Thơ Đinh Trường Chinh: Pha chữ

Trần Doãn Nho/Người Việt

KENNEDALE, Texas (NV) – Để vẽ, người ta pha màu. Để viết, người ta trộn câu, trộn ý. Để làm thơ, người ta pha chữ. Còn Đinh Trường Chinh làm thơ vừa trộn ý vừa pha chữ và thỉnh thoảng, pha màu.

Suy ngẫm về chiến tranh. (Tranh: Đinh Trường Chinh)

Đinh Trường Chinh có một nghệ thuật “xén chữ” (và “cô” nghĩa) khá lý thú:

“hôm nay anh sẽ đưa em đi thật xa
hôm nay anh sẽ đưa em đi thật
hôm nay anh sẽ đưa em đi
hôm nay anh sẽ đưa em
hôm nay anh sẽ đưa
hôm nay anh sẽ
hôm nay anh
đi thật xa
đi thật
thật
xa”
(Đi Thật Xa)

Qua cách bố trí theo hình kỷ hà, mọi sự được anh tóm gọn trong một chữ: xa. Thế thôi!

***

Trong tranh Đinh Trường Chinh, màu lung linh, chen lấn, hòa lẫn, biến thế giới thành một cõi lạ, cõi ngoài. Trong thơ anh, chữ nhấp nháy, nhảy vọt, kết tụ, phân tán. Thơ anh đầy những mảnh vụn: những mảnh vụn đời sống, những mảnh vụn ý nghĩ, những mảnh vụn ký ức, những mảnh vụn hiện thực, những mảnh vụn chữ nghĩa, những thoáng qua, những chợt đến và chợt đi.

Những mảnh chữ. Chữ ráp nối chữ, có khi rất ngẫu nhiên, có khi là tiền-chế, có khi là một cấu trúc kỷ hà. Đinh Trường Chinh biến những ký hiệu vô hồn thành dằn vặt: dằn vặt chữ. Sự vật hóa thân thành sự việc, sự việc hóa thân thành ý tưởng. Và ngược lại. Những mảnh vụn đủ loại quấn quýt, đan chéo, làm méo mó nhau. Mỗi một sự vật như bị (hay được) trườn ra khỏi bản chất mình. Những thân quen bỗng dưng lạ lẫm. “Đêm” chẳng hạn:

“Đêm đè lên mặt sông trong mùa sương thoi thóp” (Ngôn Ngữ Đêm)

“Đêm” không phải là “bóng” (bóng đêm), không là “màn” (màn đêm) thụ động; trái lại, đêm năng động. Đêm là một thực thế. Nó “đè.” Nguyên cả câu thơ, mặt khác, tạo nên một mảng tranh lạ. Ở chỗ khác, “đêm” thụ động hơn: bức tường đêm. Nhưng thay vào đó, một sự vật khác chen vào: cái bóng. Hình ảnh cái bóng trên một bức tường (không phẳng) bị “gãy.” Bóng gãy hay tường gãy?

“Tôi nghe tiếng gãy của bóng mình
trên bức tường đêm”

Bóng tạo ra tiếng. “Âm thanh” của tiếng gãy của cái bóng là nền cho những sự vật và sự việc khác:

“nơi bóng những sợi mưa đen
rơi nghiêng cửa sổ
khuấy tan giấc mơ”
(Ảo)

Hình ảnh và âm thanh trộn vào với nhau: những sợi mưa như “bóng” (bóng mua) có thể “khuấy tan” giấc mơ. Đinh Trường Chinh đã pha cái có và cái không vào nhau.

Cũng như đêm, buổi sáng cũng là một thực thể (có khả năng) phát âm:

“buổi sáng hãm âm trên mặt bàn chảy máu”

Thời gian là những con… bọ chét (bám vào da):

“Ðôi khi phải ngồi gỡ thời gian từ những vảy chân”

Chữ là nước, hóa thành chim:

“Ðôi khi con chữ bốc hơi từ mặt phẳng của giấy
như đàn chim ùa bay khỏi nghĩa trang”

Cũng như pha màu trên những bức ranh, cách pha chữ của anh tạo nên những hình ảnh bất ngờ và độc. Tôi rất thích những câu thơ ngắn, gọn và lạ, rất lạ:

“Những bước đi/ trên mặt chiều phẳng im” (Tiếng Động)

“Hôm nay cứ đi/ ra khỏi vũ trụ này/ không cần khóa cửa” (Đi Thật Xa)

“Cánh rừng tuổi trẻ/ chạy qua nhiều nhánh cây/ đâm xướt vào da” (Chạy Trốn)

“Cả chiếc bóng này/ thả xuống mặt đường/ trầy xước” (Buổi Sáng 11)

“Tôi bỏ lại/ những giấc mơ/vừa bị đánh lưới/ những nỗi nhớ/ trống và buốt” (Bỏ Lại)

Đinh Trường Chinh đặt buổi chiều trên một mặt phẳng: mặt chiều; hình dung tuổi trẻ là một cuộc trốn chạy xuyên rừng; nhìn thấy vết trầy xước của chiếc bóng; cảm nhận một nỗi nhớ rất lạ: trống và buốt. Cá nhân tôi, đã vô số lần trong đời bị thứ nỗi nhớ vừa trống vừa buốt như thế hành hạ mình. Không những thế, nhiều lần, còn “ứa nhớ” (ứa ra một nỗi nhớ) chẳng khác gì Đinh Trường Chinh.

Mới thoạt đọc, thơ Đinh Trường Chinh, nói chung, có vẻ  vô tư, thậm chí, dửng dưng. Anh nói về “những hành khách mộng du trong thành phố,” về “từng sợi mưa câm,” về “các cao ốc vừa gục ngã và biến mất,” về “màu” của tiếng chuông “trong suốt” (tiếng chuông [thính giác] không những có màu [thị giác], lại là màu trong suốt)! Thực ra, như đã nói, anh dằn vặt chữ. Từ dằn vặt chữ đến dằn vặt hiện thực. Hay bị hiện thực dằn vặt.

Chẳng hạn dằn vặt về một ngày rất đặc biệt: 30 Tháng Tư. Bài “30-4 (vài chi tiết nhỏ nhìn từ một phía)” (1) là  một bức tranh đen trắng và xám xịt của một ngày… khác hẳn mọi ngày, đối với người dân miền Nam. Bài thơ phân ra hình ảnh của ba loại người miền Nam chứng kiến ngày 30 Tháng Tư.

Trước hết là đối với một cậu bé 5 tuổi:

“dưới những lỗ đạn
trưng bày như một sản phẩm mỹ thuật sắp đặt
nối vòng tay lớn”

Sao bỗng dưng có “nối vòng tay lớn” ở đây, đối với một thằng cu ở truồng (có thể chính là Đinh Trường Chinh, chứ ai vào đây nữa!). Hóa ra, cảm giác hồn nhiên của cậu bé, ấy thế mà, bị tròng vào một điển tích, vốn vô tình trở thành một di chứng lịch sử lớn không thể xóa bỏ: “nối vòng tay lớn.” Không thể tách rời “nối vòng tay lớn” ra khỏi cái ngày ác nghiệt nọ. Từ một ca khúc rất bình thường, nó bỗng trở thành ẩn dụ lớn, một gánh nặng lịch sử.

Đinh Trường Chinh tự họa.

Đối với một người 35 tuổi thì khác. Ba mươi lăm tuổi vào thời điểm 1975 tượng trưng cho một thế hệ đặc trưng của miền Nam, từ 30 đến 40 tuổi. Đó là thế hệ trưởng thành trong môi trường miền Nam, thấm nhuần tư tưởng và không khí miền Nam, thế hệ đã góp tay tạo nên một miền Nam như-nó-là về mọi mặt (chính trị, xã hội, văn hóa, văn chương, nghệ thuật, kinh tế, tôn giáo, trường đại học…). Đó là thế hệ gánh chịu tất cả bi kịch của sự bại trận. Nói cho rộng ra, 30 Tháng Tư không chỉ là ngày bại trận của một chế độ, một chính quyền hay của một số quan chức, mà là sự bại trận của toàn bộ hiện thực miền Nam, kể luôn cả những người sống như người miền Nam nhưng quyết liệt không chấp nhận nó, không những thế, muốn tiêu diệt nó. Người miền Nam phải:

“…Nuốt tất cả chữ xuống
đường ruột. Những thứ không thể
tiêu hóa và bài tiết
Đó là ngày mọi người như hắn đều bị sình.”

Nuốt chữ! Hãy tưởng tượng đến phong trào bài xích văn hóa đồi trụy, chẳng hạn. Nuốt chữ mà cũng là nuốt giận, nuốt nhục, nuốt đau, nuốt thất vọng… hay tệ nhất cũng nuốt buồn.

Ngoài ra, còn một loại người khác: những kẻ đứng ngoài lề. Họ không tuổi, không phe, không lập trường, chỉ biết hưởng thụ và… làm thơ. Dẫu vậy:

“ngay cả trí nhớ bị ruỗng dần/ tan/ hóa lỏng.”

Và miền Nam được tóm gọn trong một hình ảnh cô đọng chân thực đến chẳng còn gì để cô đọng hơn:

“Còn lại. Tất cả đều phế liệu
trong cái gạc tàn bốc mùi
(mỗi người tự gạc lấy giấc mơ mình)”

Trong thoáng chốc, một miền Nam bỗng trở thành đống phế liệu, kể cả giấc mơ. Ngày 30 được sửa soạn từ một ngày trước đó: 29 Tháng Tư. Chưa có diễn tả nào ngắn, gọn, khô trong một số lượng chữ nghĩa ít oi, mà lại nói lên một thảm kịch lịch sử. Hai hình ảnh ấn tượng của ngày 30 Tháng Tư là “cá,”, không những thế, “cá tháng tư” (April fool day), và “biển.” Sau ngày 30 Tháng Tư, người miền Nam biến thành “cá” và rồi trôi ra “biển.”

“29. Bữa Tiệc Cuối Cùng.
Chuông nhà thờ đổ một chiều dài
thoi thóp.
Mọi người hóa ‘cá’
tháng 4.
30 (& sau đó). Mọi người thành ‘biển’”

Không những thế: hố xí.

“Tất cả bao tử bị đổ vào nhà xí công cộng trái đất.”

Có hố xí thì phải có giấy chùi. Đinh Trường Chinh kết luận hội chứng 30 Tháng Tư bằng một định nghĩa mới về lịch sử, chưa hề có trong bách khoa tự điển thế giới:

“Lịch sử,
là cuộn giấy vệ sinh
để chùi mỗi ngày.”

Một bài khác, “Tháng tám. một ngày hòm” (2),  là một bức collage (cắt dán) về Sài Gòn, sống mà như chết, chết mà vẫn phải sống. Chúng là những mảnh vụn đời sống được Đinh Trường Chinh xén, xé, giựt, lượm, nhặt  từ đâu đó và của ai đó giữa một thế giới “thoi thóp,” “ứa nhớ,” “bán máu” với những Từ Hải, Phạm Thái, những hẻm, những đồ phế liệu, những “tiếng cười” để “nêm chặt một nỗi gì,” những cuộc đời vẫn “ở trần” và “quần xà lỏn,” vân vân.

Và anh kết luận vừa rất “có hậu” (happy ending):

“Tháng Tám. vẫn mọc lên sự sống và,
chôn đi cái chết (hoặc, có khi ngược lại).”

Lại vừa rất tình cảm. Thứ tình cảm ít khi thấy anh biểu lộ ở những bài thơ khác (của Đinh Trường Chinh):

“những điều trông thấy.
những điều không thấy.
đều đau đớn. lòng.”
(Tháng tám. một ngày hòm)

Cho đến 1985, Đinh Trường Chinh vẫn còn ở đó: Sài Gòn “nồng mùi của tôi.” Đó là hình ảnh:

“…thằng bé đi bộ
bằng đôi dép nhựa đứt quai
bước ra từ một đống rác lớn
…phóng chiếc xe đứt phanh
băng nhanh qua đường tôn đức thắng
trong đầu mất khả năng định vị
…lê lết từ bến xe miền đông
về đến thành phố
sau một chuyến vượt biên không thành
lòng đói meo”
(Sài Gòn 1985)

***

Đinh Trường Chinh: “Tôi chưa bao giờ nghĩ rằng thơ là một liệu pháp. Nếu nó có là một cứu cánh một lúc nào đó thì kẻ duy nhất được cứu chính là người làm thơ.” (3)

Rốt cuộc, anh đã cứu được anh vậy! [hp]


Chú thích:

(1) “30-4 (vài chi tiết nhỏ nhìn từ một phía),” www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do;jsessionid=411E23DEED0526504EF745F431EE28A8?action=viewArtwork&artworkId=3515

(2) https://tienve.org/home/literature/viewLiterature.do;jsessionid=97EACBB5F732B944129615389CF7D230?action=viewArtwork&artworkId=19839

(3) Tiền Vệ: www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&artworkId=3102


 

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT