Phương Uyên và Đinh Nguyên Kha ra tòa ngày 16 tháng 5


SÀI GÒN (NV) .- Nữ sinh viên Nguyễn Phương Uyên và sinh viên Đinh Nguyên Kha bị cáo buộc là thành phần của nhóm “Tuổi Trẻ Yêu Nước” chống chế độ độc tài đảng trị, sẽ bị đưa ra tòa ngày 16/5/2013 tới đây.









Nữ sinh viên Nguyễn Phương Uyên. (Hình: Internet)

Bản cáo trạng vu cho cả hai người cái tội “Tuyên truyền chống nhà nước” vì đã “rải truyền đơn” chống Trung Quốc và bêu xấu Công an, lãnh tụ cũng như đảng Cộng Sản Việt Nam.

Sinh viên Đinh Nguyên Kha còn bị vu cho tội khủng bố vì khám xét nhà thấy có một ít thuốc pháo mà bà mẹ của anh cho biết thứ đó bán công khai ở chợ Kim Biên Sài Gòn để người ta làm pháo lậu đốt dịp tết.

Nguyễn Phương Uyên 20 tuổi, sinh viên trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm ở Sài Gòn. Đinh Nguyên Kha, 25 tuổi, làm nghề sửa máy vi tính ở Long An trước khi bị bắt hồi Tháng 10 năm ngoái. Nếu bị kết án như khoản 1 điểm C điều 88 Luật Hình Sự CSVN, cả hai có thể bị từ 3 năm đến 12 năm vì “tuyên truyền chống nhà nước…”









Đinh Nguyên Kha. (Hình: Internet)

Mấy ngày vừa qua, tin tức cho hay cô Phương Uyên đã bị một số người đánh thương tích đến ngất xỉu trong tù. Cai tù Cộng sản đã để yên cho vụ hành hung xảy ra chứ không can thiệp. Hành hung, khủng bố dưới nhiều hình thức là tình trạng từng xảy ra đối với những người tham gia đấu tranh đòi dân chủ hóa đất nước.

Bản cáo trạng có từ ngày 6/3/2013 nhưng chỉ mới được một nhóm vài nhóm đấu tranh dân chủ nhận được qua các nguồn tin riêng và công bố trên internet.

Theo cáo buộc, Đinh Nguyên Kha và Nguyễn Phương Uyên lúc đầu hoạt động  độc lập ở Long An và Bình Thuận rồi sau phối hợp với nhau qua tổ chức “Tập Hợp Tuổi Trẻ Yêu Nước” từ ngoại quốc hướng dẫn rải truyền đơn ở Sài Gòn. Cả hai đã rải truyền đơn chống chế độ, chống Trung quốc bá quyền bành trướng, kêu gọi biểu tình một số lần.

Bản cáo trạng cũng buộc tội hai người làm các lá “cờ vàng ba sọc đỏ”.

Trong một cuộc phỏng vấn của đài phát thanh Úc SBS, bà Nguyễn Thị Nhung, mẹ cô Phương Uyên cho hay cô “xin mẹ một bộ quân áo lành lặn và sạch để mặc ra tòa”. Và Phương Uyên “cũng xin cái lược để chải đầu…”

Các tổ chức nhân quyền quốc tế cũng như quốc hội và các chính phủ Hoa Kỳ và Liên Âu đều lên án chế độ Hà Nội, dùng điều luật mơ hồ để bỏ tù người dân.

Toàn thể bạn học cùng khóa của Nguyễn Phương Uyên và rất nhiều nhân sĩ trong nước đã gửi thư yêu cầu chủ tịch nước Trương Tấn Sang can thiệp cho cô vì cô chẳng làm điều gì vượt quá quyền tự do ngôn luận, tự do phát biểu mà hiến pháp của chế độ công nhận. Không thấy ông Sang phản ứng gì.

Bản cáo trạng nói rằng luật sư Nguyễn Văn Miếng bào chữa cho Đinh Nguyên Kha và luật sư Nguyễn Thanh Lương bào chữa cho Nguyễn Phương Uyên. Theo Dân Làm Báo, ngoài luật sư Lương còn có luật sư Hà Huy Sơn bào chữa cho cô Uyên.

Tin tức cũng cho hay Tòa tổng lãnh sự Hoa Kỳ ở Sài Gòn sẽ gửi đại diện tới quan sát phiên xử. (TN)

Chánh Án Nguyễn Trọng Nho và những băn khoăn về đất nước


LTS: Biến cố 30 tháng Tư, 1975 đẩy một bộ phận lớn dân tộc vào thế phải đào thoát chế độ độc tài, đi tìm cuộc sống xứng đáng với phẩm giá con người. Thẩm phán Phan Quang Tuệ và Thẩm phán Nguyễn Trọng Nho nằm trong số hàng triệu người phải bỏ nước ra đi trong biến cố ấy. Hai vị, những thanh niên trưởng thành tại xã hội miền Nam trước 1975, nhiệt huyết, dấn thân và đều là người thành đạt. Những ngày đầu sang đến đất Mỹ, hai ông trải qua những ngày tháng buồn đau, tủi nhục, chua xót khi sau lưng là một quê hương tan rã, hiện tại thì nhọc nhằn, còn tương lai thì bất định. Nhưng bằng vào ý chí, hai ông từng bước một ổn định và tạo được thế đứng vững chắc tại quê hương thứ hai này. Và nhất là, cả hai đều thành đạt trong một lãnh vực mà đồng bào chúng ta tại quê nhà đang khao khát: một nền pháp luật công bằng, minh bạch, tôn trọng nhân phẩm người dân. Trong bối cảnh nhìn lại những cái mất và những cái được của Việt Nam sau biến cố 30 tháng Tư, 1975, Người Việt hân hạnh giới thiệu cùng độc giả hai khuôn mặt tiểu biểu này: Thẩm Phán Phan Quang Tuệ và Thẩm Phán Nguyễn Trọng Nho.



Hà Giang/Người Việt



WESTMINSTER (NV)
– Dù từng giữ chức vụ dân biểu tại Việt Nam trước 1975, và một thời từng có ý định ra ứng cử phó tổng thống, Chánh Án Nguyễn Trọng Nho, trong thời gian đầu đến Mỹ tị nạn, đã bứt tung ra được khỏi những “ràng buộc của quá khứ,” bất chấp khó nhọc và vượt lên trên những cảm giác mà ông gọi là “nhục nhã phiền muộn,” lao vào cuộc đời mới bằng những nghề tay chân, như làm lao công, lau chùi nhà cửa và thu dọn đồ đạc để kiếm sống.








Chánh Án Nguyễn Trọng Nho tại văn phòng ở Superior Court of California, West Justice Center tại quận Cam, năm 2008. (Hình: Gia đình cung cấp)


Với xã hội, ông được cho là một người siêng năng, có tài và có khả năng vượt qua mọi trở ngại và thử thách để đạt được mức thành công đáng kể.

Trong thâm tâm, chỉ ông mới biết lòng yêu chuộng tự do khiến ông có được tâm tư thanh thản để dựng lại cuộc đời bằng vốn liếng không gì ngoài hai bàn tay trắng và nỗi nhớ quê hương chôn kín trong tâm khảm.

Tâm sự với phóng viên Người Việt, ông nói: “Biến cố 30 Tháng Tư làm tôi chao đảo lắm chứ, nhưng sau đó thì điều còn lại mà mình đánh giá cao nhất trên đời là tự do thì đã có, nên tôi không sợ gì cả, cứ cắm cúi lần mò tìm cho mình một đường sống trước tương lai mịt mờ.”

Nói về ông, Luật Sư Phan Huy Ðạt, chủ nhiệm nhật báo Người Việt nhận xét: “Ðáng phục thật, ông ấy hơn tôi cả hơn mười tuổi, lúc qua đây nào vợ nào con, thế mà cứ miệt mài vừa làm vừa học, hết MBA rồi đến luật. Tôi nghĩ đóng góp lớn nhất của ông ấy cho xã hội là vai trò của một role model.”

Ông Nho không cho mình là một “role model”. Ông bảo “Tôi chẳng giỏi hơn ai hết, chỉ quyết tâm thôi,” và không quên nhắc đến người vợ thân yêu, rằng nếu không có sự hỗ trợ tiếp tay của vợ thì chẳng những ông “không thể được như vậy” mà còn “có thể tiêu tùng nữa là khác”.

Thành công bề nổi của ông với cộng đồng không ai còn xa lạ, nhưng tâm tư luôn gắn chặt với đất nước của ông có lẽ ít người thấu hiểu.

Trò chuyện với phóng viên nhật báo Người Việt, ông ít nói về sự thành đạt của mình hay của gia đình, mà thường bày tỏ quan tâm của mình về cộng đồng, về những gì liên quan đến đất nước.

Ông Nho cho biết khi được bổ nhiệm chức chánh án, ông chọn làm việc ở quận Cam, dù nếu xin làm chánh án ở Los Angeles lương sẽ cao hơn ở quận Cam $30,000 mỗi năm. Ông xin làm ở quận Cam vì “muốn gần gũi với cộng đồng” và nghĩ rằng sự có mặt của ông “sẽ có nhiều ý nghĩa hơn cho người Việt tị nạn”.

Tâm sự về những cân nhắc khi phải xử một người đồng hương, Chánh Án Nguyễn Trọng Nho cho biết ông “không thể nặng tay hay nhẹ tay hơn đối với các can phạm người Việt” vì lúc nào cũng có cảm nhận “là một đại diện cho người Việt tại tòa án” và không thể làm gì để danh dự của người Việt bị thương tổn.

Mặt khác, là một người Việt Nam, ông cho rằng mình có được sự hiểu biết sâu xa về văn hóa, hoàn cảnh, đặc biệt là những phấn đấu, gian nan, tình cảnh, kinh nghiệm và đau thương mà người Việt phải trải qua trong bao nhiêu năm chiến tranh từ thời chống Pháp, đến lúc đất nước chia cắt rồi cuộc chiến với Cộng Sản miền Bắc, rồi những chia ly tan tác của cuộc di tản bi thương sau 1975. Với tất cả vốn liếng khổ đau của một người Việt tị nạn, ông cảm nhận được một cách sâu sắc hơn người bản xứ về con người của can phạm trước mặt, và nhờ đó đôi khi có thể định được mức trừng phạt thích hợp.

Kỷ niệm mới đây nhất về việc xét xử người đồng hương với ông là phiên xử một thanh niên Việt Nam cỡ 20 tuổi. Trước phiên tòa, ông nhìn thấy một người phụ nữ Việt ngồi trong góc phòng xử với nét mặt thật u sầu.

Sau khi tuyên án 3 năm quản giáo, ông cho phép cậu thanh niên này được tự do ngay buổi tối hôm đó với một số điều kiện. Khi thấy người thanh niên lúng túng lúc ông yêu cầu cho biết ý nghĩa cái tên của mình, ông đã giảng cho thanh niên này biết rằng tên của anh ta có ý nghĩa rất đặc biệt, và nói “Tôi nghĩ chắc bố mẹ cậu đã âu yếm đặt vào trong cậu bao niềm mơ ước của họ khi cho cậu cái tên đó. Tôi chắc họ đã kỳ vọng rằng khi lớn lên cậu sẽ làm được những việc thật hữu ích cho cộng đồng và xã hội.”

Một trong những điều kiện để cậu thanh niên này được tự do là cậu phải hứa khi về nhà việc đầu tiên phải làm là tắm rửa thật sạch để tẩy rửa đi hết dấu vết của những ngày trong lao tù. Sau khi tắm rửa sạch sẽ phải chạy đến ôm chặt lấy mẹ nói là yêu mẹ vô cùng và nguyện sẽ không bao giờ làm bố mẹ buồn nữa. Và mỗi ngày phải lập lại lời hứa với chính mình là sẽ thay đổi hoàn toàn cuộc sống để thực hiện ước mơ mà bố mẹ cậu đã đặt nơi mình.

Nước mắt lăn dài trên gò má khi người thiếu phụ nghe vị chánh án dặn dò con mình, trong khi đó người phó Biện Lý thụ lý hồ sơ, một người rất cứng rắn trong tòa, đã đứng lên và đi ra khỏi phòng xử án trong chốc lát. Khi quay lại bà nói riêng với ông là quá xúc động và phải đi ra, “nếu không sẽ khóc”.

Với Việt Nam, ông tâm sự rằng, ở ông cảm nhận về quê hương phát triển rất sớm, từ lúc còn sáu, bảy tuổi, trong những lúc “thẩn thơ chơi trên những cánh đồng ruộng mênh mông ngoài Bắc, và qua mùi lúa thơm, những tiếng hò tiếng hát trong mùa gặt, thấy một tình yêu nào đó vừa rõ rệt vừa mênh mang mơ hồ.”

Khi lớn lên, niềm thao thức với quê hương và lòng sôi sục về thân phận đất nước đã thôi thúc cậu bé bảy tuổi ngày nào, tham gia vào các sinh hoạt đấu tranh của sinh viên thời đó. Những sinh hoạt mà theo ông “không thể kể lại tường tận thấu đáo” trong một vài cuộc phỏng vấn ngắn ngủi.








Chánh Án Nguyễn Trọng Nho và phu nhân Phạm Vân Bằng tham dự Diễn Hành Tết 2011 tại thành phố Westminster, California. (Hình: Gia đình cung cấp)

“Một ngày về hưu không xa, tôi sẽ viết hồi ký, sẽ kể hết những trăn trở của chúng tôi và những gì xảy ra thời đó.”

Nhắc lại kỷ niệm thời làm dân biểu, ông kể về một chuyến xuất ngoại năm 1968: “Mình hồi đó là một thằng nhà quê, lần đầu tiên được đi Mỹ, thấy sao đất nước người ta văn minh quá, cả người bồi trong khách sạn cũng mặc áo vest, thắt cà vạt thật lịch sự.”

Và tâm sự: “Nhìn sự sung túc của họ, tự nhiên thấy thương dân mình, thấy nhớ nhà da diết, chỉ muốn về nhà sớm để cùng chung với mọi người tìm cách làm gì đó cho đất nước đầy chiến tranh nghèo khổ.”

Trả lời câu hỏi tại sao lại chọn làm thẩm phán mà không tiếp tục theo đuổi sự nghiệp của một vị dân cử, ông bày tỏ: “Thật ra tôi thích làm dân biểu hơn. Là một dân biểu mình có thể đấu tranh cho một điều gì đó, mình có thể soạn ra luật, có thể thay đổi chính sách công quyền ảnh hưởng tới đời sống của xã hội. Còn là chánh án thì công việc chỉ hạn chế trong việc xử án, và phải xử theo luật pháp, dù có đồng ý với luật đó hay không.”

Rồi nói thêm: “Nhưng định mệnh đưa đẩy tôi làm chánh án. Vả lại người vợ mà tôi rất yêu quý, cản, không muốn tôi làm chính trị nữa, và hạnh phúc gia đình với tôi là điều không gì thay thế được.”

Nhận định về đóng góp của ngành tư pháp và vai trò của chánh án, luật sư cho tương lai Việt Nam, ông cho rằng ngành tư pháp với một luật sư đoàn độc lập có thể đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong việc cải tiến, thay đổi các định chế chính trị tại Việt Nam, chẳng hạn như đòi đảng cộng sản bỏ độc quyền cai trị của họ.

“Tôi thật sự có nhiều hy vọng vào giới luật sư tại Việt Nam, nhất là những luật sư trẻ đầy lòng can đảm và hy sinh như các luật sư Nguyễn Văn Ðài và Lê Thị Công Nhân.”

Kể chuyện học hành, ông nói rất mê học, vì “tuổi trẻ Việt Nam thế hệ của tôi không có may mắn được có những khuôn viên đại học thật hấp dẫn, thơ mộng và tốt đẹp như những người Mỹ.”

Khi báo cho vợ biết quyết định sẽ đi học luật, vợ ông đồng ý, tuy vẫn không nén được tiếng thở dài, và “gọi một cuộc họp gia đình” sau bữa ăn tối.

Tối hôm ấy, ông trình bày với các con là muốn đi học luật và hỏi các con có bằng lòng không, giải thích: “Nếu bố đi học thì tối không về ăn cơm với các con, cuối tuần không đi chơi với con được, các con có chịu cho bố đi học không?”

Ông kể lúc ấy cậu con trai năm tuổi của ông ngây thơ nói “bố đi học đi bố,” thế nhưng sau này cũng chính cậu bé năm tuổi ấy đã vào phòng kéo tay bố rủ “bố ra công viên chơi với con đi bố” và phải lủi thủi đi ra khi bố bảo bận học lắm không chơi với con được.

Nhắc đến thời gian này, vợ ông tâm sự: “Vừa xót con, vừa thương chồng, cuối cùng tôi phải nghĩ ra cách cuối tuần tổ chức picnic, cả nhà ra công viên chơi, các con thì chơi đùa, còn bố cứ ngồi ôm cuốn sách, nhưng dù sao thì có mặt chung với gia đình vẫn hơn.”

Sự kiên trì phấn đấu theo đuổi mục đích đến nỗi nhiều lúc sao lãng trách nhiệm gia đình của Chánh Án Nguyễn Trọng Nho đã được vợ ông là bà Phạm Vân Bằng kể lại tỉ mỉ qua những hình ảnh sống động trong hồi ký “Tình Yêu, Niềm Tin, Hy Vọng” xuất bản năm 2011.

Về đất nước, ông Nho cho biết, như biết bao nhiêu người Việt còn nặng lòng với quê hương dân tộc, ông cũng có những lo lắng buồn phiền.

Với ông, hiểm họa Trung Cộng là một điều rõ rệt không chối cãi được. Ông cho rằng người Trung Quốc cai trị nước họ với một “cái nhìn của hàng ngàn năm trước mặt”.








Chánh Án Nguyễn Trọng Nho và phu nhân Phạm Vân Bằng và cháu ngoại Isabella Thiên Hương năm 2011. (Hình: Gia đình cung cấp)


Ông nói: “Chính cái sách lược của hàng ngàn năm là lý do tại sao Mao Trạch Ðông, Chu Ân Lai đã có được trong tay tờ thư của Phạm Văn Ðồng nhìn nhận quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa là của Trung Quốc, nhìn nhận ranh giới biển do Trung Hoa vẽ ra. Những người Tàu Cộng Sản, nêu cao khẩu hiệu quốc tế anh em, đã nhìn về phía trước hàng trăm, hàng ngàn năm. Trong khi Phạm Văn Ðồng và những người Cộng Sản miền Bắc lúc đó chỉ nhìn không quá vài năm trước mặt, để mục đích xâm chiếm miền Nam trên cả quyền lợi lâu dài của dân tộc.”

Theo ông, cũng chính sự khác biệt về cái nhìn chiến lược thật xa giữa Trung Hoa và Việt Nam mà ngày nay có biết bao nhiêu khu đất trên quê hương ta đã bị người Trung Quốc thuê mướn dài hạn. Chính vì cái nhìn thật xa, thật dài trong chiến lược quốc gia của người Hoa mà họ đang thiết lập tại Việt Nam các “thành phố “ kiểu mẫu với tất cả các tiện nghi, trường học, bệnh viện… như tại Bình Dương. Mục đích của Trung Quốc là dần dần xóa bỏ sự khác biệt cá tính dân tộc giữa người Hoa và người Việt, và từ đó có thể dẫn đến những hậu quả vô cùng trầm trọng và lâu dài.

Ưu tư thứ hai của ông là “người Việt chúng ta có một dân tộc ly tán”. Người Hoa dư biết đây là lúc Việt Nam đang có những khó khăn nội tại lớn nhất, cái khó khăn đã kéo dài gần 40 năm từ 1975 đến nay.

Ông nói “Cái khó khăn của sự ly tán lớn lao nhất trong dân tộc gây nên bởi sự đối xử của những người thắng cuộc miền Bắc đối với những người anh em miền Nam. Cái ly tán đó vẫn còn đó.”

Ông Nho cho rằng hiện có rất nhiều người trẻ tuổi tài giỏi tại Việt Nam, và nhiều khoa học gia, kỹ sư, học giả Việt lỗi lạc ở khắp nơi trên thế giới.

Với họ, ông nhắn nhủ: “Chúng ta không có thời gian để lãng phí. Tôi tin rằng trong sâu thẳm của tâm hồn mỗi người chúng ta đều muốn thấy quê hương đất nước Việt được cường thịnh, tự do, với một thể chế dân chủ thật vững mạnh. Tấm gương của Do Thái là một điều cho người Việt trong và ngoài nước đều phải suy gẫm.”

Ðược hỏi dự tính tương lai, Chánh Án Nguyễn Trọng Nho cho biết khi về hưu một ngày không xa, ông sẽ tiếp tục dạy môn thực hành nghề luật sư và luật quốc tế nhân quyền, và dành thì giờ để viết lại những kinh nghiệm quá khứ và góp phần ghi lại một giai đoạn quan trọng trong lịch sử Việt Nam.







Chánh Án Nguyễn Trọng Nho là vị chánh án gốc Việt đầu tiên tại quận Cam, California.

Ông qua Mỹ tị nạn năm 1975, tốt nghiệp MBA tại California Polytechnic University, Pomona năm 1981, lấy bằng luật Juris Doctor tại Western State University College of Law năm 1988. Sau khi hành nghề luật một thời gian, năm 2000 ông được Thống Ðốc Gray Davis bổ nhiệm chức chánh án vào năm 2000, tái đắc cử chức vụ này năm 2002 và năm 2008. Trước khi đến Hoa Kỳ, ông đã từng giữ chức vụ dân biểu hai nhiệm kỳ liên tiếp tại thủ đô Sài Gòn thời Việt Nam Cộng Hòa.


___

Liên lạc tác giả: [email protected]

Nhiều hành khách thích chọn ghế ngồi ở đuôi máy bay


HOA KỲ
Một nghiên cứu của hãng hàng không British Airways cho thấy hạng economy trên Boeing 747 trở thành chọn lựa ưu tiên của nhiều hành khách vì những ghế ở đuôi máy bay đều là ghế đôi, khiến những hành khách đi cặp có được dãy ghế riêng tư, theo Yahoo.com.

Ghế ngồi hạng economy trên máy bay Boeing 747-B của hãng hàng không Lufthansa. (Hình: Stephen Brashear/Getty Images)

British Airways báo cáo, hơn phân nửa số hành khách của họ đều đi cặp nên họ thường chọn các chỗ ngồi có số 51/52B, 51/52C, 51,52H, và 51/52J trên một chiếc Boeing 747. Nếu ai may mắn hơn khi đi được hạng first class thì ghế được ưa thích nhất là ghế số 1A và 1K nằm ở đầu phi cơ.

Các thói quen ưa chuộng khác của hành khách còn có: những ai lấy chỗ trước 24 tiếng, 54% thích chỗ ngồi phía bên phải phi cơ, trong khi 46% chọn phía bên trái. Điều này British Airways không thể đưa ra lời giải thích, tuy nhiên họ cho rằng có thể do người ta thường thuận tay phải.

Sara Dunham, trưởng các kênh truyền hình chuyên bán lẻ và bán trực tiếp nói: “Có nhiều thuyết giải thích vì sao người ta chuộng phía bên tay phải. Đó là số người thuận tay phải chiếm số đông, do vậy chúng ta tự nhiên mà có khuynh hướng quay sang phải, nhưng sự thật là chúng ta không thể biết chắc được về điều đó.”

Ngoài ra ghế ngồi gần cửa sổ cũng được ưa chuộng 6% nhiều hơn so với ghế ngồi dọc theo lối đi. Bà Dunham giải thích: “Có vẻ như người thích ngồi cạnh cửa sổ vì thích được nhìn ra bên ngoài chiếm số hơi cao hơn người thích ngồi dọc theo lối đi để có thể đi tới đi lui dễ dàng.”

Cũng theo British Airways, người thích ngồi dọc theo lối đi thường chọn ngồi gần phía trước máy bay, trong khi ngược lại đối với người thích ngồi gần cửa sổ.

Nói gì thì nói, cách khôn ngoan nhất là nên chọn chỗ ngồi nào được xem là an toàn hơn cả. Một báo cáo gần đây cho thấy, chỗ an toàn nhất trên máy bay là lấy chỗ ngồi bên cửa sổ ở hạng economy, thắt dây an toàn vào, và nhớ là phải ngồi cách cửa thoát hiểm vài hàng ghế.

Theo báo The Telegraph, rủi ro để bị chết khi đi máy bay thường rất nhỏ, chỉ khoảng 1 trên 4.7 triệu. (TP)

Cảm xúc ngày 30 tháng Tư


Luật Sư Nguyễn Văn Đài





“Một quốc gia đã giành được độc lập và thống nhất, mà nhân dân không được hưởng các quyền tự do, dân chủ, nhân quyền không được tôn trọng, thì người dân của quốc gia đó đã hy sinh xương máu một cách vô ích để thay thế sự cai trị của giặc ngoại xâm bằng sự cai trị của giặc nội xâm. Mà giặc nội xâm thì lại tham lam và gian ác gấp trăm ngàn lần giặc ngoại xâm.”






 

 Luật sư Nguyễn Văn Đài.

Mỗi dịp 30-4 hàng năm, tôi lại nhận được câu hỏi của những người đồng bào Việt Nam ở hải ngoại là “anh nghĩ và có cảm xúc gì khi sắp tới ngày 30-4?” Tôi lại có dịp kể cho họ nghe về suy nghĩ và cảm xúc của mình.



Từ nhỏ cho đến năm 19 tuổi, mỗi dịp 30-4 tôi thực sự vui mừng và tự hào bởi đó là ngày chiến thắng và thống nhất của đất nước. Việt Nam đã chiến thắng cường quốc số một thế giới về quân sự và kinh tế.



Cuối năm 1989, tôi có cơ hội được sang CHDC Đức (cũ) và được chứng kiến người dân Đông Đức lật đổ chế độ cộng sản để thống nhất với chế độ tư bản, dân chủ ở Tây Đức. Tôi lại có dịp may mắn được sang Tây Berlin để xem cuộc sống sung túc và tự do của chế độ tư bản, dân chủ. Và tôi hiểu tại sao người dân Đông Đức đã không cam chịu sống dưới sự cai trị độc đoán, phi lý, lạc hậu của chế độ cộng sản.



Cùng thời điểm đó, tất cả người dân các nước Đông Âu đã vùng lên đập tan sự cai trị của các chế độ cộng sản. Và họ đã xây dựng lại từ đầu chế độ tư bản, dân chủ. Cho đến nay, tất cả các nước Đông Âu, người dân đều có cuộc sống sung túc và hạnh phúc trong một chế độ chính trị tự do và dân chủ mà không có sự cai trị của chế độ cộng sản.



Cuối năm 1990, tôi trở lại Việt Nam, kể từ đó cứ mỗi dịp 30-4, tôi không còn cảm xúc vui mừng, mà thay vào đó là sự hoài nghi và nuối tiếc.



Năm 2001 và 2003, tôi có dịp được sang thăm Hàn Quốc và thấy đó là một quốc gia hùng mạnh về kinh tế và quân sự. Ở đó không bao giờ có sự hiện diện và tồn tại của đảng cộng sản. Trong khi đó, Bắc Triều Tiên dưới sự cai trị độc đoán và tàn bạo của chế độ cộng sản. Mỗi năm có cả trăm ngàn người chết đói mặc dù họ đã nhận được sự giúp đỡ to lớn từ Hàn Quốc và cộng đồng quốc tế. Tôi cảm thấy buồn và nuối tiếc cho chế độ Việt Nam Cộng Hòa.



Nhìn lại Việt Nam chúng ta, sau ngày 30-4-1975, trong chế độ quan liêu bao cấp, ngăn sông cấm chợ, nhân dân phải chịu đói khổ, lầm than. Khi tiến hành công cuộc đổi mới, kinh tế có phát triển, đời sống người dân khấm khá hơn, đủ ăn, đủ mặc, có được phương tiện sinh hoạt và đi lại hiện đại. Nhưng tham nhũng đã trở thành quốc nạn, thành giặc nội xâm của dân tộc. Sự suy thoái đạo đức và lối sống diễn ra một cách toàn diện, trên mọi phương diện của đời sống xã hội từ giáo dục, y tế, ngành tư pháp, cơ quan hành chính… và trên mọi cấp độ từ trung ương đến địa phương.



Nhiều người trong chúng ta đã từng chứng kiến cảnh doanh nghiệp, quan chức chính quyền, các lực lượng vũ trang và xã hội đen hợp sức với nhau để cưỡng chế người nông dân lấy đi tư liệu sản xuất quan trọng nhất của họ là ruộng đất. Biết bao người dân vô tội khi bước vào đồn công an thì khỏe mạnh, nhưng chỉ ít giờ sau, họ chỉ còn là một cái xác không hồn. Và còn biết bao nhiêu những người dũng cảm đứng lên đấu tranh đòi quyền tự do, dân chủ đã bị sách nhiễu, đánh đập, và bị cầm tù. Thật sự đau lòng và xót xa.



Giờ đây, mọi người lại hỏi tôi “anh nghĩ và có cảm xúc như thế nào về ngày 30-4?”



Tôi trả lời: Một chế độ dân chủ và văn minh đã thua một chế độ độc đảng toàn trị và lạc hậu. Cái ác đã chiến thắng. Còn cảm xúc thì buồn và nuối tiếc cho chế độ Việt Nam Cộng Hòa, bởi tôi và rất nhiều người đều cho rằng nếu ngày 30-4-1975, bên chiến thắng là Việt Nam Cộng Hòa thì giờ đây trong khu vực châu Á, Việt Nam có thể chỉ thua duy nhất Nhật Bản về kinh tế, còn chắc chắn sẽ ngang bằng hoặc hơn Hàn Quốc về cả kinh tế và quân sự.



(Hà Nội, ngày 28 tháng 4 năm 2013)

Thủ Tướng Syria thoát chết trong vụ ám sát ở Damascus

 


DAMASCUS, Syria (AP) – Thủ Tướng Syria thóat chết trong vụ ám sát ngay trong thủ đô Damascus hôm Thứ Hai khi một quả bom phát nổ gần đoàn xe của ông, theo tin từ các cơ quan truyền thông nhà nước.









Hiện trường vụ đánh bom (Hình: AP Photo/SANA)

Thủ Tướng Wael al-Halqi không bị thương tích gì trong vụ nổ bom ở khu Mazzeh nằm về phía Tây thủ đô, theo đài truyền hình chính phủ Syria. Hình cảnh chiếu trên truyền hình cho thấy cảnh các chiếc xe bị cháy nám, hư hại nặng nề và các lính cứu hỏa đang tìm cách dập tắt ngọn lửa.

Hãng thông tấn SANA của nhà nước Syria cho hay có một người chết và vài người khác bị thương trong vụ nổ.

Cuộc tấn công táo bạo trong khu vực sang trọng ở thủ đô Damascus, cũng là nơi đặt một số tòa đại sứ ngoại quốc và cơ quan chính phủ, là một chỉ dấu nữa cho thấy chế độ Assad nay mất sự kiểm soát an ninh ngay ở nơi đặt trung tâm quyền lực. (V.Giang)

Quân đội Pháp cắt giảm gần 10% quân số

PARIS (AP) – Chính phủ Pháp hôm Thứ Hai cho hay sẽ cắt giảm thêm 24,000 người trong quân đội quốc gia này, từ nay đến năm 2019, trong nỗ lực cân bằng nhu cầu duy trì khả năng ứng chiến của quân đội và cắt giảm trong ngân sách quốc phòng.

Các cuộc nổi dậy ở Bắc Phi và Trung Đông, cuộc chiến ở Mali và nội chiến ở Syria là những biến chuyển đang được các kế hoạch gia quân đội Pháp kể tới khi hình thành chiến lược quốc phòng thời gian tới đây. Năm năm trước, khi quýêt định cắt giảm 55,000 người, họ đã không tiên đoán được những sự kiện này. Quân đội Pháp hiện có khoảng 228,000 người.

Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chánh toàn cầu và đặc biệt là tình trạng trì trệ kinh tế ở Âu Châu hiện nay cũng là các yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới chiến lược quốc phòng Pháp, theo bản bạch thư quốc phòng Pháp công bố hôm Thứ Hai.

Pháp hiện khởi sự rút lực lượng quân sự gồm 4,000 người của mình ở Mali, nơi Pháp phải can thiệp hồi Tháng Một trước sự đe dọa của thành phần Hồi Giáo quá khích. Pháp cũng có quân đóng tại Chad, Ivory Coast và Djibuti. Pháp chi chừng 10% ngân sách quốc gia cho quốc phòng, tức vào khoảng 1.5% tổng sản lượng nội địa. (V.Giang)

Lần đầu tiên tỷ lệ cử tri da đen đi bầu cao hơn da trắng năm 2012

WASHINGTON (AP) –  Trong kỳ tổng tuyển cử năm 2012, tỷ lệ cử tri da đen đi bầu cao hơn tất cả mọi sắc dân khác và lần đầu tiên vượt cử tri da trắng.









Lauren Howie, 27 tuổi, sinh viên y khoa Case Western Reserve University ở Cleveland, Ohio. Cô nói rằng không tin tưởng Obama nhiều lắm về các vấn đề trợ giúp học phí sinh viên, nữ quyền hay khí hậu, nhưng bầu cho ông vì thấy hơn khi so sánh với Romney. (Hình: AP/Mark Duncan)

Một phân tích của thông tấn xã AP nói rằng trong khi cử tri da đen tích cực ủng hộ Tổng Thống Obama tái đắc cử thì nhiều cử tri da trắng thờ ơ không đi bầu. Lần đầu tiên trong lịch sử tỷ lệ cử tri da đen đi bầu vượt tỷ lệ cử tri da trắng. Ông Mitt Romney được xem như là một ứng cử viên yếu không thu hút sự ủng hộ của cử tri da trắng cũng như da đen và Latino.

Tình trạng này chung ở tất cả các tiểu bang và đã là yếu tố để Tổng Thống Obama thắng tại các chiến trường quyết định như Ohio, Pennsylvania, Virginia, Florida và Colorado dù rằng ông Mitt Romney có được nhiều sự ủng hộ ở những nơi ấy.

Nếu tháng 11 vừa qua, tỷ lệ cử tri đi bầu cũng giống như những kỳ bầu cử trước thì có lẽ ông Mitt Romney đã có thể thắng khít khao. Năm 2012, tỷ lệ cử tri đi bầu là 58% so với 62% năm 2008 và 60% năm 2004.

Từ nhiều thập kỷ, da trắng và da đen vẫn là hai khối cử tri đông nhất tại Hoa Kỳ. Dân Latino hiện nay đang gia tăng nhanh chóng, chiếm khoảng 17% dân Mỹ. Tuy nhiên do nhiều người chưa nhập quốc tịch, do chưa đến tuổi đi bầu hoặc không ghi danh bầu cử, nên cử tri Latino chỉ chiếm 11% cử tri toàn quốc và trong cuộc bầu cử năm 2012 chỉ chiếm khoảng 10% số cử tri đi bầu. Tới năm 2024, số cử tri Latino mới lên ngang với cử tri da đen.

Năm 2012, Obama thắng với sự ủng hộ thấp nhất của cử tri da trắng trong lịch sử bầu cử. Trong khi đó đảng Dân Chủ chỉ được 49% ủng hộ của cử tri da màu, kém xa Tổng Thống Obama với 74%.

Những thăm dò dư luận sớm cho biết bà Hillary Clinton nếu ra tranh cử năm 2016 có thể được sự ủng hộ của cử tri da màu ngang như Tổng Thống Obama năm ngoái nghĩa là 80%. Theo một thăm dò của Fox News hồi tháng 2, bà Clinton được 75% cử tri da màu ủng hộ trong khi Phó Tổng Thống Joe Biden chỉ được 58%.  (HC)
 

Lê Văn Khoa và ‘VIỆT NAM 1975’


Phạm Xuân Đài





LTS: Nhạc sĩ Lê Văn Khoa chính thức ra mắt CD bản nhạc giao hưởng “Việt Nam 1975” của ông vào dịp 30 tháng 4 năm 2005, dù là ông đã hoàn tất công trình này từ 10 năm trước, 1995. Cho đến nay đây là tác phẩm âm nhạc duy nhất viết trong  thể loại này, mô tả những gì mà biến cố 30 tháng 4, 1975 đã mang lại cho đất nước và dân chúng miền Nam Việt Nam.


Để hiểu rõ hơn nội dung và ảnh hưởng của tác phẩm lớn này, mời quý độc giả theo dõi bài phỏng vấn sau đây với nhạc sĩ Lê Văn Khoa, do nhà văn Phạm Xuân Đài thực hiện, trong dịp tưởng niệm ngày 30/4 năm nay, 2013.


***


Phạm Xuân Đài: Thưa nhạc sĩ Lê Văn Khoa, được biết tác phẩm âm nhạc giao hưởng “Việt Nam 1975” của nhạc sĩ là một công trình dài hơi: viết trong vòng 10 năm, hoàn tất năm 1995,  chính thức phát hành đĩa nhạc năm 2005, được nhiều người cho là một công trình “viết lịch sử bằng âm nhạc”. Xin nhạc sĩ cho biết động lực nào đã thúc đẩy nhạc sĩ sáng tác nhạc phẩm này?



Nhạc sĩ Lê Văn Khoa: Biến cố 1975 có thể nói là biến cố trọng đại nhất của nhân loại đã giáng xuống dân tộc ta, nhất là người dân miền Nam Việt Nam. Chưa có dân tộc nào phải đột ngột liều chết bỏ xứ ra đi như thế. Tôi là một người dân của miền Nam, vì vậy tôi thấy cần phải ghi lại phần lịch sử mà mình đã sống qua. Vì biết sẽ có nhiều người ghi lại biến cố này bằng văn viết, tôi quyết định ghi lại bằng âm nhạc với nhiều thể loại, nhạc cho piano độc tấu, cho đơn ca với dàn nhạc giao hưởng, cho hợp ca với dàn nhạc giao hưởng. Nhưng để đưa câu chuyện của chúng ta đi xa hơn vùng ảnh hưởng của tiếng Việt, tôi viết nhạc không lời dưới thể loại nhạc lớn của thế giới: Nhạc Ðại Giao Hưởng (Symphony). Việc này đòi hỏi rất nhiều công sức để viết và rất nhiều tốn kém để thực hiện, mà tôi không được một sự hỗ trợ nào. Tôi bị giằng co mãi nhưng vẫn âm thầm làm việc đến 10 năm mới hoàn tất kịp kỷ niệm năm ly hương thứ 20 (1995).



Phạm Xuân Đài: Nội dung chính của Giao hưởng Việt Nam 1975 là gì?



Nhạc sĩ Lê Văn Khoa: Cái tên “Việt Nam 1975” cho người nghe biết CD nhạc này là câu chuyện đã xảy ra trên đất nước Việt Nam vào năm 1975.  Tôi vẽ những bức tranh bằng âm thanh để tả một Việt Nam thanh bình, rồi bị miền Bắc tấn chiếm, cả triệu người bỏ xứ, vượt biển ra đi vì không chịu sống với cộng sản. Họ đến được vùng đất mới và lớn tiếng ca ngợi tự do. 



Tôi dùng nhiều chất nhạc miền Nam để nói lên câu chuyện đã xảy ra trên miền đất này. Vì là nhạc không lời, có thể có nhiều người không đủ kiên nhẫn để tìm hiểu, tôi xin phép nêu vài gợi ý để khi nghe nhạc, người nghe sẽ hiểu nhiều hơn, thấy lý thú hơn và thông cảm với người viết nhạc hơn. Bốn hành âm (movement) đầu là những bức tranh Việt Nam thanh bình với hội hè đình đám, với thú vui và tình tự trong đêm trăng. Ba hành âm sau tôi muốn đi vào tâm tình mà giờ đây đã trở thành lịch sử cận đại của Việt Nam. Ðó cũng là mục đích chính của tác phẩm này.



Người nghe “thấy” gì trong hành âm thứ năm có tên Trong Ðêm Thâu (In the Depth of the Night)?



Sau phần dẫn nhạc, tiếng đàn độc huyền (đàn bầu) nỉ non, đơn độc âm thầm trong đêm vắng để nói lên tâm tình của người dân nghĩ đến thân phận mình trong hoàn cảnh bấp bênh của đất nước. Tình lình tiếng pháo kích nổ vang cắt đứt dòng tư tưởng của người. Xin lưu ý, trong âm nhạc người ta dùng nhạc để diễn tả hoặc nói lên hình ảnh hay âm thanh ngoại lai chứ không dùng sound effects như trong phim ảnh. Sau đó trong tiếng của giun dế giữa đêm khuya, ta nghe tiếng bước chân rụt rè đầy ác ý của kẻ gian. Qua vài âm thanh ngắn ta biết những kẻ đó là người cộng sản Bắc Việt. Lần lần tiếng bước mạnh bạo hơn, đông người hơn với sự đốc thúc của cộng sản quốc tế (một vế nhạc bài Quốc Tế Ca) và cộng sản Trung Hoa, đoàn quân trong bóng đêm mở cuộc tấn kích.



Có người hỏi tôi tại sao phải qua tận Nga (Ukraine) để thu thanh nhạc. Xin nghe mẩu chuyện gay cấn khi thu thanh bài nhạc này:



Lúc đó tôi ở trong phòng kỹ sư âm thanh xuyên qua khung kính lớn, theo dõi ban nhạc dợt trong phòng bên cạnh. Khi ban nhạc chơi đến chỗ có trích đoạn bài Quốc Tế Ca, nhiều nhạc sĩ cau mày. Lúc câu nhạc ấy được lập lại, ngắn hơn, thôi thúc hơn, gần như toàn ban nhạc ngưng đàn, nhiều người đứng lên, quơ tay, lớn tiếng nói gì đó với nhạc trưởng. Tôi trong phòng cách âm nên không nghe họ nói gì, mà dù có nghe cũng không hiểu vì họ nói với nhau bằng tiếng Ukraine. Thấy dáng điệu của họ tôi sợ. Sợ cho việc thu thanh bất thành, đồng thời cũng sợ bị hành hung. Bà nhạc trưởng ôn tồn giải thích cho họ và một lúc sau họ ngồi xuống và chơi nhạc tiếp. Tới bài Quốc Ca Việt Nam Cộng Hòa, họ chơi rất hùng hồn như họ đang ở ngoài chiến trường, muốn dùng câu nhạc này đè bẹp quân cộng sản.



Khi ông phụ tá nhạc trưởng bước vào phòng thu, tôi hỏi việc gì xảy ra bên ngoài. Ông nói với tiếng Anh hạn chế, rằng khi chơi câu nhạc Quốc Tế Ca, nhạc sĩ nổi giận, chống lại và đòi bỏ về. Họ nói họ đã hát bài đó từ nhỏ, chơi nhạc đó cả đời và thù ghét nó, tưởng đâu được thoát mà bây giờ còn bị chơi nữa. Bà nhạc trưởng giải thích với họ là miền Nam Việt Nam bị cộng sản dưới sự đốc thúc của cộng sản quốc tế, đã tấn công, nhưng họ gặp sự phản công mãnh liệt của quân dân miền Nam trong đoạn nhạc kế tiếp. Nhạc sĩ vỡ lẽ và ngồi xuống chơi tiếp. Xin nhớ thời điểm thu thanh này là lúc có sự tranh chấp dữ đội của phe thân Nga và phe thân Tây Phương. Ứng viên Tổng Thống, người thân Tây Phương bị đầu độc suýt chết.

   

Trong hành âm thứ Sáu: Trên Biển Cả (On High Sea), tôi muốn tạo cuộn phim cảnh người thoát đi bằng đường biển bằng âm nhạc. Nhạc khởi đầu đơn sơ, âm u cho thấy họ đi từ dòng sông nhỏ, ngoằn ngoèo, khi ra đến cửa biển, nhạc bùng sáng với cảnh rộng mênh mông. Họ đi trên mặt biển dưới ánh nắng chói chang, mệt mỏi, bơ phờ, chán chường. Nhưng mây đen thình lình kéo tới với gió bão, sấm chớp vang động, nhưng con người cố thu hồi sinh lực và ý chí chiến đấu chống trả để dành phần sống. Nhạc chuyển qua đầy cương quyết và bi tráng. 



Hành âm cuối: Ca Ngợi Tự Do (Hymn to Freedom), phần dẫn nhạc hơi dài vì nó không phải chỉ dẫn vào phần hợp ca. Tôi muốn gom lại nội dung câu chuyện, cho tiếng đàn Cello độc tấu thét lên tiếng đau thương, phẫn nộ lẫn căm hờn. Dàn violin tiếp theo lời an ủi, vỗ về để xoa dịu thương đau. Sau đó toàn ban nhạc và ban hợp ca tiếp theo hòa thanh vang lên lời ca tụng tự do như sấm động,  tất cả bay bổng lên trời xanh, vượt đi như nghìn cánh chim bay vút lên cao, cho tự do bay bổng.



Phạm Xuân Đài: Chọn hình thức nhạc cổ điển để thể hiện bản nhạc này, phải chăng ông đã chọn con đường khó mà đi: khó trình diễn, khó phổ biến, khó thưởng thức, và chắc là khó hiểu đối với quảng đại quần chúng… Xin ông cho biết lý do?



Nhạc sĩ Lê Văn Khoa: Vâng đúng vậy. Biết rằng nhiều người sẽ đi con đường phổ thông, họ dễ thành công hơn, và như vậy, họ vô tình bỏ rơi thành phần tuy không đông bằng nhưng không kém quan trọng, giới thưởng thức nhạc không lời, không nói, không hiểu tiếng Việt. Hiện nay họ là người khác chủng tộc, nhưng trong tương lai con cháu chúng ta cũng có thể sẽ nằm trong thành phần này và nhạc không lời sẽ nhắc nhở chúng lai lịch của ông cha và động lực họ phải ly hương. Tôi nghĩ mình không chỉ giới hạn phần lịch sử kinh thiên động địa này trong vòng ngôn ngữ của loài người, nên chọn loại nhạc không lời để diễn tả. Nói cho cùng, âm nhạc cũng là một loại ngôn ngữ, một thế giới ngữ. Ngoài ra tôi hy vọng  Symphony Việt Nam 1975 trở thành một thứ tượng đài lưu động. Nó ở với người dù bất cứ nơi nào. Nó luôn luôn nhắc đến giai đoạn lịch sử 1975 không riêng của người Việt mà của cả thế giới, bằng chứng là sự có mặt của người Việt trong mọi sinh hoạt khắp năm châu, và nơi nào có người Việt, nơi đó có lễ kỷ niệm 30 tháng Tư. Tôi viết nhạc không lời để chúng ta không bỏ qua một kẽ hở nào để nói cho thế giới biết thực trạng của Việt Nam. Chúng ta nói cho nhau nghe thì nhiều rồi, thiết nghĩ cũng nên nói cho người ngoài biết. Nhạc không lời thì không có biên giới.



Phạm Xuân Đài: Cho đến nay, kết quả sự phổ biến và đánh giá của giới thưởng ngoạn lẫn giới chuyên môn về Giao hưởng này ra sao?



Nhạc sĩ Lê Văn Khoa: Ngay sau buổi trình diễn đầu tiên do Pacific Symphony Institute Orchestra ở Orange County Performing Arts Center, chiều thứ Bảy 3-6-1995 các báo Anh ngữ trong vùng như Los Angeles Times, Orange County Register, Costa Mesa Pilot đều có bài tường thuật với lời khen ngợi.








 

 Nhạc sĩ Lê Văn Khoa trên nhật báo The Orange County Register sau buổi trình diễn đầu tiên
với Pacific Symphony Institute Orchestra ở Orange County Performing Arts Center,
3 tháng Sáu, 1995. (Hình: Lê Văn Khoa cung cấp)




Liên tiếp mấy năm sau đó Pacific Symphony Orchestra đã trích diễn nhiều lần tại miền Nam California. Dàn nhạc giao hưởng ở Springfield, Connecticut và Houston, Texas có trích diễn. Năm 2005 The Royal Melbourne Philharmonic Orchestra có trích diễn nhiều hành âm. NK Festival Orchestra trích diễn nhiều lần, Vietnamese American Philharmonic trích diễn năm 2008, Kyiv Symphony Orchestra đã trình diễn ở Ukraine (2005) và Washington D.C. (2010).



Bảo tàng viện quốc gia Úc lưu giữ CD này từ năm 2005, để các học giả, các nhà sưu tầm khảo cứu.



Tiến Sĩ Dmytro nêu một câu hỏi cho nhạc trưởng Alla Kulbaba sau buổi trình diễn nhạc Lê Văn Khoa như sau: “Xét theo khía cạnh bà luôn luôn trình diễn những tác phẩm âm nhạc phức tạp, bà nghĩ thế nào về buổi trình diễn đêm nay?” Bà Alla Kulbaba, nhạc trưởng chính của Ukranian National Opera, và cũng là một nhạc trưởng của Kyiv Symphony Orchestra, phát biểu như sau: “Thưa ông, trên điểm này tôi không muốn chỉ nói đến buổi trình diễn đêm nay mà thôi… Tôi muốn nói đến Nhà Soạn Nhạc Lê Văn Khoa. Tôi tiếp xúc với ông lần đầu trong khi thu thanh đại tấu khúc (Symphony Việt Nam 1975) của ông. Trên thực tế ông đã minh chứng ông là một nghệ sĩ tân thời qua đại tấu khúc của ông… Tác phẩm ấy nói về cuộc chiến tranh Việt Nam và trong tác phẩm ấy ông khai triển như là nhà viết đại tấu khúc có tài, chứng tỏ ông không chỉ là người viết nhạc nhẹ mà là soạn nhạc gia với thể loại lớn. Symphony là loại nhạc lớn và ông đã viết thật lý thú. Tác phẩm rất sôi nổi với những khai triển của nó. Soạn nhạc gia hành sử thể loại kỳ thú và nó đúng là thể loại symphony cổ điển với nhiều hành âm. Làm việc với tác phẩm này thật thú vị.” 









 

 Nhạc trưởng All Kulbaba điều khiển Kyiv (Kiev) Symphony Orchestra and Chorus
trình diễn khúc “Ca Ngợi Tự Do” từ Symphony Việt Nam 1975 (Ukraine 2005).
(Hình: Lê Văn Khoa cung cấp)


Nhạc trưởng Andrew Wailes, một trong ba vị nhạc trưởng lừng danh của Úc cho biết: “Symphony Việt Nam 1975 là một tác phẩm rất hùng tráng. Hiển nhiên những ai hiểu được lịch sử và văn hóa Việt Nam thì sẽ cảm nhận nó một cách sâu sắc hơn. Ðây là một sáng tác theo thể loại nhạc giao hưởng Tây Phương bởi lẽ tác giả sử dụng cả dàn nhạc đại hòa tấu, sử dụng âm điệu và nhạc cụ Tây Phương, nhưng lại có thêm cả âm nhạc dân tộc và nhạc cụ Việt Nam chơi chung với dàn nhạc. Tôi không biết gọi tên cho đúng nhạc cụ đó là nhạc cụ gì, đó là cây đàn một dây (độc huyền cầm) của Việt Nam. Tác phẩm này hết sức hùng tráng và tôi tin chắc là mọi người sẽ thích lắm. Như chúng tôi được biết, trong lịch sử 150 năm của ban đại hòa tấu và hợp xướng Royal Melbourne Philharmonic thì đây là lần đầu tiên chúng tôi trình diễn âm nhạc Việt Nam. . . Ðây cũng là lần đầu tiên ban nhạc này được một nhạc sĩ Việt Nam (Lê Văn Khoa) điều khiển, lần đầu tiên chúng tôi cùng trình diễn với ban hợp xướng người Việt, và nói chính xác thì đây là lần đầu tiên chúng tôi đệm cho một ban hợp xướng đa văn hóa. Có nhiều điều làm cho buổi trình diễn này mang ý nghĩa đặc biệt với chúng tôi. Âm nhạc cũng rất khác biệt với loại nhạc mà chúng tôi thường trình diễn. Tôi rất nôn nóng trình diễn âm nhạc của một dân tộc thuộc một nền văn hóa khác, có một lịch sử khác với chúng tôi…” 


Ba ngày sau đêm trình diễn Symphony “Việt Nam 1975”, đúng ra là sáng sớm ngày 25-10-2005, trong chương trình The Breakfast Club bằng tiếng Anh của đài Phát Thanh Quốc Gia ABC, có tường trình chương trình nhạc đêm 22-10-2005. Xướng ngôn viên nhiều lần nhắc lại và nhấn mạnh đó là một chương trình nhạc “Symphony Việt Nam 1975” thật vĩ đại, khán giả chật kín thính đường rộng lớn Town Hall. 


Nhạc Trưởng Andrew Wailes tái xác nhận đây là lần đầu ông trình diễn một đại tấu khúc Việt Nam. Ông cho biết: “Symphony Việt Nam 1975 là một tác phẩm rất lý thú. Ðây là một tác phẩm thật hay . . . . Như những tác phẩm giao hưởng lớn trên thế giới, nó kể một câu chuyện thật đẹp. Ðây là nhạc về con người thật, về một quốc gia thật. Bắt đầu từ những bài dân nhạc diễn tả một quốc gia thanh bình, hào hùng, rồi bị cộng sản xâm chiếm. Nhạc chuyển lần sang âm thanh rất mới, diễn tả sự bất an, đầy bối rối. Người ta chia tay nhau ra đi đến đất nước mới để tìm tự do. Trong hành âm cuối “Ca Ngợi Tự Do”, nhạc dàn ra một bài hợp ca thật hay. Nhạc thật lộng lẫy, đồ sộ, thật vĩ đại. Symphony Việt Nam 1975 là một tác phẩm lớn để thưởng thức.”


Ông giải thích thêm: “Trong nhạc phẩm này đàn violin của chúng tôi phải uốn âm thanh vào phân nửa của bán cung cho phù hợp với âm thanh độc đáo của nét nhạc dân tộc Việt Nam. Việc này thật khác thường. Tiết nhịp thì diễn tấu khá dễ dàng và hòa âm thì có nhiều hợp âm thứ. Nhạc rất hay, rất sắc xảo, tinh vi, có những đoạn thật mong manh, chúng tôi phải hết sức cẩn thận để không đàn quá mức vì sợ phá vỡ không khí êm ả của nhạc.”









 

 Hai nhạc trưởng Andrew Wailes và Lê Văn Khoa điều khiển dàn nhạc
The Royal Melbourne Philharmonic Orchestra và ban Hợp Ca Cộng Ðồng Người Việt
trong chương trình đánh dấu năm ly hương thứ 30 của người Việt (Australia 2005). (Hình: Lê Văn Khoa cung cấp)




Nhạc Trưởng Edward Cumming của Pacific Symphony Orchestra, Hoa Kỳ, xác nhận: “Khi đàn bầu, sáo và khánh (glockenspiel) quyện lại, tôi thấy nhạc Việt và nhạc Tây Phương ôm choàng lấy nhau, gắn bó nhau. Ðó là cái ôm siết chặt của văn hóa Ðông-Tây.”


Ngoài yếu tố lịch sử đã tạo được qua buổi hòa nhạc, Nhạc Trưởng Edward Cumming nhắc lại Khúc Giao Hưởng “Việt Nam 1975” của Lê Văn Khoa là tác phẩm âm nhạc nói lên lịch sử cận kim của Việt Nam, ba trích đoạn của tấu khúc này đã được dàn nhạc Pacific Symphony Institute Orchestra, cũng do ông điều khiển, đã trình diễn tháng Sáu năm 1995 tại Orange County Performing Arts Center ở Costa Mesa.


Qua lời phát biểu của ba nhạc trưởng, một ở Âu, một ở Úc và một ở Mỹ, hẳn ông thấy ý tưởng ban đầu của tôi là đúng. Tôi nghĩ những vị nhạc trưởng này chưa hề nghe một bản nhạc phổ thông Việt Nam nào và nếu không có Symphony Việt Nam 1975 chắc họ không biết nhạc Việt ra sao. Họ xác nhận lịch sử tang thương của ngày 30-4-1975 và tiếp chúng ta nói lên bằng tiếng nói âm nhạc cho những người cùng giới, cùng đẳng cấp với họ và như thế câu chuyện của chúng ta được loan ra xa hơn, rộng hơn để tiếng kêu gào, đòi hỏi tự do do cho người dân Việt được vang dội lớn hơn. 









 

 Nhạc sĩ Lê Văn Khoa (phải) trong buổi trả lời phỏng vấn
nhà văn Phạm Xuân Đài tại Nhật Báo Người Việt. (Hình: Uyên Nguyên/Người Việt)


Phạm Xuân Đài: Năm nay nhạc sĩ đã ở vào tuổi 80, ông còn những dự tính nào cho tương lai không?



Nhạc sĩ Lê Văn Khoa: Ðối với tôi dường như tương lai hay hiện tại không có gì khác nhau, ngày nào cũng là tương lai và ngày nào cũng là hiện tại, vì lúc nào tôi cũng làm việc. Tôi vẫn còn dạy nhạc, rất muốn mở lớp sáng tác nhạc cho người lớn và cho trẻ em để tạo một thế hệ tương lai tốt hơn thế hệ của tôi. Tôi muốn khai triển thêm lối hội học hay những buổi nói chuyện thân mật, để một số người có thể đi sâu hơn vào lãnh vực hiểu và bình giảng âm nhạc đúng nghĩa. Nhiều người khuyến khích tôi viết hồi ký, tôi cám ơn và cho biết tôi không có đủ thì giờ đi tới thì làm sao có thì giờ đi lui. Có lẽ vì hiểu tôi như thế nên nhiều thân hữu đã đứng ra gom góp một số bài của tôi viết về âm nhạc, về nghệ thuật, và bài của rất nhiều người viết về nhận định, về kỷ niệm với tôi, về tôi, gom lại làm một quyển sách đồ sộ, lấy tên là LÊ VĂN KHOA, MỘT NGƯỜI VIỆT NAM, sẽ ấn hành trong năm nay. Tôi nghĩ đó là một tài liệu khá đầy đủ về tôi, mời đồng bào đón xem để chia sẻ cùng tôi những quan niệm, những hoạt động về âm nhạc và nghệ thuật mà tôi đã thực hiện trong suốt quãng đời đã qua của tôi.



Phạm Xuân Đài: Xin cảm ơn nhạc sĩ Lê Văn Khoa đã dành cho chúng tôi cuộc phỏng vấn này.

California: Bé gái 8 tuổi bị kẻ lạ vào nhà đâm chết

SAN FRANCISCO (AP) – Sau cuộc lục soát từng căn nhà không đưa đến kết quả gì, nhà chức trách tại một thị trấn nhỏ ở vùng Bắc California yêu cầu mọi nhà khóa chặt cửa và để ý trên đường phố cũng như trong sân sau về  một người đàn ông lạ mặt đã đâm chết một bé gái 8 tuổi ngay trong nhà của em.







Nơi xảy ra vụ án mạng. (Hình: Chụp lại từ google.)


Kẻ tấn công, chỉ được miêu tả là mặc áo đen và quần xanh, là mục tiêu của cuộc truy tầm rộng lớn hôm Chủ Nhật do sở cảnh sát quận Calvaveras và các quận chung quanh, cũng như Tuần Lưu Xa Lộ California và Cảnh Sát Tiểu Bang California tiến hành.

Bé Leila Fowler, 8 tuổi, bị đâm chết tại nhà ở Valley Springs hôm Thứ Bảy tuần qua, theo giới hữu trách. Thị trấn này có khoảng 2,500 dân.

Anh của bé Leila, một thiếu niên 12 tuổi, về nhà thì gặp nghi can từ trong nhà đi ra và sau đó tìm thấy xác em gái mình.

Nhân viên công lực lục soát từng nhà trong thị trấn suốt đêm Thứ Bảy sang đến ngày Chủ Nhật, cũng như các căn nhà nằm rải rác trong vùng đồi núi chung quanh, cùng các nhà kho, chuồng ngựa trong vùng.

Các điều tra viên thẩm vấn một số người hôm Chủ Nhật nhưng đến nay vẫn chưa xác định nghi can nào.

Thị trấn Valley Springs có khoảng 2,500 người, nằm trong quận Calaveras, sát chân núi Sierra Nevada, cách thủ phủ Sacramento chừng 90 km về hướng Đông Nam. Nơi này đã được nêu tên trong một chuyện ngắn víêt năm 1865 của văn hào Mark Twain, có tên “The Celebrated Jumping Frog of Calvaveras County”. (V.Giang)

Thẩm Phán Phan Quang Tuệ và cuộc hành trình không bao giờ chấm dứt


LTS: Biến cố 30 tháng Tư, 1975 đẩy một bộ phận lớn dân tộc vào thế phải đào thoát chế độ độc tài, đi tìm cuộc sống xứng đáng với phẩm giá con người. Thẩm phán Phan Quang Tuệ và Thẩm phán Nguyễn Trọng Nho nằm trong số hàng triệu người phải bỏ nước ra đi trong biến cố ấy. Hai vị, những thanh niên trưởng thành tại xã hội miền Nam trước 1975, nhiệt huyết, dấn thân và đều là người thành đạt. Những ngày đầu sang đến đất Mỹ, hai ông trải qua những ngày tháng buồn đau, tủi nhục, chua xót khi sau lưng là một quê hương tan rã, hiện tại thì nhọc nhằn, còn tương lai thì bất định. Nhưng bằng vào ý chí, hai ông từng bước một ổn định và tạo được thế đứng vững chắc tại quê hương thứ hai này. Và nhất là, cả hai đều thành đạt trong một lãnh vực mà đồng bào chúng ta tại quê nhà đang khao khát: một nền pháp luật công bằng, minh bạch, tôn trọng nhân phẩm người dân. Trong bối cảnh nhìn lại những cái mất và những cái được của Việt Nam sau biến cố 30 tháng Tư, 1975, Người Việt hân hạnh giới thiệu cùng độc giả hai khuôn mặt tiểu biểu này: Thẩm Phán Phan Quang Tuệ và Thẩm Phán Nguyễn Trọng Nho.

Thiện Giao/Người Việt



SAN FRANCISCO (NV) – Ông là người của tự do, vì ông vinh danh, và sẵn sàng bảo vệ, mọi giá trị tự do. Ở một phía khác, có vẻ mâu thuẫn, ông lại là người của nguyên tắc. Ít ra là nguyên tắc này: Không bao giờ bỏ cuộc!


“Tôi có thể về hưu trong công việc, nhưng không bao giờ về hưu trong cuộc sống.” Thẩm phán Phan Quang Tuệ nói trong một cuộc trả lời phỏng vấn. “Ngày nào còn ở trên võ đài, ngày ấy chúng ta vẫn còn cơ hội.”


Cơ hội gì, võ đài nào, cho ông? Khó có thể đi tìm một hướng duy nhất trong cuộc đời của người thẩm phán tòa di trú liên bang Hoa Kỳ, Phan Quang Tuệ. Nhưng nếu phải chọn một, và chỉ một mà thôi, thì đó là tâm tưởng của ông đối với Việt Nam, con người Việt Nam – quá khứ, và cả hiện tại.






 

 Tháng Ba, 1995. Hình gia đình sau lễ tuyên thệ nhậm chức
Thẩm Phán Di Trú, Tòa Án Di Trú San Francisco. (Hình: Gia đình cung cấp)


Thẩm phán Phan Quang Tuệ về hưu ngày 31 tháng 12, 2012, sau 17 năm ngồi ghế Thẩm Phán Tòa Di Trú Liên Bang Hoa Kỳ. Ông từng là một luật sư tại Sở Di Trú từ năm 1988 đến 1993. Ông sinh ra trong một gia đình gia thế – thân phụ là cố Phó Thủ Tướng Phan Quang Đán, ông nội là một trong những bác sĩ Việt Nam đầu tiên, Phan Huy Thịnh.


Còn người thanh niên Phan Quang Tuệ thì thoát ra khỏi Việt Nam những ngày cuối cùng của cuộc chiến, đến Hoa Kỳ trong một tâm trạng “vừa tự ti, vừa tự tôn.”


Những ngày đầu ở Mỹ, ông làm đủ mọi thứ nghề, kể cả nghề sửa giày, nghề rửa chén nhà hàng. Cho đến một hôm: “Tôi còn nhớ một buổi trưa năm 1976 tại Washington D.C. Lúc ấy tôi làm nghề rửa chén ở nhà hàng. Vào giờ nghỉ trưa, tôi cầm khúc bánh mì, nằm ngửa mặt lên trời, bỗng nhiên nước mắt chảy dài. Lúc đó tôi 33 tuổi.”


“Tôi nhận ra được một điều, cuộc đời này là một chuỗi dài của thử thách. Thử thách lớn nhất nằm ngay trong mình đó thôi.” Thẩm Phán Tuệ nhớ lại. Và ông quyết định đi học trở lại, “để luôn luôn chuẩn bị. Để làm được việc.”


Trong những năm đầu tiên xây dựng lại cuộc đời ở đất nước mới, vừa đi làm nuôi gia đình, vừa đi học để mở đường, cầu tiến cho tương lai, ông tâm sự rằng kim chỉ nam hướng dẫn cho bản thân là câu nói ông để trước mặt trên bàn học: “If I am not for myself, who is for me? But if I am only for my self, what am I? If not now, when?” (Nếu tôi không sống cho tôi, thì ai sống cho tôi? Nhưng nếu tôi chỉ biết sống cho tôi, thì tôi là loại người gì? Và nếu không hành động ngay hôm nay, thì chờ đến bao giờ?)


Cuộc trò chuyện với ông, trước sau gì cũng sẽ quay lại vấn đề Việt Nam. Có lẽ chưa bao giờ, và sẽ không bao giờ, ông tin vào “người nước ngoài” trong các vấn đề của “người nước mình.”






 

 Sinh Viên Sĩ Quan Thủ Đức, Khóa 2/68. Sinh viên Phan Quang Tuệ
ngồi hàng đầu, bên trái. (Hình: Gia đình cung cấp)


Tự nhìn nhận là “người học trò của lịch sử,” và “sinh ra trong một gia đình gắn bó với quê hương nhiều thế hệ,” ông có cái nhìn xác quyết về lịch sử và tương lai của dân tộc.

“Hãy nhìn lại cuộc chiến Việt Nam. Số phận nước mình mà người ta quyết định ở đâu ấy; ở Geneve, ở Bắc Kinh, ở Paris…”


“Nhưng làng xã mình bị cháy thì cháy ở Việt Nam. Đàn bà con gái mình bị hiếp thì bị hiếp ở Việt Nam. Con nít mình bị giết thì bị giết tại Việt Nam… còn người ta quyết định thì quyết định sau lưng mình và trên đầu mình.” Ông Phan Quang Tuệ nhận định.


Ông tin, người Việt Nam phải tự mình có tiếng nói. Và ông muốn đóng góp vào tiếng nói ấy, ngay tại Hoa Kỳ. Đó là cơ hội của ông, và cũng là võ đài của ông.


Nếu hỏi nhân vật này về những kỷ niệm trong gần 20 năm ngồi ghế thẩm phán tòa án di trú, ông sẽ không chờ đợi để kể về một câu chuyện mà ông cho là “một vinh dự” được trao vào tay ông.






 

 Với Tổng Trưởng Tư Pháp Alberto Gonzalez (trái), tháng Tám, 2007, tại Washington D.C.
(Hình: Gia đình cung cấp)


Có một cặp vợ chồng nghệ sĩ người Uzbekistan, chồng là nghệ sĩ sáng tác, vợ là ca sĩ hát các sáng tác của chồng. Trong thời gian sống tại quê nhà những năm tháng sau khi quốc gia này tách khỏi Liên Bang Xô Viết, người chồng sáng tác bài hát có tựa đề “Khi Mặt Trời Mọc Trên Quê Hương Tôi,” có nội dung phê phán chính quyền. Hậu quả là hai người bị bắt. Riêng người chồng bị công an hành hung, đập nát cả hai bàn tay. Hai người tìm cách trốn ra nước ngoài, vào đến Mỹ, và xin được cấp quy chế tị nạn. Họ bị giam trong nhà giam của Sở Di Trú Hoa Kỳ khá lâu. Cho đến một hôm, một xấp hồ sơ gồm rất nhiều trường hợp cần xét xử được đưa đến tay Thẩm Phán Phan Quang Tuệ. Ông đọc qua hồ sơ và quyết định ưu tiên xét đến trường hợp hai vợ chồng nghệ sĩ này.


“Nhìn họ, tôi cứ liên tưởng đến Lê Uyên – Phương của Việt Nam.” Thẩm Phán Phan Quang Tuệ nhớ lại. “Tôi tự hỏi, tại sao trường hợp của họ như thế mà lại cứ phải ở tù. Họ ở tù đã lâu, và họ không có tiền để thuê luật sư.”


Ngày xét xử, ông dùng tất cả những quyền được luật pháp cho phép, quyết định nhanh chóng ban quy chế tị nạn chính trị cho hai vợ chồng này.


“Tôi nhớ đã nói với họ như thế này ngay sau khi đưa ra phán quyết: Chào mừng ông bà đến với nước Mỹ. Kể từ hôm nay, hãy sáng tác thật nhiều, đi bất cứ nơi đâu quý vị thích, hãy hát thật nhiều nơi, và hãy phổ biến thật xa những sáng tác của quý vị.”


“Và hôm nay tôi là người được vinh dự ban phán quyết này, nhân danh chính phủ Hoa Kỳ.” Thẩm phán Tuệ kể lại.


Liệu có thể nào tách rời tâm tư Việt Nam trong con người Phan Quang Tuệ ra khỏi quyết định vừa đưa ra hay không? Khó! Chính cá nhân thẩm phán Phan Quang Tuệ cũng từng là người tị nạn, và ông đã chạy ra khỏi một đất nước mà chế độ mới cũng độc tài y hệt cái đất nước của đôi nghệ sĩ mà ông vừa đưa ra phán quyết.


Bản thân là một di dân, một người tị nạn, thẩm phán Phan Quang Tuệ có những kinh nghiệm riêng khi xét xử các trường hợp di trú, đặc biệt là những trường hợp trục xuất liên quan đến người gốc Việt.






 

 Thẩm Phán Phan Quang Tuệ trước khi về hưu, tháng 12, 2012. (Hình: Gia đình cung cấp)

“Tôi gặp khó khăn, những khó khăn nội tâm, khi phải xử những vụ liên quan đến người Việt Nam.” Thẩm Phán Tuệ chia sẻ.


“Thâm tâm, tôi không muốn một người Việt nào phải ra trước tòa.” Ông tâm sự, và so sánh trường hợp của người Việt Nam với các sắc dân khác. “Trong khi nhiều người ở nhiều nước khác chỉ muốn được như người Việt mình, tức là muốn được hợp thức hóa, muốn được cái thẻ xanh, được giấy phép đi làm, một số người Việt lại làm những hành động đưa đến việc bị trục xuất khỏi Hoa Kỳ.”


Trong cái nhìn tổng thể đối với cộng đồng di dân gốc Việt tại Mỹ, ông Thẩm Phán cho rằng người Việt Nam chỉ mới “thành công mang tính cá nhân” chứ chưa đạt đến sự thành công nền tảng như nhiều sắc dân khác.


“Người Việt mình hay phân biệt, và hay quên những cuộc tranh đấu của người đi trước. Liệu chúng ta có biết rằng chúng ta hưởng rất nhiều từ các phong trào vận động dân quyền của người da đen? Nên nhớ rằng, thành tựu của người da đen đã trở thành một thứ định chế.” Ông phân tích, và đặt câu hỏi: “Chúng ta mang lại được định chế nào cho xã hội này?”


Đặt vấn đề thiết lập các định chế cộng đồng, trách nhiệm xã hội, thẩm phán Phan Quang Tuệ nhắc lại dư luận liên quan đến quyết định sắp đến của ông: Tranh cử vào chức vụ Dân Biểu Liên Bang Hoa Kỳ vào năm 2014.


“Người ta hỏi tôi, sao không để lớp trẻ làm việc ấy.” Ông kể.


“Nói như vậy là sai.” Ông trả lời dư luận như vậy. “Chuyện của mình, mình làm, chuyện của lớp trẻ, lớp trẻ làm. Điều sai lầm lớn nhất là cứ phải bảo người khác làm cái này, làm cái kia.” Ông tâm sự.


Rồi kết luận: “Một cuộc đời có ích là cuộc đời biết chia sẻ, cả thành công lẫn thất bại.”


Nhưng có lẽ, đối với ông, khái niệm “thành công” và “thất bại” dường như cũng là tương đối. Khi một người luôn muốn “ở trên võ đài,” “không về hưu khỏi cuộc sống,” thì liệu “thành công” và “thất bại” có ý nghĩa đến đâu?


Câu chuyện với ông trước sau gì rồi cũng quay lại đề tài Việt Nam: “Quá khứ không quên được, nhưng phải vượt qua được thử thách của quá khứ, mới xây dựng được tương lai.”


Trầm ngâm giây lát, ông trả lời câu hỏi về viễn tượng tương lai của một Việt-Nam-không-Cộng-Sản: “Không có chế độ nào khó xây dựng bằng chế độ dân chủ. Không phải cầm lá phiếu đi bầu là xong. Những định chế cần thiết lập. Tòa Án cần thiết lập. Luật pháp cần thời gian thử thách. Án lệ cần thời gian thử thách. Mình cần một, hai thế hệ nữa.”


Thế còn hiện tại thì sao? Trong vai trò của một trí thức, là hậu duệ của “nhiều thế hệ gắn bó với quê hương,” thẩm phán Tuệ đặt nặng vai trò của trí thức dấn thân.

“…Nhọc nhằn của cả một thế hệ di dân đầu tiên cần được củng cố và bảo vệ bởi tiếng nói ôn tồn, hiểu biết, và cân nhắc của người sĩ phu.” Ông viết trong một bài diễn văn được phát biểu hồi năm 2008.


Rồi ông nhắc lại câu nói nổi tiếng của tướng Robert E. Lee, viên bại tướng miền Nam trong cuộc Nội Chiến Hoa Kỳ, với binh sĩ của mình: “Trở về nhà, hãy là một công dân tốt như từng là một chiến sĩ dũng cảm.”


Công dân tốt là để xây dựng. Mọi cuộc chiến tranh đều là tàn phá. “Thế hệ này phải xây dựng cho các thế hệ chưa sinh ra.” “Thế hệ chưa sinh ra,” cụm từ ông nhắc đến bốn lần trong cuộc nói chuyện.


“Niềm hy vọng cho những thế hệ chưa sinh ra là ai, nếu không phải là những người đang sống?” Một câu hỏi, cũng là một câu trả lời.


Và ông quyết định tiếp tục cuộc hành trình của một kẻ sĩ dấn thân, theo một câu ghi trong hồi ký của thân phụ mình: “La raison de lutter est la meilleure raison d’esperer” (Lý do tranh đấu là lý do để hy vọng).






 Thẩm Phán Phan Quang Tuệ về hưu ngày 31 tháng 12, 2012, sau 17 năm làm việc tại Tòa Án Di Trú San Francisco. Từ năm 1988 đến 1993, ông là luật sư tại Sở Di Trú Hoa Kỳ. Ông từng phục vụ hai năm trong vai trò Thẩm Phán Luật Hành Chánh tại Sacramento, California.


Là một luật sư tại Việt Nam từ trước 1975, sang Hoa Kỳ, sau khi làm nhiều nghề khác nhau, ông trở lại học luật vào năm 1981. Ông bắt đầu hành nghề luật tại tiểu bang Iowa từ năm 1986. Ông từng là Thẩm Phán Hành Chánh tại Sở Lao Động Iowa từ 1985 đến 1987, Phụ Tá Bộ Trưởng Tư Pháp Tiểu Bang từ 1987 đến 1988, trước khi dọn về định cư tại California.

Tiền thuế California thặng dư $4.5 tỉ, trường học được nhờ

SACRAMENTO (Bloomberg) – Khoảng 6 triệu học sinh trong các trường trung tiểu học ở California sẽ được trực tiếp hưởng lợi do mức thuế lợi tức cá nhân thu được năm nay hiện vượt quá mức mà Thống Đống Jerry Brown dự trù tới khoảng $4.5 tỉ.|

Con số này là ước tính của cơ quan phân tích tài chánh quốc hội tiểu bang California (Legislative Analyst’s Office) về thuế lợi tức cá nhân thu được cho tài khóa khởi sự từ ngày 1 Tháng Bảy và chấm dứt vào cuối tháng này. Kể từ năm 1988 đến nay, hiến pháp tiểu bang đòi hỏi rằng hệ thống trường học tiểu bang phải được số phần trăm tối thiểu của ngân sách tiểu bang.

Số tiền thặng dư bất ngờ này đến sau khi tiểu bang California, với số học sinh trong các trường công lập chiếm tới gần 13% tổng số học sinh trên toàn nước Mỹ, bị cắt giảm tới 20% ngân sách trong năm 2009, năm được coi là chấm dứt cuộc suy trầm kinh tế dài nhất kể từ thập niên 30. Con số giáo viên toàn thời gian trong hệ thống trường học California giảm 32,000 từ năm 2007 đến 2012, theo ước tính nêu trên.

Thống Đốc Brown hồi Tháng Mười Một năm ngoái thuyết phục cử tri California chấp thuận mức tăng thuế bán hàng cao nhất trong các tiểu bang ở Mỹ, ở mức 7.5%, và tăng thuế đánh vào những cá nhân hay gia đình có mức lợi tức từ $250,000 trở lên. Những  gia tăng về tiền thu thuế này đã được kể vào ước tính cho ngân sách của Thống Đốc Brown. (V.Giang)

Phụ nữ cắt ‘của quý’ của chồng bị tuyên án 52 năm tù

 


Tâm Nguyễn/Người Việt


SANTA ANA (NV)Bà Catherine Kiều, 50 tuổi, phụ nữ bị cáo buộc cắt dương vật của chồng, bị các bồi thẩm viên cho là có tội tra tấn và các tội gia trọng trong phiên xử tại phòng xử án của Chánh Án Tòa Thượng Thẩm Richard Toohey hôm Thứ Hai, 29 Tháng Tư. Bà Kiều bị tuyên án từ 52 năm đến chung thân có thể được xét tha sớm, và dự trù bị kết án vào ngày 28 tháng 6.






 

 Bà Catherine Kiều trong một phiên xử tại Tòa Thượng Thẩm California ở Santa Ana
vì tội cắt “của quý” của chồng. (Hình: AP Photo/The Orange County Register)


Luật sư công tố, John Christi, nói với các bồi thẩm viên rằng bà Kiều bỏ thuốc vào súp của người chồng và cắt đứt dương vật của chồng. Bà Kiều ghen và tức giận về kế hoạch ly dị của chồng và ông này giao du với người phụ nữ khác từng là người tình cũ của ông. Âm thanh trong đêm nội vụ xảy ra được thâu bằng máy một máy ghi âm khởi động bằng giọng nói, được chính bà Kiều đặt trong phòng ngủ của mình.

Âm thanh ghi nhận bà Kiều quăng bộ phận sinh dục của chồng vào máy xay rác và bật nút điện lên, luật sư Christi nói. Bộ phận ấy được lấy ra nhưng đã quá nát để gắn lại. Người chồng được đưa đến Trung tâm y tế UCI ở Orange để giải phẫu khẩn cấp và ông sống sót.

“Bà ấy quẫn trí và trông như bị tê cứng,” ông Frank Bittar, luật sư biện hộ, nói về thân chủ của mình sau khi bản án được đọc. Luật Sư Bittar nói bà Kiều bị chấn thương từ khi thơ ấu, lớn lên và chạy trốn khỏi Việt Nam trong chiến tranh. Bà ấy không được điều trị rối loạn tâm lý sau khi bị người anh trai thiếu niên hiếp dâm nhiều lần và người mẹ qua đời khi bà Kiều mới được 5 tuổi.

Cuộc sống của bà Kiều ở Việt Nam rất khó khăn, Luật Sư Christi nói. “Nhưng điều đó không thay đổi sự kiện bà cắt đứt dương vật vì sự trả thù, làm thiệt hại cho người khác và vì ghen tuông,” Luật Sư Christi sau đó, cho biết. “Người chồng không xứng đáng bị như thế,” ông nói trong phần kết của bản cáo trạng.



Liên lạc tác giả: [email protected]

Không nhận bừa khách sạn, du khách Pháp bị dọa giết

 


 


VIỆT NAM (NV) – Xung đột diễn ra giữa ba du khách người Pháp và một số người làm dịch vụ du lịch tại thành phố Hà Nội hôm 24 tháng 4. Cả ba người đều bị dọa giết, hay ít nhất cũng bị hành hung tại một khách sạn ở phố Hàng Thùng.
 






Ba du khách Pháp bị dọa giết vì không chịu nhận bừa khách sạn đã ghi danh trước. (Hình: VTC News)

Công an địa phương được gọi tới can thiệp để giữ trật tự và chính quyền địa phương hứa hẹn sẽ giải quyết.
 
Cuộc điều tra sơ khởi của công an địa phương tại Hà Nội nói rằng cả ba du khách người Pháp đến Nội Bài để tham dự một chuyến du lịch kéo dài một tháng. Họ đặt phòng một khách sạn ba sao tọa lạc tại khu phố cổ Hà Nội, nhưng sau đó lại được tài xế taxi đưa về một khách sạn ở phố Hàng Thùng.
 
Báo mạng VTC News cho biết, vào đêm thứ hai, cả ba du khách người Pháp mới khám phá ra sự việc.


Họ khiếu nại ở phòng tiếp tân và thẳng thắn đòi phải được dời đến đúng khách sạn đã ghi danh. Họ cũng đòi công ty tổ chức tour phải bồi thường vì sự lừa dối này. Trong lúc lời qua tiếng lại với nhân viên tiếp tân ở khách sạn phố Hàng Thùng, cả ba du khách này bị dọa đánh đập và giết chết.
 
Cuối cùng cả ba du khách người Pháp đành lủi thủi rời khách sạn trước khi đến đồn công an yêu cầu can thiệp.
 
Vào ngày 23 tháng 4 vừa qua, một du khách người Úc cùng với hai con nhỏ đã thuê xe xích lô chở đi một đoạn chưa đầy 5 km với giá 70,000 đồng, tương đương 3.5 đôla. Tuy nhiên, ở giữa đường, khi chưa tới đúng địa điểm giao ước, ba mẹ con du khách người Úc này bị đuổi xuống xe và bị đòi tới 1.3 triệu đồng, tương đương 65 đôla.
 
Trước  đó nữa, một du khách người Nhật tên Hirako 54 tuổi đi xe taxi từ khách sạn Khải Hoàn, quận 10 đến một địa điểm chỉ cách khoảng 3 cây số lại bị đòi tới 650,000 đồng, tương đương 32 đôla.


Căn cứ vào số ghi trên đồng hồ tính tiền, ông Hirako chỉ chịu trả 65,000 tức khoảng 3.2 đô. Tài xế nổi nóng đấm vào mặt ông và còn toan lấy mất ví, mắt kính, và hành lý. Ông du khách Nhật Bản tri hô cầu cứu, được người đi đường can thiệp, giúp lấy lại hành lý. Còn ông tài xế taxi nói trên thấy “động,” liền bỏ chạy mất. (PL)

Độc giả góp ý ‘Làm sao biết khi nào thì chồng bệnh thật?’


LTS: “Biết Tỏ Cùng Ai” do cô Nguyệt Nga và anh Vân Tiên phụ trách, nhằm mục đích góp ý, chia sẻ những ưu tư, vướng mắc về những vấn đề liên quan đến cuộc sống, đời thường mà quý vị không biết tỏ cùng ai. Thư từ xin gửi về: Người Việt (Biết Tỏ Cùng Ai), 14771 Moran St. Westminster, CA 92683, hay email: [email protected]


*Vân Nguyễn


Đúng là trên đời chuyện gì cũng có thể xảy ra!


Nhiều ông thì có tật bắt nạt vợ, nhiều ông thì có tật cằn nhằn đến nhức óc, nhiều ông thì có tật làm biếng, bây giờ thì lại đến giả đò bịnh. Giữa bao nhiêu cái tật đó, không biết cái tật nào làm cho người nhà bực bội hơn tật nào!


Mình nghĩ bạn nên khuyên anh ấy đi khám bịnh tổng quát, thử máu để coi anh ấy có bịnh gì không, nếu kết quả khám bịnh nói rằng anh ấy khỏe mạnh thì bạn không có gì phải lo nữa. Khi nào anh ấy than đau thì kêu anh ấy lấy thuốc uống, rồi đừng để ý đến nhiều.


Giả đò bịnh để tránh việc nhà hoặc để nhõng nhẽo với vợ con hoặc đó chỉ là cái tật thích than bịnh thì đều không có thuốc chữa. Người ta nói cái tật lớn hơn cái tuổi là vậy.


Còn bữa nào anh ấy nhúc nhích rục rịch làm bạn ngủ không được thì sau khi bạn lấy thuốc cho ảnh uống xong, bạn qua phòng khác ngủ.


Chúc bạn ngày vui!




*Bác Loan


Ông nào mà giống ông nhà tui quá mạng dzậy không biết, người ta nói đàn bà liễu yếu đào tơ chứ thật ra tôi thấy tình hình chung thì không phải vậy. Cứ thử nhìn ngoài đường là biết ngay, nhất là những cặp vợ chồng lớn tuổi, mấy bà lanh đáo để, xốc vác, mau mắn…còn mấy ông thì chậm lụt, lờ đờ…làm như tuổi lớn thì đàn ông lụm khụm hơn đàn bà, nhất là đàn bà Việt Nam. Những cặp đi ngoài đường, trong quán, phần đông đàn bà lanh lắm. Tôi có người bạn lại cho rằng, qua nước Mỹ, đàn bà lanh lợi, mạnh mẽ, giỏi giang hơn đàn ông nhiều lắm, làm như nước Mỹ là pháo mà đàn bà là lân vậy.


Mới ngày hôm qua thôi, tui ra phi trường đón đứa con từ Việt Nam qua, thấy một bà già vai mang ba lô căng phồng, cột thêm cái nón lá tòng teng…đang hì hà hì hục đẩy chiếc xe, trên đó 4 cái vali chồng lên nhau. Bên cạnh là một ông già, đi rất thảnh thơi, lưng cũng không mang cái gì, hai tay cũng không đẩy cái gì…(mà tôi cá một ngàn phần trăm ông già có đề nghị giúp mà bà già dành hết để làm). Coi bộ cảnh này thường xuyên xảy ra nên trông bà rất tự nhiên và ông già càng tự nhiên hơn.


Tôi nghĩ, đàn bà Việt Nam hay thương chồng và hy sinh cho chồng. Chính cái thói quen được “ưu đãi” nên mấy ông đâm ra thành “quí tộc”, từ đó hơi tí là ê mình, nóng lạnh.


Nói chung là tại các bà mà ra, tại các bà dung dưỡng, chìu chuộng, cưng quí chồng nên mới ra sự thể như vậy. Không thấy baby nhà giàu mới hay đau ốm, chứ baby ở vùng núi mới sinh ra mang ra suối tắm thì đâu có đau vặt vãnh. Người ta nói nhà giàu đứt tay bằng ăn mày đổ ruột là thế. Vài hàng góp với mấy bà cưng chồng rồi than sao ổng làm bộ làm tịch như vậy. Tại ả hết đó mà!

Đảng viên CSVN cấu kết thành ‘nhóm lợi ích’ để trục lợi

HÀ NỘI (NV) – Ủy ban Kiểm tra của Ban chấp hành Trung ương Đảng CSVN (UBKT TƯ Đảng CSVN) vừa công bố kết quả nghiên cứu về các “nhóm lợi ích” trong guồng máy đảng và nhà nước.









Cổng vào dinh thự của Nguyễn Trường Tô – cựu Chủ tịch tỉnh Hà Giang (nhân vật chính trong oan án liên quan tới hai nữ sinh trường trung học Vị Xuyên bị cáo buộc “môi giới mãi dâm”) đã khiến dư luận bị sốc vì nó tương phản gay gắt với cuộc sống của đa số dân chúng đang sống dưới ngưỡng đói nghèo ở Hà Giang. Chưa ai buộc cựu Chủ tịch tỉnh Hà Giang trả lời tiền từ đâu để xây dinh thự như vậy (?). (Hình: Khám Phá.vn)

Đây là lần đầu tiên, cơ quan chuyên trách về thanh tra trong nội bộ Đảng CSVN thực hiện và công bố một nghiên cứu về đề tài này.

“Nhóm lợi ích” thường được dùng để chỉ những cá nhân có cùng mong muốn, cùng nỗ lực để đạt đến mục tiêu nào đó, quen gọi là “lợi ích nhóm”. “Nhóm lợi ích” có thể có quy mô rất lớn hoặc rất nhỏ và “lợi ích nhóm” có thể rất tích cực hoặc rất tiêu cực.

Riêng tại Việt Nam, trong vài năm vừa qua, do đặc điểm của một xã hội cộng sản, cụm từ “nhóm lợi ích” thường được dùng để chỉ những nhóm viên chức câu kết với nhau hoặc câu kết với các cá nhân bên ngoài hệ thống chính quyền nhằm trục lợi và “lợi ích nhóm” luôn luôn được hiểu theo nghĩa tiêu cực.









Trần nhà, kèo cột toàn căn nhà hai tầng lầu đều bằng gỗ quý và trạm trổ tinh vi. (Hình: Khampha.vn)

Kết quả nghiên cứu từ UBKT TƯ Đảng CSVN, nhận định: “Hiện tượng giàu lên rất nhanh, có nhiều nhà đất và có khối lượng lớn về tài sản, tiền bạc của một số cán bộ có chức, có quyền trong một số cơ quan nhà nước, cơ quan Đảng càng làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân không khỏi nghi ngại là có việc làm ăn, có lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm”.

Nghiên cứu thừa nhận: “Trong khi mặt bằng kinh tế chung còn thấp mà trong xã hội có một số người chơi ngông, xài sang hơn cả ở các nước phát triển thì đó là điều khó chấp nhận, đa phần là những người có được nhiều tiền nhờ sự kiếm chác một cách khuất tất, mờ ám… Thói hưởng lạc, sống gấp, hợm hĩnh, vênh vang về đồng tiền có được của không ít người là nhờ các mối quan hệ không bình thường với cán bộ, đảng viên có chức, quyền trong các cơ quan công quyền, hoặc có thể là do tham nhũng, ăn cắp, nhận hối lộ”.









Sân sau nhà ông Tô có hồ thủy tạ với giả sơn, các loại cây cảnh hiếm quý mang sưu tầm từ khắp nơi mang về. (Hình: Khampha.vn)


Trong nghiên cứu, UBKT TƯ Đảng CSVN xác nhận, từ khi “đổi mới” (năm 1986) đến nay, tham nhũng tăng lên rất nhanh, khoảng 32% liên quan đến doanh nghiệp. Tình trạng viên chức thông đồng với doanh nghiệp để trục lợi ngày càng nhiều, có dấu hiệu trầm trọng hơn trong tất cả các lĩnh vực. Cơ quan này liệt kê một loạt hình thức câu kết mà dư luận đã từng hệ thống trước đó:

Nhóm thân hữu: Tuy không có bằng chứng pháp lý nào về “nhóm thân hữu” nhưng trong thực tế, xung quanh một số nhân vật chủ chốt có vai trò quan trọng trong các chính sách về kinh tế, UBKT TƯ Đảng CSVN xác nhận “thấp thoáng sự hiện diện của các doanh nhân”.

Những “nhóm thân hữu” này có quan hệ hai chiều trong việc viên chức dàn xếp để doanh nghiệp nhận được ưu đãi. Ngược lại, doanh nghiệp hoặc là đóng góp vào sự phát triển của địa phương để làm nổi bật thành tích của viên chức, hoặc là cung cấp cho viên chức phương tiện để leo cao hơn, để lo lót khi doanh nghiệp phạm sai lầm.

Chưa kể doanh nghiệp còn lo cung phụng cho những người thân thiết của viên chức. Hiện tượng doanh nghiệp chu cấp cho một số viên chức các dịch vụ như chơi golf, du học, du lịch… được xem là khá phổ biến.

Nhóm chung lợi ích: Khoảng 40% doanh nghiệp được phỏng vấn thừa nhận có sử dụng quan hệ với quan chức để trục lợi. Khoảng 20% thừa nhận, sử dụng hối lộ để đạt mục đích. Ủy ban Nhân dân các cấp, cán bộ quản lý ngành là những đối tượng nằm trong nhóm này.

Nhóm lợi ích cục bộ: Gồm những viên chức sử dụng quyền lực của nhóm để ăn chia với doanh nghiệp. Chẳng hạn, vụ tham nhũng xảy ra tại trạm kiểm soát liên ngành Đồng Bành, Lạng Sơn.

Tại đó, một nhóm cán bộ đã câu kết với doanh nhân bớt xén tiền thuế để chia chác. Rồi dùng tiền đó hối lộ cấp trên để được thăng chức và trụ lại trạm lâu hơn. Không ít cán bộ của trạm đã trở thành trạm trưởng, trạm phó, phó phòng nghiệp vụ của Cục Thuế tỉnh. Một số cán bộ của Cục Thuế tỉnh giữ quyền ăn chia bằng cách đề xuất với tỉnh luân chuyển cán bộ tại trạm ba tháng một lần.









Một biếm họa về “nhóm lợi ích” của VN Economy.


Viên chức sử dụng doanh nghiệp nhà nước để trục lợi: Vì doanh nghiệp nhà nước có vị trí đặc biệt, quản lý khối tài sản khổng lồ nhưng ít phải giải trình về trách nhiệm nên UBKT TƯ Đảng CSVN cho rằng “khu vực kinh tế này là đầu mối để nhiều viên chức thiết lập các đường dây trục lợi”.

Tình trạng viên chức bổ nhiệm những người thân tín vào các vị trí chủ chốt là phổ biến. Khi cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước, nhiều doanh nghiệp đã chuyển cho một số viên chức các cổ phần béo bở, đứng tên những người tin cẩn của viên chức.

Viên chức nhờ người khác đứng tên, kết hợp với giới quản lý doanh nghiệp nhà nước để lập các công ty tư nhân hoặc liên doanh, sau đó chuyển các hợp đồng béo bở cho doanh nghiệp của họ. Viên chức che chắn để giới quản lý doanh nghiệp làm sai quy định như mua bán tài sản không minh bạch để nhận hối lộ của bên cung cấp rồi chia nhau, tài trợ cho viên chức đi nước ngoài bằng…

Vụ lợi cá nhân: Nghiên cứu của UBKT TƯ Đảng CSVN nhìn nhận, “nhiều viên chức đã chủ động đòi hối lộ để giải quyết công việc, hoặc thực hiện sai chính sách để đòi hối lộ”.

Một cuộc khảo sát năm 2012 của Thanh tra Chính phủ xác định, khoảng 15% viên chức thừa nhận đã từng thấy viên chức khác gọi điện, gửi thư can thiệp nhằm mưu lợi cho thân nhân. Khoảng 20% viên chức thừa nhận đã từng thấy viên chức khác cố tình gây khó khăn để đòi hối lộ.
Gây phiền hà cho doanh nghiệp để đòi hối lộ: Khoảng 5% doanh nghiệp cho biết họ từng nhận được đề nghị bán hay cho thuê tài sản giá rẻ, 5% từng nhận được đề nghị tài trợ tham quan hay chi tiêu cá nhân, 8% từng nhận được đề nghị tuyển dụng họ hàng của viên chức, 15% từng nhận được đề nghị tặng quà.

Bảo kê cho các hoạt động phi pháp: Viên chức bảo kê cho doanh nghiệp buôn lậu, buôn bán má túy, hoạt động mại dâm. Kể cả bảo kê sử dụng đất công để giữ xe, làm dịch vụ.

Ngoài ra, còn có cả tình trạng viên chức hưởng hoa hồng quá mức quy định công khai trong hợp đồng, lợi dụng thông tin công vụ (quy hoạch đất, xây dựng hay cải tạo đường sá, đô thị, đầu tư công) để trục lợi.

Cũng UBKT TƯ Đảng CSVN nhìn nhận, một số doanh nghiệp đã thành lập một nhóm mà nhiệm vụ là mở rộng quan hệ với chính quyền và viên chức.

Nghiên cứu của UBKT TƯ Đảng CSVN, viết thêm rằng, bản chất mối quan hệ không bình thường giữa viên chức với doanh nghiệp để trục lợi là một dạng tham nhũng đặc biệt, dẫn đến tình trạng “lợi ích nhóm” chi phối cả nền kinh tế, thậm chí là chính trị. (G.Đ)


 


 

Jury finds Kieu guilty of attack on husband


THE ASSOCIATED PRESS




 An Orange County jury has convicted a woman who was accused of drugging her estranged husband before severing his penis and tossing it in the garbage disposal.









Catherine Kieu sits next to her attorney, deputy public defender, Frank Bittar, before opening statements Wednesday, April 17, 2013 in Santa Ana, Calif. (AP Photo/The Orange County Register)


 Jurors found Catherine Kieu guilty Monday of charges of torture and aggravated mayhem for the July 11, 2011, attack.

 Sentencing was scheduled for June 28.

 During the trial, the 60-year-old victim testified that his penis could not be reattached and that he felt as though he had been murdered.

 Deputy District Attorney John Christl told jurors that Kieu, 50, drugged the man’s tofu with sleeping pills and screamed “You deserve it!” before attacking him with a 10-inch kitchen knife.

 Kieu was jealous and angry about her husband’s plans to divorce her because he was seeing his ex-girlfriend, the prosecution said.

 Audio of the incident was captured by a voice-activated recorder Kieu had hidden in the bedroom, Christl said.

 The man, who is not being named by the AP because of the nature of the attack, married Kieu after they met at a gym but soon subjected Kieu to verbal and sexual abuse, Kieu’s public defender, Frank Bittar, said during trial.

 Kieu had mental health problems caused by a childhood full of molestation and other trauma in war-torn Viet Nam and her husband also constantly demanded sex in ways that caused her pain, Bittar said.

260,000 dân Somalia chết đói năm 2011

 


NAIROBI, Kenya (AP)Nạn đói năm 2011 đã làm thiệt mạng 260,000 người, gấp đôi ước lượng trước đây, theo một báo cáo mới nhất vừa được đưa ra cuối tuần trước.









Một ông bố đắp ngôi mả cho đứa con trai 12 tháng vừa chết vì thiếu dinh dưỡng, tại một trại tị nạn gần biên giới Kenya-Somalia hồi mùa hè năm 2011. (Hình: AP/Jerome Delay, File)


Bản nghiên cứu do FEWSNET, một hệ thống báo động tình trạng đói thuộc USAID và đơn vị Phân Tích Lương Thực – Dinh Dưỡng Somalia của Anh – Mỹ tài trợ, nói rằng sự chậm đáp ứng của cộng đồng quốc tế khi có dấu hiệu thảm kịch đã làm số nạn nhân cao hơn.

Một nguyên nhân quan trọng khác là các lực lượng chiến binh Hồi Giáo al-Shabab đã ngăn cản đưa lương thực tới vùng miền Nam Somalia do nhóm Hồi Giáo quá khích này kiểm soát.

Tình hình bất ổn tại Somalia khiến cho rất khó có thể thu thập được tài liệu chính xác. Bà Marthe Everard, giám đốc cơ quan y tế quốc tế WHO ở Somalia, nói rằng chưa được xem kỹ báo cáo, tuy nhiên bà không ngạc nhiên với những tổn thất nhân mạng cao nhất là ở phụ nữ và trẻ em. Bà nói; “Đó là một bài học cho chúng ta để cần phải được sửa chữa trong những lần khác”.

Tuy nhiên dù các cơ quan cứu trợ quốc tế có hành động kịp thời thì số người chết đói ở vùng do al-Shabab kiểm soát cũng vẫn cao. Nhóm chiến binh này không có lương thực dự trữ cấp cho dân chúng và cũng không cho đưa lương thực cứu trợ tới khu vực bị đói. Hàng chục ngàn dân Somalia đã trốn chạy bằng cách đi bộ hàng trăm dặm để tới các trạn tị nạn ở Kenya và Ethiopia. (HC)

Bình Định: Phó Văn phòng tỉnh ủy ‘ăn vụng’ bị quay phim


BÌNH ĐỊNH (NV) – Cách đây hơn một tháng nay, hôm 23 tháng 3, 2013, ông LAQ 44 tuổi, cư dân thành phố Qui Nhơn bắt gặp quả tang vợ của mình là bà HCH ngoại tình với một viên chức cao cấp của chính quyền tỉnh Bình Định.







Nhà khách T102, thành phố Quy Nhơn, nơi ông Q tố cáo phát hiện vụ “quan hệ bất chính”. (Hình: Dân Việt)

Liền đó, ông LAQ đâm đơn tố cáo đôi ‘gian phu, dâm phụ’. Nhưng cho đến chiều ngày 29 tháng 4, ông chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra tỉnh ủy Bình Định mới ra thông báo cho hay “đang xác minh nội vụ.”

Báo Dân Việt dẫn nội dung đơn tố cáo của ông LAQ nói rằng, ông có đủ chứng cứ về sự vụng trộm kéo dài giữa ông phó chánh văn phòng Tỉnh ủy Bình Định Lê Văn Vương và vợ ông.

Ông LAQ cho hay, được sự trợ giúp của một số người thân đã ập vào phòng số 207, Nhà khách T.102 ở đường Lê Lai, thành phố Qui Nhơn bắt gặp quả tang ông Vương và bà H. đang trong tình trạng “trần như nhộng.” Ông LAQ chụp ảnh, quay phim đầy đủ chứng cứ cho thấy, ông phó chánh văn phòng Tỉnh Ủy đang diễn màn “cụp lạc” với vợ của người, bất chấp ông Vương năn nỉ hết lời, xin người chồng bị cắm sừng “bỏ qua.”

Ông LAQ cho biết, đã nhiều lần cảnh cáo ông Phó chánh văn phòng và vợ của ông, yêu cầu họ chấm dứt mối quan hệ bất chính, nhưng hầu như cả hai người vẫn bất chấp. Ông nói rằng, mối tình vụng trộm của ông Phó chánh văn phòng và vợ của ông kéo dài khá lâu, khiến hạnh phúc gia đình ông tan nát, dù hai người đã có hai mặt con.

Trước đó khoảng hai năm, dư luận tỉnh Sóc Trăng chấn động vì vụ ông Phó chánh án tòa Sóc Trăng tên Huỳnh Hồng Thắng, thông dâm với vợ của người khác và là nhân viên thuộc cấp của ông, tên Nguyễn Thị Thu.

Chồng của bà Thu là ông Nguyễn Văn G. 34 tuổi, cư dân thành phố Sóc Trăng đã bí mật theo dõi và chụp được cảnh bà Thu và ông Thắng đang “quấn” lấy nhau trên chiếc võng “ôm” tại một quán cà phê dưới chân cầu thuộc thành phố Sóc Trăng. Riêng trong trường hợp này, ông Thắng và bà Thu nổi giận quay lại tấn công ông G. đến chảy máu mũi.

Trước đó, xảy ra vụ dính đến ông Viện trưởng và viện phó Viện kiểm sát huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An. Hai ông này là Nguyễn Kim Đoạn và Nguyễn Hương Giang bị tố ăn nhậu trên phà giữa sông cùng với các cô tiếp viên khiến một cô té sông chết đuối. Vụ thứ hai liên quan đến ông thẩm phán Nguyễn Thanh Mộng, phó văn phòng Tòa án tỉnh Cà Mau. Ông này bị tố đưa vợ của một ông tài xế xe ôm tên Nguyễn Tiến Duy, cư ngụ gần trụ sở tòa án, tên Trần Thị Tiếp 24 tuổi, vào nhà trọ để “tâm sự.”

Bị bắt quả tang đang “mùi mẫn” với vợ người, ông Mộng xin lỗi và hoảng sợ chạy bộ về sở làm, cách đó khoảng vài mươi thước để cầu cứu. Cấp trên của ông Mộng là ông Trưởng phòng tổ chức của Tòa án tỉnh Cà Mau đến gặp ông Nguyễn Tiến Duy để xin “tha thứ” cho thuộc cấp. Tuy nhiên, gia đình của ông Duy vẫn đâm đơn kiện ông thẩm phán Mộng ra tòa về tội gian dâm với vợ người.  (PL)

Our Vietnamese hearts


By ANDREW LAM / New America Media


Editor’s note: April 30 marks 38 years since the United States withdrew from Viet Nam. In that time, says author and NAM editor Andrew Lam, connections to the homeland for Vietnamese Americans have evolved, even as their roots in the U.S. deepen. A longer version of this essay originally appeared in the Cairo Review



 Mẹ Việt Nam ơi, Chúng Con Vẫn Còn đây (Oh Mother Viet Nam, We Are Still Here)









 The lyrics from this sentimental song come back to me once in a while, especially when I think of the Vietnamese Diaspora and its complicated relationship with its homeland. One bitter evening on April 30, 1976, in an auditorium in downtown San Francisco, my family and I sang it to mark our first anniversary in exile.

 Nearly four decades have passed since then. If I were to sing it now, not that I remember the lyrics entirely, I would sing it with a tone full of irony. So removed from that emotional juncture, I wonder to what extent is the song’s declaration still true? Viet Nam is accessible now to the Diaspora, but to what extent are we still here for her?
Who, in fact, are we?

 More than 4 million Vietnamese have fled or migrated abroad since the end of the Fall of Sai Gon in 1975. They have reestablished themselves elsewhere, scattered on five continents. These days you can find restaurants selling pho, banh mi and other Vietnamese favorites in South Africa, Brazil, Dubai and beyond. I myself have relatives living in six different countries on three continents. But the largest numbers of the Diaspora ended up in North America, and the largest portion of that population resettled in California, where my family and I, and most of my relatives, now live.

 Ours is an epic filled with irony: traumatized by wars and bound by old ways of life where land and ancestors are worshipped, where babies’ umbilical cords are traditionally buried in the earth as a way to bind them to the ancient land, we relocated to a country known for its fabulous fantasies, high-tech wizardry and individualistic ambition.

 Take, for example, this bus trip I am on. A comfortable bus going south, with the nostalgic music of Trinh Cong Son, sung by the smoky-voiced Khanh Ly, echoing from the overhead speaker. Son was the most famous Vietnamese composer during the Viet Nam War, the master of love and antiwar songs, and Khanh Ly the most famous singer. The two old Vietnamese ladies next to me are bragging about their children and their grandchildren, and how well they’re doing, and so on. Behind me, a couple of middle-aged men are humming along with this song of their youth. And up front two kids are playing handheld computer games while their mother talks endlessly on her cell to someone about her restaurant business.

 Vietnamese voices rise and fall; I close my eyes and listen. I swear I could be in Hue heading south to Sai Gon or Dalat.

 Except, I am not. I am on the other side of the Pacific, on my way from San José to Orange County, going down Interstate 5 in a Vietnamese-owned bus. It is owned by one of three competing Vietnamese companies, which speaks to the infrastructure of our ethnic community in America.

 The reason I am on this bus is this: to see for myself the Viet Nam War Memorial in Orange County that I’ve heard so much about from my parents. My father, once a high-ranking South Vietnamese officer, was on the advisory committee of this memorial-building endeavor. On one evening a decade or so ago, the Vietnamese in Orange County raised more than $200,000 for the memorial. Well-known Vietnamese singers sang for free and ticket receipts all went into the memorial fund. The result was two larger-than-life statues, one depicting a South Vietnamese, the other an American GI, standing side by side in combat fatigues adjacent to the city hall in Westminster, the heart of Orange County’s Little Saigon.

 Standing in front of it, I am of two minds. I feel something akin to patriotism for my long lost homeland stir in my blood as well as a deep sadness for the men who fought and died — and for those who survived but were broken by the experience; I feel, at the same time, a dire need for distance. While I stand there on a Saturday evening, a couple of older women light incense and pray and several older Vietnamese men in army uniforms stand guard nearby. Something somber and heavy in their stance suggests a collective sorrow that causes me to shudder; their eyes — eyes that no doubt saw the worst of the old war — convey anger, hatred and bitterness. Their faces remind me of my father’s.

 It occurred to me then that while one strand of history still defines those men in army uniforms and, of course, my father, another strand of history was redefining me. My father considers himself an exile living in America, part of an increasingly small population; I see myself as an American journalist who happens to make many journeys to Viet Nam without much emotional fanfare. For me, Viet Nam, my country of birth, and its tumultuous history have become a point of departure, a concern, but no longer home.

 The irony is that because he holds Viet Nam so dear to his heart, my father cannot return to the country to which he owes allegiance, so long as the current regime remains in power. His is a rage left over from the Cold War that has no end in sight. History, for my father and for those men who still wear their army uniforms at every communal event, has a tendency to run backward, to memories of the war, to a bitter and bloody struggle whose end spelled their defeat and exile. And it holds them static in a lonely nationalist stance. They live in America but their souls are still fighting an unfinished war in Viet Nam.

 The old passion lives on, but it must now contend with the new integration: the Vietnamese Diaspora, no longer in exile, is steadily finding itself in Vietnam’s orbit. Lan Nguyen, writing for Nguoi Viet, noted that “While the younger generation of Vietnamese Americans shares with elders a general concern regarding human rights, democracy and freedom in Viet Nam, they are not as invested in the cause.”

 Nguyen, who lives in San José, cites language barriers and lack of experience under communism as the factors that help widen the generation gap. “The Vietnamese American youth…often are disillusioned as it seems their every effort to help Viet Nam is met with criticism by those older than them. The elders in turn are horrified to see young people organize philanthropic missions to Viet Nam.”

 The question remains whether the Vietnamese Diaspora can be an effective agent of change and find new ways to influence the future of the country. To do so, it needs to ask tough questions. Is there real freedom for those who give in to their hatred and are ruled by it? Is democracy for Viet Nam possible when those who live in America often fail to understand and practice it with their own communities, and the majority of those in Viet Nam barely show any interest? And what does it take to move beyond anger and lust for revenge and create space for constructive discussion and dialogue and spur new political thoughts?

 It is true: once the hate is gone, in its place is pain. Those who cling so strongly to hatred, I suspect, are often those who fear what comes after it. But it is true also that many of us have moved on beyond the old rancor, beyond that us-versus-them mentality. We have learned to absorb our pain and grief and are negotiating our positions between East and West, memories and modernity, traditions and individual ambitions, old loyalties and new alliances, such that we are in the process of recreating a whole notion of what it means to be Vietnamese, a definition that is both open-ended and inclusive.

 So, Mother Viet Nam, in a sense we are still here, but we aren’t who we used to be. The new generations born abroad may still behold that sense of common origin, may still take pride in their heritage, but they are not bound by the idea that Viet Nam is their destiny. Rather, it’s one of their many destinations.

 A new song is needed, one that describes an individual with multiple affiliations, with additional homelands, someone who shares a sense of common origin but is not bound by collective nationalism. The old umbilical cord, unearthed at last, is transmuted into a new trans-pacific verse and is an epic in the making.

 Andrew Lam is editor and cofounder of New America Media. He is the author of “Perfume Dreams: Reflections on the Vietnamese Diaspora,” “East Eats West: Writing in Two Hemispheres” and most recently, a collection of short stories, “Birds of Paradise Lost.”

Trung Quốc chính thức đưa du khách đến Hoàng Sa


HẢI NAM (NV) Chuyến tàu đầu tiên đưa khách du lịch Trung Quốc từ cảng Tam Á (Hải Nam) đến thăm Hoàng Sa đã cập đảo Bắc vào ngày 28 tháng 4, 2013, bất chấp sự phản đối của Việt Nam.









Trong hình là đảo Phú Lâm trong quần đảo Hoàng Sa. Trung Quốc cướp từ năm 1974 và hiện đang gấp rút xây dựng để củng cố phòng vệ và làm bản doanh kiểm soát cả vùng Biển Đông. (Hình: STR/AFP/GettyImages)

 Đảo Bắc là một đảo san hô, nhóm đảo An Vĩnh, trong số những hòn đảo nằm phía bắc thuộc quần đảo Hoàng Sa mà Trung Quốc đã cưỡng đoạt của Việt Nam từ năm 1974. Đảo Bắc cách đảo Cây khoảng 2 hải lý.

Giới quan sát thời sự dự đoán sự kiện này sẽ khiến tranh chấp chủ quyền trên biển Đông giữa Trung Quốc với các lân bang thêm gay gắt.

Theo Tân Hoa Xã, Trung quốc đưa khoảng 240 “du khách” lần đầu tiên được cho phép tới Hoàng Sa. Tuy nhiên chỉ khoảng 100 người có vẻ là du khách thật sự, đã trả từ 7,000 (khoảng $1,135 USD) đến 9,000 (khoảng $1,460 USD) nhân dân tệ/người để được tham dự tour du lịch đầu tiên, kéo dài trong bốn ngày tại quần đảo Hoàng Sa.

Con số 140 người kia là quan chức, cán bộ tỉnh Hải Nam. Du khách thường dân phải trả nhiều hơn cán bộ tới 3,250 nhân tệ (hay khoảng $527 USD). Họ chỉ được lên chơi lòng vòng ở một vài hòn đảo, bị cấm chụp hình quay phim và không được phép bước chân tới các khu vực cấm kỵ.
Theo bản tin của thông tấn AFP, mọi người tham dự chuyến đi đều bị kiểm soát an ninh gắt gao hai lần, một lần kéo dài tới 2 giờ đồng hồ.

Tờ Hoàn cầu Thời báo viết rằng, chỉ những người có sức khoẻ tốt mới được chọn tham gia chuyến du lịch đầu tiên đến Hoàng Sa. Cũng theo tờ báo này, nếu chuyến đi đầu tiên thành công, mỗi tháng, phía Trung Quốc sẽ tổ chức một hoặc hai chuyến du lịch đến Hoàng Sa.

Dự định của Trung Quốc, đưa quần đảo Hoàng Sa vào kế hoạch phát triển du lịch đã từng khiến Việt Nam phản đối và Hoa Kỳ lên tiếng bày tỏ sự lo ngại về tình hình biển Đông.

Trung Quốc biến Hoàng Sa thành một “điểm du lịch” sau khi tuyên bố thành lập “thành phố Tam Sa”, bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Sau tuyên bố thành lập “thành phố Tam Sa”, Trung Quốc đã thực hiện hàng loạt kế hoạch để nâng cấp cái gọi là “cơ sở hạ tầng của thành phố Tam Sa”.

Vài ngày trước khi thực hiện tour du lịch đầu tiên đến quần đảo Hoàng Sa, Trung Quốc cho phát hành “Bản đồ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa”, công bố “Quy hoạch phát triển sự nghiệp hải dương quốc gia 5 năm lần thứ 12”. Cả hai tài liệu đều cố tình gắn quần đảo Hoàng sa và quần đảo Trường Sa vào lãnh hải của Trung Quốc, bất chấp các phản ứng của Việt Nam.

Cuối Tháng 12 năm ngoái, Bắc Kinh loan báo một chương trình xây dựng gấp rút lên tới $1.5 tỉ đô la, thiết lập thêm đường xá, bệnh viện, cầu cảng, khách sạn v.v…Bắc Kinh cũng đã loan báo lập một đài phát thanh và một tờ báo giấy trên đảo Phú Lâm, nơi họ đặt bộ chỉ huy quân sự kiểm soán cả vùng Biển Đông.

Liên quan đến những bất đồng và tranh chấp trên biển Đông giữa Trung Quốc và một số quốc gia Đông Nam Á, trong đó có Việt nam, tờ Philippines Star mới dẫn lời ông Lê Lương Minh, một viên chức ngoại giao của chính quyền CSVN, đang đảm nhận vai trò Tổng thư ký ASEAN, cho biết: Tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN (kết thúc vào cuối tuần trước), lãnh đạo các quốc gia ASEAN đã đạt được sự đồng thuận về việc kêu gọi Trung Quốc tham gia đối thoại, nhằm bảo đảm các bên có liên quan, thực hiện đầy đủ và hiệu quả “Tuyên bố về Ứng xử” (thường gọi tắt là DOC) và tiến tới ký kết một “Quy tắc Ứng xử chung ” (thường gọi tắt là COC).

Ông Minh xem đây là “tiến bộ đáng kể” của ASEAN, nhằm xoa dịu căng thẳng và duy trì ổn định trong khu vực. Cũng theo ông Minh, quan điểm của ASEAN về các vấn đề hàng hải, kể cả COC, hoàn toàn phù hợp với Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) và Nguyên tắc 6 điểm của khối ASEAN.

Tổng thư ký ASEAN nhận định ASEAN đã đạt được “một bước quan trọng và là sự phản ánh tinh thần hợp nhất cũng như sự trưởng thành của ASEAN”.

Thừa nhận COC có thể không phải là một giải pháp toàn diện, giúp triệt tiêu tất cả tranh chấp nhưng ông Minh cho rằng, đó vẫn là một trong những cách để đạt được sự ổn định của khối ASEAN và cho toàn khu vực. Đó cũng là vấn đề an toàn và an ninh hàng hải, vì biển Đông là tuyến đường biển quốc tế rất quan trọng, bao gồm sự tham gia của hầu hết đối tác lớn trên thế giới, là mối quan tâm cũng như lợi ích của các cường quốc. (G.Đ)

Tin mới cập nhật