Lê Mạnh Hùng
Trong một bản tuyên bố đáng chú ý, hôm Thứ Năm tuần qua, Ngoại Trưởng Anh William Hague đã thú nhận rằng các lực lượng đế quốc Anh trong cuộc chiến chống lại cuộc đấu tranh giành độc lập của Kenya đã tra tấn các người chống đối bị bắt. Và ông tuyên bố chính phủ Anh sẽ bỏ ra khoảng 30 triệu bảng Anh để bồi thường cho trên 5,000 nạn nhân bị tra tấn còn sống sót tại đất nước cựu thuộc địa của Anh này.
Số tiền bồi thường chẳng có bao nhiêu, tính ra chưa đầy 3,000 bảng Anh một người, nhưng các nguyên tắc nó lập ra, và những trang sử nó viết lại đều rất thâm thúy và quan trọng. Ðây là lần đầu tiên mà chính phủ Anh chấp nhận sự chính đáng của những tội ác mà đế quốc Anh thực hiện tại bất kỳ một nơi nào của đế quốc mình.
Trong những năm gần đây, tại Anh đã có một phong trào nhận lỗi. Năm 2010, chính phủ Anh chính thức xin lỗi về các hành động mà quân đội Anh đã thực hiện trong cái ngày gọi là “Bloody Sunday” (Chủ Nhật máu) tại Bắc Ireland, và đầu năm nay, Thủ Tướng David Cameron đã đến thăm Amritsar, Ấn Ðộ, nơi xảy ra cuộc tàn sát dã man các người biểu tình năm 1919 và đưa ra những lời “hối tiếc về những tổn thất về sinh mạng.”
Nhưng vụ Kenya này khác. Ðây là một vụ kiện đã kéo dài gần một thập niên tại Luân Ðôn. Chính phủ Anh cho đến nay vẫn kiên quyết chống lại việc nhận trách nhiệm và trả bồi thường viện cớ rằng trách nhiệm về những hành động của chính quyền thực dân tại các nước thuộc địa, theo công pháp quốc tế thuộc về các chính quyền thừa kế, tức là các chính quyền mà các nước thuộc địa lập ra sau khi giành được độc lập. Thành ra quyết định chấp nhận bồi thường là một thay đổi chiều hướng đáng kể. Quyết định này được đưa ra chỉ vài tháng trước ngày kỷ niệm 50 năm việc Anh quốc rút ra khỏi Kenya, một quốc gia mà có lúc được coi như là nước của người da trắng (white’s man country) ở Ðông Phi.
Vụ Kenya được giải quyết tốt đẹp nhờ vào những bằng chứng mà các sử gia đưa ra. Bằng chứng quan trọng nhất là một kho tàng hồ sơ mà chính quyền thuộc địa Anh mang ra khỏi Kenya vào năm 1963 và cất giấu tại Luân Ðôn.
Trong nhiều năm các chính phủ Anh khác nhau đều chối rằng những hồ sơ đó không hiện hữu, chúng đã bị rớt xuống biển trên đường đi về Anh.
Bằng chứng về những tra tấn và bạo hành của chính quyền thuộc địa là không thể chối cãi được. Kể từ năm 1957, tại những trại giam dã chiến, chính quyền thuộc địa Anh tại Kenya đã cho thực hiện một chương trình hành hạ thể xác và tinh thần những người bị tình nghi là phiến quân Mau Mau nhằm buộc họ phải thú nhận hoặc là phục tòng.
Và chương trình đó là một phần của chính sách lớn của chính phủ Anh.
Các hồ sơ cho thấy, trách nhiệm về chính sách này lên đến cấp bậc cao nhất – được đưa ra bởi Evelyn Baring, toàn quyền Kenya lúc đó và được chấp thuận ở cấp bậc nội các Anh bởi Alan Lennox Boyd, bộ trưởng bộ thuộc địa trong chính phủ Bảo Thủ của Thủ Tướng Harold Macmillan.
Khi báo chí khui ra rằng tra tấn và bạo hành là chuyện thường ngày tại những nhà tù thuộc địa, ông Lennox Boyd đã không những không ra lệnh phải chấm dứt những hành động đó mà trái lại còn có những biện pháp để đặt chúng ra khỏi tầm tay của pháp luật. “Sức mạnh áp đảo” (compelling force) được cho phép, nhưng được định nghĩa một cách rộng rãi đến nỗi nó cho phép chính quyền sử dụng hầu như tất cả các biện pháp tra tấn.
Tại sao chính quyền Anh lại giữ lại những hồ sơ đó thay vì tiêu hủy chúng đi? Không ít những hồ sơ như vậy đã bị tiêu hủy khi các chính quyền thuộc địa bị buộc phải rời bỏ thuộc địa mình.
Cậu trả lời nằm trong đầu óc trăn trở của một quan chức thuộc địa Anh. Rất nhiều người không thích những gì mà họ chứng kiến. Và khi lệnh trên đưa xuống phải tra tấn các tù nhân thì một số bỗng nhiên nhận thức được cái nguy cơ mà họ phải đối phó. Những người này e sợ rằng chính họ chứ không phải những người chỉ huy họ phải nhận lấy tội danh này.
Và họ e ngại như vậy cũng phải. Các báo cáo chính thức của những năm 1950 luôn luôn quy trách nhiệm cho những cá nhân – “những quả táo xấu trong thùng táo” là đã có những hành động tra tấn trái phép. Nhưng thực tế trách nhiệm không phải ở trong những viên chức cấp dưới bị buộc phải thu hành một chính sách tồi tệ mà với những từng lớp cao cấp của một chính quyền thực dân thối nát đến tận gốc rễ.
Kenya không phải là trường hợp cuối cùng xảy ra. Một vụ án đang được xử tại Luân Ðôn có dính dáng đến vụ tàn sát Batang Kali năm 1948 tại Malaysia lúc đó còn là Mã Lai thuộc Anh. Tại đây, các dân làng vô tội đã bị lính Anh tàn sát vô cớ vì lệnh của một tên thượng sĩ. Ðối với những người Mỹ và người Việt, vụ này nhắc lại hình ảnh của vụ Mỹ Lai.
Và Anh quốc không phải là đế quốc độc nhất có những hành động như vậy. Năm 2006, Ðức đã đồng ý bồi thường hàng triệu Euro cho chính phủ Namibia về những hành động diệt chủng chống lại bộ tộc Herero vào đầu thế kỷ thứ 20. Năm 2011, chính phủ Hòa Lan bị tòa án quốc tế The Hague ra lệnh phải bồi thường cho những người sống sót trong vụ tàn sát mà quân đội Hòa Lan thực hiện tại Indonesia năm 1947.
Nghiên cứu lịch sử đã đóng một phần trong tất cả những vụ này. Nhưng không phải sử gia nào cũng hài lòng về kết quả đó. Nhiều sử gia như Andrew Roberts, Niall Ferguson và Max Hastings chẳng hạn đã cố bám vào một quan điểm cho rằng chế độ thực dân da trắng là một động lực tốt cho các vùng đất thuộc địa, mang lại văn minh và phồn thịnh cho những đất nước nghèo đói và lạc hậu. Nhưng quan điểm này khó có thể còn được tin cậy trước những bằng chứng mới.
Ðế quốc được xây dựng bởi bạo lực chinh phục. Và việc giải trừ thực dân thường thường là một tiến trình tàn bạo và đẫm máu. Anh quốc cùng với những nước đế quốc khác của thế kỷ thứ 19 và thế kỷ thứ 20 sẽ còn phải trả cái giá cần phải trả cho sự kiện này.
Tra tấn là một tội ác, bất kể ai là nạn nhân, ai là kẻ thực hiện. Và những tội ác được thực hiện tại Kenya nhân danh nước Anh trong những năm 1950 nay đã được chính phủ Anh nhận trách nhiệm và bồi thường – dù rằng rất là khiêm tốn cho các nạn nhân. Có lẽ qua hành động này, nước Anh bắt đầu chấp nhận quá khứ đế quốc của mình.
Liệu nước Mỹ có bao giờ chấp nhận một trách nhiệm như vậy không? Trong bối cảnh hiện nay, chắc chắc là không. Nhưng thời gian sẽ làm thay đổi. Năm mươi năm sau biết đâu người Mỹ chẳng chấp nhận bồi thường cho những kẻ bị giam giữ tại Guantanamo. Hy vọng như vậy.




















































