Khu Rừng Lau (Kỳ 112)


Hiển nghe mà rùng mình, chàng nhớ lại thuở thịnh thời của thực dân, nhớ lại hình ảnh cô đầm hãnh tiến rượt đuổi người thanh niên Việt ở trước rạp Eden.



Chàng mường tượng những cảnh tù đày ở Côn Lôn, Lao Bảo lẫn lộn với những cảnh thanh niên trụy lạc ở Khâm Thiên, ở ngõ Sâm Công, rồi những cảnh làm đĩ, những cảnh người ngoại quốc nhìn người Việt bằng con mắt miệt thị, những cảnh trí óc thông minh Việt Nam đã không được sử dụng, mà còn bị hạn chế để đến nỗi kẻ biết lái xe tăng được coi như một kỳ tài quái kiệt, chàng nghĩ đến cảnh đời trống rỗng, người xót thương cho dân tộc chỉ còn biết kêu than tiêu cực: nhạc “Giọt Mưa Thu” của Ðặng Thế Phong, thơ “Cảm Thu Tiễn Thu” của Tản Ðà; chàng nghĩ đến những ngày hè oi ả, tiếng ve kêu ánh ỏi dưới hai hàng me hay hai hàng phượng vĩ hoa đỏ rực báo mùa thi, than ôi thi cử mà làm gì, nhà trường sản xuất ra những kẻ hiên ngang thì mất đầu như Nguyễn Thái Học, Ký Con, những hạng tầm thường “phi cao đẳng bất thành phu phụ” thì gác tía lầu son.


 


II


 


Bốn giờ chiều, Luận đến sớm ngỏ ý đón Hiển, Kha, Miên để đưa đi một vòng qua các phố tỉnh lỵ gọi là “xem tình hình quốc gia.” Miên từ chối khéo, nàng ở lại, xuống bếp giúp Uyển sắp đặt các đồ nấu nướng. Lên xe Dodge 4, cả ba người đàn ông cùng ngồi trên, Kha ngồi giữa ngay sát bên tay mặt Luận, Hiển lơ đãng nhìn cảnh sinh hoạt của dân chúng hai bên lề phố, trong khi Luận huyên thuyên nói về chuyện vợ con của chính anh:



– Thật tình moa coi en (elle) như vợ chính thức rồi, cần chó gì phải giá thú giá thiếc, nhưng moa vừa đi opération (công tác) nửa tháng về, elle đã ngoại tình. Mà với ai? Với thằng bạn thân của mình mới chó chứ.



– Cậu có đánh thằng bạn? Kha hỏi.



– Ấy mình cũng định thế, thằng cha đó cran (gan) lắm, nó nói với moa, chính vợ mày tấn công tao trước, mày về cảnh cáo nó thì hơn.” Lần đầu moa tha thứ, moa chỉ vào elle giao hẹn: “Tôi báo cho cô biết là tôi bỏ qua chuyện trở về trước, nhưng từ nay trở về sau, cô phải ngừng lập tức cái trò bỉ ổi ấy!” Lần sau moa đi opéraration, elle lại chứng nào tật ấy; sau bữa ăn tối, moa lẵng lặng bước vào phòng elle như thường lệ, dừng lại trước mặt elle, mím chặt môi, đứng nghiêng người về phía bên phải, phóng một quả đấm thôi sơn vào đúng quai hàm, elle lộn đi mấy vòng trên chiếc giường rồng rồi ngã sấp xuống đất. Elle gan lắm, không khóc một tiếng trừ tiếng kêu thất thanh duy nhất lúc thoạt đầu, rồi xếp va li đi ngay, hôm sau chiếu điện thấy có một fêlure (rạn nứt) ở khoảng đó.



Kể dứt câu chuyện một cách rất tự nhiên, coi như Kha đã biết elle là ai rồi, Luận cất tiếng hát một bản tình ca than cho duyên kiếp bẽ bàng, giọng trầm buồn rất đỗi thương cảm, chính Kha cũng không ngờ con người có giọng ca nghệ sĩ ấy lại cũng là con người vũ phu của thế đứng “nghiêng mình bên phải” và “phóng một quả thôi sơn” lên quai hàm người đẹp. Giọng hát trầm buồn bỗng ngừng bặt, tốc độ xe giảm hẳn, tiếng Luận hốt hoảng cùng với tiếng kèn kẹt của cần sang số:



– Bỏ cha tôi rồi, đồ giả.



Kha ngơ ngác hỏi:



– Giả gì kia?



– Mày trông con bé đứng trước cửa, bên tay mặt mày:



– Cô giáo tiểu học mới đổi tới đấy. Sáng nay tao gặp elle đi lễ chùa, ngực thế này (Luận phác một vòng trước ngực mình), mà bây giờ trong elle mặc áo cánh đứng trước cửa, ngực lép xẹp. Của giả rồi! Ðau thế!



Xe chạy nhanh dần và giọng hát trầm buồn của Luận lại nổi lên, Kha nghe mà có cảm giác Luận đương đặt cả cuộc đời mình lên chiếu bạc ván chót và biết mình thua nên thả cho đời tan trước vào tiếng hát đó.



Từ lúc lên xe, Hiển vẫn cúi đầu suy tư, đôi khi chàng có mỉm cười, hoặc cười thành tiếng khẽ góp vào câu chuyện của Luận, nhưng rõ là chỉ có tính cách xã giao thôi.



Luận bỗng bẻ quặt tay lái. Hiển xô vào Kha và cả hai xô vào cánh tay “hải tặc” của Luận. Xe vút về phía trước, chồm lên, tiếng phang rít, tiếng Kha ngạc nhiên:



– Ồ đã đến nhà này!



Thì ra trên đường về, Luận cho xe chạy quành ngả khác đi vào một đường hẹp nhưng vắng và khi xe nhô khỏi đường hẹp đó chỉ quặt ngoẹo sang tay trái một chút là tới nhà.

Thơ Giao Yên


Xuân bên vườn cũ


 


Xuân lại quay về thay sắc lá


Mang sang từng sợi ấm đan ta


Bên cành lộc nõn say chim hót


Kìa ngọc hay ai mướt lắm mà!


Làm ngẩn ngơ hàng cây lối xóm


Làm cho gió mỏng đến hòa ca


Trời gieo nắng sưởi mưa phơn phớt


Mình đón xuân mùa – Rượu sủi hoa


Nhớ lúc gọi bay mà nuối tuổi


Thanh xuân từng tuổi cứ dần xa


Lùm xưa trốn, bắt dần phai trớt


Vườn cũ càng thưa mấy bạn già.


___


 


Sợi tình phố núi


 


Em buông mái tóc mùa xuân ngát


Thả rụng tơ rừng xuống biển xanh


Hồi hộp sóng xao hương luyến nhớ


Sợi tình phố núi quấn lòng anh.


___


 


Giọt mưa to nhỏ


 


Mình về tóc lốm đốm sương


Thương con đường có người thương đi, về


Nhớ khi tàu chuối cùng che


Giọt mưa to nhỏ lời quê thật thà.


___


 


Tình như sương khói


 


Ðâu chỉ đông sang mình thấm lạnh


Tình như sương khói tội tình ơi!


Ngày vơi mà nhớ thương còn đọng


Lòng gởi về ai một phía trời.


___


 


Rộn rã bơ vơ


 


Ðừng nói nữa!


Thôi đừng nói nữa!


Ðã biết thời có những bàn tay


Không muốn cầm những bày tay


Mà chỉ muốn người ta xin cầm lấy


Gặp nhau liền vờ vĩnh bắt tay nhau


Chút ấm giả khi tràn đầy tuyết lạnh


Ta vẫn quẩn quanh trong khu vườn bất hạnh


Mấy chục năm dài cây không biết trổ nhánh thơ


Mày xuống phố – phố vẫn đông người mới, cũ


Trong mỗi người rộn rã mỗi bơ vơ


Hoa vàng công viên sương rưng giọt lạnh


Có pho tượng ngậm ngùi


Có pho tượng trơ trơ


Ta thẫn thờ hoang sơ.

Giọt nắng chiều


Dân Huỳnh



(Tặng KK.)


 


Chắc em đã nhiều lần mong tuyết tan


Sau ô cửa mùa đông thời gian đều như trở lại


Chắc em thấy trời sao đang tâm hờ hững


Mặc kệ con người, mặc kệ ngàn nỗi buồn vui


 


Chắc em ước giọt nắng vàng xưa cũ


Sưởi ấm một điều trăn trở thiên thu


Anh cũng vậy… dù Cali nhiều nắng


Sao băng tuyết trong lòng chôn lấp kẻ tha hương


 


Em biết không ngày mai tuyết sẽ tan


Bởi thời gian nào không đi vòng trở lại


Con đường xưa của chúng mình cũng vậy


Gặp lại buổi xế chiều đôi mắt xé cay…


 


Và hôm nay anh xin gửi tặng em…


Muôn ngàn giọt nắng chiều xưa ấy


Ðể gom góp lại thành


Một buổi nắng chiều vàng nơi quê cũ em yêu


 


Anh sẽ hy vọng tuyết Montreal sẽ dần tan chảy


Ðủ ấm tình người đủ ấm hai phương…



(Cali, cuối Ðông 2013)

Dâng


Bùi Giáng


 



Ðêm trần gian! Ðêm trần gian!


Ðêm mưa xuống biển, lạnh tràn lên non


 


Người sẽ hỏi: Vì sao con khổ?


Thuở trần gian con đau đớn những gì?


Giờ con muốn về đâu, con nói rõ


Dù nơi nào, Ta sẽ để con đi!


 


Con sẽ đáp: Từ xưa con biết


Sẽ có ngày đứng trước Chí Cao


Con đã định sẽ rồi con nói hết


Những u tình không giải tỏ từ bao


 


Trần gian lạnh, con từng không chịu nổi


Người với người cứ làm khổ nhau luôn


Chiều trời đẹp gió về có thổi


Vẫn không ta những sầu tủi giận hờn


 


Con cũng thế và mọi người cũng thế


Những con người đáng lẽ yêu nhau


Tình có đến nồng nàn vô kể


Tình đã đi không nói hết lòng đau


 


Con đã thấy khắp nơi khắp nẻo


Diễn bao lần tấn thảm kịch nhân gian


Màu sắc đỏ hồng tươi đã héo


Nói làm sao những mộng thắm úa tàn!


 


Tuổi trẻ yêu thương ngó nhìn trong dạ


Một vườn hoa hồng cúc dậy lừng hương


Rồi cứ thấy dần dần cánh rã


Cúc theo hồng rơi rụng giữa mù sương


 


Con vẫn biết đời người nhỏ bé


Ðau vô cùng, dù có cũng nên thôi


Nhưng bắt gặp những mấy lần nhỏ lệ


Hỏi vì sao cánh rụng lá hoa rơi?


 


Những đêm khuya con tìm chỗ con ngồi


Xa bè bạn, để nhìn Trời ngó Ðất


Con có hỏi “Ðâu là Sự Thật?”


Lời của con thốt lại có nên lời…


 


Con đã ngó những mái đầu xanh tóc


Con đã nhìn những răng mọc trắng phau


Con đã định trong giờ vui đừng khóc


Chỉ lúc này, đừng tiên cảm mai sau!


 


Nhưng khó quá hết làm sao ray rứt


Khi nghĩ mình chính sắp phụ các em


Gió thổi mãi, tơ lòng con sẽ đứt:


Bàn tay con không đủ sức gắn hàn


 


Thân là máu, thịt và xương chia biệt


Quả tim mềm sao quá dễ tổn thương!


Tình cao quý vẫn là dây oan nghiệt


Ngắn vô cùng, lần phùng ngộ với vô biên…


 


Mồng ba Tết ra đường con gặp


Một trẻ em đi bán đậu phụng rang


– “Thầy mua giúp! Ðầu năm, dịp Tết…”


Con mua nhiều, rồi nước mắt chứa chan


 


Vì con biết ngày Mồng Ba một dịp


Không còn về cho bao đứa trẻ con


Bán đậu phụng hay lau giày lau dép


Ðã lang thang đầu gối rụng mỏi mòn


 


Và khách rộng lòng, ngày mai sẽ hẹp


Sẽ tàn nhẫn vô cùng với tất cả các em


Mà con biết vẫn không sao trách được


Vì tim người cũng canh cánh một mũi tên


 


Con chỉ kể những tủi buồn riêng rẽ


Lời của con không đủ sức nói thêm


Những đau thương mênh mông như trời bể


Ðương dày vò nhân loại suốt ngày đêm


 


Hỡi Thượng Ðế! Cúi đầu con thưa lại


Ở trần gian ai cũng khổ liên miên;


Người đã dựng cảnh tù đày đạo mãi


Ðể làm gì! Cho sáng nghĩa Vô Biên?


 


Con có nghĩ ắt là phải thế


Một đôi lần con ghì siết hai tay


Nàng Thơ đẹp của trần gian ứa lệ


Bảo con rằng “Hãy nhớ lấy Phút Giây!”


 


Con hoan hỉ xin tạ lòng Thượng Ðế


Ban hồng ân cho con nhớ nhiều ngày


Người đã hỏi vì sao con khổ


Muốn nơi nào, Người cho phép đi ngay.


 


Con xin đáp: Nơi nào cũng được


Miễn là đừng quá tủi lạnh lầm than


Một kiếp sống con lĩnh thu bài học


Xin đợi làn suối ấm tấm thân con


 


Nơi nào đó dù sao cũng được


Con muốn nhìn lại mặt những người thân


Từng đã khổ cùng con đã khóc


Từng đã vui chung cười một đôi lần


 


Gặp nhau lại ở nơi nào tùy Thượng Ðế


Ðể chúng con có thể vui với nhau


Ngó lại mặt, mắt chúng con trào lệ


– Nhưng không còn là lệ của thương đau –


 


Con quỳ xuống, nhịp lòng con đứng lại


Con gục đầu tim thổn thức run run


Những lần lỗi thuở nào con ghi lại


Người cầm giùm và xóa hết cho con.


(trích trong tập “Chớp Biển” 1996, qua [email protected])

Theo em lên chùa


* Phan Xuân Sinh


 


Ta là kẻ hay nói năng bá láp


nên đôi khi em cũng ngại ngùng


em bảo ta lên chùa lạy Phật


thành tâm cho giải bớt kiết hung


ta tắm gội ăn chay nằm đất


cũng chắp tay cúng vái tứ phương


Ðường Tăng chắc khi xưa cũng vậy


nên lòng ta thanh thoát vô cùng


ta cũng có đôi ba ngày tịnh khẩu


bởi vì em tụng mãi những trang kinh


để nhắc ta bao điều lầm lỗi


Phật lòng ta tự khắc hiển linh…


 


(Nguồn: Son Ng.; [email protected])

Hẹn nhau mùa Xuân


* Mạc Phương Ðình


 


em khoác vội mùa xuân về thắp nắng


chiều đi qua đôi má vẫn hương nồng


anh đứng đợi bên ngày xưa thầm lặng


một chút buồn thoáng nhẹ dấu hư không


 


đôi bàn tay, em từng trang vụng dại


lá thư xanh ươm nỗi nhớ về nhau


ngày tháng cũ theo gót đời mê mải


nét môi xưa còn ấm nụ hôn đầu


 


hẹn mùa Xuân theo tuổi tròn năm mới


em quay đi mù bóng nhỏ đường dài


xa giọng hát ai ru người diệu vợi


dấu thời gian vùi trọn giấc mơ phai


 


đêm thức giấc chập chờn xanh mắt biếc


tạ ơn nhau chưa lỗi nhạc mùa xuân


dẫu bước lỡ vụng về ngày tưởng tiếc


mắt xưa còn thơm giọt lệ rưng rưng..

Nước Mắt Ðức Hải


* Luân Hoán


 


bốn mươi hai năm chưa một lần nhắc đến


em vẫn còn hít thở rất gần ta


ơi cô gái tuổi bẻ sừng trâu-mộng


tuổi núm cau nâng vải-mộc thành hoa


 


chẳng ai nhắc, ta vẫn còn nhớ rõ


xóm-biển-mồ-côi Ðức Hải năm nào


dừa cụt đầu cát không dung cây cỏ


vài mái nhà nằm phơi nắng hanh hao


 


ta một thuở đã chấm nhầm tọa độ


may pháo binh đã bắn chệch nhà em


để sau đó khi nằm làm chốt chận


ta vô tình lượm được một trái tim


 


em hẳn nhớ mặt trời còn ngủ nướng


đã có ta thấp thoáng quẩn bên nhà


áo giáp, bản đồ hình như sáng tướng


làm lòng em sớm nhận diện ra ta


 


dưới nắng nóng tưởng chừng như thường trực


của cát nồng vị gió biển bao vây


ta chợt có một mái hiên tĩnh lặng


hạnh phúc tuyệt vời em ngã vào tay


 


chỉ vuốt tóc, chỉ ngồi nghe em thở


hương trinh nguyên con gái quả nhiệm mầu


ta vốn dĩ từng hư thân xấu nết


nhưng giữ lòng thánh thiện được nhờ đâu


 


mắt sáng quá và môi hồng thơm quá


làm sao nhai, sao nỡ cắn cho đành


chẳng lật áo đề thơ, chẳng tằng mằn ra chữ


tình như dòng nước đọng giữa mây xanh


 


lời thủ thỉ như ngón tay cù léc


trái tim nghe nhột nhột chợt hiền lành


em trong tay ngỡ như hoa đang nở


ta lắng nghe tình lấp lánh mong manh


 


cứ thỏ thẻ ngày này qua ngày khác


ba tuần dài cho mỗi bận thay quân


ta được lệnh rời chỗ nằm dã chiến


nghĩa là rời em, rời Ðức Hải mông lung


 


tình đến đi thật tình cờ, vội vã


không chia tay, không đậu nổi dòng thơ


em của biển của đất trời Ðức Hải


và bây giờ đã thật sự của thơ


 


ngày tháng cũ không có hoa để tặng


hoa hôm nay cũng nở vụng, bất ngờ


trong mớ chữ ta vừa xào nấu lại


có nước mắt em ta cảm nhận mơ hồ

Hoa Kỳ chú ý đến hải tặc ở duyên hải Tây Phi Châu

WASHINGTON (AP) Hoa Kỳ và một số quốc gia đồng minh đang xem xét kế hoạch chống hải tặc dọc duyên hải Tây Phi Châu,  do sự lo ngại tiền bạc từ những cuộc đánh cướp này sẽ được chuyển đến cho nhóm phiến loạn ở Nigeria có liên hệ với khủng bố al-Qaeda.









Một toán binh sĩ Hải quân Hoa Kỳ và Lực lượng đặc biệt Nigeria chuẩn bị cặp vào chiến hạm NNS Burutu trong một cuộc tập dượt chống hải tặc ngoài khơi Nigeria. (Hình: AP/John Gambrell, File)


Các giới chức quân sự và chống khủng bố của Hoa Kỳ nói rằng hoạt động hải tặc ở vùng vịnh Guinea gia tăng nhiều từ năm ngoái khiến cho có thể các nước đồng minh cần phải thực hiện những nỗ lực phối hợp giống như đã làm tại vùng duyên hải Đông Phi đối với hải tặc Somalia.

Nhóm phiến loạn Boko Haram ở Nigeria có liên hệ chặt chẽ với AQIM (tổ chức al-Qaeda ở vùng Hồi giáo Maghreb), tổ chức đã can dự vào vụ tấn công lãnh sự quán Hoa Kỳ tại Benghazi, Libya, cũng như đã đánh chiếm Bắc Mali cho đến khi Pháp đem quân can thiệp.  AQIM được coi là nhóm có nhiều  tiền bạc và là mối đe dọa lớn nhất ở Tây Phi.

Người ta không thể biết rõ liên hệ giữa Boko Haram vớ i bọn hải tặc ngoài khơi Nigeria và Cameroon nhưng tin rằng một số chiến lợi phẩm của hải tặc có thể được dùng vào việc mua vũ khí hay huấn luyện quân khủng bố.

Giới chức quân sự Hoa Kỳ đang thảo luận với các nước đồng minh về kế hoạch chống hải tặc, nhìn nhận rằng có nhiều khó khăn do hạn chế về ngân sách. Tướng Carter Ham, Tư lệnh quân lực Hoa Kỳ vùng Phi Châu,  mấy tuần trước đã cho Quốc hội biết là hiểm họa khủng bố ở Bắc Phi là điều rất đáng lo ngại. Trong khi đó hoạt động của bọn hải tặc ngoài khơi Tây Phi cũng gia tăng mức độ từ võ trang đánh cướp nhỏ lên tới bắt cóc người và tàu hàng để đòi tiền chuộc, thu nhập hàng triệu dollars.

Hải tặc ở Somalia hiện nay đã giảm sút nhiều. Năm 2010 gần 50 tàu bị hải tặc bắt và 200 vụ đánh cướp thất bại. Năm ngoái hải tặc chỉ bắt được  7 tàu hàng và thất bại trong 36 vụ tấn công khác.

Các giới chức quân sự Hoa Kỳ cũng cho rằng khó có thể hình thành một liên minh đa quốc chống hải tặc tại Tây Phi giống như tại Đông Phi, vì đường hàng hải qua vùng biển Đông Phi được tàu bè của nhiều quốc gia trên thế giới sử dụng thường xuyên và tấp nập hơn. Vì vậy có phương án gia tăng công tác huấn luyện và tăng cường trang bị cho các nước Tây Phi để họ đảm nhận trách nhiệm chống hải tặc, tuy nhiên hiệu quả chưa thể nào ước đoán được.  (HC)

Con ma xóm đường luồn cây thị


* Quan Dương


 


Góc chợ xuyên qua một khúc đường luồn


Con hẻm nhỏ có nhà hai đứa ở


Cây mận trên bờ thành sau nhà bà Năm Nhị


Hồi nhỏ nghe đồn có ma


 


Tuổi học trò nắng sớm chiều mưa


Con ma trên bờ thành khiến cho em sợ


Tôi kề bên thấy lòng sao mang ơn con ma quá


Nhờ nó mà em nép sát vào tôi hơn


Mặt mũi con ma thế nào


Nằm dọc hay nằm ngang


Lưỡi dài hay ngắn


 


Tôi yêu em có con ma làm chứng


Khi em vui tôi bật cười thành tiếng


Khi em buồn lòng tôi cũng nghẹn


Những ngọt ngào cay đắng níu đuôi theo


 


Cây mận trên bờ thành.


Bóng tối đen thui


Người trong xóm mắc vào một ngọn đèn để mọi người đỡ sợ


Tôi lấy đá ném cho nó bể


Vì không muốn nó nhìn khi tôi hôn em


 


Con hẻm đường luồn chứa chật nhiều nụ hôn


Hoa mận cũng nở theo chờ đơm trái


Em bỗng vuột ra khỏi tầm tay với


Trái thị rụng nhà người, con Tấm bỏ sang sông


 


Em đi rồi hồn tôi hụt chân


Bóng điện không còn thèm ném đá nữa


vàng chập choạng trên bờ thành ủ rũ


Không biết bây giờ em còn sợ ma không?

Khi em mười sáu


* Trần Dạ Từ


 


Cho tôi xin nửa bóng trăng ngoài


Với nửa mùa thu trong mắt ai


Lá rụng bao nhiêu hè phố cũ


Sao nghe lòng rưng rưng nhớ người


 


Ðêm biếc cành xoan, thơm giấc mơ


Ðầu hiên hoa trắng nở bao giờ


Em mười sáu tuổi trăng mười sáu


Áo lụa phơi buồn sân gió xưa


 


Tôi dối lòng tôi đêm sắp tàn


Ðêm tàn để lạnh giấc mơ em


Ðể bàn tay gối sầu trên ngực


Và gió thu đầy trong mắt trăng


 


Tôi dối lòng tôi trăng sắp mờ


Trăng mờ em sẽ thấy bơ vơ


Sẽ thương cho những con đường cũ


Và nhớ bao nhiêu lối hẹn hò


 


Nhưng hẳn là em không nhớ đâu


Giấc mơ còn mát ánh trăng sầu


Hoa còn thơm tuổi đời trên má


Mùi áo còn say muôn kiếp sau


 


Lòng nhớ lòng thương lòng ngại ngùng


Bây giờ tôi cách núi xa sông


Bài thơ từ thủa trăng mười sáu


Mười sáu trăng chờ em biết không


 


Tôi dối lòng tôi bao nhiêu lần


Bao nhiêu lần trăng vẫn là trăng


Lòng nhớ lòng thương lòng sắp khóc


Ðêm chưa tàn đâu đừng nói năng.

Lá tương tư

 


* Mường Mán


 


Sáng nay anh thấy mộng rất đầy


Mộng về theo những cánh me bay


Bay từ vai quên sang vai nhớ


Xanh cả hồn anh bé có hay?


 


Sáng nay anh thấy hai sao mai


Một trong mắt bé một trên trời


Tim vui anh thốt lên thành tiếng


Chợt thấy tình cười trong miệng ai


 


Sáng nay anh thất mưa rất dài


Mưa từ quá khứ tới tương lai


Mưa trong cõi vắng anh ngồi đợi


Mưa ngập ngừng chân bé cõi ngoài


 


Sáng nay anh thấy một cánh diều


Mang tiếng cười ai vút lên cao


Anh vội xếp lòng thành đôi cánh


Ước được làm chim để bay theo


 


Sáng nay anh thấy một trời hương


Hương dâng lụt lội cả tâm hồn


Ô hay! mắt bé là thuyền giấy


Vừa chở Thu về đậu bến hương


 


Theo trong mắt bé một vầng trăng


Sáng từ mồng một đến đêm rằm


Soi đường tình ái cho anh tới


Dẫn lối cho hoa tìm đến ong


 


Quàng lên vai bé một dòng sông


Mênh mang non nước thuở tang bồng


Sông ru tóc ngủ sầu xa ngái


Sông chở phù sa ươm mắt trong


 


Vẽ lên trán bé những ngày mưa


Khăn quàng áo lụa dài rất thơ


Ðôi bàn tay yếu như lá cỏ


Lùa xuống lòng anh lửa bốn mùa


 


Gắn giữa môi bé một mặt trời


Ðỏ chùm mộng chín tuổi lên mười


Cùng bâng khuâng nhớ năm mười bảy


Và nụ hôn tròn thơm ô mai


 


Thổi vào lòng bé một tiếng đàn


Anh nghe chầm chậm bước Xuân sang


Những đường tơ nõn rung như nắng


Thứ nắng không màu nhưng rất nhung


 


Lăn vào hồn bé một cỗ xe


Hai con ngựa trắng bước trong mê


Nhạc vàng khuya rộn đôi vòng ngọc


Nhủ bé rằng anh sẽ trở về

Tân Giáo Hoàng không dọn về tư dinh dù đã xây xong

 


VATICAN CITY (AP)Công cuộc khôi phục tư dinh dành riêng cho Giáo Hoàng Francis vừa mới hoàn tất nhưng ngài cho biết ngài muốn ở lại trong khách sạn của Vatican, ít nhất là trong thời gian này.








Đức Giáo Hoàng Francis cử hành Lễ Lá vào hôm Chủ Nhật, 24 Tháng Ba, 2013, tại công trường Thánh Phê Rô. (AP/Andrew Medichini)


Trước sự hiện diện của nhân viên tòa thánh và khách khứa tại điện Domus Sanctae Martae, ngài nói ngài chưa có ý định dọn ra khỏi căn phòng ở khách sạn của Vatican. Ngài phát biểu trong thánh lễ mỗi buổi sáng lúc 7 giờ sáng, tại nhà nguyện của khách sạn, từ khi ngài được bầu làm giáo hoàng vào hôm 13 Tháng Ba. Trong thánh lễ này, ngài mời nhiều nhóm khách khứa khác nhau đến dự, họ gồm công nhân làm vườn, phu quét đường ở Vatican, tiếp viên khách sạn và nhân viên tờ nhật báo L’Osservatore Romano của Vatican.


Linh Mục Federico Lombardi, phát ngôn viên Tòa Thánh cho biết, không rõ ngài sẽ lưu lại ở khách sạn hiện nay đến bao lâu, trước khi dọn về tư dinh dành riêng cho ngài.


Đồng thời Hồng Y Jorge Urosa của Venezuela tiết lộ rằng, trong một lần hội kiến với Đức Giáo Hoàng Francis ở Vatican, ngài cho hay ngài “sẽ xem xét” việc ngài có thể mở cuộc viếng thăm nước ông, tuy nhiên hiện nay chưa có quyết định về kế hoạch hay ngày giờ cụ thể nào. (TP)

Câu chuyện trên đỉnh núi


GS Nguyễn Văn Phú


 


Sau khi từ biệt nhà sư trụ trì chùa Giải Oan ở ngay chân núi, hai thầy trò bắt đầu lên dốc. Mới đi chân còn khỏe, nhà sư già bước thoăn thoắt, chú tiểu đồng nhanh nhẹn theo sau.



Qua một đoạn đường gần như dựng đứng, họ đến một khu đất khá rộng và phẳng với mấy chục ngôi tháp, ngôi lớn nhất và đẹp nhất là tháp vua Trần Nhân Tông – vị sáng lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử – bỏ ngôi đi tu, tên là Ðiều Ngự Giác Hoàng hay Hương Vân đại đầu đà.


(Nguồn: Google)


 


Không nấn ná nhiều, họ tiến nhanh trên đường dốc để lên chùa Hoa Yên, ngôi chùa chính của khu Yên Tử, lớn và đẹp. Tiểu đồng đứng dưới cây đại già, đọc được đôi câu đối:



Dẹp giặc độ chúng sinh, làm vua làm Phật,


Dạy dân tu thiền giáo, yêu đạo yêu đời.



Suối Ngự róc rách chảy bên cạnh chùa. Hai thầy trò rửa mặt rồi tiếp tục lên cao. Con đường không phải là đường, thật ra chỉ là một lối đi chật hẹp, cheo leo, hai người gắng theo hẻm nhỏ giữa hai vách đá để đến Cửa Trời.



Không khí trong lành, mát mẻ, làm cho người ta quên cả mệt nhọc, cố cất bước thêm, mong lên đỉnh núi. Mục tiêu đã đạt: hai thầy trò đến chùa Ðồng, gọi là chùa mà thật ra chỉ là một cái am, mỗi bề chừng hơn một mét, cao khoảng một mét rưỡi. Gọi là chùa Ðồng vì làm bằng đồng, nhưng sau bị mất nên được làm lại bằng gạch.



Hai thầy trò thắp nhang làm lễ, xong ngồi nghỉ, phóng tầm mắt ra xa. Ðược ngày trời đẹp, họ thấy tận Vịnh Hạ Long. Gió từ biển thổi vào làm cho cả ngàn cả vạn cây thông rung động vi vu. Trước cảnh bao la thơ mộng ấy, hai thầy trò không ai nói câu nào. Quay về phía tay mặt, xa xa, một rặng núi hiền lành mờ mờ xanh xanh ven theo dòng sông Kinh Thầy. Ngọn Yên Phụ ở đó chăng?



Thấy chú tiểu yên lặng, vị sư già hỏi:



– Con có điều gì suy nghĩ thế?



– Dạ, bạch thầy, đứng trước cảnh này con nghĩ đến hai câu: “Dù ai quyết chí tu hành, có về Yên Tử mới đành lòng tu.” Và con không ngạc nhiên về việc lên núi này để tu hành. Tuy nhiên bỏ cả ngai vàng để đi tu như ngài Ðiều Ngự Giác Hoàng, điều ấy làm con tự hỏi: Ðạo Phật có những điểm gì đặc biệt đến mức thu hút cả bậc đế vương như vậy.



– Có chứ!



– Xin thầy thương dạy cho con.



– Ðược, đạo Phật có một số đặc điểm. Thứ nhất, đạo Phật không nhận có một đấng thần linh sáng tạo ra vũ trụ, vạn vật, nghĩa là không nhận có một nguyên nhân đầu tiên. Ở Ðông phương, ngoài đạo Phật còn đạo Lão nói đến “nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật.” Cái “nhất” ấy là “Ðạo”; Ðạo Khổng nói đến “thái cực sinh lưỡng nghi (âm dương), lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái…” Nguyên nhân đầu tiên Ðạo, Thái-Cực không có hình tượng và không được nhân cách hóa.



– Bạch thầy, thế thì đạo Phật nói đến cái gì?



– Ðạo Phật có cái lý duyên khởi. Nhân gặp đủ duyên thì có sự vật. Cái nầy làm nhân cho cái khác, cái khác lại làm nhân cho cái khác nữa, muốn có quả thì phải đủ duyên. Vì lập trường ấy mà có người cho rằng đạo Phật là vô thần. Ðiều này cần xét lại vì cái quan niệm về vô thần và hữu thần cần phải rõ rệt mới thảo luận sâu hơn được.



– Ðạo Phật còn đặc điểm gì nữa, bạch thầy?



– Ðạo Phật có thuyết vô ngã tức là “không có ta.” Lý vô ngã rất khó. Nôm na mà nói thì đức Phật dạy như thế này: Cái mà ta vẫn coi là ta gồm có thân và tâm. Thân chẳng qua là do những cái khác hợp lại mà thành, Phật học gọi đó là duyên hợp. Hết duyên thì hết thân. Thân tuy có, mà là “giả có” chứ không thật có. Tâm thì biến chuyển từng giây từng phút, lúc vui lúc buồn, lúc thương lúc giận. Nó tuy “ có” mà là “giả có.” Cái ta mà người ta thường nói đến chỉ là “cái ta” do xã hội qui ước ra, gọi là “ta” cho tiện thôi!



– Có thầy đây, có con đây, mà lại bảo rằng không có ta, thật là bí hiểm!



– Thế mới gọi là đặc điểm, phải mất nhiều thời gian tham cứu mới “ngấm,” phải mất nhiều thời gian tu tập mới “vô.”



– Thế là hai đặc điểm rồi, bạch thầy.



– Ðúng, cái thứ ba là: Ðạo Phật đòi hỏi Phật tử “hiểu rồi mới tin” chứ không phải “nghe gì tin nấy.” Có cả một bài kinh nói về chuyện nầy, đó là kinh Kalama và đặc biệt nhất là điểm thứ tư: Tính cách khoan dung. Ðức Phật dạy đệ tử không được bài bác các tôn giáo khác. Khi có một người khác đạo đến xin quy y Phật, Ngài bảo nên về suy nghĩ kỹ rồi hãy quyết định và khuyên người đó phải tôn trọng sư phụ cũ. Vì tính cách khoan dung đó mà trong lịch sử không có chiến tranh nào mang tính cách Phật giáo cả.



– Bạch thầy, đạo Phật có giáo điều không?



– Tùy theo cách hiểu biết. Có người bảo rằng giáo điều của đạo Phật là “Vạn pháp có chung một bản thể tuy rằng hình tướng khác nhau. Ai cũng có Phật tánh, ai cũng có thể thành Phật được.” Ðiều này cho biết: người tu Phật có thể thành Phật như vị sáng lập ra Phật giáo. Ở tôn giáo khác, đệ tử không thể lên ngang giáo chủ được! Vì không thể “chứng minh” rằng vạn pháp có chung một bản thể và ai ai cũng có Phật tánh, nên người ta nghĩ rằng câu ấy là một giáo điều. Tuy nhiên cũng có người trả lời rằng: Tu hành đến chứng ngộ sẽ “thấy,” không ai chỉ cho được!



Mặt trời đã ngả bóng, hai thầy trò khoác bị lên vai, ngắm nhìn cảnh vật xung quanh một lần nữa; những đám mây trắng cuồn cuộn nổi bật trên nền trời xanh bắt đầu ngăn tầm mắt phóng ra vịnh Hạ Long và đảo Cát Bà, nhưng gió mát vẫn thổi nhè nhẹ, rừng thông vẫn reo vi vu êm ả, lòng người lâng lâng, vừa say mê cảnh đẹp của đất nước, vừa muốn theo dấu chân của Ðiều Ngự Giác Hoàng.



Hai thầy trò đi lần xuống núi, đến chùa Hoa yên nghỉ đêm tại đó. Ăn xong lương khô đạm bạc cạnh đống lửa đốt lên để xua khí lạnh ban đêm, thầy trò ngồi yên lặng.



Thầy nhập thiền, trò nghiền ngẫm về những điều vừa được nghe. Chú tiểu đồng bỗng nhớ lại câu: Ðạo là để thực hành chứ không phải là để nghiên cứu suông.



Ánh bình minh ló rạng, chú tiểu có cảm giác lòng mình cũng đang có bình minh.



(Nguồn: Ken Nguyen, [email protected])

Văn hoá ‘cởi giày’

 


Tạp ghi Huy Phương


Từ ngày sang Mỹ tôi không bao giờ sắm những đôi giày có dây. Thật là phiền phức khi vào nhà người khác phải đứng lom khom, chân co chân duỗi để tháo chiếc giày ra, trước khi bước vào nhà, cho vừa lòng gia chủ. Với đôi giày không dây, chỉ cần tuột ra hay xỏ vào nhanh chóng rất tiện lợi. Có hôm chưa kịp cởi giày, đang bận bắt tay bắt chân thì bà chủ nhà đã thẳng thừng gọi ông chồng: “Anh nhắc mấy ông bạn cởi giày ra!”








(Hình minh hoạ: Huy Phương/Người Việt)

Có nhà lại cẩn thận treo một cái bảng nhỏ ở ngay cửa bằng tiếng Anh, còn hơn là ở cửa chùa hay nhà thờ Hồi Giáo: “Take off your shoes before entering!” Làm như gia đình này suốt năm chỉ tiếp toàn khách Mỹ. Khách Việt không biết tiếng Anh chắc phải nhờ chủ nhà phiên dịch, nhắc nhở.

Liệu khách đến thăm có dị ứng với loại bảng “chào mừng quan khách” này không?

Vẫn biết  vợ chồng ông bạn quí cái sàn nhà gỗ bóng loáng hay chiếc thảm đầy màu sắc hơn cái tình bạn hay cái thân thằng bạn mới bước vào nhà, nhưng lâu rồi thành quen, không còn thấy khó chịu nữa. Mới bước qua cửa hay trước khi chủ nhà mở cửa cho vào, khách đã vội líu ríu khom mình, vội vã cởi đôi giày ra, nhiều khi để ngay ngoài bậc cửa kẻo thất lễ. Đôi khi vợ chồng chủ nhà nói mấy câu ngăn cản khách sáo cho có lệ, mà không hẳn là cương quyết, thì thôi cũng cứ cởi đôi giày ra cho phải phép.

Buồn cười là những đôi giày dép của khách lại được để lại trên tấm thảm chùi chân mang chữ “Welcome” đặt trước cửa nhà!

Cái gì quen làm đã thành nếp thì người ta gọi đó là văn hoá, một thứ văn hoá đặc biệt Việt Nam, mặc dầu không thấy sách vở nào ở hải ngoại của các nhà biên khảo văn hoá ghi rằng vào nhà người Việt Nam thì phải cởi giày, đi chân không. Thứ văn hoá này được miễn trừ trong những lễ cưới hỏi, không lẽ nhà trai đến, hai tay bận bưng mâm cau trầu hay đang khiêng con heo quay thì tay đâu mà cởi giày. Cứ tưởng tượng một đoàn người ăn mặc chỉnh tề, đàn ông complet-cà vạt, đàn bà áo dài, vòng vàng sáng loé, mà đi chân đất như lính thời Minh Mạng, Tự Đức thì thật khó coi.

Không thể đem cái thói quen cởi giày ở Sài Gòn ra áp dụng cho hải ngoại. Nền nhà lót gạch bông của người Sài Gòn là cái giường ngủ, không thể đem đất cát, bụi bặm trên đường phố dơ bẩn vào nhà. Tôi đã sống ở Sài Gòn hơn 10 năm, nhà chật, căn gác nóng hầm hập thì cái nền nhà lót gạch bông vừa là bàn ăn, vừa là giường ngủ. Khách ở xa về, cũng không khách sáo, trời mát thì trải chiếu ra, nóng nực thì chùi sàn cho sạch, có khi ở trần nằm cho mát lưng. Ai mà nhẫn tâm mang giày đi dép vào cái nền nhà này? Nhưng ở Mỹ lại khác, ăn có nơi, ngủ có chỗ, không phòng riêng thì cũng nằm tạm trên cái xô-pha, còn nền nhà là chỗ đi lại, vì sao lại phải trân trọng nó như thế?

Ở Mỹ này đường sá, sân nhà không có một tí rác hay bụi bặm, tưởng có thể nằm lăn ra đó mà ngủ một giấc cũng sướng cái thân, đương nhiên đôi giày không dẫm bùn hay đất cát, làm sao có thể làm dơ bẩn hay trầy trụa sàn gỗ hay thảm lót nhà ai.

Một người Mỹ đã bày tỏ chuyện “cởi dày” trên một trang mạng như sau: “Đối với nhà tôi, tôi yêu cầu mọi người mang đôi giày của họ vào nhà, trừ khi thực sự giày họ bẩn thỉu vì dính bùn đất – mà tôi đã không lần nào thực sự thấy như vậy. Chuyện này có thể xẩy ra, nếu bạn sống trong một trang trại, nhưng đó lại là một câu chuyện khác. Chúng tôi có tấm thảm dừa đặt trước cửa để cho khách chùi chân rồi!”
Ở Sài Gòn, nạn vào chùa mất dày dép là chuyện thường tình. Có lần ông bạn tôi vừa đi du học ở Okinawa về cho một đôi dép Nhật bằng da tốt, vào chùa lạy Phật ra thì không tìm thấy dôi dép mới nữa. Nếu như biết đôi dép nào của thằng kẻ cắp bỏ lại thì cũng mang tạm vào cho đỡ đau chân, cuối cùng cũng phải đi cà nhắc, lội bộ ra xe.

Trong chúng ta, những người ra đến hải ngoại ngày hôm nay, trừ trường hợp những người giàu có, may mắn, sung sướng từ Việt Nam ra đi bằng máy bay, đến Mỹ đã có sẵn nhà cao, cửa rộng, chưa có một ngày cơ cực, còn thì hầu hết đã trải qua những ngày khốn khó, đau khổ trong chiến tranh, chết chóc, chạy loạn, bị tù đày, đi thăm nuôi, đi “kinh tế mới,” vượt biển, mưa nắng chạy chợ trời…Có lúc ở gần cái chết, chỉ mong được với tay nắm được cái sống, lúc đói chỉ mong có miếng cơm, lúc chia cắt chỉ mong có một giờ đoàn tụ. Những giờ tuyệt vọng lúc đó, của cải vật chất, tiền bạc, danh vọng chỉ là những thứ mờ nhạt, phù du.

Bây giờ ra hải ngoại, chúng ta có đủ tất cả: cái nhà đẹp trên đồi, cái xe đời mới, một đàn con khoa bảng, có đời sống tự do, đã đi du lịch nhiều nơi, có sức khoẻ, giàu sang…  Nhưng cũng vì vậy chúng ta bắt đầu thấy quý cái thân, yêu cái nhà, không nấu nướng cho đỡ hôi, giữ cái thảm cho sạch sợ bạn bè dẫm phải.

Cũng ở hải ngoại này, khách có mời mới có cơ hội đến, khách muốn đến cũng phải xin phép trước chủ nhà, cũng không ai nhàn rỗi lê la từ nhà này sang nhà khác mà chuyện trò, đấu láo. Một gia đình trung lưu, mỗi năm may ra cũng chỉ có khoảng chục khách quen tới nhà, nên bộ salon ở phòng khách mọi nhà chỉ để cho người trong nhà chứ ít khi dùng để tiếp khách. Nếu có người hàng xóm hỏi thăm, ông giao hàng, hay người đi truyền đạo, thì cũng chỉ hé cửa thò đầu ra ngoài nói năng chốc lát, đâu có để ai giẫm lên cái thảm nhà mình. Vậy thì ai là người bước vào cửa nhà mình, nếu đó không phải là con cháu, họ hàng, bạn bè thân quý? Nếu thật sự, người ta không quí gia đình mình, chẳng ai dư thời giờ, rỗi rảnh mà bước vào ai!

New International Version (2011) có ghi: “Đừng đến gần hơn,” Thiên Chúa phán. “Cởi giày của bạn ra, nơi mà bạn đang đứng là Đất Thánh.” Mà ngôi nhà của bạn có là Đất Thánh hay không?

Bạn nghe tôi đi, hãy kiếm một đôi giày không dây như tôi, hoặc đừng bước vào nhà ai nữa, nếu cảm thấy họ quý cái thảm sạch của nhà họ hơn là tình ruột thịt, tình bằng hữu, tình đồng hương và cả tình người. Con chó kiểng được cưng còn được chạy nhảy trên tấm thảm là vì nó không biết mang giày, nên không phải cởi ra.

Với lại “một đời ta, ba đời nó” như ông bà ta đã nói: cái thảm, chiếc xe, ngôi nhà… đôi khi còn trơ trơ ra đó mà tên người đã nằm trên trang cáo phó rồi cũng nên.

Bảy mươi và bốn phép tính


Võ Văn Lượng


 


Giữa Tháng Giêng năm 2013, tôi tròn bảy mươi. Vợ, con tổ chức cho một sinh nhật cũng xôm tụ; có hát hò, có thổi nến, có tặng quà, có cười đùa, có nhảy múa, có tiệc tùng, có chúc phước, có cảm động. Ðêm nằm nhớ câu thất thập cổ lai hy – bảy mươi xưa nay hiếm – mới thấy mình có phước, thiệt tình.






 Trước đây, thỉnh thoảng tôi hay hỏi bạn bè về mình: “Nếu năm 1992, tao không đi Mỹ, bây giờ tao như thế nào?” Tất cả đều trả lời chỉ có hai chữ: “Chết rồi!” Hóa ra tôi đã có nhiều năm sống dôi ra, số năm không xác định rõ là bao nhiêu nhưng cứ coi như có lời nhiều lắm. Bác sĩ gia đình khuyên tôi bỏ hút thuốc để được sống lâu, ông không hề biết rằng tôi đã sống lâu hơn như một số người vẫn nghĩ.



Sau bảy mươi năm xông pha đây đó, nay kiểm điểm lại binh mã thì thấy quân số hao hụt quá nhiều; chiến trường chưa kết thúc nhưng hàng ngũ rối loạn lung tung. Ði khám bệnh, bác sĩ gia đình viện trợ không hoàn lại 3 loại cao: cao đường, cao mỡ, cao máu. Năm 18 tuổi, đi làm thủ tục quân dịch, chiều cao đo được 1 mét 73; bây giờ đo lại chỉ còn 1 mét 72, thấp. Nhìn kiếng soi gương, “tóc mây sợi vắn, sợi dài” bỏ đi đâu, lúc nào không hay, hói. Da người chuyển sang da beo với những vết thâm lốm đốm ngày càng nhiều, rậm. Cái bụng từ từ to ra một cách lố bịch, phải nới lỏng dây nịt quần, thừa. Răng trên còn tám cái, răng dưới còn ba cái (nên mới không gọi là hàm răng!), thiếu. Mỗi ngày phải uống thuốc hai lần, mỗi lần 3 viên, nhiều. Buổi tối, giảm hẳn lái xe ra đường, ít. Muốn thay quần phải dựa lưng vào tường, sợ té. Lên cầu thang phải dùng tay vịn, sợ ngã. Hồi trẻ, vợ chồng nằm xa nhau ngủ không được; về già, nằm gần nhau không ngủ được; lợi dụng cơ hội, đội quân xung kích trên mặt trận chăn gối âm thầm di tản chiến lược, xìu. Cái của mình thì mềm còn cái không phải của mình thì cứng, đó là bộ răng giả: Nhiều khi lái xe ra khỏi nhà năm bảy dặm, tự nhiên cảm thấy trống trải cái gì đó, sực nhớ ra là quên… răng; vội vàng quay về nhà, lắp răng, phiền. Còn nhiều thứ phiền lắm, toàn là “của trời cho,” không nhận không được… “Ôi thời oanh liệt nay còn đâu.” Như vậy chẳng phải là một bài toán trừ sao?



Bảy mươi là đáp số của một bài toán cộng những khổ đau và hạnh phúc. Lúc còn trẻ tôi thường phân biệt rạch ròi, xếp hạng “top ten, top five” hai thứ nầy. Bây giờ, hạnh phúc và khổ đau hòa tan vào nhau, loãng dịu cường độ, tôi dễ dàng gật đầu với nhiều thứ. Nhưng nhờ mọi thứ đều dịu xuống, tâm lý ít còn bị ức chế bởi khuynh hướng hay chủ nghĩa, người già nhìn đời khách quan hơn và cũng rộng lượng hơn, con cháu lại chê “ba phải.” Không sao, đoạn trường ấy rồi con cháu cũng sẽ phải trải qua. Những lần hẹn hò như bóng; những ngày xuống đường như mộng; những năm tù cải tạo như mơ, những ngày vật vờ kiếm sống như cổ tích. Người già lùn xuống vì hai vai chất đầy sức nặng quá khứ. Vui mà buông bỏ là hai phương pháp vật lý trị liệu giúp giữ độ cao của linh hồn, nếu người ta tin có linh hồn. Mười năm về trước, vợ tôi quen một bà già Mỹ 76 tuổi trong sở làm, bà nầy là chủ một nông trại nho nhỏ nhưng vẫn thích đi làm lao động phổ thông, kiểu lượm lặt vớ vẩn: Ðến giờ nghỉ giải lao hay giờ ăn, bà đi lượm vỏ lon bia và lon nước ngọt trong các thùng rác bỏ vào bao ni-lông đem về nhà. Thấy vợ tôi có vẻ ngạc nhiên, bà giải thích rằng những lon nhôm nầy cũng là tiền, bà sẽ bán để dâng thêm tiền vào quỹ truyền giáo quốc ngoại cho nhà thờ. Có thể ở một nơi nào đó, Phi Châu, Á Châu, Nam Mỹ… một người nghèo khổ sẽ vui mừng vì vừa nhận được một phần quà nào đó từ các nhà truyền giáo, người ấy đâu biết mình đang cầm trong tay một phần linh hồn của bà Mỹ già này; mà linh hồn thì vốn không vô trọng lượng. Con gái tôi ở California được một bà Mỹ 84 tuổi làm bạn, được rủ rê qua Mexico làm việc thiện nguyện. Sợ chuyện bạo lực ở vùng biên giới, con gái tôi không dám đi. Bà ấy lái xe một mình từ quận Cam sang thành phố Tijuana bên Mễ, đem theo áo quần, tập vở, giấy bút biếu cho các trẻ em mồ côi và ở lại chăm sóc chúng vài ba ngày. Tháng nào bà cũng đi, khi từ Mexico về Mỹ, linh hồn của bà làm như đã ở lại với các em. Tôi cũng có một bà bạn Mỹ già cùng bơi chung trong hồ bơi buổi sáng, điều tôi nghĩ về bà ấy là “ngầu”: Tám mươi tám tuổi, tự lái xe đi tập thể dục ba buổi sáng, ba buổi sáng đi bơi; sau khi bơi, đi làm việc thiện nguyện. Có hôm bà đi thăm một người bà con 103 tuổi, ở cách bà 300 cây số; đi về trong ngày!



So với ba bà trên đây, tuổi của tôi còn nhỏ hơn mười mấy, ý chí lại nhỏ hơn nhiều mà tình yêu thương người lân cận thì kể như zéro. Tuổi của người già, nếu tính bằng năm tháng thì chỉ là bèo bọt. “Bọt trong bể khổ, bèo đầu bến mê!” Nhưng nếu tính bằng lòng yêu thương và sự ban cho của Chúa-Phật thì đúng là phải“chúc thọ.” Chúc thọ, đơn giản là làm giùm cho người khác một bài toán cộng. Nhờ các phụ nữ ấy, tôi học lại phép tính cộng, từ đầu.



Tôi được sinh ra đời năm 1943. 4 tháng sau mồ côi cha, mẹ tôi ở vậy thờ chồng, nuôi con; gia đình chỉ có hai mẹ con. Năm 1962, tôi từ Ðà nẵng vào Sài Gòn bằng xe đò, xe chạy qua một nửa đất nước Việt Nam, mất 2 ngày. Ðầu năm 2006, tôi từ Hoa Kỳ về thăm lại cố hương bằng máy bay, bay qua một nửa địa cầu, cũng chỉ mất có 2 ngày. Nhịp sống của nhân loại ngày càng hối hả, những phương tiện đi lại, những dụng cụ làm việc, những tiện nghi đời sống… gia tăng theo cấp số nhân. Bảy mươi năm sau năm 1943, gia đình tôi nhân cho 12, tăng lên thành 24 người. Ấy là chưa kể mẹ tôi qua đời vào cuối năm 2006. Mười ba cháu nội của chúng tôi ở tràn lan trên nước Mỹ theo 4 hướng Ðông Tây Nam Bắc.



Sau mỗi lần đi thăm cháu về, đồng hồ chỉ cây số trên xe tăng thêm 2, 500 dặm! Tôi có ý tiếc là các con tôi đã không lập gia đình với những người ở Châu Phi, Châu Á, Châu Âu, Châu Úc hay Nam Mỹ để chúng tôi có dịp đi thăm cháu trên khắp trái đất. Còn 700 năm sau nữa thì sao? Tôi và vợ tôi khi ấy sẽ trở thành ông bà tổ của một dòng tộc đông không biết cơ man nào mà kể. Chắt, chít, chiu, chíu… gì đó chắc phải di dân đến những ngôi sao xa xôi để sinh sống, chúng sẽ di chuyển với vận tốc của ánh sáng. Bấy giờ, quả đất chỉ còn là một chấm nhỏ trong bản đồ vũ trụ. Lâu lâu, hậu duệ của chúng tôi sẽ ghé thăm trái đất như là một địa điểm du lịch hấp dẫn. Và để đi đường tắt cho nhanh, chúng sẽ bẻ cong ánh sáng.



Nhà văn chuyên viết truyện khoa học giả tưởng người Pháp Jules Verne chỉ mới mất vào năm 1905, hiện thực đầu thế kỷ 21 đã vượt xa những điều mà ông tưởng tượng. Ðời sống của mỗi một người chúng ta hiện nay được nhân với giả tưởng dễ thương và tích cực sẽ là hiện thực trong tương lai. Thế thì tại sao lại cứ gân cổ lên kêu gào cái đang có là “muôn năm”?



Chia, không chỉ là phép tính chia mà còn là chia cách, chia cắt, chia lìa, chia ly… Những ông cụ, bà cụ ngoài trăm tuổi còn chưa muốn làm bài toán nầy, cuộc đời hứng thú quá mà! Tôi cũng vậy, xin cho tôi khất. Chẳng phải tôi muốn câu giờ vì thực ra khi kết quả của bài toán trừ bằng không, không chia cũng hết.

Tiếng đàn piano nửa đêm


Vô Danh


 


Một người bạn gởi cho tôi câu chuyện này, không rõ tác giả, một câu chuyện thực sự cảm động và hàm chứa nhiều ý nghĩa sâu xa về cuộc sống… Tựa do Nguyễn Ðại Hoàng (NÐH) đặt lại. Câu chuyện dưới đây tôi cũng đã từng được đọc ở đâu đó rồi, và đã quên. Nhưng sáng nay nhận được thư của anh NÐH gửi kèm truyện này cho tôi, với mấy lời sau: “Ðây là một câu chuyện nên gởi đến cộng đồng. Xã hội nào mà còn nhiều người biết rung động trước cái đẹp, cái khổ đau thì xã hội ấy vẫn còn cơ hội…” Hoàn toàn đồng ý với nhận định của anh, tôi cho đăng bài này lên đây để mọi người cùng đọc, và hy vọng câu chuyện sẽ nhắc mọi người nhớ rằng điều làm cho con người còn là người chính là ở lòng nhân. (Luu Vu)


 



Một ngày anh hẹn chị ra quán cà phê trước nhà ga chính của thành phố Bremen. Câu đầu tiên khi gặp anh, chị nói trong sự cáu gắt:



– Ông lại bán xe rồi hay sao mà đi tàu lên đây?



Anh cúi đầu trả lời lí nhí trong hổ thẹn:



– Ừ thì bán rồi, vì cũng không có nhu cầu lắm!



Chị sầm mặt xuống:



– Ông lúc nào cũng vậy, suốt đời không ngóc lên đầu lên được. Hẹn tôi ra đây có chuyện gì vậy?



Khó khăn lắm anh mới có thể nói với chị điều mà anh muốn nhờ. Chị cũng khó khăn lắm mới có thể trả lời từ chối:



– Nhưng mà gia đình tôi đang yên lành, nếu đưa con bé về e sẽ chẳng còn được bình yên nữa!



Anh năn nỉ, nhưng thật sự là anh rất bối rối:



– Con bé đã đến tuổi dậy thì, anh là đàn ông, không thể gần gũi và dạy dỗ chu đáo cho nó được. Anh chưa bao giờ cầu xin em điều gì, chỉ lần này thôi. Chỉ cần nửa năm hay vài ba tháng gì cũng được. Em là phụ nữ em gần nó, em hướng dẫn và khuyên bảo nó trong một thời gian để nó tập làm quen với cuộc sống của một thiếu nữ, sau đó anh sẽ lại đón nó về.



Chị thở dài:



– Ông lúc nào cũng mang xui xẻo cho tôi. Thôi được rồi, ông về đi, để tôi về bàn lại với chồng tôi đã. Có gì tôi sẽ gọi điện thông báo cho ông sau.



Anh nhìn chị với ánh mắt đầy hàm ơn. Anh đứng dậy, đầu cúi xuống như có lỗi, tiễn chị ra xe rồi thở dài, lùi lũi bước vào nhà ga đáp tàu trở lại Hamburg.



Anh và chị trước kia là vợ chồng. Họ yêu nhau từ hồi còn học phổ thông. Anh đi lao động xuất khẩu ở Ðông Ðức. Chị theo học Ðại Học Sư Phạm Hà Nội 1. Ngày bức tường Berlin sụp đổ, anh chạy sang phía Tây Ðức. Chị tốt nghiệp đại học, về làm giáo viên cấp 3 huyện Thái Thụy, Thái Bình. Họ vẫn liên lạc và chờ đợi nhau.



Khi đã có giấy tờ cư trú hợp lệ, anh về làm đám cưới với chị, rồi làm thủ tục đón chị sang Ðức.



Vừa sang Ðức, thấy bạn bè anh ai cũng thành đạt, đa số ai cũng có nhà hàng, hay cửa tiệm buôn bán, chỉ có anh là vẫn còn đi làm phụ bếp thuê cho người ta. Chị trách anh vô dụng. Anh không nói gì, chỉ hơi buồn vì chị không hiểu: Ðể có đủ tiền bạc và điều kiện lo thủ tục cho chị sang được đây, anh đã vất vả tiết kiệm mấy năm trời mới được. Như vậy mà anh đã không dám mạo hiểm ra làm ăn.



“Ðồ cù lần, đồ đàn ông vô dụng…” đó là câu nói cửa miệng chị dành cho anh, sau khi anh và chị có bé Hương.



Bé Hương sinh thiếu tháng, phải nuôi lồng kính đến hơn nửa năm mới được về nhà. Khi bác sĩ thông báo cho vợ chồng anh biết bé Hương bị thiểu năng bẩm sinh. Giông tố bắt đầu thực sự nổi lên từ đó: Chị trách anh, đến một đứa con cũng không làm cho ra hồn thì hỏi làm được gì chứ. Anh ngậm đắng nuốt cay nhận lỗi về mình và dồn hết tình thương cho đứa con gái xấu số.



Bé Hương được 3 tuổi, chị muốn ly dị với anh. Chị nói, ông buông tha cho tôi, sống với ông đời tôi coi như tàn. Anh đồng ý vì anh biết chị nói đúng. Anh là người chậm chạp, không có chủ kiến và không có chí tiến thân, sống an phận thủ thường. Nếu cứ rằng buộc sẽ làm khổ chị. Bé Hương 3 tuổi mà chưa biết nói. Chị cũng rất thương con, nhưng vì bận bịu làm ăn nên việc chăm sóc con bé hầu hết là do anh làm. Vì vậy mà con bé quấn quít bố hơn mẹ. Biết vậy nên chị cũng rất yên tâm và nhẹ nhõm nhường quyền nuôi dưỡng con bé cho anh khi làm thủ tục ly hôn. Ly dị được gần 1 năm thì chị tái giá. Chị sinh thêm một đứa con trai với người chồng mới. Thành phố Bremen là thành phố nhỏ. Người Việt ở đó hầu như đều biết nhau. Chị cảm thấy khó chịu khi thỉnh thoảng bắt gặp cha con anh đi mua sắm trên phố. Chị gặp anh và nói với anh điều đó. Anh biết ý chị nên chuyển về Hamburg sinh sống.



Chị không phải là người vô tâm, nên thỉnh thoảng vẫn gửi tiền nuôi dưỡng con cho anh. Trong những dịp năm mới hay Noel, chị cũng có quà riêng cho con bé. Nhiều năm, nếu có thời gian, chị còn đến trực tiếp tặng quà cho con bé trước ngày lễ Giáng Sinh nữa.



Thấm thoát đó mà giờ đây con bé đã sắp trở thành một thiếu nữ. Tuy chị không biết cụ thể thế nào. Chị chỉ hiểu, dù con bé lớn lên trong tật nguyền hẩm hiu nhưng anh rất thương nó. Chị cũng biết con bé gặp vấn đề trong giao tiếp, phải đi học trường khuyết tật. Nhưng con bé rất ngoan. Anh cũng không phải vất vả vì nó nhiều. Nó bị bệnh thiểu năng, trí tuệ hạn chế, phát âm khó khăn. Tuy vậy nó vẫn biết tự chăm sóc mình trong sinh hoạt cá nhân. Thậm chí nó còn biết giúp anh một số công việc lặt vặt trong nhà…



Chồng chị đã đồng ý cho chị đón con bé về tạm sống với chị vài tháng, với điều kiện trong thời gian con bé về sống chung với vợ chồng chị, anh không được ghé thăm. Chị cũng muốn thế, vì chị cảm thấy hổ thẹn khi phải tiếp xúc với vẻ mặt đần đần dài dại của anh.



Vợ chồng chị đã mua nhà. Nhà rộng, nên con bé được ở riêng một phòng. Chị đã xin cho con bé theo học tạm thời ở một trường khuyết tật ở gần nhà. Con bé tự đi đến trường và tự về được.



Ði học về, nó cứ thui thủi một mình trong phòng. Ðứa em trai cùng mẹ của nó, cũng như mẹ nó và bố dượng nó rất ít khi quan tâm đến nó. Niềm vui duy nhất của nó là chờ điện thoại của bố. Nó phát âm không chuẩn và nói rất khó khăn, nên hầu như nó chỉ nghe bố nói chuyện. Bố dặn dò nó rất nhiều và thỉnh thoảng còn hát cho nó nghe.



Em trai nó học thêm piano, nên nhà mẹ nó có cái đàn piano rất đẹp để ở phòng khách.



Có lần nó sờ và bấm bấm vài nốt. Mẹ mắng nó không được phá đàn của em. Nên từ đó nó không dám đụng đến nữa. Có hôm anh gọi điện thoại cho nó, nó nghèn nghẹn nói lõm bõm: “…đàn… đàn…klavia…con muốn…” Anh thở dài và hát cho nó nghe.



Tháng đầu, hầu như ngày nào anh cũng gọi điện thoại cho nó. Rồi thưa dần, thưa dần.



Cho đến một ngày anh không gọi cho nó nữa. Sau một tuần đăng đẳng không nghe anh gọi điện thoại. Con bé bỏ ăn và nằm bẹp ở nhà không đi học. Chị không biết gì cứ mắng nó giở chứng.



Một đêm, chị bỗng bật choàng dậy khi nghe tiếng đàn piano vang lên. Chị chạy ra phòng khách, thấy con bé đang ngồi đánh đàn say sưa. Nó vừa đánh vừa hát thì thầm trong miệng. Chị cứ há hốc mồm ra kinh ngạc. Chị không thể tưởng tượng nổi là con bé chơi piano điêu luyện như vậy. Chị chợt nhớ ra, đã có lần anh nói với chị, con bé ở trường khuyết tật có học đàn piano, cô giáo khen con bé có năng khiếu. Lần đó chị tưởng anh kể chuyện lấy lòng chị nên chị không quan tâm.



Chị đến gần sau lưng nó, và lặng lẽ ngắm nhìn nó đánh đàn. Chị cúi xuống và lắng nghe con bé hát thầm thì cái gì… Và chị sởn cả da gà, khi chị nghe con bé hát rõ ràng từng tiếng một, mà lại là hát bằng tiếng Việt hẳn hoi: “…Nhớ những năm xa xưa ngày cha đã già với bao sầu lo… sống với cha êm như làn mây trắng… Nhớ đến năm xưa còn bé, đêm đêm về cha hôn chúng con…với tháng năm nhanh tựa gió… Ôi cha già đi, cha biết không…”



Chị vòng tay ra trước cổ nó và nhẹ níu, ôm nó vào lòng. Lần đầu tiên chị ôm nó âu yếm như vậy. Chị thấy tay mình âm ấm. Nó ngừng đàn đưa tay lên ôm riết tay mẹ vào lồng ngực. Nó khóc. Chị xoay vai nó lại, nhìn vào khuôn mặt đầm đìa nước mắt của nó. Nó chìa cho chị một tờ giấy giấy khổ A4 đã gần như nhàu nát.



Chị cầm tờ giấy và chăm chú đọc, rồi thở hắt ra nhìn nó hỏi, con biết bố con bị ung thư lâu chưa. Nó chìa bốn ngón tay ra trước mặt mẹ. Chị hỏi, bốn tháng rồi hả. Nó gật đầu.



Chị nhìn chăm chăm vào tờ giấy, và từ từ ngồi thụp xuống nền nhà, rũ rượi thở dài.



Con bé hốt hoảng đến bên mẹ, ôm mẹ vào lòng, vuốt mặt mẹ, rồi vừa ấp úng nói vừa ra hiệu cho mẹ. Ðại ý là nó diễn đạt rằng:



– Bố lên ở trên Thiên Ðường rồi, mẹ yên tâm, con đã xin vào nội trú ở trường dưới Hamburg, ngày mai con sẽ về dưới đó, con không ở lại đây lâu để làm phiền mẹ và em đâu, con về ở tạm đây là vì bố muốn thế, bố muốn mình ra được nhẹ nhàng và yên tâm là có mẹ ở bên con…”



Chị cũng ôm nó vào lòng, vỗ vỗ vào vai nó và nói, con gái ngoan của mẹ. Ngày mai nếu mẹ sắp xếp được công việc, mẹ sẽ đưa con về Hamburg…



Tôi nghe người ta kể lại chuyện này, khi đi dự một cuộc biểu diễn nghệ thuật của học sinh khuyết tật và khiếm thị. Khi thấy em gái đệm đàn piano cho dàn đồng ca, cứ khăng khăng đòi phải đàn và hát bài hát “Người Cha Yêu Dấu” bằng tiếng Việt trước, sau đó mới chịu đệm đàn cho dàn đồng ca tiếng Ðức. Quá kinh ngạc nên tôi cứ gạn hỏi mãi người trong ban tổ chức. Cuối cùng họ đã kể cho tôi nghe câu chuyện như vậy.


(Nguồn: luu vu, [email protected])


 

Mỹ lần đầu tiên có nữ giám đốc Cơ Quan Mật Vụ

Washington DC (WP) – Tổng thống Obama sẽ bổ nhiệm bà Julia Pierson, một nhân viên kỳ cựu và cao cấp của Cơ Quan Mật Vụ Mỹ, đơn vị có nhiệm vụ bảo vệ tổng thống, vào chức vụ giám đốc, một giới chức tòa Bạch Ốc cho biết, theo tin của tờ Washington Post.








Bà Julie Pierson, 53 tuổi, vừa được tổng thống Obama bổ nhiệm vào chức vụ giám đốc  cơ quan này.Cơ Quan Mật Vụ (Hình: U.S. Secret Service)
Bà Pierson, 53 tuổi, hiện là Tham Mưu Trưởng của Cơ Quan Mật Vụ, bắt đầu sự nghiệp trong ngành này cách đây ba thập niên, là phụ nữ đầu tiên được bổ nhiệm vào chức vụ giám đốc của cơ quan này.


Tòa Bạch Ốc cho biết việc bổ nhiệm sẽ được công bố vào chiều thứ Ba, và không cần phải được Thượng Viện xác nhận.

Bà Pierson được tổng thống bổ nhiệm trong bối cảnh khó khăn của Cơ Quan Mật Vụ, giữa lúc có nhiều kêu gọi vị tân giám đốc phải cải tổ nội bộ, sau khi các vụ bê bối của các lãnh đạo trong một chuyến đi nước ngoài bị đổ bể cách đây gần một năm.

Tháng Tư năm ngoái, trong công tác chuẩn bị cho chuyến đi tham dự hội nghị thượng đỉnh tại Cartagena, Colombia, của Tổng Thống Obama, một số nhân viên mật vụ đã gọi gái mại dâm vào phòng khách sạn, nơi xẩy ra cuộc tranh cãi sau đó.

Ông Mark Sullivan, người giữ chức vụ tổng giám đốc Cơ quan Mật vụ từ năm 1983, vừa về nghỉ hưu cuối tháng Hai.

Phát biểu ý kiến về việc được bổ nhiệm của bà Pierson hôm thứ Ba, cựu Giám Đốc Sullivan nói:

“Tôi quen biết và làm việc với Julie trong gần ba mươi năm. Bà là một tham mưu trưởng tuyệt vời, có tư cách, luôn biểu tỏ sự phán quyết sáng suốt, có tài lãnh đạo, tận tụy với đất nước cũng như các nam nữ thành viên trong Cơ Quan Mật Vụ, và những người cơ quan có trách nhiệm bảo vệ. Sự bổ nhiệm này đánh dấu giây phút lịch sử của cơ quan, và tôi biết chắc Julie sẽ hoàn tất trách nhiệm của mình một cách xuất sắc.”
(H.G.)





Trẻ vị thành niên bị hiếp dâm và trách nhiệm cha mẹ



Ngọc Lan/Người Việt
 


WESTMINSTER (NV) – Hôm cuối tuần vừa qua, Trent Mays, 17 tuổi, và Ma’lik Richmond, 16 tuổi, hai học sinh trung học ở Ohio, đã bị buộc tội cưỡng hiếp một nữ sinh 16 tuổi.









Trent Mays, 17 tuổi và Ma’lik Richmond, 16 tuổi, hai học sinh trung học ở Ohio, bị buộc tội cưỡng hiếp một nữ sinh 16 tuổi. (Hình: AP)


Điều khá đặc biệt của vụ án là cả hai em này đều là những ngôi sao trong đội football nổi tiếng Big Red ở Steubenville. Thế cho nên các em không chỉ là niềm hãnh diện của trường, của thị trấn, của gia đình, mà triển vọng về một tương lai rực rỡ đang chờ đón các em sau khi tốt nghiệp trung học.


Việc các em phạm tội ở tuổi vị thành niên và phải trải qua những năm tháng tiếp theo ở tù cho đến khi 21 tuổi, có lẽ chưa phải là điều khủng khiếp bằng bản án “tội phạm tình dục” sẽ theo các em đến trọn đời.


Từ vụ án gây xôn xao này, nhiều phụ huynh có dịp nhìn lại cách cha mẹ quan tâm đến con cái trong tuổi vị thành niên là như thế nào.


Có thể tóm tắt vụ án này như sau:


Vào đêm 11 tháng Tám, 2012, khoảng 50 thanh thiếu niên tham dự một bữa tiệc tại nhà của một cô bạn trung học, anh trai cô này là phụ tá huấn luyện viên cho đội football Steubenville.


Một nữ sinh 16 tuổi học trường khác cũng tham gia trong nhóm này. Cô bé hoặc đã bị ép uống say mèm hoặc đã bị cho dùng thuốc.


Tàn tiệc, một cầu thủ football tên Mark Cole lái chiếc xe Volkswagon Jetta chở những thành viên của đội, bao gồm Mays, Richmond, Evan Westlake và cả cô gái kia cũng đi theo. Họ đến nhà của một thành viên khác trong đội chơi chút xíu rồi lại quyết định kéo nhau sang nhà của Cole.


Trước đó, cô gái nôn mửa trên đường. Ai đó đã cởi áo cô bé ra để đừng bị dơ. Cô gái ngồi phía sau xe, hoàn toàn không biết gì hết. Trên đường đi, Mays đã dùng những ngón tay chọc vào người cô trong khi Cole dùng phone quay lại cảnh đó.


Lúc đến nhà Cole, Mays và Richmond khiêng cô gái vô tầng hầm của nhà. Cô lại ói. Một người bạn khác tên Anthony Craig đến, Cole cho Craig xem đoạn video trước khi cả hai đến tầng hầm, nơi cô gái đang nằm trần như nhộng.


Mays có gắng thực hiện việc “oral sex” với cô gái đang mê man không biết gì (dù miệng cô gái cũng chẳng mở ra được). Cùng lúc đó, Richmond dùng những ngón tay chọc vào mình cô. Craig dùng điện thoại chụp lại cảnh tượng diễn ra. Không một ai ngăn cản chuyện đám trẻ đang làm.


Cô gái không nhớ gì, cũng không có một chứng cứ gì lưu lại ngoại trừ những bức hình, trong đó có cả tấm hình cô bị nắm vào cổ tay và cổ chân khiêng đi, cùng với những lời mô tả lại đêm “ăn chơi” được tung trên mạng xã hội.


Hai ngày sau, cha mẹ cô gái đưa cô vào bệnh viện và báo cảnh sát. Mays và Richmond bị bắt hơn một tuần sau đó với cáo buộc tội hiếp dâm.


****


Tại phiên toàn, khi bị kết tội, những giọt nước mắt, những lời nói xin lỗi của hai cậu học trò với mọi người, với cô bạn, với gia đình nạn nhân, những giọt nước mắt của các bậc cha mẹ, khiến ai cũng phải mềm lòng.


Với gương mặt đẫm nước mắt, cậu học trò 16 tuổi Richmond nói “Con xin lỗi đã đưa mọi người vào chuyện này. Con xin lỗi.”


“Tôi đã không có mặt ở đó với con tôi. Tôi cảm thấy có trách nhiệm về hành động của con mình.” Cha của Richmond đau đớn.


Nhìn hình ảnh người cha tiến đến bàn của bị cáo, ôm choàng lấy đứa con trai, luật sư của bị cáo cũng phải rơi những giọt nước mắt đầu tiên trong cuộc đời làm luật sư của mình,“Ông thương con nhưng chưa bao giờ ông nói cho nó biết điều đó, để dẫn đến chuyện hôm nay.”


Tuy nhiên, khi đọc lại lời khai ghi lại diễn biến những gì xảy ra vào đêm hôm đó, người ta lại cảm thấy tức giận trước sự kiêu căng, ngạo mạn của tuổi mới lớn muốn chứng tỏ điều gì đó với bạn bè, sự đùa giỡn nông nổi của tuổi mới lớn không làm chủ được hành động của mình.


Hơn thế nữa, ngoài ảnh hưởng của rượu, của thuốc, thì sự quan tâm các bậc cha mẹ đến những cuộc chơi thâu đêm suốt sáng của con cái mình là ở đâu?


Nhiều người đặt vấn đề về việc giáo dục đạo đức, nhân cách, và sự quan tâm đến người khách cho những đứa trẻ đã được chú trọng như thế nào khi chúng nhìn thấy cô gái say mèm đó ngồi trên đường, phía trước ngôi nhà tổ chức tiệc. Cô ói đầy áo, những chỉ dấu đó cho thấy cô cần được giúp đỡ. Nhưng một đứa con trai nào đó chỉ giúp cởi áo cô ra, rồi để cô ngồi đó, trên người còn chiếc bra và quần shorts.


Đến khi đám trẻ túa ra, nhìn cảnh tượng say mèm không còn biết gì của cô bé, chúng chỉ biết xúm nhau cười. Một đứa trong đám còn rút ra $3 và nói sẽ tặng cho đứa nào dám đái lên mình cô bé.


Cậu bé đó đùa, tất cả đám bạn cũng biết rằng chúng đùa. Nên không ai cản ai. Nhưng đó là một trò đùa thô bỉ của những đứa trẻ chưa trưởng thành. Không một đứa nào ý thức được chuyện phải giúp đỡ cô, gọi cho bạn bè cô, đưa cô về nhà, và chắc chắn rằng cô được an toàn. Và rồi chuyện sau đó đã xảy ra.


Suy nghĩ của phụ huynh gốc Việt









Hãy để con cái quen với việc cha mẹ luôn có trong cuộc đời của chúng, để con cái tin rằng gia đình là nơi nương tựa vững chắc nhất. (Hình minh họa: Châu Huỳnh)


Chia sẻ tâm tư của một người cha có con trong độ tuổi trung học này, anh Kenny Diệp, làm thợ máy ở Tampa, Florida, cho biết:


“Con trai tôi năm nay 16 tuổi. Tuổi này hầu như đứa nào cũng nghĩ nó đã trưởng thành, đã biết tất cả mọi chuyện, cho nên rất dễ xem thường những lời dạy bảo của cha mẹ, nhất là những lời khuyên răn có tính chất áp đặt hay thúc ép.”


Hiểu được điều này, anh Kenny chọn cho mình một thái độ thích hợp để hướng dẫn con mình:


“Tôi nhẹ nhàng trong lời nói và cử chỉ mỗi khi tôi muốn con tôi nghe lời. Đồng thời tôi cố gắng xem con tôi là ‘bạn’ để gần gũi và lắng nghe con tôi nói nhiều hơn. Khi con đi học về, tôi để ý xem con hôm nay buồn hay vui, và nương theo đó tôi gợi chuyện một cách vui vẻ để cho con tôi tâm sự những gì mà nó muốn giãi bày như giữa một người bạn với một người bạn.”


“Tuyệt đối không la mắng khi con có làm điều gì lầm lỗi” cũng là cách xử sự của người cha này, bởi “Thái độ nghiêm nghị nhưng đầy sự thương yêu đối với những trường hợp như vậy sẽ có hiệu quả hơn là lời trách cứ, trừng phạt.”


Cũng là một người cha có con trai 16 tuổi, anh Tommy Nguyễn, hiện đang làm việc tại William Hughes FAA Technical Center ở New Jersey, tâm sự:


“Tôi có một người con trai 16 tuổi. Tôi không biết mình có quan tâm đủ cho con chưa nhưng tôi luôn tự nhắc mình phải dành thời gian cho con khi cháu còn rất nhỏ. Tôi vào phòng của cháu thường xuyên, nhiều lần trong ngày và nhiều ngày trong tuần để nhắc nhở cháu dọn dẹp căn phòng cho ngăn nắp. Vì thế cháu quen với việc tôi sẽ vào phòng cháu bất cứ lúc nào tôi muốn và phòng cháu không được khóa. Tôi đặt ra những hoàn cảnh và hỏi cháu phải giải quyết làm sao, từ việc giải một bài toán, đến cách đối đãi với thầy cô bạn bè. Tôi dạy cháu suy nghĩ đến kết quả hay hậu quả trước khi làm một việc gì đó.”


“Điều quan trọng nhất đối với tôi là cần tạo thói quen nói chuyện với con mỗi ngày khi cháu còn nhỏ cho đến khi cháu trưởng thành. Tham gia vào cuộc đời của con như đi chơi thể thao với con, đi ăn chung như một người bạn để cháu quen với việc cha mẹ luôn có trong cuộc đời của cháu, để cháu tin rằng gia đình là nơi nương tựa vững chắc nhất.” Anh Tommy nói thêm.


Cô Châu Huỳnh, một cán sự xã hội ở Seattle, cũng đồng ý với anh Tommy Nguyễn ở việc phải tạo cho đứa trẻ thấy được “cha mẹ luôn có trong cuộc đời” của chúng.


“Con mình nó cần mình ở bên cạnh nó 100%. Hai vợ chồng cần phải thay phiên nhau để làm chuyện đó.” Cô Châu khẳng định.


Theo cô, “lúc nào cũng vậy, bậc làm cha mẹ phải chịu trách nhiệm 90% những gì xảy ra với con mình. 10% có thể do hoàn cảnh, hên xui may rủi hay những yếu tố xã hội khác. Nhiều cha mẹ cứ nghĩ mình đi làm khổ cực chăm lo cho con cái, cho nó cái nhà, cái xe hay cái iPhone hay nền giáo dục hay những cơ hội giao lưu với bạn bè…. là tốt rồi. Nghĩ như vậy là hoàn toàn sai!”


“Ai nói nuôi con nít ở đây khó hơn ở Việt Nam cũng không đúng. Xã hội nào cũng vậy. Lo ăn lo mặc không đủ. Lo dạy con mới quan trọng. Mà có lẽ còn quan trọng hơn lo ăn lo mặc. Thiếu thốn một chút cũng không sao. Tôi ghét nhất kiểu đi làm kiếm tiền về trả cho người lạ ‘babysit’ con mình. Điều đó thật là tệ hại. Không chăm sóc con được thì đẻ con làm chi rồi bỏ cho người khác nuôi. Tới lúc con mình lớn lúc nào cũng không hay. Thì những chuyện lộn xộn vô tù như trên đúng là không có gì lạ.” Người cán sự xã hội này nói một cách thẳng thắn.



Liên lạc tác giả: [email protected]


 

Nga phủ nhận tin bán vũ khí cho Trung Quốc

MOSCOW (ITAR-Tass) Thông tấn xã ITAR-TASS, dẫn nguồn tin Cơ quan hợp tác quân sự-kỹ thuật Liên bang Nga, hôm Thứ Hai bác bỏ tin Trung Quốc vừa ký thỏa thuận mua một số lượng lớn vũ khí của Nga gồm 24 máy bay chiến đấu Su-35 cùng 4 tàu ngầm động cơ diesel lớp Lada.








Máy bay chiến đấu Sukhoi Su-35-E, tên gọi theo NATO là Flanker-E. (Hình: GMReview via Getty Images)

Đây là một diễn biến đáng ngạc nhiên vì trước đó tin này đã được Đài Truyền hình Trung ương Trung Quốc (CCTV) loan báo, tờ Nhân Dân nhật báo đăng lại và sau đó BBC loan tải.

Theo ITAR-TASS, trong chuyến thăm Nga của chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, hai bên đã không ký bất cứ thỏa thuận nào liên quan đến việc Moscow bán vũ khí và kỹ thuật quân sự hiện đại cho Bắc Kinh, kể cả máy bay tiêm kích Su-35 và tàu ngầm diesel lớp Lada. ITAR-Tass khẳng định là hai bên đã không hề đề cập đến các vấn đề mua bán vũ khí hay hợp tác sản xuất vũ khí trong suốt thời gian ông Tập Cận Bình thăm Nga.

“Điện Kremlin đã chính thức bác bỏ việc thảo luận bán vũ khí cho Bắc Kinh trong chuyến thăm của ông Tập Cận Bình. Trong quan hệ Nga – Trung, các hợp đồng thương mại hầu như  không bao giờ được đưa ra thảo luận trong những chuyến thăm của nhà lãnh đạo cấp cao”, ông Vasiliy Kashin, một chuyên gia quân sự của Trung Quốc làm việc tại Trung tâm chiến lược và công nghệ (CAST) trụ sở tại Nga cho hay.

Giới truyền thông Nga giải thích rằng có sự lo ngại về thỏa thuận bán vũ khí cho Trung Quốc vì sợ rằng Trung Quốc có thể sao chép trái phép để sản xuất các máy bay chiến đấu của họ như từng làm nhiều lần trước kia. Hồi năm 1995, Trung Quốc và Nga đã đạt thỏa thuận sản xuất 200 máy bay chiến đấu Su-27SK, còn gọi là J-11A với chi phí là 2,5 tỷ USD cho tập đoàn chế tạo máy bay Shenyang. Tuy nhiên, năm 2006, Nga đã hủy bỏ thỏa thuận này sau khi phát hiện được 95 chiếc máy bay của Trung Quốc được thiết kế theo kiểu của Nga. Nga cũng nghi ngờ Trung Quốc chế tạo trái phép các máy bay dùng cho hàng không mẫu hạm Liêu Ninh.

Nhưng  chuyên gia quân sự Vasiliy Kashin tin rằng, vì Trung Quốc chưa đủ trình độ kỹ thuật trong việc chế tạo động cơ phản lực và phải mua của Nga, nên những rủi ro khi bán máy bay sang Trung Quốc là không đáng kể.

Theo hãng tin Nga RIA Novosti thì dự tính của Trung Quốc mua máy bay Su-35 Flanker-E đã đình trệ từ năm ngoái sau gần 2 năm thương lượng. Ông Viktor Komardin. Phó giám đốc tổ hợp quốc doanh xuất cảng vũ khí Rosoboronexport giải thích là Trung Quốc chỉ chịu mua một số ít trong khi Nga cho rằng phải bán được một số lượng lớn thì mới có hiệu quả kinh tế. (HC)

Chuyện về người phụ nữ “tow” xe ở Little Saigon


‘Nghề nào cũng là nghề’


Thiên An/Người Việt



MIDWAY CITY (NV)- Không chọn nghề nail như bạn bè, chị Kim quyết định theo đuổi nghề “tow” xe để lập nghiệp, nuôi sống gia đình trên đất Mỹ.


Giữa phố xá tấp nập của Little Saigon, thỉnh thoảng cư dân trong vùng lại bắt gặp một phụ nữ lái chiếc xe tải “tow” xe mang tên Kim’s Towing. Xe lớn nhưng được người cầm lái chạy khéo léo qua các con đường nhỏ, đông đúc với nhiều cửa tiệm, quán xá trong khu vực.









Chị Kim với mái tóc ngắn và áo khoác dầy “cho tiện công việc,” bên cạnh chiếc xe tải – phương tiện làm việc. (Hình: Thiên An/Người Việt)


“Hai người đàn bà làm dịch vụ “tow” xe? Mình chưa thấy bao giờ. Phải nói là họ vui vẻ lắm, lái xe tải mà bon bon như xe nhỏ vậy.” Tiffany Nguyễn, cư dân Westminster, nhận xét về lần cô nhờ đến Kim’s Towing hồi 2011.


Chủ nhân của hãng tow xe Kim’s Towing, mà khách hàng thường gọi luôn là chị Kim, tên thật là Dung Lê, 40 tuổi, sinh tại Việt Nam. Cái tên ba mẹ chị đặt cho nghe thật hiền lành, chất phát, đúng như cảm giác mà người đối diện có thể nhận thấy qua vài lần gặp gỡ. Đi tow xe, một nghề có thể nói là “độc quyền” bởi nam giới, không chỉ khiến chị phải thay đổi danh xưng, mà phải thay đổi cả cách ăn mặc, dáng vẻ.


Tóc tém ôm sát khuôn mặt, thêm chiếc áo gió dầy, cái quần rộng, chị Kim dễ lẫn vào các ông tow xe khác nếu nhìn từ xa. Kể về mái tóc dài đến thắt lưng ngày xưa chị để khi còn định cư ở Phần Lan, chị Kim nói: “Ở bên đó lạnh lắm nên mình để tóc dài. Qua Mỹ thấy nóng, nên cắt ngắn luôn cho tiện công việc.”


 



 


Chị kể, theo nghề vậy là gần 5 năm.


“Mình theo chồng qua Mỹ hồi cuối 2007. Cũng tính làm nghề nail nhưng không được tại bị dị ứng đủ thứ, nên quyết định theo nghề này. Trước đó, mấy lần sang Mỹ chơi, thấy gia đình ổng làm nghề này rồi.” Có vẻ, chị chẳng hề quan tâm đến việc “trong nhà, chỉ có mình là phụ nữ mà đi tow xe.”









Chị Kim tow xe từ nơi xe hư đến tiệm sửa xe cho khách hàng. (Hình: Thiên An/Người Việt)


Mười mấy ngày sau khi “chân ướt chân ráo” đến Mỹ, chị Kim gom vốn liếng mua chiếc xe tải “hết $70,000.”


“Mình nói mới qua Mỹ có mấy ngày, khách tròn mắt không tin.” Chị cười nhớ lại. “Nhiều bác lớn tuổi, nghe vậy, thấy mình là phụ nữ nữa, hỏi thẳng ‘Cô có biết làm không đó?’ Những ngày mới vào nghề thì cũng gặp nhiều khó khăn.”


Nói là “chủ nhân hãng Kim’s Tow”, thật ra, chị Kim là người làm chính. Từ lấy hẹn với khách hàng, coi đường, lái xe, liên lạc với các tiệm sửa xe, hảng bảo hiểm… chị làm tất. Làm miết rồi thành thạo, khách hàng từ nghi ngờ trở thành mối quen. Chị kể, ra điều rất hãnh diện về những khách hàng “lifetime”- “suốt đời” mà chị chinh phục được bằng công sức mồ hôi trong hơn 5 năm qua.


Ngoài những khó khăn khi mới làm quen với nghề, chị Kim nói không ảnh hưởng lắm đến đời sống hằng ngày. “Ở Mỹ thì nam nữ bình quyền, với người Việt mình thì mấy đứa nhỏ nói ‘hay đó’, người lớn tuổi thì cũng ‘đánh giá,’ nhưng chút thôi.” Theo chị, đi tow xe là một công việc “khá tự do, lịch làm việc tự sắp xếp được.”


Ngoài lúc chạy xe tải đi tow qua các đoạn đường, con phố xa gần, chị dành thời gian chăm sóc cho đứa con gái nhỏ vừa lên 11, thăm nom người mẹ già, và giúp đỡ những cô cháu gái vừa đến sống tại Mỹ. Chị nói “tự do, dễ xếp giờ cho việc nhà”, chứ phóng viên theo chân chị tow xe mới biết, điện thoại di động của chị reo không ngừng bởi khách hàng liên tục gọi. Người từ tốn đặt dịch vụ có, người hối thúc buộc đến tức thì cũng có, chỉ có điều bằng cách này cách khác, chị kiếm thời gian cho gia đình.


Khi được phóng viên hỏi về nhận xét cho dịch vụ tow xe của chị Kim, một bà khách khá lớn tuổi trước cửa một tiệm sửa xe trên đường Moran, gần khu Phước Lộc Thọ, đơn giản nói: “Cô Kim là số một rồi đó.”


Tương tự, thông tin về tiệm Kim’s Tow trên mạng có đầy những lời khen ngợi của khách hàng.


Bà khách trên đường Moran đi vội để lo cho chiếc xe hư, không kịp nêu tên. Chị Kim cũng không nhớ rõ tên bà, chị nói: “Như bà, em hỏi người khác trong khu này thì ai cũng biết Kim hết.” Chị Kim cười, nụ cười duyên lắm trên gương mặt sáng luôn tươi tắn, vui vẻ.


Chẳng biết tự khi nào, hình ảnh một người phụ nữ chạy xe tải, kéo dây móc xích, chở xe hơi, xe truck, không còn là điều làm cư dân Little Saigon ngạc nhiên nữa.



Liên lạc tác giả: [email protected]

Tin mới cập nhật