Viên Linh
Các nhà văn nhà thơ thường vô tình hay nhắc đi nhắc lại một số từ ngữ mà họ đã dùng, hay rất vô tình dùng một vài chữ sẽ được gắn liền với họ, không còn gột bỏ được, dù đời không có ác ý. Mai Thảo bị gắn liền với hai chữ “vỡ òa”. Nắng vỡ òa. Thanh Tâm Tuyền được nhắc nhở với mấy chữ “đạn nổ nhịp ba không chết”.
Tản Ðà, hình vẽ vào ngày giỗ thứ 31, tháng 6 năm 1970, Sài Gòn. (Hình: Tài liệu Viên Linh)

Tại Miền Nam có thi sĩ được gọi là thi sĩ “rong rêu,” vì chữ này hiện lên liên tục trong nhiều bài thơ của ông. Có thi sĩ “liên tồn,” ai cũng biết là nhà thơ không vợ Bùi Giáng. Ngược đường xuân thu, Nguyễn Du hay dùng chữ số phận, “phận sao phận bạc như vôi,” Cao Bá Quát văng tục vào mặt lịch sử “Ðù ảo trần gian,” Nguyễn Khuyến quanh quẩn với “ao thu,” “gió thu;” và tháng 6 này, ngày 7 năm 1939, nhà thơ Tản Ðà Nguyễn Khắc Hiếu ra đi, chúng ta hãy nhớ lại xem những chữ ông hay dùng.
Các thi sĩ làm thơ, mỗi người có một thi ngữ riêng, dù người thi sĩ đó không tuyên bố thi ngữ của họ như thế nào. Thi ngữ của một thi sĩ ví như bửu bối của một hiệp khách, có người rành về trường kiếm, có kẻ giỏi về đoản đao, hay nói một cách khác, về hình thái chẳng hạn, có người xuất sắc về lục bát, có kẻ thiện nghệ về thất ngôn. Làm một ngàn bài thơ có khi không phải là thi sĩ giỏi, nếu thơ như máy nước, vặn xuôi thì nước chảy ào ào, vặn ngược thì nước đóng lại ngay, không nhỏ một giọt, tựa như vòi phông-tên được tiện khéo mà thôi. Sau này vòi nước không phải là vặn xuôi hay vặn ngược nữa, mà nhấc lên, ấn xuống, thì có nước nóng, nước lạnh, vặn trái hay phải thì đóng hay mở, đó chỉ là vòi nước tân hình thức, hậu hiện đại, công dụng vẫn là có nước hay không, khiến người ta dơ hay sạch dễ hay khó mà thôi. Trở về với Tản Ðà, thi hào của Văn chương Việt Nam thế kỷ hai mươi, ông hay dùng hai chữ, ngoài thơ và rượu, là chữ ‘non nước’.
Ðây là bài thơ Tản Ðà thích nhất:
Non xanh xanh
Nước xanh xanh
Nước non như vẽ bức tranh tình
Non nước tan tành
Giọt lụy chàn [tràn] năm canh!
Ðêm năm canh
Lụy năm canh
Nỗi niềm non nước
Ðố ai quên cho đành?
Quên sao đành?
Nhớ sao đành?
Trần hoàn xa cách
Bồng lai non nước xanh xanh!
Bài này chính thi sĩ ngâm lên sau câu hỏi của nhà biên khảo Trương Tửu Nguyễn Bách Khoa: “Một lần nói chuyện với tiên sinh [Tản Ðà], tôi có hỏi: ‘Thưa cụ, trong các bài thơ cụ đã làm, cụ có thể cho biết cụ thích bài nào nhất?’ Không suy nghĩ, thi sĩ trả lời ngay: ‘Tôi thích nhất bài ca làm trong tập Giấc Mộng Con thứ hai đề Tây Thi hát.’” Rồi tiên sinh ngâm, sảng khoái. (1) [1. Trương Tửu, Uống rượu với Tản Ðà, Ðại Ðồng Thư Xã, Hà Nội, 1939, trang 25.] Tản Ðà mất ngày 7 tháng 6 năm 1939, mà bài viết của Trương Tửu ghi ở dưới “Viết trong tháng Janvier 1939,” nghĩa là viết trước đó 5 tháng. Nhà thơ tên thật là Nguyễn Khắc Hiếu, sinh ngày 19 tháng 5 năm 1889, hưởng dương 50 tuổi.
Trong quãng đời ngắn ngủi ấy, trải qua những ngày tháng phong trần, vào Nam ra Bắc chỉ để làm báo, thơ ông lồng lộng nắng gió, mênh mông núi sông, ngào ngạt mùi vị rau ngải rau tần, và những lúc lắng đọng, người ta nghe ông ngâm thơ về non nước:
Dưới bóng trăng tròn, tán lá xanh,
Nhớ chăng? Chăng nhớ? Hỡi cô mình?
Trăm năm ghi nguyện cùng non nước
Nước biếc non xanh một chữ tình!
(Tản Ðà, Lưu tình)
Kìa bức dư đồ thử đứng coi
Sông sông núi núi khéo bia cười.
(Vịnh bức dư đồ rách)
Mơ màng đâu đó bao dân chúng
Tô điểm nào ai với núi sông!
(Ðêm Tối)
Lo nước, thương đời đêm chẳng ngủ
(Tháng ba không mưa)
Còn non, còn nước, còn trăng gió
Còn có thơ ca bán phố phường
(Ðề Khối Tình Con thứ nhất)
Bôn mặt non sông một mái chèo
(Sông cái, chiếc thuyền nan – đề báo An Nam Tạp Chí số 1)
Mặt nước khói tan chìm vía cá
Ðầu non sương phủ dạn thân tùng
(Hủ nho lo mùa đông)
Ai rằng Nam Bắc cách đôi nơi
Cũng một non sông một giống nòi
(Thơ tặng Phụ Nữ Tân Văn xuất bản ở Sài gòn)
Mặt nước sông Ðà tim róc rách
Ngàn mây non Tản mắt lơ mơ
(Ngày Xuân thơ rượu)
Và bài thơ nổi tiếng nhất của Tản Ðà trong nhiều sách Giáo Khoa, là bài
Thề non nước
Nước non nặng một nhời thề
Nước đi đi mãi không về cùng non
Nhớ nhời “nguyện nước thề non”
Nước đi chưa lại, non còn đứng không
Non cao những ngóng cùng trông
Suối khô dòng lệ chờ mong tháng ngày
Trích dẫn từng ấy cũng đủ để thấy rằng lòng Tản Ðà ở với nước non, thơ Tản Ðà sống cùng non nước. Làm thi sĩ như ông, thi ngữ quê hương tự tại bẩm sinh trong dòng máu, thơ ông tự bản chất là thơ của thi bá thi hào dân tộc thế kỷ XX, và mãi mãi. (VL, 6 tháng 6.2012, ngày giỗ thứ 73 của người Núi Tản Sông Ðà.)



























































































