Nhà văn Nhất Giang hoàn tất từ điển ‘Chữ Nghĩa Dân Gian Qua Các Thời Đại’

Du Tử Lê/Người Việt

Mơ ước thực hiện cuốn từ điển “Chữ Nghĩa Dân Gian Qua Các Thời Đại” của nhà văn Nhất Giang nhen nhúm từ trước biến cố Tháng Tư, 1975, ở quê nhà. Nhưng mãi tới hôm nay, Tháng Tám, 2017, ước mơ đó của Nhất Giang mới thành sự thật.

Trong “Đôi lời tâm sự” trước khi bước vào cuốn từ điển (dày 600 trang, chữ nhỏ, giấy láng, do nhà xuất bản Chiêu Dương Hải ngoại ấn hành), nhà văn Nhất Giang kể rằng, ngay từ khi còn rất trẻ, ông đã thành lập thi văn đoàn Hoa Đôi Mươi, tập hợp khá đông những người trẻ cùng xu hướng. Đồng thời một số đoàn viên cũng đồng ý với ông thực hiện một cuốn từ điển, gọi là “Từ Điển Chữ Nghĩa Dân Gian.”

Thời điểm đó, miền Nam Việt Nam phát sinh rất nhiều từ mới… Nhưng vì nhiều lý do, tham vọng vừa kể của Nhất Giang và một số bạn trẻ không thành. Tuy nhiên, năm 1970, trong lúc làm ký giả cho tờ Tiền Tuyến, Nhất Giang lại đem chuyện thực hiện cuốn từ điển với nhà báo Lê Thiệp (báo Chính Luận) – một người bạn cùng giới, và theo Nhất Giang thì đó là người uyên bác và rất “tếu.” Lê Thiệp đồng ý ngay. Nhưng dự án của cuốn từ điển lại bị dang dở vì biến cố Tháng Tư, 1975.

Sau năm 1975, chọn định cư tại thành phố Sydney, Úc, nhà văn Nhất Giang đã liên lạc với nhà báo Lê Thiệp, sau khi họ Lê dừng bước giang hồ, định cư ở Washington, với thành tựu thương mại đáng kể là hệ thống phở 75…

Nhất Giang tâm sự: “Tôi nhắc lại với Lê Thiệp về chuyện quyển ‘Từ Điển Chữ Nghĩa Dân Gian’ và bạn tôi hứa chắc như bắp OK. Lần này nhất định tớ sẽ ‘vén tay áo’ hoàn thành với cậu quyển sách này…”

Nhất Giang kể tiếp: “Nhưng – có lẽ Lê Thiệp không có duyên với quyển sách này, cho nên đến khi nằm trên giường bệnh và trước khi từ giã cõi đời, Lê Thiệp còn viết cho tôi mấy dòng chữ: ‘khất nợ’ trong lá thư sau cùng Thiệp gửi cho tôi: ‘Giang ơi, tôi nợ cậu một lời hứa quá nặng, nhưng sức khỏe không cho phép, cho mình xin lỗi Giang.’ Đọc thư bạn mà nước mắt tôi chảy đầm đìa rồi tôi tự nhủ với lòng thôi thì mình phải tự làm vậy, có nhiêu làm nhiêu. Thế là đầu năm 2000 tôi bắt tay vào việc.”

“Vì công việc quá bận, phần vì theo với thời gian trí nhớ cũng đã bị ‘cùn’ đi rất nhiều, cho nên mãi đến năm 2015 quyển sách mới ‘tạm’ được gọi là hoàn thành. Tuy nhiên, mặc dù đã hết sức cố gắng, tôi biết rằng đây chỉ là một công việc nhỏ bé và thô thiển vì nó còn thiếu sót rất nhiều.”

“Thêm một chi tiết nữa là cho đến thời điểm này có rất nhiều ‘chữ nghĩa dân gian’ mới liên tiếp xuất hiện trong dân gian ở trong nước cũng như ở hải ngoại mà tôi không biết, hoặc không có cơ hội góp nhặt cho đầy đủ được. Vậy, kính xin quý bạn đọc hiểu giùm và lượng thứ cho, tôi cũng rất mong có được những sự bổ khuyết của tất cả quý vị nào có hứng thú với việc sưu tầm những ‘chữ nghĩa dân gian’ trước đây, hiện nay cũng như trong tương lai…”

***

Điều rất đáng nói, theo tôi là khi bước vào nội dung tác phẩm, ngoài phần giải nghĩa thì tất cả những từ nào có thể được “minh diễn” bằng ca dao, tục ngữ, thi ca, hay giai thoại văn chương… Tôi cho đây là một điểm son đáng kể của nhà văn Nhất Giang khi ông soạn cuốn từ điển “Chữ Nghĩa Dân Gian Qua Các Thời Đại.”

Vì từ trước đến nay, các nhà biên soạn từ điển, dường như chưa ai làm như vậy. Cũng như từ trước tới nay, những chữ “đường phố” chưa được một học giả, nhà văn nào sưu tập, thích nghĩa và in thành sách như trường hợp nhà văn Nhất Giang.

Tôi thí dụ khi ghi lại hai chữ “à ơi” nằm trong mẫu tự “A” của “Chữ Nghĩa Dân Gian Qua Các Thời Đại,” tác giả thích, nghĩa là: “Tiếng ru con. Cũng là tiếng la rầy sự biếng nhác: cậu à ơi tối ngày!” “À ơi, con ngủ cho ngoan/ cha con lo chuyện nước non chưa về (ca dao)” (trích từ điển, trang 12).

Hay, ở mẫu tự “T” với hai chữ “Tí toáy” tác giả thích, nghĩa là: “Máy mó, rờ rẫm. Cử chỉ sàm sỡ của nam giới đối với phụ nữ: Quân tử có thương thì đóng cọc/ xin đừng máy mó nhựa ra tay (Hồ Xuân Hương” (trích từ điển, trang 446).

Hoặc: “Chạy ăn: Làm việc kiếm miếng ăn hàng ngày.” Tác giả phụ chú bằng hai câu thơ của Tú Xương: “Van nợ lắm khi trào nước mắt/ Chạy ăn từng bữa toát mồ hôi.”

Hoặc: “Cô đầu thuần túy là nơi phụ nữ ngồi với khách, đàn phách xướng ca, cũng có nơi cô đầu có thể tiếp rượu và tiêm thuốc phiện cho khách, thậm chí có chỗ thiếu lành mạnh cả về vấn đề tình dục. Phố Khâm Thiên ở Hà Nội ngày xưa nổi tiếng về cô đầu.” Tác giả “minh họa” bằng ca dao: “Cô đầu cô đít cô đuôi/ Bố tôi đi vắng ai nuôi cô đầu?”

Giải thích về cụm từ “Dạ sâu hơn biển, bụng kín hơn buồng,” tác giả viết: “Lòng dạ thâm hiểm, kín đáo, khó ai mà biết được.”

Hoặc hai chữ “dâm thư,” tác giả giải nghĩa: “Sách viết về phòng the, gối chăn. Trong khi sách truyện ‘Bảy Đêm Khoái Lạc’ là một dâm thư bị lên án thì Kamasutra của Ấn Độ lại là một dâm thư có tính cách kinh điển được ca ngợi.” Về dâm thư còn tùy theo nhận xét, cũng như cách nhìn hoặc đánh giá dưới nhiều nhãn quan khác nhau. Chẳng hạn như tuyệt tác ‘Kim Vân Kiều’ (truyện ‘Thúy Kiều’ của Tiên Điền Nguyễn Du) được coi là một danh tác, được đưa vào chương trình giáo dục Việt Văn, được nhận xét với câu ‘Truyện Kiều còn, nước ta còn’ của cụ Phạm Quỳnh thì vẫn bị một số lên án cho rằng đây là dâm thư, vì vậy mới có câu: ‘Đàn ông chớ kể Phan Trần/ Đàn bà chớ kể Thúy Vân, Thúy Kiều (Ca dao)’”

Với tôi, đây là cuốn từ điển tuy chưa được hoàn hảo, như nhìn nhận của chính tác giả; nhưng nó vẫn là cuốn từ điển đầu tiên của chúng ta ở lãnh vực chữ nghĩa dân gian vậy.


Cần liên lạc với nhà văn Nhất Giang, xin thư về: PO Box 64, Cabramatta, NSW 2166, Australia. Điện thoại (02) 9725-6444. Điện thoại di động 04 18 669 981. Fax (02) 9725 6446. Email [email protected].


Mời độc giả xem bình luận “Những kẻ không nhà”(Phần 1)
play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT