Ðặng Ðình Liêu
Cải tạo là danh từ hoa mỹ để đánh lừa dư luận, người miền Bắc đã quá hiểu rõ danh từ này, nhưng người miền Nam hoàn toàn xa lạ không hiểu rõ luật pháp quy định vấn đề cải tạo như thế nào? Một vấn đề khi vào tù rồi chúng tôi mới hiểu rõ đó là việc đưa các quân nhân viên chức của VNCH vào tù qua một lệnh gọi là tập trung cải tạo. Người bị đưa đi tập trung cải tạo không được tòa án xét xử.
Lệnh này do thủ tướng nước CHXHCN/VN ký và sau mỗi 3 năm lại được tái tục. Người bị án tập trung cải tạo không được đưa ra tòa xét xử và coi như không có ngày về, do đó đa số người tù ở miền Bắc khi bị án tập trung cải tạo sẽ bị vợ bỏ, gia đình tan nát chia ly, có người ở tù 5 năm 7 năm 10 năm 12 năm 15 năm… nếu may mắn được tha về thì những người tù này phải khăn gói lên ủy ban xã hay quận huyện trình diện vào những ngày lễ lớn, sau đó trở về nhà và bị quản chế ít nhất từ 1 năm trở lên. Quản chế có nghĩa là mỗi tuần phải trình diện phường xã 1 lần, khai báo trong 1 cuốn vở hàng tuần làm gì, tiếp xúc với ai đó là chưa kể tới sự nhòm ngó của công an khu vực.
Dân miền Nam hoàn toàn bị lừa qua thông cáo kêu gọi trình diện cải tạo, đầu tiên những hạ sĩ quan viên chức cấp thấp được gọi và sau 3 ngày học chính trị, những người này được ra về. Sau đó có lệnh tập trung SQ cấp tá ghi rõ mang theo quần áo và thuốc men đủ dùng 1 tháng, qua lệnh này ai cũng nghĩ sẽ chỉ bị tập trung 1 tháng nên nhiều người háo hức tới địa điểm tập trung – thường là các trường học – vì ai cũng nghĩ trả nợ xong 1 tháng để về yên ổn làm ăn. Chừng 10 ngày sau có lệnh gọi SQ cấp úy đi trình diện, qua 1 thông cáo ai cũng nghĩ là 10 ngày sẽ trả nợ xong, nhưng qua 10 ngày rồi 1 tháng không có người nào được tha về, có những người nêu thắc mắc nhưng không được giải thích thỏa đáng. Ðiều bị lừa thứ 2 là 2 ngày đầu tại các địa điểm tập trung cơm nước đều do các nhà hàng cung cấp, vào tối ngày thứ 2 tất cả đều được di chuyển tới các nơi gọi là trại cải tạo như Suối Máu, Long Giao, Thành Ông Năm, v.v… và đều được hứa hẹn đưa tới 1 vị trí tiện nghi hơn.
Sau khi đi vòng vo lên Bình Dương, đoàn xe quay về Thành Ông Năm, nơi đây các tù cải tạo được phân chia theo tổ đội và về nơi tạm trú gọi là lán trại. Ðến 10 giờ sáng các tù cải tạo (vẫn chưa biết mình là tù) mỏi cổ chờ nhà hàng đem cơm tới, nhưng sau đó 1 cán bộ quản giáo hỏi anh nào biết nấu cơm bằng chảo lớn, không ai biết cả, viên quản giáo bèn chỉ định 3 hoặc 4 người trong tổ nấu ăn để chỉ cách nấu, ngày đầu tiên ăn cơm sống.
Những ngày kế tiếp việc nấu cơm coi như tạm ổn, gạo là những bao gạo đầy mọt được chôn dưới hầm lâu ngày do Trung Cộng viện trợ, gạo đã hết chất bổ và nhiều tù cải tạo bị phù thũng, để lâu ngày chân đi có tật. Thức ăn là cá ngừ kho với muối, nhiều người bị bệnh phong khi ăn cá ngừ sẽ bị ngứa nên cho lại những bạn bè ăn được. Trong số này có 1 SQ/CTCT người Việt gốc Hoa, thầu hết những phần cá ngừ bị ế và chế biến thành chà bông, điều này không ngờ giúp anh qua khỏi cơn đói khát khi bị đưa ra miền Bắc.
Những tin tức liên quan đến số phận người tù cải tạo thường được tô hồng và được loan tải khắp các trại đều có 1 tin tức giống nhau, điều này chứng tỏ giới chức cai quản tù đã nắm rõ ước vọng của người tù và qua từng đợt từng thời gian khác nhau họ loan ra những tin mục đích làm người tù còn chút gì hi vọng mà quên đi phần chống đối.
Ngày đầu trình diện đi tù chúng tôi đọc được tin Trung Cộng đã trả tự do cho Tướng Lư Hán của Trung Hoa Quốc Dân Ðảng sau 25 năm giam cầm, tin này có thể dằn mặt đám tù cải tạo nhưng đa số đều không tin mình sẽ bị cầm tù lâu như vậy.
Chúng tôi luôn luôn được nhắc nhở là được sự khoan hồng nhân đạo nhưng sau 10 bài học về chính trị, tất cả tù cải tạo đều phải làm bài “Tổng kiểm thảo,” trong đó có phần khai lý lịch liên quan tới 3 đời bên nội, ngoại và cả bên người phối ngẫu, trong thời gian viết bài cán bộ quản giáo luôn thúc giục tù cải tạo khai hết, khai thật cho lòng nhẹ nhõm, điều này làm cho 1 số người như bác sĩ đã nhận tội khi chữa trị cho quân sĩ VNCH để chống đối lại cách mạng.
Sau đợt tổng kiểm thảo tất cả tù cải tạo đều té ngửa ra vì đó chính là bản án kết tội mình, và các quản giáo bắt đầu cao giọng là nhà nước sẽ xét xử tùy theo tội nặng nhẹ.
Qua nhiều đợt xào xáo, người tù cải tạo được phân tán ra nhiều trại, nhiều nơi khác nhau và luôn bị di chuyển đi nhiều trại khác nhau, tù cải tạo không được sử dụng vật dụng làm bằng sắt thép vì sợ tù cải tại dùng vật bén nhọn đào hầm vượt ngục, do đó cứ vào khoảng 3 tháng sẽ có đợt khám xét tư trang của tù cải tạo, lệnh khám xét được tung ra bất ngờ và canh phòng nghiêm ngặt mục đích tịch thu hết những vật dụng bị ngăn cấm còn sót lại.
Ðầu tháng 6, 1976 là đợt di chuyển gần 3,000 tù cải tạo ra miền Bắc bằng tầu thủy (tàu Hương Giang), có đợt tàu đổ tù xuống Vinh, có đợt đổ xuống Hải Phòng, từ những nơi đó sẽ được di chuyển bằng xe lửa đi Yên Bái, từ đây tù cải tạo sẽ được chuyển tới Thái Nguyên, Lào Kay hay Thác Bà Hoàng Liên Sơn. Trên chặng đường di chuyển khi qua những ga nhỏ người tù luôn bị ném đá từ những cụ bà, những phụ nữ đã được dàn dựng từ trước, có người bị bể đầu, máu chảy lai láng. Từ nhà ga Yên Bái những người tù được giải qua thành phố, đi tới nơi tập trung đoàn xe molotova, tại đây một số tù đi tới đoàn xe di chuyển đi Lào Kay, số còn lại lên xe về Thác Bà, ở đây có nhà máy thủy điên do Liên Xô xây dựng, nhà máy có công suất 100,000 kw.
Chúng tôi nằm trong số tù về gần xã Cẩm Nhân, xã này là nơi chỉ định cư trú cho dân Quỳnh Lưu ở Nghệ An. Tù nhân được phân công đi lấy tre nứa về dựng nên những lán trại nhốt mình. Ngày đầu tiên đi chặt nứa, khi kéo bó nứa xuống chân núi, chúng tôi nghe tiếng hát của nữ ca sĩ Thanh Tuyền qua bài “Ðà Lạt hoàng hôn” phát ra từ 1 máy cassette gần đó. Tôi thấy tan nát trong lòng, ngày về không có, nói chi tới gặp bạn cũ, trường xưa. Một hôm tôi kéo cột làm nhà, vừa mới chặt trên đỉnh núi xuống gần bờ suối ngồi nghỉ. Bỗng nhiên tôi nghe thấy nhiều giọng nói, tôi vội tìm 1 bụi ngồi, đoàn người đi tới cỡ 20 người, đó là 1 đám cưới, và họ hàng 2 bên phải gánh theo gạo, gà, v.v.., điều đặc biệt là khi tới con suối, đàn ông đàn bà đều cởi quần đưa lên đầu để lội qua suối không bị ướt.
Thời gian này quân đội quản lý chúng tôi, tù cải tạo bắt đầu trổ bệnh do ăn uống thiếu thốn và do ăn những thứ độc hại. Bệnh gì cũng được cấp phát xuyên tâm liên. Một số tù bị kiết lỵ và bị tử vong, có người đau ruột dư và bệnh nhân được mổ bằng lưỡi lam và được khử trùng bằng cách dùng 1 cái mùng che chung quanh.
Khi đã hoàn chỉnh lán trại, tù cải tạo được điều động đi cạo láng các ngọn núi bao quanh để trồng khoai mì. Anh em bàn tán khi cạo xong các đồi núi xung quanh sẽ hi vọng được thả về, nhưng tới đầu năm 1978 mỗi trại tù được lệnh làm thêm 1 trại để đón thêm tù từ trong Nam ra.
Khoảng tháng 4, 1978 có lệnh ngưng không làm thêm trại nữa và tù cải tạo được điều động đi cạo các đồi núi kế cận để trồng khoai mì, những nới đã dọn dẹp xong thì rau tàu bay mọc đầy rẫy, loại rau này ăn để thay thế rau xanh, nhưng rất hại vì làm mất máu và rau khi ăn có mùi như xăng, chỉ khi nào không có rau ăn, tù cải tạo mới ăn loại rau này. Có những người tù cải tạo ăn khỏe nên luôn cảm thấy thiếu thốn và tìm cách kiếm thêm rau cỏ để ăn thêm, có người lột thân chuối rừng ăn cái lõi bên trong trông rất trắng, ngon nhưng đây là mầm mống của bệnh sốt rét. Rừng miền Bắc cũng bị dân địa phương nghèo đói khai thác triệt để, từ củ mài, chim chóc cũng vắng bóng. Một hôm tôi và 1 người khóa đàn em ngồi nghỉ dưới 1 gốc cây lớn gần đỉnh núi, đột nhiên có cơn gió thổi qua và tiếp theo đó chúng tôi nghe tiếng rào rào xung quanh, nhìn kỹ đó là những quả trám (tiếng Bắc) hay là cà na theo tiếng miền Nam, chúng tôi vội tìm cách giấu đem vào trại ăn thêm cho đỡ đói vì trái cà na khi ngâm nước muối, hột sẽ tự tróc và giúp con người ăn phần cơm bên ngoài dễ hơn, trước đây cà na hay được dùng làm ô mai xí mụi.
Dân chúng địa phương thường gạ tù đổi quần áo, đồng hồ lấy 1 cân cơm nếp, 1 con gà luộc, 1 cân mật, 1 chai (cỡ 750ml) rượu sắn (khoai mì). Quần áo có thể là áo len, quần tây, áo sơ mi. Nếu 2 bên thỏa thuận thì sẽ trao đổi trên đỉnh núi. Nếu đang mặc cả mà có bóng dáng vệ binh đi tới, người đang dụ chúng tôi đổi chác, thay đổi 180 độ và quay qua chửi người đối tác là ngụy bán nước để tránh bị tên vệ binh làm khó, người tù hoàn toàn bất ngờ trước những phản ứng như vậy. Có những ngày tù đi lãnh lương thực cho trại khi đi ngang qua vùng dân Quỳnh Lưu bị chỉ định cư trú, người tù xin ớt họ không cho, nhưng trên đường về họ thấy nguyên cây ớt vất bỏ trên đường cho người tù tha hồ lặt ớt, chúng tôi hiểu ra là dân họ cho bằng cách đó để tránh bị vệ binh làm phiền.
Khoảng tháng 10 năm 1978 chúng tôi được giao cho các trại tù công an. Tôi được phân về đội gạch, trước khi đúc gạch người tù phải nhồi đất đạp đất bằng chân không cho đất thật nhuyễn, giúp cho tù có 1 con trâu cũng đi đạp đất, khi nghe lệnh giải lao tự động trâu đứng lại, đánh thế nào trâu cũng không di chuyển và khi xổng chuồng là trâu chạy trốn tuốt trên đỉnh núi.
Ngày chúng tôi đổi về trại Vĩnh Phú do công an cai quản, điều làm chúng tôi kinh ngạc là tù hình sự và tù cải tạo dưa thẳng từ trong Nam ra, ai nấy đều gầy gò, quần áo rách rưới, đi lếch thếch, đầu cúi gằm xuống, đôi mắt thất thần, gặp chúng tôi họ nói rồi đây các anh cũng như chúng tôi thôi.
Thấy tù đói rách quá, công an cho phép thân nhân 3 tháng được gửi 1 gói quà 5kg, lúc đầu nhân viên bưu điện chưa biết giá trị của gói quà, người tù còn dược lãnh gói quà còn nguyên vẹn, sau này gói nào cũng bị rạch lấy di những món giá trị, khi người tù lên nhận quà của mình, họ nói nếu các anh không lãnh thì chúng tôi làm biên bản gửi trả về lại bưu điện, trước hoàn cảnh này người tù đành chấp nhận lãnh vì có còn hơn không.
Thấy tù đói rách và bệnh tật quá, dầu năm 1979 công an cho phép thân nhân thăm và đem quà tiếp tế cho tù cải tạo. Ðây là hình thức lợi dụng thân nhân cung cấp thuốc men và thức ăn cho tù cải tạo, nhưng cũng bị phản tuyên truyền vì nhân dân miền Bắc được tuyên truyền là miền Nam nghèo đói đến nỗi không có chén để ăn cơm mà bây giờ thấy dân miền Nam ra thăm tù cải tạo ai nấy đều ăn mặc sang trọng, quà cáp đầy ắp. Vì không có thuốc men, bệnh gì cũng xuyên tâm liên nên khi dân địa phương bị sốt hay sốt rét, tù cải tạo cho họ aspirine hoặc fansidar (thuốc trị sốt rét) và họ khỏi bệnh ngay, từ đó loan truyền tù cải tạo hiền lành tử tế và có trình độ học thức trái với tuyên truyền nói tù cải tạo ăn gan uống máu người và ít học.
Một ngày chúng tôi đi lao động ngang qua 1 nghĩa trang nằm ngay dưới chân núi, sát bên đường lộ chúng tôi ai nấy đều không cầm được nước mắt khi thấy 1 phụ nữ nằm ôm mộ chồng khóc nức nở, sau đó chị cắt mái tóc dài treo lên mộ bia của chồng, sau này chúng tôi được biết người nằm trong mộ là cựu đại úy không quân.
Một trường hợp thương tâm khác là khi người vợ ra thăm đem theo thuốc trị lao cho chồng, và chồng chị đã chết trước đó 1 ngày sau thời gian dài bị bệnh lao mà không có thuốc, chị khóc tức tưởi thương chồng sau đó chị tặng lại toàn bộ quà cho các bạn của chồng chị (cựu thiếu tá không quân).
Khi chưa có lệnh cho phép người nhà ra thăm, một số ít tù nhân đã bắt ốc sên bỏ vào bếp dã trại nấu nước cho đội tù, khi được lệnh giải lao, chủ nhân của các con ốc tới bếp lấy ốc ra ăn không cần biết sống hay chín, cũng có khi đang cuốc đất thấy con gà mổ 1 con nhái nhỏ, 1 người tù đã nhảy tới giật con nhái bỏ vào bếp. Ðó là thảm cảnh khi người tù đói khát, tuyệt vọng. Sau này khi thân nhân được phép ra thăm lại có những tù nhân vì trải qua đói khổ lâu ngày nên đã tìm cách tiết kiệm bằng cách bỏ đường vào chai dầu Nhị Thiên Ðường để mỗi khi ăn lấy cây tăm chấm vào chai đường nhỏ xíu ăn từ từ, cũng có người gia đình gửi cho hộp sữa đặc, có ý định làm kẹo caramel ăn từ từ do đó đã bỏ hộp sữa vào bếp nấu ăn của trại, không ngờ hộp sữa nổ tung và sữa văng tung tóe vào tro bếp và người tù này đã mất trắng hộp sữa. Cũng có người không chịu được đói đã nghĩ ra cách ăn gối đầu có nghĩa là, người này nhịn ăn một bữa và ăn phần này khi lãnh phần ăn mới, biện pháp này chỉ áp dụng trong mùa Ðông thì không nguy hại nhưng vào mùa Hè thức ăn dễ bị hư, nếu ăn gối đầu có thể bị tiêu chảy hoặc kiết lỵ.
Mỗi năm tù cải tạo được phát 2 bộ đồ bà ba bằng vải mỏng, người nào cao lớn khi mặc lòi chân tay ra, người nào hay đi rừng lấy củi cho trại thì loại quần áo này tanh banh ngay, cho nên người tù dùng quân phục cũ vì nó vừa bền vừa chống được những cây gai nhỏ. Dân chúng luôn gạ tù đổi quần áo của trại phát vì chính họ được phát vải và không đủ để may 2 bộ đồ. Có khi dồn tới cuối năm mới phát quần áo và đó là tuyệt chiêu ăn chặn vì 2 năm người tù được phát 4 bộ quần áo nay chỉ còn 3.
Người tù cứ tưởng rằng khoai, khoai mì, bắp và các loại rau xanh mình trồng ra sẽ được ăn thoải mái nhưng không các loại thực phẩm nêu trên được cân đo để bán lại cho bếp tù theo tiêu chuẩn. Rút cục những thứ mình trồng ra mà vẫn bị ăn đói như thường. Người tù có nhiều ngành nghề khác nhau như quân y, quân cụ, công binh, v..v..
Bác sĩ tù được chính công an tin tưởng tìm đến chữa trị, tù ngành quân cụ được sử dụng sửa chữa xe hơi hay máy phát điện, tù công binh giúp xây dựng cầu bằng béton (concrete), người tù còn trở thành thợ mộc tinh xảo chuyên đóng bàn ghế, tủ thờ, giường, salon cho cán bộ trại mà mẫu mã không thua gì Phan Văn Nhị. Trong giai đoạn đầu (1976) các nước tư bản đã viện trợ rất nhiều bột mì nhưng kể cả bộ đội, công an chỉ biết luộc hoặc làm thành những vắt nhỏ nấu canh nhưng có 1 người tù có sáng kiến lấy 1 ít bột mì làm bột chua thay bột nổi sau đó nhồi chung với bột và làm thành những ổ bánh nhỏ đưa vào lò nướng được chế tạo từ những thùng phuy. Ngày đầu tiên sau hơn 1 năm trong tù người tù được ăn ổ bánh mì đầu tiên không khác gì bánh mì Sài Gòn, lúc đó người tù thấy nó ngon làm sao không thể tả được.
Hoàn cảnh người tù khác nhau, có người có vợ con đi trước ngày 30 tháng 4, 1975, có người có vợ con đi vùng kinh tế mới, có người buôn bán hàng chuyến theo xe đò hay xe lửa, có người bám lấy thành phố buôn đầu nọ bán đầu kia để kiếm tiền nuôi con, thôi thì đủ thứ nghề và mỗi năm người tù đau khổ khi được tin vợ đi lấy chồng, vợ con vượt biên thành công, do đó có 1 số nhỏ người tù sống đơn độc không có quà cũng như người nhà ra thăm, tinh thần họ sa sút.
Tháng 4, 1982 1 số tù nhân được chuyển về các trai tù trong Nam như Z30D, Z30C, v.v.. Ðiều làm người tù cảm động nhất là khi đoàn xe lửa giải giao tù về tới Nha Trang dân chúng vây quanh đoàn xe liệng tới tấp thức ăn, bánh kẹo lên toa tàu, công an áp tải ra lệnh đóng cửa trên các toa lại, nhưng khi họ đi thì cửa toa xe lại được mở ra, công an được huy động tới, nhưng khi họ tới đầu này dân chúng chuyển qua đầu kia. Công an bắn súng nhưng dân chúng vẫn liệng thức ăn cho tù, họ còn thắp đuốc sáng trưng nữa. Mới có hơn 4 năm người dân đã hiểu ra và cảm thương cho số phận của quân nhân, viên chức của VNCH.
Tác gỉa xin tạm ngừng ở đây với câu chuyện tiếu lâm được phổ biến vào đầu thập niên 80 của thế kỷ trước. Chuyện kể rằng 1 phái đoàn chính phủ trong đó có Thủ Tướng Phạm văn Ðồng về thăm 1 hợp tác xã nông nghiệp ở vùng quê gần Hà Nộại. Khi đoàn xe đang đi trên 1 con đường chưa được tráng nhựa gặp 1 con trâu đứng giữa đường, tài xế bóp kèn inh ỏi nhưng trâu ta vẫn giậm chân tại chỗ, lúc đó Thủ Tướng Phạm Văn Ðồng bước xuống xe tới sát con trâu và ghé vào lỗ tai nói lẫm bẩm điều gì mà trâu ta lập tức chạy xuống ruộng, cả đoàn xe ồn ào hỏi thủ tướng nói điều gì mà trâu sợ vậy. Thủ tướng nói tôi chỉ hỏi nó mày có muốn đi cải tạo không? Cả đoàn xe cười vang và khen thủ tướng có tài ứng đáp.



























































































