Không biết từ đời thuở nào tôi đã vô cùng ái mộ nền văn minh Hy Lạp. Hy Lạp với những đền đài uy nghi tráng lệ song lại rất giản đơn, thanh nhã. Hy Lạp với những thần linh uy mãnh song lại mỹ miều như những con người ngọc và đầy đam mê rất người. Và rồi dưới ảnh hưởng của Nietzsche, tôi biết ái mộ thêm tinh thần sáng lóa, tinh khôi của thiên tài Hy Lạp, biểu lộ một cách bi tráng, lẫm liệt qua những bi kịch gia vĩ đại, những triết gia độc đáo tiền Socrates, Plato. Cuối cùng, Henry Miller với cuốn du ký tuyệt vời “The Clossus of Maroussi” đã đưa tôi vào những vườn olive, vườn chanh thơm ngát bên bờ biển, gặp gỡ những người Hy Lạp đầy sức sống, nồng nàn tình người.
Với tình yêu Hy Lạp đó tôi đã dịch Alexis Zorba vào năm 1969.
Nguyễn Hữu Hiệu
Kỳ 20
Cuối nhà, cái cầu thang hay ba bốn bậc gỗ dẫn lên cái bục nơi có để một cái sập và phía trên cao là những thánh tượng với cây đèn ngày đêm chong. Ngôi nhà có vẻ trống trải nhưng đủ đồ cần thiết, thực ra những nhu cầu thiết thực của con người chẳng có bao nhiêu.
Ngày diễm lệ với mặt trời thu rất đỗi dịu dàng. Chúng tôi ngồi trong mảnh vườn nông phu trước nhà, dưới một cây ô-liu trĩu trái. Qua những chiếc lá tráng bạc, biển lấp lánh xa xa, bình lặng, êm ả hoàn toàn. Những đám mây mù bay ngang đầu chúng tôi, nối tiếp bay qua mặt trời và khiến trái đất hiện ra lúc vui lúc buồn, như thể nó đang hô hấp vậy.
Cuối mảnh vườn, trong một cái chuồng nhỏ, con heo bị thiến la réo vì đau đớn làm chúng tôi điếc cả tai. Từ lò sưởi mùi “của quí” nướng trên than hồng của mụ Kyria Maroulia bay đến mũi chúng tôi.
Chúng tôi nói về những sự việc ngàn đời: ngũ cốc, nho, mưa. Chúng tôi bắt buộc phải la to vì vị kỳ mục không còn nghe rõ. Lão bảo rằng tai lão rất là “kiêu kỳ.” Cuộc đời của vị bô lảo đảo Crete này suôn sẻ và bình thản như cuộc đời của một cái cây mọc bên khe nước khuất gió ngàn. Lão sinh ra, trưởng thành và lập gia đình. Lão có con cháu đầy đàn. Vài người đã qua đời, nhưng nhiều kẻ còn sống: việc nối dõi tông đường được bảo đảm chắc chắn.
Vị bô-lão đảo Crete nhắc nhở đến thời xa xưa, thời kỳ Thổ đô hộ, nhớ lại những lời giáo huấn của thân phụ lão, những phép lạ xẩy ra vào thời kỳ đó vì thuở ấy dân chúng biết sợ Thượng Ðế và có đức tin.
– Này, tôi, kẻ đang hầu chuyện với các ngài đây, tôi, bác Anagnosti, tôi được sinh ra do một phép lạ. Vâng, do một phép lạ. Và khi tôi thuật lại với các ngài sự việc như thế nào, các ngài sẽ vô cùng ngạc nhiên mà bảo rằng “Thượng Ðế thương xót chúng ta” và các ngài sẽ đi đến tu viện thờ Ðức Mẹ Ðồng Trinh để thắp nến lễ.
Lão làm dấu thánh giá và bình thản nói với giọng dịu dàng:
– Vào thời kỳ đó, ở làng tôi có một người đàn bà Thổ Nhĩ Kỳ giầu có – mụ khốn kiếp! Một ngày nọ mụ ta mang bầu, mụ quái ác ấy, và đã đến lúc mụ sinh nở. Người ta để mụ ngồi trên một cái ghế và mụ ngồi đấy mà rống lên như một con bò cái trong ba ngày ba đêm. Nhưng đứa con không chịu ra. Bởi thế một người bạn gái của mụ ta – cũng lại là một ả trời đánh nữa – cô này khuyên mụ như thế này: “Tzafer Hanum, chị phải cầu xin mẹ Mariré cứu giúp mới được!” Mẹ Mariré là tên người Thổ gọi Ðức Mẹ Ðồng Trinh. Oai quyền Ðức Mẹ lớn lắm! “Gọi bà ấy à?” Cái con chó cái Tzafer rống lên, gọi bà đó à? Thà chết còn hơn!” Nhưng mỗi lúc cơn đau càng dữ dội. Y thị phải chịu đựng một ngày một đêm nữa. Y thị vẫn rống lên và y thị vẫn không đẻ được. Làm sao bây giờ? Y thị không thể chịu đau lâu hơn nữa. Thế là y thị lại gọi: “Mẹ Mariré! Mẹ Mariré!” Y thị tha hồ mà kêu la nhưng cơn đau không buông tha y thị và đứa nhỏ cũng chưa chịu chui ra. “Bà không nghe chị đâu, người bạn gái của y thị nói. Có lẽ bà không hiểu tiếng Thổ. Vậy chị hãy gọi bà bằng tên Cơ Ðốc Giáo!” Lúc đó con đĩ chó mới kêu lên:
“Hỡi Thánh Nữ Ðồng Trinh của dân Thiên Chúa Giáo!” Dân Thiên Chúa Giáo khốn kiếp! Cơn đau mỗi lúc mỗi gia tăng. Người bạn gái của y thị lại bảo: “Chị không gọi bà ấy đúng cách, Tzafer Hanum, chị không gọi bà ấy đúng cách nên bà ấy không đến.” Thế là con chó cái tà giáo ấy nhận thấy nguy cơ đã đến bèn rống lên một tiếng thật lớn: “Nữ Thánh Ðồng Trinh!” Tức thì đứa bé tuồn từ bụng y thị ra như một con lươn ra khỏi bùn.
“Việc đó xẩy ra vào Chủ Nhật tuần này thì Chủ Nhật tuần sau đến lượt mẹ tôi đau đớn như vậy. Bà cũng thế, tội nghiệp quá, bà cũng đau, bà cũng rống lên, bà mẹ khốn khổ của tôi. Bà thét: “Hỡi Thánh Nữ Ðồng Trinh! Hỡi Thánh Nữ Ðồng Trinh!” Nhưng bà không được giải thoát. Cha tôi ngồi bệt dưới đất ở giữa sân. Ông đau lòng quá đến nỗi không ăn uống gì được cả. Ông không hài lòng với Ðức Mẹ Ðồng Trinh lắm. “Tuần trước, em thấy không, cái con đĩ chó Tzafer nó kêu gọi bà ta, và bà ta cắm đầu cắm cổ chạy đến để giải thoát nó. Bây giờ…” Ngày thứ tư, cha tôi không chịu đựng nổi nữa. Không chút lưỡng lự, ông xách cây gậy chạc đôi đi một mạch đến tu viện Nữ Thánh Ðồng Trinh Thống Khổ. Cầu cho chúng tôi! Ông bước vào nhà thờ mà không làm dấu Thánh giá, cơn thịnh nộ của ông lớn biết chừng nào, ông khóa cửa và dừng lại trước tượng Thánh Mẫu: “Xin bà cho tôi biết, hỡi Thánh Nữ Ðồng Trinh, vợ tôi, mụ Krinio, bà biết chứ? Bà phải biết, mụ thường mang dầu đến đây vào mỗi buổi chiều Thứ Bẩy và mụ thắp sáng hết các ngọn đèn chong ở đây, vợ tôi, mụ Krinio, đã đau đớn từ ba đêm ba ngày rồi và mụ kêu gọi bà. Bà không nghe thấy hay sao? Nhất định bà phải điếc nếu bà không nghe thấy. Chắc hẳn nếu mụ là một con đĩ chó nào đó như Tzafer, quân bẩn thỉu Thổ Nhĩ Kỳ thì bà đã cắm cổ chạy đến để giúp nó rồi đấy. Nhưng vợ tôi, chỉ là một tín đồ Cơ Ðốc Giáo bởi thế nên bà trở nên điếc đặc, không nghe thấy vợ tôi kêu van! Bà biết không, nếu bà không phải là Nữ Thánh Ðồng Trinh, tôi đã cho bà một bài học, với cây gậy mà bà đã thấy đây!”



























































































