĩnh và mềm mỏng để cho qua đi những sự hiểu lầm gây mất vui trong gia đạo kéo dài. Tài lộc chưa được như ý, tuy có một vài sự thuận lợi.


Tuổi Dậu

-Tân Dậu 33 tuổi: Mềm mỏng hơn nữa để những xáo trộn về tình cảm lắng xuống. Gắng sức quá chỉ mang lại sự gãy đổ. Ðã vậy, phải đề phòng bạn bè đâm sau lưng, ganh ghét, nói xấu.

-Kỷ Dậu 45 tuổi: Tài chánh dẫu còn có một vài khó khăn nhưng đã dễ chịu nhiều. Công việc vẫn gặp được những may mắn, thuận lợi. Ðừng phiêu lưu tình cảm, không tốt đâu.

-Ðinh Dậu 57 tuổi: Có vài chuyện của con cái gây bực mình, căng thẳng cần trấn tĩnh phân tích mọi việc sẽ êm đẹp. Nghề nghiệp cũng như tài chánh vẫn được ổn định. Lưu tâm về xe cộ.

-Ất Dậu 69 tuổi: Chuyện làm ăn đã có nhiều tiến bộ đáng kể. Có thể khuếch trương lớn hơn. Tuy nhiên phải đề cao cảnh giác kẻ tiểu nhân ganh ghét, mưu hại. Tài lộc khả quan.



Tuổi Tuất


-Nhâm Tuất 32 tuổi: Ðừng sống một cách buông thả quá độ sẽ rước lấy hậu quả không hay. Hãy chú tâm vào công việc đang làm để đưa đến thành công tốt đẹp hơn. Tài chánh ổn định.

-Canh Tuất 44 tuổi: Có những may mắn bất ngờ đưa đến trong công việc làm ăn. Chuyện tình cảm có vài rắc rối nhỏ, cần bình tĩnh để khỏi bị lún lầy. Tiền bạc hanh thông thoải mái.

-Mậu Tuất 56 tuổi: Nghề nghiệp tuy có vẻ tốt đẹp nhưng bên trong vẫn còn những trục trặc nhỏ chưa giải quyết được. Sẽ có quý nhân giúp đỡ gỡ rối. Gia đạo có một vài xáo trộn nên lưu tâm.

-Bính Tuất 68 tuổi: Tài chánh gặp nhiều sự căng thẳng vì phải chi phí nhiều vì những chuyện chẳng đặng đừng. Tuy vậy, lại có may mắn bất ngờ. Nghề nghiệp vẫn tốt đẹp.


Tuổi Hợi

-Quý Hợi 31 tuổi: Phải tự kiềm chế về vấn đề tình cảm kẻo không sẽ ảnh hưởng xấu đến nhiều sự việc. Nghề nghiệp có vài trắc trở cần phải dốc tâm nhiều hơn nữa. Có tài lộc nhỏ.

-Tân Hợi 43 tuổi: Ðã dàn xếp êm đẹp chuyện rắc rối trong gia đình. Công việc hiện tại vẫn diễn tiến một cách thuận lợi, tiền bạc thoải mái tuy phải chi phí linh tinh hơi nhiều.


-Kỷ Hợi 55 tuổi: Tài chánh tuy có những thuận lợi nhưng vẫn chưa đáp ứng được như ý muốn. Việc làm đã trôi chảy đều đặn. Ðề phòng về sự giao du bất lợi của con cái.

-Ðinh Hợi 67 tuổi: Cơ hội thuận tiện đưa đến để giải quyết được những trắc trở trong nghề nghiệp hiện tại. Thời điểm này đã bớt được sự lo lắng về tài chánh. Gia đạo êm ấm.

Thơ Trần Vấn Lệ

 


Ngày Hạ


Ngày Hạ. Buồn hiu. Buồn thật buồn
Sáng, mờ sương khói; trưa mù sương
Một ngày chờ đợi mưa mai mốt
Một nhớ chi thì cũng thấy thương…


Ngày Hạ. Có khi ngày chẳng nắng
Ðất trời chuyển dạ, trách ai đây?
Bảo rằng ý Chúa, Trời ơi Chúa
Ngậm ngãi tìm trầm, gió thổi bay!


Ngày Hạ. Tiếng chuông Chùa chẳng khác
Gặp Thầy, Thầy đứng ngó xa xăm
Ðiều mình thắc mắc, Thầy không đáp
“Con ạ, Vô Thường cõi thế gian!”


Ngày Hạ, nghĩa là Xuân mới hết
Vài ba tháng nữa thấy Thu về
Bận lòng, chỉ rối thêm trăm mối
Mà gỡ suông thì… mất giấc khuya!


Anh nghĩ tới em, thèm thấy nắng
Nắng hôm nay lặn chắc phương Ðoài?
Thôi thì phương Bắc, tương tư vậy
Ðời, dãi trường giang nước cứ trôi…


Thôi thì phương Bắc, tương tư vậy
Ðời, dãi trường giang nước cứ trôi
Chín nhớ mười thương, còn một nhớ
Nhớ thêm… thêm nhớ miệng em cười!

Thơ Trang Y Hạ

 


Hồn em bội thực thơ


Bài thơ tình đậm đặc những lời yêu
yêu bội thực, thành ra thừa mứa
và mỗi ngày không còn nhớ bữa
từ: sáng, trưa – kể cả bữa chiều


anh mần thơ cho em chi mà quá nhiều
trong phòng em không còn chỗ trống
xưa lang thang bụng em trống rỗng
rồi bỗng nhiên lum lúp thơ anh


sao anh không mần thơ yêu màu xanh
yêu màu xanh trên quê hương mình đó
sao anh không chia thơ cho mẹ già nghèo khó
cho các em thơ vất vưởng ngoài đường


những phận người bệnh hoạn thân thương
những con người tù đày – vô lý
sao anh không chia thơ cho cô em làm đĩ
cô gái quê lấy chồng ngoại, chồng xa
những cô gái bị đem bán cho người ta
bán cho bọn người không cùng dòng giống


sao anh không chia thơ cho người muốn sống
sống đời Tự Do
được quyền: ăn nói, được đi lại – không phải lo
lo bị bắt tù đày trong ngục tối
sao anh không chia thơ cho người có tội
tội: yêu nước, tội chống xâm lăng…


những mảnh đời nghèo đói – thiếu chăn
lê thân trên con đường lầy lội
trên dòng sông chưa có cây cầu
trẻ thơ từng ngày lội nước qua sông sâu
đi tìm cái chữ
sao anh không chia thơ cho đất ruộng vậy hử
những dân oan cõng đơn nặng trĩu tháng năm
sao anh không dẫn thơ về thăm
những ngôi mộ chết oan
tiếng kêu khóc ngút ngàn
sao anh không dẫn thơ về thăm
ải Nam Quan
Hoàng Sa tổ quốc


anh ơi – em cảm ơn anh, nhưng em nói thực
anh làm thơ ẩn dụ vào tình em quá sâu:
em quíu chân, quíu tay
lẫn lộn ở trong đầu
những lời thơ cao siêu em chẳng hiểu chi cả
không hiểu nổi thơ – em trở thành kẻ xa lạ
thế nào rồi em cũng mất anh


hằng ngày anh ở tận mây xanh
anh quên mất từng: củ khoai củ sắn
anh quên hết những tháng ngày cay đắng
quê hương lửa đạn oan khiên
không hiểu thơ anh, có ngày em cũng hóa điên
hay bội thực – ói không ra mà chết
thơ tình anh chơi vơi lượn lờ con diều biếc
không nhớ nổi tuổi mình còn hay không
con diều bay vui chơi trên cánh đồng
vẫn còn mang nợ
nợ người chơi diều với một sợi dây


dù không hiểu thơ anh – trong lòng em ngất ngây
bội thực thơ, bụng em bự-choảng
anh tỉnh giấc: nhìn tình người nứt rạn
anh tỉnh giấc: nhìn dân tộc lâm nguy.

Thơ Nhược Thu

 


Cánh Chim


Em ngắm mây bay bước giữa đời
Còn ta ngắm nước vẫn đang trôi
Trôi đâu hay chảy về vô tận?
Mà chẳng giây nào biết nghỉ ngơi


Em ước là cơn gió mấy mùa?
Mùa đi mùa đến, thắng và thua
Làm sao ta biết mùa đang nắng
Mà vẫn âm thầm tim đổ mưa


Ta biết đời như một cánh chim
Bao la trời rộng biết đâu tìm
Giữa mùa đông giá hay xuân ấm
Xoải cánh bao giờ mộng lắng im..?
____


Biệt Khúc Tháng Tư


Em có nỗi buồn của Tháng Ba
Chìm sâu hun hút tuổi thơ ngà
Người đi in dấu chân vào Hạ
Tình ngỡ như gần sao rất xa


Ta có nỗi buồn của Tháng Tư
Như cơn nước xoáy giữa ao tù
Hoa rơi gió cuốn bao ngày đó
Nào biết dừng đâu bước viễn du


Em có nỗi buồn vương tiếng ve
Như con châu chấu nhớ trưa hè
Bàn chân dò dẫm đời muôn ngả
Mỗi bước xa dần bóng lũy tre


Ta có nỗi buồn như đạn nổ
Vẫn nghe ầm ĩ chốn xa xôi
Quê hương ngào ngạt như cơm vắt
Ta vắt mang theo trọn cuộc đời


Em rửa nỗi buồn trong mắt ướt
Làm mưa thành phố cũng ghen hờn
Làm ta nơi chốn muôn trùng lạnh
Then cửa tim gài gió trống trơn


Ta ủ nỗi buồn trong nệm ấm
Nỗi buồn bỗng mọc những thân gai
Cào thơ rách sướt đời bao mảnh
Làm cả trời xuân cũng thở dài ….
(23 tháng 3, 2013)

(Nguồn: www.bentrang-nhuocthu.com)

Thơ Nguyễn Thị Khánh Minh

 


Mầu đỏ trong nhớ


 


Tôi không thể nối kết lành lặn những hình ảnh trong ký ức


Khi nhắm mắt lại


Li ti mạch máu đỏ


Những con đường ngõ hẹp không tên… 


… Một đường chỉ thêu màu đỏ bị lỗi trên vuông vải trắng


Cô mắng. Ngày đó tôi thường hay khóc. Sân trường tôi có cột cờ, tôi hay nhìn ba đường đỏ lượn phần phật trong gió. Gió Nha Trang ươm mùi muối. Ba đường đỏ lênh đênh sóng mặn.


… Thềm nhà tôi gạch đỏ, hung nóng những buổi trưa ngóng mẹ, bỏng bàn chân 8 tuổi.


… Thềm nhà tôi gạch đỏ, thẫm lên những chiều mưa, tim con bé đập rền tiếng xe lửa, mưa ẩn hiện một toa tầu thường chở cha đi xa.


… Ngày đó tôi hay đứng một mình. Với cô bạn búp bê, áo đầm cài nơ đỏ, phần thưởng một bài thơ thiếu nhi đăng báo, làm tôi nhớ ông bác nhà văn, ngày ấy chiếc khăn tay của bác có vài giọt máu đỏ. Tôi sợ. Nhưng bác không chết vì bệnh. Bác đã đi về biển xanh vào một Tháng Tư phượng đỏ, trước khi tôi có thể viết tặng bác một bài thơ.


… Tôi nhớ mảnh giấy vở học trò ghi số tiền để mua cho anh tôi một chiếc xe goebel*. Anh nói, phải màu đỏ, chiếc xe anh mơ suốt thời học trò, bảo, để chở em đi trên đường biển Nha Trang lộng gió. Anh ơi, bởi tiền bánh vẽ nên chiếc xe được mua trong mơ, và, mãi mãi, anh chở em đi trên biển bờ giấc mộng.


… Tôi nhớ giọng đọc chính tả buồn buồn. Mỗi buổi chiều. Thầy Hòa đi chiếc xe đạp màu đỏ, và trên túi thầy luôn có một cây Bic** đỏ. Không hiểu sao ngày đó tôi đã không ưa màu đỏ những điểm chấm bài. Thầy hay kể chuyện ma, ngày đó tôi sợ những hồn lân tinh đỏ bay đêm.


… Trong giấc ngủ tôi thường giật mình bước hụt, như bị ai kéo chân đi, ngày đó trước khi ngủ tôi vẫn cẩn thận cài đôi chân mình dưới tấm chăn in hình hoa đỏ. Hoa giấy đỏ ngoài thềm lung linh giấc ngủ, ngôi nhà trắng bập bùng bếp lửa, chuông nhà thờ đánh đu lễ hội mộng du, trang cổ tích cô bé lọ lem nhàu trong bàn tay mớ ngủ… 


Nỗi sợ rất đỏ


Một mầu hoa


Lửa Tháng Tư. Tràn trưa.


Ngày như một cái lò nướng


Ai vặn quá lửa một tin dữ


Thành phố và người


Bỏng. Khát. Khô. Ngơ ngác.


Nhà cửa và cây và những con đường và hai hàng lá đỏ. Ứa đỏ mùa phượng vĩ, bạn tôi khóc rằng, huyết phượng*


Trưa Tháng Tư cong vòng lưng em tôi ôm con chó nhỏ mới qua đời, con chó nhỏ thổ mầu huyết phượng. Trời trồng đứng bóng.


Dòng sông chảy từ mắt người trôi về bao la biển, mầu xanh một thời âm vang huyết biển…*** 


Tôi không thể nối lại êm đềm


Ôi, khi tôi nhắm mắt.


Những đường hoa mắt li ti đỏ…


Những con đường tôi đã biết gọi tên.


___ 


*Tên một loại xe gắn máy của Ðức, thông dụng vào những năm 60′


**Tên một hiệu bút vào những năm 60′, hồi đó gọi là viết nguyên tử.


***chữ Nguyễn Lương Vỵ

Thơ Ðồng Thị Chúc

 


Lỗi lầm


Chỉ vì tay giở nhầm trang
Nên giờ em chịu muôn vàn đắng cay
Trời thì cao đất thì dày
Kêu đâu thấu được nỗi này, ngoài em.


Muốn ăn sung rụng: ngồi thềm
Em tìm sung rụng khắp triền núi non.
Mải đi tìm mặt trời con
Thấy vành trăng khuyết ngỡ tròn, lạ thay


Sương mù lại tưởng mưa rây
Ðang đem khăn dội lại bày nón che
Mò thuyền dưới đáy lòng khe
Gặp cây gỗ mục sắt se nỗi lòng.


Những mơ lặng bể mênh mông
Nào hay đen bạc bão giông tình người
Ngờ đâu nghịch cảnh nghịch đời:
Dòng sông quặt ngược, ngọn đồi quay ngang.


Mỗi lầm lỗi mỗi bàng hoàng
Nhận ra lọn tóc bạc ngang mái đầu.

(Nguồn: Son Ng.; [email protected])

Thơ Cao Thị Nguyệt Lãng

 


Trắng buốt một linh hồn


Lang thang ta đi trên đồng khô
xuân non run rẩy giữa đôi bờ
không mây, có thật trời không mây
mà sao trắng buốt một linh hồn


mà sao vời vợi tình quê đó
mỗi xuân rêm nhức vết thương trầm
tháng tư chảy thành dòng máu đỏ
đất khóc hờn gò mộ oan khiên


Gió cuồng quét phận người tan tác
mười phương. Bụi ám khúc hận ca
Bước đi mãi với bao lần nhật nguyệt
tìm đâu ra ngõ về nhà ta


Ðã nhiều lúc chong mắt đêm lạnh
nâng niu một bóng lửa nhỏ nhoi
ngọn lửa thật xa, có lúc rất gần
vọng ước ngày thắm tươi đến thật


Trưa nay chợt nắng màu nhiệt đới
thảng thốt gà đâu gáy rã rời
trắng xóa nắng tràn lên tóc mẹ
gửi theo mây trôi về nơi đây


Thôi hãy khép lại miền đau thương ấy
ngồi xuống đây ngắm hoa cỏ đang về.
Bao mùa hoa thong thả trở về
Nhưng lại có giọt lệ, lăn, đôi mắt tối.

(Nguồn: Tác giả gửi qua sangtao@org)

Chuyện các cậu bé con

Trangđài Glassey-Trầnguyễn
(Riêng tặng “cậu bé con” của tôi)


Học ăn, học nói, học gói, học mở
Hỡi các cậu bé con
Tuổi các cậu còn son
Các cậu hãy chăm học
Có học mới nên khôn


Có hai cái học khác nhau: học ở trường đời, và học ở trường lớp. Có những điều, thầy cô và phụ huynh có cố công hướng dẫn đi nữa, nhưng chính các thiếu niên phải trải qua những kinh nghiệm tùy theo lứa tuổi của mình để thành nhân. Trong xã hội hôm nay, bài học nhân bản đôi khi phải đi ăn mày trên một mảnh đất thu hẹp vì thế giới tuổi thơ hiện đại đã bị máy móc hóa nhiều. Nhiều trường hợp báo động về trẻ em nghiện ngập Internet và trò chơi điện tử đã khiến cho các bậc phụ huynh lo sợ cho tình trạng sức khỏe tinh thần và tâm trí của con em. Một phương cách để dung hòa sự xung khắc ‘mới cũ’ trong đời sống tân tiến của thế kỷ 21 là khuyến khích và hướng dẫn con em đi vào những phương cách và đề tài giải trí khác. Chúng ta cùng tìm hiểu hai tác phẩm dành cho thiếu nhi ở hai lục địa và hai thời điểm khác nhau, để thử xem ngoài các trò chơi công nghệ hóa, những sinh hoạt nào có thể đóng góp cho quá trình phát triển hài hòa và lành mạnh của thanh thiếu niên.








Giấc mơ hải tặc


Tom Sawyer, 1876, là một sách truyện trẻ em kinh điển của văn hào Mark Twain, và được tác giả ưu ái gọi là “hymn’ to boyhood” (xin dịch: ‘bài thánh ca’ cho tuổi nam ấu). Tuy chỉ là tác phẩm thứ hai của Twain,nhưng ông đã rất nổi tiếng vào thời điểm ấy,đặc biệt là vì lối hành văn dí dỏm và tài kể chuyện rất thu hút của mình. Tom Sawyer được nhiều độc giả thuộc mọi lứa tuổi ưa thích qua nhiều thời đại, và có mặt ở mọi thư viện tại Mỹ.

Câu chuyện xoay quanh đời sống của một cậu bé mồ côi lớn lên cùng dì Polly trên sông nước của vùng Mississippi. Tom nghịch ngợm, ngổ ngáo, ngang ngược, và rất bạo gan. Không có chuyện gì Tom không dám làm, và kiên trì làm đến nơi đến chốn. Mark Twain có tài giữ độc giả bằng những câu chuyện đan chéo nhau: chuyện mê tín dị đoan, chuyện cậu bé hỉ mũi chưa sạch tỏ tình, chuyện ‘anh hùng cứu mỹ nhân’ (Tom chịu đòn thay cho Becky khi cô bé lỡ tay xé rách sách vần của thầy giáo), chuyện bầy con nít học làm hải tặc. Một thế giới trẻ con nhộn nhịp, hào hứng, đáng yêu, và đong đầy những chuyện đáng kể của tuổi mới lớn.

Một điều rất đáng chú ý là mỗi lần có một đứa trẻ đi lạc, cả làng lo lắng đổ xô đi tìm. Trong cái hoang dã của một miền đất mới phôi thai, tình người gắn bó, ấm áp, và cao cả. Ngay cả hai cậu bé Tom và Huck, tuy ham chơi và không biết vâng lời, nhưng vẫn có một lòng thương người và lòng biết ơn mạnh mẽ. Huck đã liều mình cứu bà góa Douglas vì bà cụ đã nhiều lần quan tâm săn sóc cho cậu, và Tom lúc nào cũng quý mến và nghĩ đến bạn bè.Tình làng xóm, tình gia đình, và tình bạn quyện vào nhau giữa những câu chuyện đáng bật cười của tuổi thiếu thời.

Tuy nhiên, một tác phẩm ra đời cách đây hơn một thế kỷ phải có những giới hạn tất yếu về hoàn cảnh lịch sử của nó. Chúng ta dĩ nhiên không muốn con em tập tành hút thuốc như Tom, hay bỏ nhà đi làm hải tặc như lý tưởng của các cậu bé trong bầu trời tưởng tượng của một Mỹ Quốc thời hồng hoang. Lại càng không muốn con cái mạo hiểm bám sát tên tội phạm Injun Joe, cho dù có thu được ngàn vàng. Thời ấy, Missouri vừa được sáp nhập vào liên bang, và vẫn còn theo chế độ chiếm hữu nô lệ. Trong câu chuyện có những cái nhìn sai lệch về vấn đề quan hệ sắc tộc và quyền bình đẳng. Ðây là những điều chúng ta cần giải thích cho con em khi chúng đọc tác phẩm này tại trường hay tại nhà.


Chắp cánh âm nhạc


“Les Choristes,” tác phẩm đầu tay của đạo diễn Christophe Barratier (2004, thực hiện tại Thụy Sĩ/Pháp/Ðức), là một câu chuyện gối đầu của các nhà giáo dục. Tuy những câu chuyện về các nhà giáo dùng tình thương và sự nhẫn nại để cảm hóa các học trò ngỗ nghịch trước nay không thiếu, ông thầy Clément Mathieu vẫn làm cho trái tim người xem đánh trống. Giữa một môi trường nồng nặc sự thù ghét và đối nghịch của những nam sinh bị kỷ luật và ‘không còn hy vọng,’ ông giáo Mathieu đã trói bỏ kỷ luật và thắp lên hy vọng. Trong hoàn cảnh hậu chiến của nước Pháp lúc bấy giờ (1949), hy vọng có lẽ là một món quà quý nhưng rất hiếm hoi, chưa nói đến cái tối tăm của những con cá mắc cạn tại ngôi trường oan nghiệt Fond de l’Étang.

Mặc cho đám trẻ bày đủ trò để phá phách và thách thức ông, ông giáo Mathieu đã nhẫn nại mang đến cho chúng những điều mà chúng chưa được biết đến: tự do và niềm hạnh phúc trong âm nhạc. Các ca viên đã được phóng thích để trở lại tuổi thơ của mình qua những lời ca điệu hát.Và những thắc thỏm trong câu chuyện sẽ đưa người xem về với chính mình: những hy vọng, những hoài bão, những suy tư, những phút giây thư thả nhẹ nhàng. ‘Con quỷ râu xanh,’ tức là ông giáo đầu của trường, Rachin, cũng bị cảm hóa lúc nào không biết, và tuy ngoài mặt vẫn đăm đăm nghiêm khắc, ông bí mật xếp máy bay giấy và trèo lên ghế phóng đi trong văn phòng.

Với nhiều giải thưởng điện ảnh, “Les Choristes” chắc chắn sẽ đứng vào hàng ngũ những tác phẩm phim có giá trị lâu dài, đặc biệt là với những khúc nhạc tuyệt vời trong phim. Và khi gặp gỡ một Clément Mathieu qua màn hình, chính người xem cũng sẽ cảm thấy được niềm hạnh phúc của những cậu bé được ông đổi đời kia. (Xin cảm ơn Cưng đã đưa tôi vào thế giới của “Les Choristes.”)


Trường học, trường đời

“Tom Sawyer” và “Ban Hợp Xướng” là những tác phẩm thích hợp cho tuổi mới lớn với những giá trị nhất định của chúng. Mỗi tác phẩm đều mang theo những âm hưởng của giai đoạn lịch sử và khung cảnh xã hội thời đó. Hai tác phẩm mang hai phong thái hoàn toàn trái ngược nhau. Ban Hợp Xướng thì như xuất thần trong những giai điệu âm thanh mượt mà, lồng giữa những bạo lực và sự dã man của ông hiệu trưởng. Tom Sawyer thì đầy sự mạo hiểm và những bóng đen của những điều bí mật và những tên tội phạm.

Ngoài ra, Tom Sawyer là dạng học đường đời, vì cậu lém lỉnh và ứng xử rất khôn lanh trong mọi hoàn cảnh, ‘có gan làm giàu.’ Pierre Morhrange, một trong những vai quan trọng trong phim, là hình ảnh của một thư sinh nho nhã, có hoài bão,có tài năng phú bẩm, và ‘có chí làm quan.’ Dĩ nhiên, là nữ giới, tôi không có kinh nghiệm thực tế của một thời bắt dế bắn bi như các bậc mày râu. Thuở nhỏ, tôi không được cưỡi trâu như anh và anh em họ của tôi, và rất sợ bị trâu đá. Thế nhưng hai tác phẩm trên đều tạo cho tôi những rung động về một tuổi thơ hồn nhiên, có lúc ngỗ nghịch, nhưng chan hòa tình làng xóm và tình thầy trò. Là những tác phẩm văn học và điện ảnh có giá trị, chúng mang đến cho tôi những giây phút giải trí thoải mái, cho tôi hồi tưởng về chính tuổi thơ của mình qua những sự khôi hài, hấp dẫn ly kỳ, qua những chuyến đi, những sự trưởng thành, những hồi hộp lo toan,…

Những chuyến đi không chỉ là những chuyến đi khám phá như kiểu Tom Sawyer. Những cậu học trò tại Fond de l’Étang không được vượt ra khỏi những bức tường. Nhưng âm nhạc đã là một cuộc hành trình kỳ thú, và mối quan hệ với thầy giáo Mathieu và sự đối xử đầy tính nhân bản của ông đã cho những thành viên bị đẩy ra ngoài lề xã hội và những đứa trẻ mồ côi được tìm thấy chính mình và bắt đầu một cuộc sống mới.


Chung khúc


Nhân vật tôi thích nhất trong phim là Pépinot. Cậu bé ấy thật sự tin và nài nỉ quyết liệt với định mệnh của mình: “Tôi đứng đây chờ Bố. Bố tôi đến vào ngày Thứ Bảy.” Cậu từ chối không chấp nhận sự thật cha mình đã tử trận trong Ðệ Nhị Thế Chiến. Và mỗi ngày, Pépinot ra cổng trường, dõi mắt về xa, chờ đợi. Và cậu đã nói đúng.

Thầy Mathieu bị đuổi việc cũng vào một ngày Thứ Bảy. Khi Mathiew đã lên xe buýt để trở về làng cũ, chợt có tiếng kêu thất thanh trên con đường đất phía sau, “Monsieur Mathieu! Monsieur Mathieu!” Xe dừng, và ông thầy Mathieu thấy một Pépinot đứng giữa cánh rừng hoang vắng, trong chiếc quần cộc, tay cầm chiếc túi vải tí tẹo, “Con làm gì ở đây?” “Thầy dắt con theo Thầy nghe!” cả người thằng bé tóe lên hy vọng. Ứa nước mắt, nhưng Mathiew bảo, “Không được! Con trở lại trường đi!” Mặt trời vụt tắt, và xe buýt lại lăn bánh. Nhưng trong cái hun hút xa mà Pépinot đang lọt thỏm vào ấy, là một sự đổi đời, bởi bình minh đã mọc trên khuôn mặt cậu lần đầu tiên. Xe buýt dừng lại. Pépinot chạy băng băng về phía trước, và gieo mình vào vòng tay yêu thương của Mathieu.

Pépinot là hình ảnh của bao thiếu nhi, mong mỏi và khát khao tình thương của cha mẹ. Ðứng ở cổng trường từ ngày này sang ngày khác, cậu bé mồ côi ấy nhất định không tin là mình không cha không mẹ. Và Pépinot chờ. Với hết niềm tin. Trời đã không phụ lòng cậu. Tuy Pépinot không hề được học lấy một bài hát nào trong cuộc đời thơ dại của mình, cậu lại được may mắn tìm được một người cha không chỉ là một thiên tài âm nhạc, mà quan trọng hơn hết, có một tấm lòng yêu thương vô bờ. Tình phụ tử ấy, đối với Pepinot, có lẽ du dương và ngọt ngào hơn bất cứ một giai điệu âm nhạc nào.

(Nguồn: Tác giả gửi qua Thư viện Sáng tạo)

Lời tỏ tình

 


Phạm Thành Châu


Tác giả sinh quán tại Hội An, Quảng Nam, tốt nghiệp Ðốc Sự Học Viện Quốc Gia Hành Chánh Việt Nam Cộng Hòa, hiện là cư dân Virginia. Nhà văn Phạm Thành Châu đã cộng tác với các báo Văn, Thế Kỷ 21 và có ba tập truyện ngắn đã xuất bản. (luuvu44@yahoo. com)








Sau khi chiếm được nam Việt Nam, năm 1975, Cộng Sản miền Bắc lùa số lớn công chức, quân nhân, đảng viên các đảng phái quốc gia, các nhà tu hành của các tôn giáo miền Nam, ra Bắc “khổ sai biệt xứ.” Liên Xô có Xi-bê-ri thì Việt Nam có vùng núi non Tây Bắc khắc nghiệt, tuy không lạnh bằng Xi-bê-ri nhưng cũng đủ cho tù chết dần. Chết vì lạnh, vì đói, vì lao động kiệt sức và vì bịnh mà không có thuốc chữa.

Thông thường, tù phải tự đốn cây, cắt tranh làm lán cho mình ở, phải phá rừng, làm rẫy trồng trọt khoai củ nuôi thân. Nhà nước Cộng Sản không phải tốn phí nuôi tù cải tạo. Ban ngày tù vào rừng lao động, chiều về, vào lán, cán bộ coi tù khóa cửa lại, sáng hôm sau, mở cửa cho tù đi lao động tiếp.

Mấy năm đầu, tù chết quá nhiều nên chính quyền Cộng Sản Việt Nam cho thân nhân tù được gửi thuốc, áo quần (giới hạn) bằng đường bưu điện, về sau được thăm nuôi, nghĩa là được gặp mặt tù và tiếp tế lương thực, mùng mền, thuốc men… giúp tù chịu đựng, tiếp tục khai phá núi rừng và chết chậm hơn.

Trong chuyện nầy, tôi không kể về những sinh hoạt trong nhà tù mà kể về một anh bạn tù nằm cạnh tôi.

Anh Hùng, nằm cạnh tôi, là người ít nói nhưng thường quan tâm đến người khác. Buổi tối, vào lán, thấy ai có vẻ trầm tư, suy nghĩ, là anh sà đến, nói huyên thuyên những chuyện trên trời dưới đất, chuyện nào cũng khiến người nghe bật cười. Thế là người bạn đó bớt buồn. Khi quay về, anh bảo tôi:

– Khá rồi! Lo buồn làm mình suy sụp nhanh nhất. Nhanh hơn cả bịnh hoạn. Chỉ cần mất ngủ vài ba đêm là không đủ sức gượng dậy.

Ai cũng biết điều đó, nhưng rất khó vượt qua, nhất là những người không được thăm nuôi, thậm chí không nhận được thư của thân nhân gửi vào. Họ được gọi là“con bà xơ” (nữ tu), ý nói là con hoang trong trại mồ côi do các bà xơ (soeurs) nuôi dưỡng.

Các tù nhân con bà xơ nầy, mỗi khi thấy người nào ra thăm thân nhân, đem đồ tiếp tế vào là họ tránh chỗ khác, tìm những người cùng hoàn cảnh (không có thăm nuôi) mà chuyện trò, ăn mấy củ khoai, củ sắn với nhau. Ðược tặng thức ăn (thăm nuôi) họ có thể nhận một lần, lần sau thì từ chối:

– Xin cám ơn anh, tôi nhận thì không có gì tặng lại. Anh thông cảm cho tôi. Xin giữ lấy.

Trong tù, chỉ nghĩ đến miếng thịt, cây kẹo cũng đủ chảy nước miếng, vì cơ thể quá cần, nhưng nhận chút thực phẩm của bạn cho, lấy gì trả lại?

Tôi với anh Hùng, may mắn, được vợ thăm nuôi, dù cả năm chỉ được một lần và chỉ được một xách nhỏ. Một gói đường tán đen, gói cá khô, ít đậu và gạo, ít thuốc men, chỉ vậy thôi, vì tiền xe cộ đi hàng nghìn cây số (từ miền Nam ra núi rừng Tây Bắc), ăn uống dọc đường… hết cả!

Chúng tôi nghèo quá, nhưng vợ chồng gặp mặt nhau là may rồi. Tôi mừng, nhưng anh Hùng lại mừng hơn. Lần thăm nuôi nào anh cũng bảo:

– Ðây là lần chót!

Thế nên, mỗi khi được gọi tên ra gặp thân nhân thì anh ngạc nhiên:

– Ai thăm tôi? Bà cụ thì quá yếu, không đi nổi!

Tôi cười bảo:

– Không phải vợ thì ai vào đây?

Theo vợ tôi kể, trong một lá thư gửi cho tôi, chỉ một lần vợ tôi cùng đi thăm nuôi với vợ anh Hùng mà hai người thành bạn thân. Cả hai đều ở trong một con hẻm vùng Ða Kao lại có chồng là bạn nằm cạnh nhau trong tù, cùng hoàn cảnh nên hai người đàn bà thương nhau, thường giúp đỡ nhau trong việc buôn bán mưu sinh.

Vì thấy anh vui hơi quá đáng mỗi khi được thăm nuôi nên tôi tò mò, cố tìm hiểu vì sao? Ðúng ra, trong tù không nên biết chuyện gia đình người khác, nếu người đó không tự ý kể ra. Tôi không nhớ mình đã gợi ý cách nào khiến cho anh Hùng kể chuyện vợ con của anh.

Sau đây là câu chuyện theo lời anh kể.

– Tôi là con trai độc nhất của bà cụ tôi. Ðúng hơn, tôi là độc đinh của cả dòng họ nhà tôi. Nếu mẹ tôi không sinh ra tôi thì coi như họ Hoàng Ðắc của tôi tuyệt tự.

Mẹ tôi săn sóc, chăm lo cho tôi, vì tình thương mà cũng vì trách nhiệm bên nhà chồng giao phó, là phải có người thừa tự, lo nhang khói, cúng giỗ để vong linh ông bà, tổ tiên khỏi bơ vơ, thành ma đói, ma khát, vất vưởng trong cõi u minh.

Thế nên, khi tôi vừa xong tú tài là mẹ tôi lo tìm vợ cho tôi, vì bà sợ tôi vào quân đội, không biết chết lúc nào, sẽ không kịp có con trai để nối dõi tông đường.


Tôi thì không để ý đến chuyện đó. Ngay trong thời đi học, bạn bè yêu cô nầy, cô kia, tôi chỉ biết bài vở và các môn thể thao như đá banh, học võ…

Ðến khi thi xong tú tài một, tôi tình nguyện đi sĩ quan Thủ Ðức. Mẹ tôi, thời trẻ là đảng viên một đảng phái Quốc Gia, thông hiểu tình hình đất nước, bà cụ bảo tôi “Khi tổ quốc lâm nguy, làm con dân phải có bổn phận cùng với mọi người bảo vệ đất nước, bảo vệ đồng bào. Những tên trốn lính, sống chui, sống nhủi chỉ thêm nhục. Nhưng con phải lấy vợ, sinh con trai để sau nầy lo nhang khói cho ông bà, tổ tiên.” Mẹ tôi hỏi tôi có để ý cô nào chưa? Tôi thưa rằng, “Mẹ xem cô nào vừa ý mẹ thì cưới cho con chứ con không có người yêu.” Mẹ tôi đến nhà các bà bạn, ngắm nghía cô nầy, dọ hỏi cô kia, cuối cùng bà chọn được một cô. Mẹ tôi nhờ người mai mối, gia đình cô ta đồng ý ngay. Ðể tôi được gặp cô gái, mẹ tôi mua một ít trái cây, sai tôi đem đến biếu gia đình cô ta.

Hình như cô gái không biết có sự xếp đặt giữa hai gia đình nên cô ta tiếp tôi rất hồn nhiên, vô tư như với bạn bè. Tôi thấy cô cũng xinh, hiền lành, vui vẻ nên về thưa với mẹ tôi rằng, “Mẹ thấy vừa ý thì con xin vâng lời.” Quả thật, cô gái hoàn toàn không biết gì về việc cô sẽ là vợ tôi. Trước ngày tôi vào quân trường, hai gia đình muốn tổ chức lễ hỏi, cưới luôn một lần. Lúc đó, cô gái mới được thông báo. Cô ta phản đối quyết liệt. Hóa ra cô đã có người yêu.

Sau nầy tôi mới biết, người cô yêu là một nhà thơ. Anh chàng có dị tật ở chân nên anh ta khỏi phải đi lính. Nhờ thế anh ta yên tâm vui chơi và ăn bám gia đình. Hết làm thơ đăng báo tán tỉnh cô nầy, cô kia thì la cà các quán cà phê, quán nhậu. Con gái mới lớn, cô nào cũng mơ mộng. Anh chàng thi sĩ nầy làm thơ ca tụng, tỏ tình với cô vợ tương lai của tôi thì chẳng khác gì bỏ bùa cô ta. Cô ta yêu mê mệt chàng thi sĩ, quyết cùng chàng “Một túp lều tranh hai quả tim vàng.” Bất ngờ cô bị ép phải lấy tôi làm chồng. Cô tuyên bố thẳng thừng với cha mẹ rằng cô ta sẽ trốn đi với chàng thi sĩ, nếu không trốn được mà bị ép duyên, cô ta sẽ uống thuốc rầy tự tử.

Gia đình cô ta hình như có xích mích gì đó với gia đình “nhà thơ” nên không muốn làm sui gia với họ. Thế nên bà mẹ mới bảo với con gái rằng, “Mầy muốn trốn theo trai thì cứ trốn đi, nhưng không được theo thằng chó chết của nhà đó. Nếu mầy theo nó, thì nhớ ba ngày sau quay về dự đám ma tao. Còn mầy muốn tự tử thì tao mua cho mầy chai thuốc rầy, nhưng uống nửa chai thôi, để một nửa cho tao. Nuôi mầy khôn lớn để mầy làm nhục cha mẹ…”

Lời tuyên bố đó khiến cô gái không còn lựa chọn nào khác. Thế nên, trước ngày cưới, cô ta hẹn tôi ra một quán nước.

Sáng đó, chúng tôi gặp nhau. Tôi ngồi đối diện. Quán vắng người nên cô ta chẳng cần giữ lời, tấn công tôi ngay, “Tôi và anh không hề quen biết nhau, không thù oán nhau, tại sao anh cố tình phá vỡ tình yêu của chúng tôi? Anh có biết, vợ chồng không có tình yêu mà sống với nhau là sống trong địa ngục không?”

Tôi trả lời, “Ðây là chuyện hai gia đình với nhau. Cô không bằng lòng lấy tôi thì cứ nói thẳng với ba mẹ cô hoặc nói với mẹ tôi. Tôi không có ý kiến. Tôi không cần vợ, nhưng mẹ tôi cần có cháu nội trai để nối dõi tông đường. Tôi sẽ vào quân đội. Chiến tranh rất ác liệt. Ðời lính chiến, hành quân liên miên, cưới cô về, được bao nhiêu lần chúng ta gặp nhau? Ðể có con, còn khó hơn. Và có thể một ngày, một tuần, một tháng sau đó, tôi tử trận. Cô sẽ thành quả phụ. Nhanh lắm. Tôi nói sự thật để cô đủ lý do từ chối việc cầu hôn của tôi.” Cô yên lặng lắng nghe. Tôi cũng suy nghĩ, lựa lời một lúc mới nói tiếp: “Nếu bị ép duyên, và nếu không còn con đường nào khác để làm vui lòng cha mẹ cô, cô nên lấy tôi. Vì sau khi ra trường sĩ quan, tôi sẽ chọn binh chủng tác chiến, tôi sẽ leo lên bàn thờ nhanh lắm. Khi tôi chết rồi, gia đình cô không còn quyền cấm cô về sống với người cô yêu. Mà dù tôi chưa tử trận, khó khăn của tôi vẫn là phải có con trai cho mẹ tôi an tâm. Tôi đề nghị thế nầy. Sau khi là vợ tôi, dĩ nhiên là tôi đi hành quân, đâu có về nhà thường xuyên được… Cô cứ hẹn hò với người yêu, miễn sao đừng cho thiên hạ biết, khi nào có bầu, cô ra đơn vị tìm tôi rồi quay về nhà. Mục đích để hợp thức hóa đứa bé trong bụng cô. Tôi sẽ không ghen tương gì mà mẹ tôi lại mừng vì đã làm tròn bổn phận đối với gia tộc tôi…”

Chưa nghe hết câu, cô chồm qua bàn, thẳng tay tát tôi một tát tai, nảy đom đóm mắt, “Tôi cấm anh không được nhục mạ tôi theo lối nói vô học đó. Anh xem tôi là hạng người gì?… ” Rồi cô ôm mặt, gục xuống bàn khóc nức nở. Cô khóc to, như rống lên rồi lấy khăn bịt miệng mình lại để tự kềm chế.

Tôi kinh hoàng, vội qua ngồi cạnh cô, lắp bắp: “Tôi xin lỗi! Tôi xin lỗi! Cô tha thứ cho tôi.” Tôi định choàng tay qua vai cô để vỗ về thì cô xô mạnh tôi ra, khiến tôi suýt ngã ngửa. Cô cứ cúi đầu thút thít mãi. Tôi chán nản, nghĩ rằng, tốt nhất về thưa với mẹ tôi rút lui vụ cưới hỏi nầy để khỏi rắc rối, có khi gây oán thù với cô ta và cả người tình của cô nữa.

Tôi đứng lên, đến quày trả tiền. Cô chủ quán hỏi tôi, “Có chuyện gì vậy?” Tôi lắc đầu, quay lại bàn nước, ngồi cạnh cô để tránh tia mắt cô đang nhìn đăm đăm phía trước như người xuất hồn. Tôi nói, “Tôi đã hiểu cô, đã biết mối tình của cô. Xin cô yên tâm. Tôi sẽ báo cho mẹ tôi hủy bỏ vụ nầy. Cô được tự do.” Tôi định đứng lên thì cô ra dấu tôi ngồi xuống. Cô nói mà không nhìn tôi, “Anh chẳng có lỗi gì trong chuyện nầy. Gia đình tôi nhất quyết gả tôi cho người khác. Ai cũng được, ngoại trừ người tôi yêu.” Rồi cô quay nhìn tôi, mắt long lên, môi mím lại, “Tôi đồng ý lấy anh. Nhưng tôi cho anh biết. Anh chiếm đoạt được trinh tiết của tôi, chiếm đoạt được thân xác tôi nhưng không thể chiếm đoạt được trái tim tôi. Ðừng hy vọng tôi sẽ thương yêu anh. Tôi không thù anh, nhưng tôi không thể yêu thương ai ngoài người tôi yêu. Tôi cũng cho anh biết trước rằng, về làm vợ anh, dù đến mãn đời, tôi thề sẽ không bao giờ nói tiếng yêu thương với anh, không bao giờ hôn anh. Mong anh cũng làm như thế.” Tôi giận sôi gan, nhưng cố bình tĩnh, “Tôi sẽ giữ lời. Tôi thề sẽ không nói thương yêu với cô, không hôn cô, vì tôi biết chúng ta chẳng hề yêu thương nhau. Tôi cũng yêu cầu cô nhớ lời thề đó. Sau nầy, nếu tôi tử trận, xin cô đừng giả vờ khóc, vì tôi biết đó là ngày vui của cô, ngày cô được giải thoát để về với người cô yêu. Không cưới cô thì mẹ tôi cũng tìm một cô khác cho tôi. Từ hôm nay cho đến tuần sau, cô có thể báo cho mẹ tôi biết quyết định của cô. Mà dù đã là vợ tôi, cô vẫn tự do. Cô có thể gặp người yêu của cô bất cứ lúc nào, chỉ mong cô cố gắng cho mẹ tôi một đứa cháu trai. Xin cô giúp tôi.”

Kể đến đấy anh Hùng hỏi tôi, “Nếu vào trường hợp tôi, anh sẽ nghĩ sao? Chúng tôi đã có ba mặt con với nhau, nhưng không bao giờ tôi nghĩ rằng cô ta còn lưu lại trong gia đình tôi cho đến ngày tôi vô tù như hôm nay.” Anh quay ra sau, lục trong xách nhỏ, lấy ra mấy tấm hình, trao cho tôi, “Anh nhìn xem, mấy đứa nhỏ nầy giống ai?” Tôi nhìn và nói ngay, “Giống anh chứ giống ai? Con anh phải không? Hai thằng nhỏ nầy là anh em sinh đôi?”

Anh trầm tư, “Ðể tôi dài dòng một chút. Trước khi vào quân trường, tôi cưới vợ. Khi còn đang thụ huấn trong Thủ Ðức, được tin vợ sinh, tôi về phép, vào nhà bảo sanh.”

“Vợ tôi sinh con gái. Tôi ôm đứa bé vào lòng. Lúc đó, tôi không thắc mắc, ai là tác giả của sinh vật bé bỏng đó, nhưng không hiểu sao, tôi thương nó quá. Tôi ngắm nghía nó, hôn nó, thì thầm với nó mà quên cả chung quanh. Lúc đặt con xuống bên cạnh vợ, cô ta nắm lấy bàn tay tôi, nhìn tôi, nước mắt ứa ra. Cô ta khóc. Tôi hiểu ý nên nói, “Xin lỗi! Nhưng tôi thương nó. Lần sau, cố giúp tôi một thằng con trai…”

Tôi ngắt lời anh, “Bộ hai người xưng tôi chứ không anh em gì cả sao?” “Cô thì xưng em với tôi, còn tôi, khi chán nản hoặc chỉ có hai người, tôi xưng “tôi” và nói trống không. Khi có người thứ ba thì tôi “anh, em” như vợ chồng bình thường… Sau đó, cô sinh đôi, hai thằng con trai. Khi tôi đi tù thì hai thằng con được gần hai tuổi.

– Hai anh chị thề thốt với nhau rằng sẽ không hôn, không nói tiếng yêu thương với nhau, rồi có giữ lời không?

– Tôi có vợ mà tâm lý không giống những ông khác. Tôi chỉ làm bổn phận. Tôi đâu cần tình yêu mới làm chuyện vợ chồng được. Khi cô ta vừa sinh hai thằng con trai, tôi dự định, hễ hai đứa nhỏ cứng cáp thì tôi sẽ nói với cô rằng muốn li dị thì tôi ký tên ngay để cô được tự do, nhưng tôi chưa kịp nói thì đi tù… Thế nên, mỗi khi tôi được gọi ra thăm nuôi, anh thường nghe tôi tự hỏi “Ai thăm nuôi mình?” vì tôi cứ đinh ninh là cô ta đã bỏ tôi để về với người tình, để khỏi nuôi mấy đứa nhỏ, khỏi nuôi mẹ tôi, khỏi thăm nuôi tôi.

– Anh có thể nói thật tình cảm của anh đối với vợ anh cho tôi nghe được không? Anh có thương vợ không?

Anh trầm ngâm:

– Chỉ sau nầy, khi tôi vào tù, cô ta không bỏ chúng tôi, lại phải vất vả, bươn chải để nuôi sống bao nhiêu người trong gia đình tôi, tôi mới nghĩ rằng cô là vợ tôi.

Nếu chúng tôi có yêu nhau trước đó thì sự hy sinh của cô ta còn có chút ý nghĩa. Ðằng nầy… Không ai có thể bắt cô phải cưu mang chúng tôi.

Ðó là sự bất công. Trước kia, tôi không màng đến ý nghĩ, tình cảm của vợ tôi. Chúng tôi ít nói chuyện với nhau.

Ðúng ra là không có dịp. Tôi hành quân liên miên, vài ba tháng về phép một lần. Hai mươi bốn giờ phép mà gần tối mới về đến nhà, sáng sớm lại phải ra đơn vị. Vả lại, tôi thương các con tôi lắm.

Vừa bước vô nhà, chào mẹ tôi xong là tôi quấn quít với con, hôn hít đứa nầy, bồng ẵm đứa kia, đưa chúng ra đường mua quà, kẹo bánh.

Lần nào về phép tôi cũng ôm con mà cứ nghĩ rằng, đây là lần cuối mình được gần các con. Ra trận, đạn như vãi trấu, bạn bè, đồng đội tôi ngã xuống ngay bên cạnh. Trước sau gì cũng đến lượt mình. Còn vợ tôi, tôi cảm tưởng như giữa hai đứa có một bức tường vô hình ngăn cách, và cô ta, sinh con xong, bồng nó, đưa qua bức tường vô hình đó, trao cho tôi.

Chúng là con tôi. Vì ám ảnh đó mà mọi sự săn sóc, lo lắng của cô dành cho tôi, tôi tưởng như của một cô bạn gái cùng lớp giúp bạn trong một buổi đi chơi chung ngoài trời, vậy thôi.

Mỗi khi tôi về phép, thấy tôi bước vào nhà là cô vội lo nước nôi, khăn tắm, áo quần để sẵn đó rồi chạy ra chợ mua thức ăn, chạy về, chui vào bếp, nấu nướng, dọn lên. Ăn xong, lại dọn rửa, rồi giặt giũ áo quần cho tôi, phơi phóng, sắp xếp, chuẩn bị mọi thứ trong xách để sáng sớm là tôi chỉ việc đeo lên vai, về đơn vị.

Cô xoay tròn như chong chóng. Tôi thì tắm con, đút cơm cho chúng, rồi chơi đùa, kể chuyện cho chúng nghe, ru chúng ngủ, không màng đến vợ, không nhìn đến mẹ.

Người ngoài nhìn vô, đó là một gia đình bình thường. Mẹ tôi thì vui lắm, cứ khen con dâu ngoan hiền. Bà cụ không biết dĩ vãng của cô, cũng không thấy những đợt sóng ngầm đang kiên trì, thì thầm gọi cô thoát ly.

Bây giờ, ở tù kiểu nầy thì chỉ có chết hoặc mục xương trong tù vì chẳng ai biết ngày về. Cái chết đối với thằng lính chiến như tôi thì sá gì, nhưng tôi thương các con quá, chỉ mong được về để lo cho chúng và săn sóc vợ tôi để đền đáp bao khổ nhọc mà cô ta đã phải chịu đựng.

Từ khi nghe anh Hùng kể chuyện gia đình, tôi cũng đâm ra hồi hộp mỗi khi nghe tên anh ta được gọi ra thăm nuôi. Tôi tưởng tượng mẹ anh Hùng hoặc bà cụ nhờ một người nào đó gặp anh và báo tin rằng vợ anh đã bỏ đi lấy chồng rồi.

Nhưng lần nào cũng là chị ta. Lần đầu được giới thiệu là vợ anh Hùng, tôi thấy chị ta, tuy đen và ốm, xác xơ vì sinh kế nhưng còn phảng phất những nét thanh tú và quí phái. Chị ta, thời trẻ, ắt đã làm bao trái tim bọn con trai xao xuyến.

Mỗi lần ra thăm nuôi, anh Hùng, tôi và vài người tù ngồi một bên chiếc bàn dài, đối diện (bên kia bàn) là thân nhân của tù. Ðầu bàn có một công an ngồi theo dõi, lắng nghe tù và thân nhân chuyện trò. Tù chỉ có 15 phút gặp người thân nên ai cũng cố nói thật nhiều, hỏi thật nhiều những điều cần thiết.

Tôi cũng gấp rút chuyện trò với vợ nhưng cũng để ý xem vợ chồng anh Hùng có gì khác thường không? Hình như anh Hùng không nhìn vợ mà hơi cúi xuống vẻ đắn đo, suy nghĩ.

Trái lại chị vợ ngồi nhìn chồng đăm đăm như thôi miên anh ta.

Thông thường, trong lúc gặp gỡ, người vợ để bàn tay bên cạnh cai giỏ quà thăm nuôi, phía khuất tia nhìn của công an, người chồng biết ý sẽ để bàn tay mình lên bàn tay vợ, bóp nhẹ.

Bao nhiêu năm xa cách, chỉ cần chạm nhẹ hai bàn tay với nhau cũng đủ cho vợ chồng ngây ngất, rung động cả thể xác và tâm hồn.

Giây phút đó quí giá hơn bao nhiêu lần ôm ấp nhau mà vợ chồng đã trải qua. Vợ anh Hùng cũng để tay bên giỏ thăm nuôi. Anh Hùng chỉ đụng rất nhẹ vào tay vợ, như vô tình rồi rút tay về. Chị ta vẫn để yên bàn tay và chờ đợi.

Anh Hùng lại đụng nhẹ tay vợ lần nữa, rồi lại rút về. Cả hai yên lặng. Rồi hình như anh nói nho nhỏ gì đó với vợ.
Thời gian thăm gặp qua rất nhanh. Lúc chia tay, anh Hùng xách gói quà thăm nuôi đi thẳng mà không ngoái nhìn người thân như các tù nhân khác.

Chúng tôi ở tù trên 10 năm nhưng chỉ ở chung lán trại hơn 3 năm, sau đó bị phân tán đi các trại tù khác. Dù vậy, tình bạn giữa chúng tôi đã như ruột thịt.

Bảy năm sau, chúng tôi mới gặp lại nhau ở trại tù Z 30, Xuân Lộc. Sau đó, chúng tôi cùng ra tù một lần, vào năm 1986.

Chúng tôi, hai thằng tù trung niên mà trông đã hom hem. Tóc đã có sợi bạc, chân tay như những khúc xương khô. Vợ tôi và vợ anh Hùng, sau mười năm vất vả, cũng đã là hai chị nạ dòng đen thui, đầu tóc, áo quần tả tơi vì suốt ngày lê lết đầu đường xó chợ. Hai người mua đi bán lại từng đôi giày cũ, áo quần cũ, răng vàng bạc vụn, đồng hồ hư, radio hư… Nghĩa là ai bán gì cũng mua, ai mua gì cũng có.

Thời bấy giờ, tù về xã hội chỉ làm được các nghề chân tay như đạp xích lô, bán vé số, vá xe đạp… Tôi và anh Hùng, mỗi người một chiếc bàn con, mỗi cạnh hai gang tay, đặt bên lề đường, ngồi bán vé số, kiếm tiền phụ với vợ mua gạo. Lúc đó vợ tôi và vợ anh Hùng mới lấy lại chút bình tĩnh, không còn lo thất sắc mỗi ngày vì lũ con đói.
Ðầu thập niên 1990, có chương trình tù cải tạo được đi Mỹ. Gia đình tôi và gia đình anh Hùng đến cùng tiểu bang Virginia nhưng khác thành phố, cách nhau hơn hai giờ lái xe.

Bước chân đến xứ người với hai bàn tay trắng, chúng tôi phải làm gấp đôi người khác, vì lao động chân tay, lương hướng chẳng bao nhiêu. Sáng sớm đã ra khỏi nhà, khuya mới về. Chúng tôi chỉ gọi điện thoại trò chuyện, hỏi han nhau mà thôi.

Tôi không còn để ý đến chuyện xưa của vợ chồng anh Hùng, cũng không bao giờ kể cho vợ tôi nghe. Ðàn bà bép xép, một chuyện kỳ lạ như thế thì không bà nào để yên trong bụng được.

Hơn bảy năm ở xứ Mỹ, vài đứa con của gia đình tôi và gia đình anh Hùng đã tốt nghiệp đại học, có việc làm, phụ với cha mẹ lo cho các em nên chúng tôi đã bớt giờ làm việc, có dịp thăm viếng nhau.

Bao nhiêu năm mới gặp lại, thấy anh Hùng khỏe mạnh, hồng hào hơn trước, chị vợ cũng mập tròn, mặt mũi tươi rói, gặp lại vợ tôi như gặp cố nhân, hai người tíu tít hỏi han, chuyện trò vui vẻ. Nơi xứ người bơ vơ nên chúng tôi coi nhau như anh em một nhà.

Ðột nhiên, một buổi tối, khoảng mười giờ, điện thoại reo, vợ tôi bắt máy rồi la lên:

– Sao? Chị nói sao? Anh Hùng bị gì mà đưa vô bịnh viện cấp cứu? Chị nói chuyện với ông xã em. Em run quá!

Vợ tôi đưa điện thoại cho tôi:

– A lô! Anh Hùng bị gì vậy chị?

Bên kia đầu dây, giọng vợ anh Hùng hốt hoảng:

– Không hiểu sao. Ăn tối xong ảnh ngồi xem TV. Thình lình, ảnh kêu “Ðau đầu quá!” rồi gục xuống bất tỉnh. Em gọi xe cứu thương đến đưa vô bịnh viện. Hiện em đang ở phòng cấp cứu. Ảnh chưa tỉnh. Em rối trí quá! Không biết mình phải làm gì đây?

– Chị báo cho sắp nhỏ biết chưa?

– Dạ rồi. Nhưng đứa gần nhất cũng phải 5 giờ lái xe, đứa ở xa, sáng mai mới đi máy bay về.

– Ảnh không sao đâu. Chị bình tĩnh. Ðưa vô bịnh viện là yên tâm. Tụi tôi sẽ đến ngay bây giờ. Lên xe, chúng tôi sẽ nói chuyện sau. Nhớ là phải bình tĩnh. Hai giờ nữa chúng tôi sẽ đến bịnh viện.

Ban đêm, xa lộ 95 không đến nỗi kẹt xe. Từ Richmond hướng về thành phố Falls Church, phía bắc tiểu bang, gần hai giờ, chúng tôi đã có mặt tại bịnh viện. Bịnh viện về đêm thật yên tĩnh. Theo sự hướng dẫn của nhân viên trực, chúng tôi đi rất nhẹ dọc hành lang để tìm phòng hồi sức.


Anh Hùng nằm trên giường với đủ thứ dây nhợ, ống trợ thở nối với dàn máy sát tường. Một cái máy điện tâm đồ với lằn sóng xanh chạy đều đều, yếu ớt. Chị Hùng quì bên cạnh, nắm tay chồng, thì thầm:

– Anh cố gắng nghe em nói. Em chỉ nói một câu thôi. Em không nói được cho anh nghe thì em đau khổ suốt đời, ân hận suốt đời. Anh có thương em không? Thương em thì nghe em nói. Nghe anh! Tội nghiệp em mà anh…

Chúng tôi đứng bên cạnh mà chị vẫn không hay biết. Vợ tôi cúi xuống vỗ nhẹ vai chị, chị quay lại, đứng lên, ôm vợ tôi, nước mắt trào ra.

– Ảnh không nghe em nói! Ảnh không biết gì nữa. Sao em ngu quá? Không nói khi ảnh còn khỏe mạnh. Mà thình lình, ảnh bị như vầy…

Chị nói lảm nhảm như người mất trí. Vợ tôi không hiểu gì cả nhưng vẫn vỗ về, nhỏ nhẹ:- Ảnh không sao đâu. Em biết, nhiều người bị như vậy, sẽ tỉnh lại. Chị đừng lo. Bác sĩ nói sao?

– Bác sĩ nói ảnh bị xuất huyết não, đang chuẩn bị, sẽ mổ ngay. Em sợ, người ta mổ rồi ảnh đi luôn. Em mà không nói được cho ảnh nghe, chắc em chết theo để linh hồn em được gặp ảnh, nói mấy lời…


Vợ tôi lại nhìn tôi, không hiểu chuyện gì quan trọng, khẩn cấp đến độ phải nói ra cho người sắp chết nghe. Ðáng ra, chính người bịnh mới cần trăng trối trước khi từ giã cõi đời. Vợ tôi, biết rằng chuyện gia đình người ta, không nên tò mò, chỉ trấn an:

– Sáng mai, mổ xong là ảnh tỉnh dậy, sẽ nghe chị nói. Chị yên tâm. Bình tĩnh mà chuẩn bị tinh thần, cầu xin Trời Phật phù hộ ảnh tai qua nạn khỏi.

Nhưng chị ta như không nghe, cứ lảm nhảm:

– Bao yêu thương, săn sóc ảnh dành cho em, em hiểu, em đón nhận, nhưng sao em ngu quá, không nói cho ảnh biết em cũng yêu thương ảnh…

Vợ tôi ngớ ra, tưởng chị điên thật rồi. Vợ chồng yêu thương nhau, đâu cần phải nói ra mới hiểu?

Chỉ mình tôi biết điều đó. Tôi nói với chị ta:

– Xin chị bình tĩnh. Tôi sẽ cố giúp chị xem sao. Tôi với anh Hùng thân thiết còn hơn ruột thịt. Hy vọng tôi nói ảnh sẽ nghe.

Nhìn điện tâm đồ, thấy những gợn sóng rất yếu ớt, tôi biết, có mổ cũng rất ít hy vọng, nhưng tôi tin, sự sống trong anh ta vẫn còn. Tôi ra dấu cho chị Hùng đến bên cạnh rồi cúi sát tai anh, nói chậm rãi:

– Tôi là Nguyễn Văn Chánh, bạn anh đây. Chúng ta ở tù chung, khi còn ở bên Việt Nam, anh còn nhớ không? Anh cố gắng nghe tôi nói, một điều rất quan trọng… Nếu anh nghe được, anh chấp nhận, xin anh chuyển động mi mắt hoặc con ngươi của mắt anh. Vợ anh đang đứng bên anh đây. Vợ anh nói rằng, chị chỉ yêu thương một người duy nhất trong đời là anh mà thôi. Anh có nghe không, có chấp nhận không?

Mọi người im lặng, chăm chú nhìn đôi mắt đang nhắm nghiền của anh Hùng. Ðột nhiên, đôi mi của anh Hùng chuyển động như muốn mở ra rồi nhắm lại.

Tuy rất nhẹ nhưng mọi người đều thấy rõ. Chị Hùng ôm chồng khóc òa lên. Tin rằng anh Hùng có nghe tiếng khóc của vợ nên một lúc sau tôi mới ra dấu cho chị yên lặng, rồi nói vào tai anh Hùng:

– Bây giờ, vợ anh, chị Hùng sẽ nói cho anh nghe. Chị yêu thương anh từ lúc nào. Anh cố gắng nghe vợ anh nói.

Tôi bước lùi cho chị Hùng quì xuống, cúi sát tai chồng và nói, từng tiếng một:

– Anh Hùng. Anh là chồng em. Em yêu thương chỉ một mình anh. Em yêu thương anh từ ngày đầu, từ đêm đầu, từ giây phút đầu em trở thành vợ anh… Em lạy anh. Ðừng giận em nghe anh! Xin anh thương em. Em là vợ anh. Tội nghiệp em. Nghe anh!

Nói đến đó thì nghẹn lời, chị đứng lên lùi lại, hai tay để lên ngực, nhưng mắt vẫn không rời đôi mắt chồng. Mọi người nín thở chờ đợi. Rồi đôi con ngươi dưới hai mi mắt nhắm nghiền của anh Hùng chuyển động nhẹ, hướng về phía chị Hùng và dừng lại.

Tôi nói với chị:

– Anh Hùng đã hiểu chị, đã chấp nhận lời yêu thương của chị.

Bỗng chị Hùng lảo đảo, níu tay vợ tôi rồi ngã quị xuống, bất tỉnh. Vợ tôi đỡ lấy chị, ngồi bệt xuống sàn, ôm chị vào lòng. Tôi bảo vợ:


– Không sao đâu. Bị xúc động mạnh. Ðể anh đi gọi y tá…

Thật ra, là chị ấy đã trăng trối với chồng.

(Nguồn: [email protected])

Tang lễ bà Margaret Thatcher tổ chức ngày Thứ Tư tuần tới

 


LONDON (BBC)Phủ Thủ Tướng Anh loan báo tang lễ nữ Nam Tước Thatcher sẽ được tổ chức vào ngày Thứ Tư 17 tháng 4.










Báo chí Anh ở London viết về bà Margaret Thatcher  (Hình: Peter Macdiarmid/Getty Images)



Bà Thatcher không được quốc táng, nhưng tang lễ sẽ có đầy đủ nghi thức trang trọng tại thánh đường St Paul thủ đô London, sau khi linh cữu được rước từ điện Westminster, trụ sở Quốc Hội, tới đây.

Điện Buckingham cho biết Nữ Hoàng Elizabeth II và Hoàng Tế Philip, Quận Công Edinburgh, sẽ tham dự tang lễ.

Bà Margaret Thatcher được nhiều sự ca tụng cũng như chống đối trong 11 năm cầm quyền và cả cho đến sau khi đã rời khỏi chức vụ Thủ Tướng năm 1990.

Nhiều người phái tả thù ghét bà Thủ Tướng bảo thủ về việc giải tư  nhiều ngành công nghiệp quốc doanh và sự đối đầu lâu dài vói các công đoàn, đăc biệt là thời kỳ đình công của thợ mỏ năm 184-1985.

Liên đoàn bóng đá Anh nói rằng sẽ không yêu cầu các câu lạc bộ dành một phút tưởng niệm vào dịp tang lễ của bà.

Tối Thứ Hai một số vụ lộn xộn xảy ra ở London, Bristol, Glasgow,  khi có những nhóm tổ chức ăn mừng cái chết của “Bà Đầm Thép”. Nhiều cảnh sát bị thương trong cuộc xô xát tại Bristol.

Cựu Thủ tướng Tony Blair, người cũng đã thắng ba  kỳ tổng tuyển cử như bà Thatcher, phàn nàn  hành động thiếu ý thức của những người đón mừng  cái chết của bà và cho rằng phải nên bày tỏ sự tôn trọng trong dịp này.

Một nhân vật thuộc đảng Lao Động cho biết “Ông chủ tịch Ed Miliband nghiêm khắc phê phán mọi sự đón mừng. Như ông đã công khai tuyên bố hôm qua, bà Thatcher là một bộ mặt vĩ đại trong chính trị nước Anh và trên thế giới. Dù đảng Lao Động bất đồng ý kiến với nhiều việc bà đã làm, chúng ta phải ngưỡng mộ những thành tích của cá nhân bà”..


Quốc Hội Anh gọi các thành viên đang còn nghỉ lễ Phục Sinh trở lại họp và nhiều đảng viên đảng Lao Động sẽ đến dự tang lễ. Tuy nhiên cũng có những người phản đối. Dân Biểu John Mann nói: “Tôi không biết tại sao tốn tiền của dân đóng thuế cho một khóa họp ngoài nghị trình”.

Thủ tướng David Cameron gọi bà Thatcher là người Anh vĩ đại và nhiều nhà lãnh đạo quốc gia trên thế giới bày tỏ sự ngưỡng phục bà về vai trò quốc tế, bao gồm Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama và Thủ Tướng Đức, bà Angela Merkel. (HC)

Gần 80% công chức Việt Nam ‘thu nhập ngoài lương’



VIỆT NAM (NV) – Gần 80% công chức Việt Nam đang sống bằng các khoản “lợi tức phụ,” con số đủ để xác định tính chất tham nhũng quá mức trầm trọng tại quốc gia này.









Phần lớn thu nhập của công chức ở Việt Nam không phải là tiền lương. (Hình: Internet)


Trong khi đó, các biện pháp ngăn chận và đẩy lùi nạn tham nhũng khả dĩ được tung ra bấy lâu đều rất “hời hợt,” nói cách khác là không khả thi. Đây cũng là nhận định của ông Jairo Acuna Alfaro, ‘cố vấn chính sách của Liên Hiệp Quốc về cải cách hành chánh và chống tham nhũng.’


Theo báo Người Lao động, các dẫn chứng nói rằng xấp xỉ 80% công chức Việt Nam hiện nay không sống bằng lương, dựa theo kết quả cuộc khảo sát do Tổ chức Thanh tra của nhà nước Việt Nam và Ngân hàng Thế giới thực hiện. Cuộc khảo sát này được thực hiện trong năm qua, thông qua việc phỏng vấn 2,000 cán bộ, công chức nhà nước ở mười tỉnh của Việt Nam.


Tám mươi phần trăm số người được hỏi cho biết, cơ cấu “gói tiền thu nhập ngoài lương” đó bao gồm: tiền khoán (65%), tiền được bồi dưỡng tại các cuộc họp (55%), tiền huê hồng được chia, tiền được biếu từ các “quỹ đen” của các đơn vị kinh doanh…


Kết quả cuộc khảo sát này cũng cho thấy, đa số công chức, cán bộ “có lợi tức ngoài lương” nói trên đều là những người có chức vụ chủ yếu trong bộ máy nhà nước, hoặc có thẩm quyền trong một lĩnh vực nào đó.


Kết quả của cuộc khảo sát này có vẻ “chân thật” hơn so với con số thu thập được từ một cuộc khảo sát do trường đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội thực hiện khoảng 7 năm về trước. Lần đó, số cán bộ, công chức tham dự cuộc khảo sát chỉ nhìn nhận rằng gần 54% lợi tức mà họ thu được thuộc “các hoạt động khác,” tức không phải từ công việc đang làm.

Báo Người Lao động dẫn lời một cán bộ cao cấp về tiền lương của Việt Nam nói rằng các khoản “được chia” từ các công trình, dự án, quỹ riêng; tiền được tặng, được biếu thường rất lớn và không thể kiểm soát được. Cũng vì các khoản tiền nói trên được “chung, chi” bằng tiền mặt, việc kiểm soát thu nhập lại càng xa tầm với của “các tổ chức có thẩm quyền.”


Còn theo ông Ngô Mạnh Hùng, Phó cục trưởng Cục Chống tham nhũng Việt Nam, tất cả các quy định cấm công chức, cán bộ nhận “quà cáp, biếu xén” của nhà nước Việt Nam hầu như không khả thi.


Mới đây, theo ông Jairo Acuna Alfaro, ‘cố vấn chính sách của Liên Hiệp Quốc về cải cách hành chánh và chống tham nhũng,’ thì việc kê khai tài sản, một trong những biện pháp ngăn ngừa tham nhũng, tại Việt Nam vẫn còn rất hời hợt.


Báo Người Lao Động dẫn lời ông Jairo Acuna Alfaro cho rằng, những ai nói việc sử dụng tiền mặt đã “làm khó” việc kê khai tài sản một cách trung thực là ngụy biện.


Ông nói: “Việc sử dụng tiền mặt chỉ gây khó khăn, chứ không cản trở việc kê khai tài sản. Bản chất của tham nhũng ở mọi nơi đều giống nhau: đó là sự lạm dụng quyền lực vì lợi ích cá nhân. Một viên chức sống xa hoa phải giải thích nguồn gốc các tài sản mà mình có được. Nếu không, ông ta phải được coi là tội phạm.”


Cuối cùng, theo ông Jairo Acuna Alfaro, không thể chấp nhận tính chất tự giác của người kê khai tài sản. Ông này nói rằng, Việt Nam cần có một bộ máy giám sát ở bên ngoài bộ máy nhà nước, với đầy đủ quyền lực để có thể mở các cuộc điều tra và truy tố những kẻ nghi tham nhũng một cách độc lập.


Có thể chính vì nạn tham nhũng đã ăn sâu tận gốc rể bộ máy nhà nước, nên Việt Nam khó có được một tổ chức giám sát để ngăn chận, theo kiểu phác họa của ông Jairo Acuna Alfaro nêu trên. (PL)

Khu Rừng Lau (Kỳ 126)

Kỳ 126


Miên mỉm cười kín đáo. Có lẽ vì yên chí mình sẽ là vợ Kha nên thái độ của nàng càng điềm đạm, nhiều khi nàng tự thu nhỏ lại, tê liệt bất động dưới cái nhìn của Kha.

Hai giờ chiều, cùng với giờ mọi người đi làm, Miên đi bộ ra Bờ Hồ lên chuyến xe điện Kim Liên để về làng Ðịnh Quyết. Năm giờ chiều Miên trở lại, ông Hạo – chú Kha – theo sau.

Ông Hạo dựng ô vào góc nhà, chưa kịp ngồi xuống ghế đã kể lể ngay với Kha:

– Nào chú có biết đâu là anh được ra từ ba hôm nay. Dạo này anh bị giữ ở Gia Lâm, cô Miên đây có về báo cho chú thím. Chú thím lo quá mà chẳng biết làm thế nào. Anh ra được chóng thế ngày là may lắm. Có người chạy bạc nghìn mà vẫn bị nhốt năm bẩy tháng mới được ra. Có người bị lừa (ông Hạo lắc đầu) thời buổi ma quái này chúng nó nhiều mánh khóe lừa lắm anh ạ. Có thằng nghiện thuốc phiện chuyên nhận lời nói giúp cho người mới hồi cư bị bắt được tha, nhưng hắn quen ai mà nói. Người ta đến hỏi, hắn khất lần là sắp được, rồi năm bữa nửa tháng sau… hai ba tháng sau… nạn nhân được thả, hắn điềm nhiên đòi lễ. Kẻ nào không nộp đủ khoản tiền đã hứa, hắn dọa sẽ tìm cách bắt giam lại. “Nhất nhật tại tù” ai mà chẳng ngại?

Ông Hạo lắc đầu chép miệng làm cả chòm râu cằm lưa thưa của ông rung lên:

– Thời buổi ma quái này chúng nó có nhiều mánh khỏe làm tiền quá!

Kha hỏi thăm về việc mẹ chết hơn hai năm trước đây, về việc chôn cất mẹ, về tin tức làng. Ông Hạo thuật lại tường tận. Ông nhấn mạnh về việc chôn bà giáo cùng một thửa ruộng với ông giáo là sáng kiến của ông.

Sau ngày bà giáo mất, ông Hạo vốn nghèo và hiếm hoi bán khu đất nhỏ của mình để về ở hẳn nhà ông bà giáo mà trong nom dương cơ cho cháu còn ở hậu phương.

Ông bà Hạo đồng niên với nhau năm nay cùng bốn mươi tám tuổi – chỉ sinh hạ được một gái đặt tên là Hĩm đã đi ở riêng. Ông Hạo không lấy vợ lẽ, ông thường nói với mọi người cùng làng:

– Chà, con nào mà chẳng là con, miễn có hiếu là được.

Nhưng cả làng ai cũng biết là ông sợ bà Hạo mà không dám tính chuyện lấy vợ bé.

Bà Hạo nhanh nhảu, hiền lành dễ dãi với mọi người nhưng rất cả ghen và đanh thép với ông.

Khi cái Hĩm còn nhỏ thường lấy áo bọc chày giã cua giả làm em rồi ru:

Con cò trắng bạch như vôi
Có ai lấy lẽ bố tôi thì về.
Mẹ tôi chẳng đánh chẳng chê,
Mài dao cho sắc móc mề mà xem.

Bài hát ru đó người ta bảo chính bà Hạo dạy con để gián tiếp cảnh cáo ông Hạo. Co người kể rành mạch hơn là mỗi lần cái Hĩm hát bài đó, bà Hạo lại nhai cho giập miếng trầu vừa đủ nát bét, mầu còn trắng lờ lờ chưa chuyển sang đỏ hẳn, rồi nhổ xuống khoảng chênh chếch gần chỗ ông Hạo như có ý nói: “Tôi thì nghiền xác nó ra như thế này này.”

Kha bảo ông Hạo cởi áo dài để chàng treo trên mắc rồi hỏi:

– À quên chú cho cháu biết cô Hĩm đi ở riêng đã có cháu nào chưa?

Ông Hạo thở dài:

– Ấy lẽ ra thì được một đứa con trai đầu lòng rồi, nhưng tội nghiệp Tháng Ba năm ngoái thằng bé bị cảm nặng rủi gặp hôm Tây về vây làng để kiểm soát, chúng không cho ai ở nhà cả, thành thử mẹ phải bế con ốm ra đầu đình tập trung. Ðến gần chiều cuộc kiểm soát xong, bố nó vội phóng xe ra phố mua thuốc, nhưng muộn quá, hôm sau thằng bé chết.

Ông Hạo ngừng lại một giây như nghẹn ngào nhưng khuôn mặt vẫn nhẫn nại:

– Thực rõ hoài, thằng bé kháu quá đi mất, giời để làm người bây giờ nó đã biết nói đủ điều rồi đấy!

Hai chú cháu hàn huyên mãi đến khi Miên dọn cơm chiều. Hiển cũng vừa đi dạy học về. Trong bữa ăn ông Hạo luôn luôn khen mừng Kha tốt số:

– Làm sao mà gặp được những người bạn tốt đến thế! (Ông ám chỉ Hiển và Miên).

Một trăm bạc Miên đưa cho ngày nào ở Gia Lâm, Kha may được chiếc quần tropical, còn lại mấy chục, tối hôm đó Kha mời chú đi xem chèo cổ ở rạp Lạc Việt (Kha còn nhớ tính chú thích chèo cổ).

Giữa hai màn hát ông Hạo chợt nhớ ra điều gì, nói:

-À anh Hãng con ông phán Nghị cũng đã về Hà Nội được ba bốn tháng nay rồi đấy, anh biết chưa?


Kha giật mình:

– Anh Hãng về rồi ư hở chú? May quá nhỉ. Hình như một năm trước đây bà phán Nghị có mang cô Thi về Hà Nội chữa bệnh.

Ông Hạo gật đầu:

-Nay thêm anh Hãng về nữa, chỉ thiệt có ông Phán.

-Sao lại thiệt ông Phán hở chú?

-Ông tự tử ở đồn điền Phú Thọ!

-Ông Phán tự tử?

Thì chính anh Hãng trốn về Hà Nội báo tin đó cho bà Phán mới hay. Úi chà, được tin dữ, bà nhất định ra hậu phương để mua áo quan chôn cất lại cho chồng “chúng nó có cấm thì hãy giết bà trước đi” bà nói thế. Ông Phán chết trần truồng không có cả bó chiếu!

Tin mới cập nhật