Mỹ, Việt yêu nhau vì hiểu lầm nhau

Vann Phan

Ngày 24 Tháng Năm năm 2016, trong chuyến công du Việt Nam lần đầu tiên của mình, Tổng Thống Hoa Kỳ Barack Obama đã đọc một diễn từ tạo nhiều cảm xúc trước một cử tọa mà đa số là giới trẻ Việt Nam tại Trung Tâm Hội Nghị Quốc Gia ở Hà Nội.

Thiên Đàng ái ân

Mở đầu bài phát biểu, Tổng Thống Obama viện dẫn hai câu tuyệt bút trong bài thơ lịch sử của danh tướng Lý Thường Kiệt: “Sông núi nước Nam vua Nam ở/Rành rành định phận ở sách Trời” để nói về chủ quyền bất khả tranh đoạt của nước Đại Nam xưa thời Nhà Lý (1009-1225) và nước Việt Nam ngày nay (trước hiểm họa xâm lấn và sát nhập của một lân bang tham bạo).

Đề cập tới việc thành lập Đại Học Fulbright do Mỹ tài trợ tại Việt Nam, ông Obama nói đến việc giới trí thức Mỹ và Việt Nam sẽ cùng nhau nghiên cứu từ thơ của Nguyễn Du và Phan Châu Trinh đến toán học của Ngô Bảo Châu. Ông Obama cũng nói về sự bình đẳng giống phái, nhắc lại thời đại Hai Bà Trưng (40-43) trong lịch sử Việt Nam và đề cao người phụ nữ Việt Nam.

Phần cuối của diễn từ, Tổng Thống Obama nhắc tên ca khúc “Nối Vòng Tay Lớn” của Trịnh Công Sơn để nói đến tình hữu nghị hiện nay giữa Hoa Kỳ và Việt Nam, hai kẻ cựu thù thời Chiến Tranh Việt Nam (1960-1975). Và vị tổng thống Hoa Kỳ đã kết luận bài phát biểu của ông một cách hết sức cảm động và thấm thía bằng hai câu thơ Kiều nổi tiếng của đại thi hào Nguyễn Du, như muốn nhắn nhủ rằng, qua chuyến công du này, Hoa Kỳ và Việt Nam đã có thể khởi sự một niềm tin yêu thắm thiết đến nghìn thu giữa hai quốc gia và hai dân tộc: “Rằng trăm năm cũng từ đây/Của tin gọi một chút này làm ghi.” (Truyện Kiều, câu 355-56, đoạn Thúy Kiều trao nữ trang và khăn hồng cho Kim Trọng để làm tin lúc thề ước với nhau.)

Đường vào tình yêu có trăm lần vui…

Ôi! Thật tuyệt vời, thật thi vị, thật đúng đắn về chính trị, lại đầy ắp yêu thương, và tràn đầy hy vọng, nhất là trong bối cảnh, trước đó, nhà cầm quyền Hà Nội đã tỏ ra không mấy mặn nồng khi tiếp đón vị nguyên thủ quốc gia Hoa Kỳ, với chỉ có một giới chức hàng thứ trưởng ra rước ông Obama tại phi trường và sau đó, trong nghi lễ tiếp đón chính thức tại Phủ Chủ Tịch Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, đã không có 21 phát đại bác bắn chào ông Obama theo đúng nghi lễ ngoại giao dành cho một vị quốc trưởng – trong khi Tập Cận Bình của Trung Cộng lại tận hưởng đầy đủ mọi lễ nghi đón tiếp huy hoàng lúc đến thăm Hà Nội ít lâu trước đó- chứ đừng nói gì đến chuyện dành cho vị nguyên thủ của siêu cường duy nhất trên trái đất này.

Trong chuyến viếng thăm Việt Nam của Tổng Thống Obama, hàng nghìn người Hà Nội đã chịu khó thức khuya và đổ ra đường để đón chào nhà lãnh đạo Mỹ khi đoàn xe của ông chạy qua nhiều đường phố Hà Nội lúc nửa đêm, trong khi hàng chục nghìn người đã dầm mưa đứng dọc hai bên các con đường tại Sài Gòn, nơi đoàn xe nhà lãnh đạo Mỹ đi qua, để lưu luyến tiễn đưa vị quốc khách lúc đoàn xe của ông trên đường tới Phi Trường Tân Sơn Nhứt để về lại Hoa Kỳ. Mặc khác, qua chuyến viếng thăm Việt Nam vừa rồi, ông Obama, trong một chừng mực nào đó, đã trở thành thần tượng của giới trẻ Việt Nam. Và, như lời Phượng Vũ trong bài “Dư âm chuyến thăm Việt Nam của Tổng Thống Obama” trên Nhật Báo Viễn Đông ở Little Saigon tại Miền Nam California, một cô gái trẻ Việt Nam đã viết trong một email: “Ông Obama đi rồi, em vẫn còn lâng lâng. Em nhớ ông ấy!”

Mối tình sâu đậm tới nỗi Giáo Sư Nguyễn Minh Thuyết, qua báo Điện Tử Giáo Dục Việt Nam, đã gởi tặng Tổng Thống Obama hai câu thơ Kiều -cũng lại “lẩy Kiều”- ví ông Obama với chàng Kim Trọng, người yêu đích thực của nàng Thúy Kiều: “Thiên tư, tài mạo tót với/Vào trong phong nhã, ra ngoài hào hoa.”

Mối tình sâu đậm tới nỗi, ngoài chuyến viếng thăm Việt Nam lần này, ông Obama còn bày tỏ ước muốn có dịp trở lại viếng thăm Việt Nam lần nữa, trong tư cách dân dã, sau khi ông rời Tòa Bạch Ốc vào đầu năm 2017.

… có vạn lần buồn

Nhưng than ôi! Tất cả những mỹ từ và những gì đẹp đẽ, huy hoàng nói trên chỉ là chuyện lâu đài xây trên cát, bởi vì nền móng của mối tình Mỹ-Việt, mà nhiều người trong cuộc, trong đó có cả Tổng Thống Obama, vẫn cho là lên cao chưa từng thấy từ sau cuộc Chiến Tranh Việt Nam, lại dựa trên sự hiểu lầm nhau đáng thương giữa hai phía đang mến mộ nhau trong cuộc tình chớp nhoáng.

Mời độc gải xem chương trình “Miền Nam yêu dấu! Giai phẩm Người Việt Xuân Đinh Dậu” (Phần 2)

Vì đâu nên nỗi?

Thì ra, cả vị tổng thống Mỹ lẫn dân tộc và chính phủ Việt Nam đều đã không hiểu đúng bản chất của nhau, tức là có sự hiểu lầm trầm trọng của hai phía về căn bản của mối “tình si” này, điều đã khiến cho vị tổng thống thứ 44 của Mỹ quốc và một bộ phận lớn trong dân chúng Việt Nam lầm tưởng rằng mối tình Mỹ-Việt vừa nở rộ và lên tột đỉnh qua chuyến thăm Việt Nam của ông Obama quả là thứ “tình trong giây phút hóa thành thiên thu, biết thuở nào nguôi!”

Dân Việt Nam hiểu lầm về quyền lực của Tổng Thống Obama

Dân Việt Nam cứ tưởng Tổng Thống Mỹ Barack Obama là vạn năng, muốn làm gì cũng được hoặc muốn giúp ai cũng được. Họ đâu có biết rằng dù ông Obam có muốn giúp dân Việt Nam hoặc chính phủ Việt Nam điều gì thì cũng phải được Quốc Hội Mỹ chấp thuận thì chính quyền Obama mới có tiền để giúp, kể cả qua Hiệp Định Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương, thường được gọi tắt là TPP. Ngày xưa, dù Tổng Thống Nixon thuộc đảng Cộng Hòa không muốn bỏ rơi chính phủ Việt Nam Cộng Hòa vào tay Cộng Sản Bắc Việt nhưng lưỡng viện Quốc Hội Mỹ, do Đảng Dân Chủ nắm quyền, lại muốn cắt viện trợ để kết thúc cuộc Chiến Tranh Việt Nam đặng để dành tiền lo cho dân trong nước thì Tổng Thống Nixon cũng đành phải bó tay. Chuyện Nixon hay Kissinger “bán đứng” Việt Nam Cộng Hòa cho Trung Cộng, rốt cuộc, chỉ là huyền thoại, và có thể là do báo chí thiên tả Mỹ đã thổi phồng lên nhằm đổ lỗi cho phe Cộng Hòa đã bỏ rơi Miền Nam Việt Nam mà thôi.

(Thật ra, dưới ánh sáng của lịch sử soi rọi ngày nay, cái gọi là “Nixon và Kissinger bán đứng Việt Nam Cộng Hòa cho Trung Cộng” chỉ là một trò tháu cáy của hai chính trị gia Cộng Hòa kia khi họ lợi dụng sự hiểu biết, dẫu sao cũng còn còn lờ mờ trong buổi giao thời của Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai về nguyên tắc tam quyền phân lập trong nền chính trị Mỹ, để đưa Việt Nam Cộng Hòa ra mà mặc cả với Trung Cộng trong cuộc thương thuyết về việc Hoa Kỳ muốn rời khỏi Việt Nam trong danh dự mặc dù Việt Nam Cộng Hòa đã chẳng còn gì để mà đem ra mặc cả hay bán đứng ngay sau khi lưỡng viện Quốc Hội Mỹ đã đưa Miền Nam Tự Do lên đoạn đầu đài với quyết định tàn nhẫn -và chẳng chút khôn ngoan nào – là bỏ rơi Việt Nam Cộng Hòa và toàn thể Biển Đông, mà thế giới gọi là South China Sea, cho Trung Cộng ngon xơi, rồi sau đó lại đánh mất luôn cả Clark Air Base và Naval Base Subic Bay ở Philippines, để rồi ngày nay chính giới và quân đội Mỹ lại càng thêm đớn đau, sầu hận vì quân cảng nước sâu chiến lược Cam Ranh Bay đã từng một thời nằm gọn trong vòng tay Việt Nam Cộng Hòa rồi mà đồng minh Mỹ lại khờ khạo để cho vuột đi. Nếu việc bỏ rơi Việt Nam Cộng Hòa mà dẫn đến một Việt Nam hạnh phúc và phú cường -như thế giới từng lầm tưởng- và không là địa ngục trần gian như ngày nay thì có lẽ người ta đã chẳng tìm cách đổ lỗi cho kẻ nọ, phe kia đã bán đứng Miền Nam Việt Nam cho Trung Cộng, khiến cho Miền Nam Tự Do bị Cộng Sản Bắc Việt nuốt chửng, để rồi khi dân chúng vùng vẫy cố thoát ra khỏi cái chảo chiên nóng bỏng của đảng Cộng Sản Việt Nam thì lại rơi ngay xuống cái lò bát quái hừng hực của Thái Thượng Lão Quân Trung Cộng đang mai phục sẵn: out of the frying pan into the fire).

Sự thể dân chúng Hà Nội rủ nhau thức đêm để nghênh đón Tổng Thống Obama lúc ông đến thủ đô Việt Nam vào giờ khuya khoắt và cách dân chúng Sài Gòn đội mưa để gặp mặt cho được vị tổng thống Mỹ chứng tỏ dân chúng Việt Nam đã đặt quá nhiều kỳ vọng vào nhà lãnh đạo Mỹ.

Hơn nữa, dân Việt Nam ít ai biết được sự thật là Tổng Thống Obama, vào lúc gần cuối nhiệm kỳ thứ nhì của ông trong vai trò tổng thống, đang ở một tư thế chẳng mạnh mẽ gì để mà hành động một cách ngoạn mục về ngoại giao, bởi vì công luận và báo chí Mỹ luôn gọi vị tổng thống-bất kỳ tổng thống nào- vào cuối nhiệm kỳ sau cùng của họ là “con vịt què” (lame duck), có nghĩa là nhà lãnh đạo đó chỉ ngồi kêu “cạp cạp” (quack quack) cho vui thôi và ngồi chờ ngày mãn nhiệm kỳ chứ chẳng làm nên trò trống gì nữa cả, bởi vì dân chúng Mỹ vẫn ưa hướng nhìn về tương lai, hầu như bỏ mặc vị tổng thống mãn nhiệm trong những ngày cuối đời tổng thống, và chỉ háo hức trông chờ vị tổng thống tân cử, với những lời hứa hẹn đường mật cực kỳ êm tai, hay nói theo lời thơ của Hàn Mặc Tử trong “Tối Tân Hôn:” “Bằng đêm hôm ấy êm như rót/Lời mật vào tai ngọt sững sờ,” chỉ để làm sao được cử tri bầu lên làm tổng thống thì thôi.

Dân Việt Nam hiểu lầm nền chính trị Mỹ

Dân Việt Nam, vốn quen với chuyện coi Đảng Cộng Sản Việt Nam là chúa tể và có uy quyền tuyệt đối để cai trị đất nước cho đến muôn đời, không bao giờ nghĩ rằng tổng thống Mỹ chẳng hề có quyền uy như thế, và bất cứ ai thay thế ông sau này cũng có khả năng và có quyền đảo ngược các chính sách của vị tổng thống tiền nhiệm, nhất là khi vị tổng thống mới lại là người của đảng khác, ví dụ như khi một vị tổng thống thuộc đảng Cộng Hòa được bầu lên lên thay thế vị tổng thống thuộc đảng Dân Chủ đã mãn nhiệm.

Vả lại, khác với nền chính trị có tính trước, sau như một tại các quốc gia độc tài và đảng trị, chính sách của các thể chế dân chủ hầu như chẳng bao giờ nhất quán và luôn thay đổi, có khi còn trái ngược nhau hoàn toàn nữa. Một tỉ dụ là từ năm 1949 đến nay, sau khi Trung Cộng đã nắm toàn quyền cai trị lục địa Trung Hoa, thì cái mộng bá chủ vùng Á Châu-Thái Bình Dương, hoặc cao xa hơn nữa là bá chủ thế giới, vẫn cứ y như thế, tức là trước, sau như một, dù các lãnh tụ của họ có là Mao Trạch Đông hay Đặng Tiểu Bình hay Hồ Cẩm Đào hoặc như hiện nay là Tập Cận Bình đi nữa. Trái lại, cũng trong khoảng thời gian nói trên, chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ luôn luôn thay đổi, dựa theo viễn kiến và ý muốn của từng vị tổng thống Mỹ cùng các cố vấn của họ, dù đó là Truman, Eisenhower, Kennedy, Johnson, Nixon, Ford, Carter, Reagan, Bush 41, Clinton, Bush 43, hay Obama… Điều cay đắng là, đôi khi, vị tổng thống Mỹ kế nhiệm vẫn hay đảo ngược chính sách của vị tổng thống tiền nhiệm, như trường hợp của Tổng Thống Reagan đối với Tổng Thống Carter hay Tổng Thống Obama đối với Tổng Thống Bush 43 vậy. Và dĩ nhiên là các chính sách của đương kim Tổng Thống Barack Obama, rồi đây, cũng sẽ chịu chung số phận đó khi tổng thống tân cử Donald Trump lên cầm quyền vào đầu năm tới.

Obama hiểu lầm ý định của Đảng Cộng Sản Việt Nam

Đảng Cộng Sản Việt Nam, vì biết mình chiếm được Miền Nam Việt Nam là có khả năng trấn giữ con đường thủy đạo huyết mạch từ Thái Bình Dương qua Ấn Độ Dương, lúc nào cũng muốn giả bộ sẽ bỏ Tàu mà theo Mỹ để được Mỹ, Nhật Bản và Ấn Độ ve vãn, chiều chuộng, cho tiền, cho của. Từ cả mấy thập niên qua, các nước nói trên đã viện trợ hoặc cho không rất nhiều tiền bạc và khí tài cho Cộng Sản Việt Nam, với niềm hy vọng hão huyền rằng, một ngày kia, những người cộng sản Việt Nam sẽ bỏ Tàu mà theo Mỹ. Nhưng sự thật chẳng phải vậy, Việt Nam lúc nào cũng tùng phục Trung Quốc và không hề tìm cách “thoát Trung” như người ta tưởng, bởi vì hễ đã “thoát Trung “ rồi thì sẽ không còn một thế lực nào nữa trên đời ra tay bênh đỡ cho Đảng Cộng Sản Việt Nam để họ có thể suốt đời cai trị đất nước như hiện nay mà phải đổi sang thể chế dân chủ, mỗi người cai trị đất nước tối đa chín, mười năm là cùng theo kiểu Tây phương. Đó là chưa nói tới chuyện “Thỏa Hiệp Thành Đô,” một thỏa thuận tuyệt mật được ký kết tại Thành Đô ở Tứ Xuyên, Trung Quốc, vào ngày 4 Tháng Chín năm 1990 giữa các nhà lãnh đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam (gồm Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười và Phạm Văn Đồng) và các giới chức chóp bu của Đảng Cộng Sản Trung Quốc (gồm Giang Trạch Dân và Lý Bằng), theo đó Việt Nam sẽ tự động sát nhập vào Trung Quốc trong năm 2020, làm cho Trung Quốc từ đó trở nên đất nước đa chủng gồm cả thảy sáu chủng tộc: Mãn, Mông, Hồi, Tạng, và Việt, dưới quyền lãnh đạo quang vinh của chủng tộc Đại Hán ở trung ương.

Cũng vậy, Tổng Thống Obama, một chính trị gia mang nhiều lý tưởng cao đẹp nhưng không đủ sức thực hiện nổi và là kẻ mang theo ý niệm tự do, dân chủ từ Mỹ Quốc xa xăm đến, đang hiểu lầm rằng đa số đảng viên Đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn âm thầm mong muốn bỏ Tàu theo Mỹ mà chưa có cơ hội. Nhưng không phải chỉ có ông Obama hiểu lầm như thế, mà ngay cả các Tổng Thống Clinton và Bush 43, trước đó, cũng hiểu lầm y như vậy, cho nên từ Clinton tới Bush 43 đều cư xử nhã nhặn và tìm cách giúp đỡ Việt Nam từ kinh tế, tài chánh cho tới quốc phòng, những mong có thể nhìn thấy, một ngày nào đó trong tương lai, Việt Nam ngả về phía mình, đâu có ai biết rằng họ đã làm một việc vô tích sự.

Obama hiểu lầm ý chí của dân Việt Nam

Là một người khá am tường lịch sử Việt Nam, hay ít ra cũng là người chịu nghe lời các cố vấn về lịch sử và văn hóa Việt Nam, căn cứ vào các diễn từ nhà lãnh đạo Mỹ đọc lúc viếng thăm Hà Nội và Sài Gòn, kể cả khả năng “lẩy Kiều” trong những đoạn quan trọng của các diễn từ đó. Nhưng lịch sử Việt Nam, từ thời các Vua Hùng dựng nước cho đến thời Việt Nam Cộng Hòa, có thể đã cho thấy tính nhất quán trong tinh thần của một dân tộc yêu nước và kiêu hùng, kiên quyết chống ngoại xâm và nhất định chết vinh hơn sống nhục. Tuy nhiên, từ sau ngày Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ và toàn thể đất nước Việt Nam bị đặt dưới ách đô hộ của chế độ cộng sản độc tài và phi nhân đến nay, yếu tố nhất quán đó, tức là xưa sao, nay vậy, trong đức tính anh hùng của người Việt Nam đã không còn nữa. Từ sau những vụ tuẫn tiết của Phan Thanh Giản, Hoàng Diệu và Thiếu Tá Ngụy Văn Thà về “tội” tướng không giữ được thành, người ta chỉ còn nhìn thấy khí tiết của 5 vị thần tường Việt Nam Cộng Hòa và của Trung Tá Cảnh Sát Nguyễn Văn Long cùng Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn trong và sau ngày 30 Tháng Tư năm 1975, ngày Sài Gòn sụp đổ, là tỉ dụ sáng ngời hầu như sau rốt của dân tộc Việt Nam, khi vẫn có người sẵn sàng chết vì tổ quốc. Sau 1975, dường như khí tiết đó đã không còn nữa hoặc giảm sút đi rất nhiều trước kỹ thuật đàn áp các cuộc nổi dậy của dân chúng ngày càng tàn bạo và tinh vi của bộ máy chính quyền Cộng Sản Việt Nam.

Có lẽ khi đọc lịch sử oai hùng thật sự của Việt Nam -hoặc oai hùng quá lố vì bị những người cộng sản Việt Nam thổi phồng- ông Obama vẫn nghĩ rằng dân Việt Nam hiện nay còn tiếp tục không tham sống và không sợ chết như người xưa, cỡ Trần Bình Trọng hoặc Phạm Hồng Thái hoặc Nguyễn Thái Học, và vì thế, đến một lúc nào đó, họ sẽ nổi dậy lật đổ chế độ công an trị tại Việt Nam và khiến cho bạo quyền phải sụp đổ trước sức mạnh và y chí quật cường của nhân dân. Trên thực tế, nghĩ như vậy thật không đúng chút nào, bởi một lẽ dễ hiểu là con người Việt Nam ngày nay khác xa con người ngày xưa nên không thể dựa vào khí tiết của người Việt Nam xưa trước cường quyền vào bạo lực để cho rằng người Việt Nam ngày nay cũng oanh oanh, liệt liệt như thế.

Thuở xưa, con người rất ít ham mê vật chất nên họ ít tham sống và sợ chết để có thể dễ dàng hy sinh mạng sống cũng như hạnh phúc cá nhân cho đất nước và dân tộc. Ngày nay, giới giàu có và giới trung lưu tại Việt Nam, những kẻ chỉ có nhu cầu tranh “sướng” chứ không phải tranh “sống” như xưa, có quá nhiều của cải vật chất để hưởng thụ trong cuộc sống và để phải quyến luyến nhiều nếu phải hy sinh mạng sống cho một cuộc cách mạng mà kết quả sự hy sinh của cá nhân họ là để cho mọi người khác được quyền chung hưởng. Còn giới người nghèo trong xã hội Việt Nam, tuy mạng sống không đáng quý bằng giới người giàu và trung lưu ngày nay, nhưng lại quá bận bịu chuyện mưu sinh, đầu tắt, mặt tối vì cơm, áo, gạo, tiền, và chỉ nội việc lo chạy gạo cho gia đình đủ ăn ngày hai bữa cũng là đã quá sức của họ rồi, không còn tâm trí và thì giờ đâu mà dành vào việc biểu tình phản đối cường quyền, đừng nói chi tới chuyện lao vào chỗ chết hoặc tù đày để đóng góp phần mình vào đại nghĩa dân tộc, tức là lật đổ chế độ độc tài phi nhân hiện tại.

Hãy lấy ví dụ từ các cuộc biểu tinh của dân oan, tiêu biểu là ba cuộc biểu tình phản đối chinh quyền cộng sản của các dân oan như bà Bùi Minh Hằng, anh em Đoàn Văn Vươn và bà Cấn Thị Thêu. Các cuộc biểu tình chống chinh quyền cộng sản đó vẫn được coi là phản ứng trực tiếp của việc quyền lợi gia đình của các vị này bị chính quyền xâm phạm rõ rệt, chứ không vượt xa hơn để có thể lên tới mức làm một cuộc nổi dậy của nhân dân chống bạo quyền trên khắp nước. Dĩ nhiên là tại Việt Nam ngày nay cũng có rất nhiều nhà tranh đấu cho dân chủ và nhân quyền, những kẻ sẵn sàng chịu vào tù, ra khám hoặc hy sinh cả mạng sống để đấu tranh chống bạo quyền cộng sản Việt Nam (như Linh Mục Nguyễn Văn Lý, Cựu Trung Tá Trần Anh Kim, Luật Sư Nguyễn Văn Đài, Luật Sư Lê Thị Công Nhân, Nhạc Sĩ Việt Khang, Bác Sĩ Hồ Hải, Mẹ Nấm Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Kỹ Sư Trần Huỳnh Duy Thức…), nhưng họ vẫn là những người hùng cô đơn giữa gần 100 triệu đồng bào của họ, bởi vì công cuộc đấu tranh của các vị đó vẫn còn hạn hẹp và thiếu sự hỗ trợ nhiệt tình của quần chúng đông đảo để có thể trở thành một cuộc cách mạng lật đổ được Đảng Cộng Sản Việt Nam như cuộc cách mạng Mùa Xuân Ả Rập, từng lật đổ các thể chế độc tài tại các nước Tunisia, Algeria, Lybia và Ai Cập cách nay mấy năm. Đó cũng chỉ là vì dân chúng Việt Nam ngày nay quá thờ ơ với thế sự hoặc quá nhu nhược trước cường quyền, tức là thiếu cái khí phách của một Phan Châu Trinh, một Trần Quý Cáp, một Nguyễn Thái Học hoặc một Phạm Hồng Thái thời Việt Nam còn nằm dưới ách đô hộ của Pháp và chính quyền phong kiến nhà Nguyễn hồi thế kỷ trước.

Hãy nghe cô giáo Trần Thị Lam ở Hà Tĩnh than thở:

“Đất nước mình ngộ quá phải không anh?
Bốn ngàn tuổi mà dân không chịu lớn
Bốn ngàn tuổi mà vẫn còn bú mớm
Trước những bất công vẫn không biết kêu đòi…”

Nếu dân chúng Việt Nam ngày nay mà sớm “biết kêu đòi” như cô giáo họ Trần ao ước thì có lẽ Đảng Cộng Sản Việt Nam đã phải nhường quyền cai trị và quyền chống ngoại xâm lại cho dân tộc Việt Nam từ khuya, và dân tộc Việt Nam giờ này, ít ra, cũng đã được sống trong tự do, dân chủ để có thể vươn tới chỗ phú cường rồi, tuy không bằng dân Nam Hàn hoặc dân Singapore nhưng cũng không đến nỗi thua kém cả dân Cambodia như hiện nay. Cách hành xử của Tổng Thống Obama trước, trong và sau chuyến thăm viếng Việt Nam hồi đầu năm nay cho thấy vị tổng thống Mỹ không hiểu rằng dân chúng Việt Nam ngày nay chẳng còn anh hùng như ông tưởng để ông có thể kỳ vọng vào họ.

Qua cuộc nói chuyện với giới trẻ trong nước nhân dịp này, ông Obama từng nói rằng tương lai Việt Nam là do tuổi trẻ Việt Nam quyết định, đâu có biết rằng giới trẻ Việt Nam không làm gì có khả năng quyết định tương lai của dân tộc mình, bởi lẽ, ngoài chuyện chẳng có tí quyền quyết định nào đối với vận mạng đất nước, họ còn tỏ ra cầu an và nhu nhược trước sức kềm kẹp của chính quyền Cộng Sản Việt Nam. Đó là chưa nói đến chuyện bây giờ, như các cuộc phỏng vấn sinh viên trong nước của báo chí truyền thông hải ngoại nhân chuyến công du của Tổng Thống Obama đến Việt Nam vừa rồi cho thấy, họ chỉ nghĩ đến chuyện làm sao có thể lên đường đi du học Mỹ để mưu cầu lợi ích riêng tư về sau. Vì thế, chẳng có gì là lạ khi họ chỉ biết cúi đầu chấp nhận số phận đang có, rồi tìm cách luồn lách qua các kẽ hở của guồng máy cai trị để sinh tồn, hưởng thụ và le lói với đời, điều mà không ai có thể trách cứ họ được nếu đặt mình vào trường hợp và hoàn cảnh bơ vơ hiện nay của họ.

Obama hiểu lầm dân Việt Nam và chính phủ Việt Nam là một

Ngoài chuyện hiểu lầm về ý chí của dân tộc Việt Nam, Tổng Thống Obama có thể đã hiểu lầm rằng nhân dân Việt Nam và chính phủ Việt Nam là một, tức là những gì dân chúng Việt Nam suy nghĩ và mong muốn cũng phần nào là suy nghĩ và mong muốn của chính quyền Cộng Sản Việt Nam, đặc biệt là trong vấn đề bỏ Tàu theo Mỹ, đâu có ngờ rằng chính quyền Hà Nội và các đảng viên cộng sản Việt Nam hầu như hoàn toàn xa rời quần chúng, nếu không nói là đối địch với quần chúng. Niềm tin tưởng của nhà lãnh đạo Mỹ đã được nhân lên thập bội trước thái độ và hành động hầu như đối kháng mạnh mẽ của chính quyền Hà Nội đối với Trung Quốc trong và sau vụ Giàn Khoan Hải Dương 911 xâm nhập Vịnh Bắc Bộ hồi năm 2015, thời điểm Việt Nam lộ rõ ý chí muốn chống lại cuộc xâm lấn biển đảo của Trung Quốc tại Biển Đông. Sự thật là, trong khi hầu như tuyệt đại đa số dân chúng Việt Nam đều mong muốn Hà Nội bỏ Tàu theo Mỹ, chỉ có một tỉ lệ rất thấp giới lãnh đạo Việt Nam muốn thế. Bằng chứng rõ nét nhất về cái hố cách biệt sâu xa giữa chính quyền cộng sản và dân chúng Việt Nam là cung cách hầu như trái ngược nhau giữa đôi bên trong cuộc đón tiếp Tổng Thống Obama đến thăm Việt Nam vừa rồi.

Thêm vào đó, đa số giới lãnh đạo Việt Nam hoặc là chỉ muốn ở lại trong quỹ đạo của Trung Quốc để hưởng lợi cá nhân hoặc là chỉ muốn “đu dây” giữa Mỹ và Trung Quốc để hưởng lợi thêm nữa, theo gương bậc thầy Hồ Chí Minh của họ hồi thập niên 1960, lúc giữa Trung Cộng và Liên Xô bùng nổ ra những xích mích không thể hòa giải được về ý thức hệ và chủng tộc, dẫn đến cuộc chiến tranh biên giới ngắn ngủi giữa hai nước đàn anh cộng sản khổng lồ của Hà Nội hồi năm 1969 tại Trân Bảo Đảo (Damanski) trong vùng Hắc Long Giang của Trung Cộng.

Obama hiểu lầm rằng dân Việt Nam tin tưởng ở lòng chung thủy của Mỹ với bạn bè và đồng minh

Tổng Thống Obama, trước lòng ái mộ cuồng nhiệt của dân chúng Việt Nam từ Nam chí Bắc, từ vùng từng là đồng minh của Mỹ thời Chiến Tranh Việt Nam cho tới vùng mà trước năm 1975 luôn coi Mỹ như kẻ tử thù, có thể nghĩ rằng dân chúng Việt Nam -và cả chính quyền Cộng Sản Việt Nam-tin tưởng ở lòng chung thủy của Mỹ với bạn bè và đồng minh. Sự thật không hẳn như vậy. Trong tâm tư những nhà tranh đấu cho tự do, dân chủ tại Việt Nam, chủ nghĩa cộng sản và Trung Cộng là lựa chọn xấu nhất, nhưng việc trông cậy vào sự che chở của Mỹ cũng là một điều gì khá bấp bênh, nếu không nói là hoang tưởng, bởi vì tấm gương trước mắt mà nhiều thế hệ người Việt Nam sau 1975 đang soi chung là sự thể, chỉ vì quyền lợi riêng sau khi nghĩ lại, Hoa Kỳ đã cam tâm bỏ rơi một cách không thương tiếc đồng minh Việt Nam Cộng Hòa vào tay quân xâm lược cộng sản từ miền Bắc và quan thầy của họ là Trung Cộng chỉ sau 14 năm (từ 1954 tới 1968) Hoa Kỳ giang rộng cánh tay bảo vệ một Miền Nam Việt Nam không cộng sản và chỉ sau 3 năm quân đội Hoa Kỳ trực tiếp tham chiến tại Việt Nam (từ 1965 đến 1968) để rồi tới năm 1973, khi Hiệp Định Ba Lê về tái lập hòa bình tại Việt Nam được ký kết, toán quân Mỹ cuối cùng đã cuốn cờ rời khỏi Miền Nam Việt Nam về nước.

Chưa hết, ít lâu sau đó, vào năm 1979, Hoa Kỳ lại cam tâm bỏ rơi một đồng minh thủy chung khác, là Trung Hoa Dân Quốc, tức là Đài Loan, khi Washington đoạn giao với Đài Bắc để công nhận nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa và rước họ vào ghế đại biểu thường trực tại Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, với quyền phủ quyết từng bao lần gây khổ đau và sầu hận cho Hoa Kỳ trong các cuộc biểu quyết có tính sinh tử đối với nền trật tự và an ninh thế giới.

(Tấm gương về cách hành xử của Hoa Kỳ, nước đồng minh lâu đời nhất của Philippines, trong lịch sử dẫn tới sự thể, giữa giờ phút nguy nan trước hiểm họa chủ quyền biển đảo của mình bị Trung Quốc đe dọa, chính phủ và dân chúng Philippines cũng không thể nào tin tưởng vào lòng thủy chung của người bạn Mỹ. Thật chẳng đáng ngạc nhiên chút nào khi Tổng Thống Philippines Rodrigo Dutere, hồi cuối năm nay, vùng vằng bỏ Mỹ theo Tàu, bởi vì vị tổng thống trực tính này đã dọ hỏi kỹ lưỡng và biết chắc chắn rằng nếu lực lượng Trung Quốc tấn công và chiếm hết vùng Bãi Cạn Scarborough trên Biển Tây của Philippines, tức Biển Đông của Việt Nam, thì quân đội Mỹ, dù đang có một hiệp ước quân sự với Philippines và đang đóng quân trên lãnh thổ nước này, cũng đành ngồi yên chứ không can thiệp được, bởi vì chủ quyền của tất cả các quốc gia trên các đảo và bãi đá tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, theo cách gọi của Việt Nam, đều chưa hề được quốc tế công nhận, có chăng là chỉ do các nước trong vùng này làm càn mà thủ đắc thôi).

Vì thế, giữa những tiếng reo hò cuồng nhiệt và sau những vụ dân chúng tranh nhau để bắt tay cho bằng được vị tổng thống Mỹ khả kính và khả ái trên các đường phố Việt Nam, vẫn loáng thoáng tâm trạng hoài nghi về khả năng người Mỹ có thể bảo vệ Việt Nam bằng mọi giá trước tham vọng bành trướng bá quyền của Trung Quốc một khi Việt Nam đánh bạo bỏ Mỹ theo Tàu. Có thể Tổng Thống Obama không hề nghĩ rằng dân chúng Việt Nam ngày nay, đang bị một chế độ độc tài hà khắc và bóc lột đến tận xương tủy, cũng vẫn nghi ngờ, dù chỉ phần nào thôi, lòng chung thủy của Mỹ với Việt Nam trong vai trò một nước bạn và một nước đồng minh của Mỹ ngày sau.

Đây có thể là bức tranh chính xác về tâm trạng của người dân Việt Nam trong những đêm tối và ngày mưa khi họ cuồng nhiệt đón tiếp Tổng Thống Obama đến Hà Nội và rời khỏi Sài Gòn -và có vẻ muốn coi ông Obama như là một vị cứu tinh là vì quá cô đơn, khốn khổ trước sức đàn áp thẳng tay vả dập vùi không thương tiếc của chính quyền Cộng Sản Việt Nam: Một bộ phận không nhỏ dân chúng Việt Nam coi người Mỹ là một chiếc phao cứu nạn, nhưng họ không thể nào hoàn toàn tin tưởng ở người Mỹ một khi họ đã lên được bến bờ, bởi vì các chàng trai Mỹ vẫn thường được các cô gái Việt Nam -và cả gái Philippines-coi là khá đểu trong các cuộc du dương tình ái, chỉ biết ăn bánh, trả tiền chứ không hề biết nịnh đầm, hào hoa và bao biện cho họ như các chàng trai Phú-lãng-sa bên trời Âu diễm ảo.

Thay lời kết

Trên thế gian này, tình trường vẫn là chốn không hề thiếu vắng khổ đau, mà nguồn gốc của những khổ đau kia phần lớn là do người ta đã yêu nhau vì hiểu lầm nhau, để rồi bao mối tình si một thời đành vùi chôn nơi huyệt lạnh sau khi một trong hai người trong cuộc, một mai thức dậy, bỗng chợt hiểu đúng về người mình đã yêu. Hậu quả của khám phá mới này là nỗi đớn đau, ê chề của người đã tỉnh ngộ, hay nói theo ngôn ngữ nhà Phật, tức là “thuyền về bến giác.” Tuy nhiên, sự giác ngộ muộn màng này, dẫu sao, cũng chỉ dẫn tới những ưu phiền, ăn năn và ray rứt là cùng, chứ hiếm khi dẫn tới những hành vi tuyệt mệnh, quyên sinh như trong trường hợp của kẻ bị thất vọng vì tình hoặc bị tình phụ, bởi vì cái ảo tưởng rằng tình yêu là nguồn hạnh phúc tối thượng của đời người và người mình yêu là tất cả trên đời (“You Mean Everything to Me”) đã chiếm ngự hết con tim và khối óc mà không chừa chỗ cho người trong cuộc bình tĩnh xem xét mình đã hiểu đúng hay đã hiểu lầm đối tượng của mình trước lúc bước vào đường yêu.

Trên quy mô rộng lớn hơn, tình trạng hiểu lầm về lòng tốt hoặc thiện chí của nhau, đôi khi, đã dẫn tới những hậu quả khôn lường cho một cộng đồng dân cư, một nhóm dân hoặc cả một dân tộc. Thế kỷ trước đánh dấu thời đại hưng thịnh cùng cực của chủ nghĩa cộng sản, tức chủ nghĩa xã hội, khi hằng trăm triệu người ở Âu Châu, Á Châu và Mỹ Châu chẳng những bị nhà cầm quyền cộng sản tại các nước cưỡng ép phải đi theo con đường cộng sản mà còn thật sự say mê hoặc có cảm tình với triết lý và chủ thuyết đó nữa, kể cả giới trí thức tại các thành thị Âu Châu và Mỹ Châu, trong đó phải kể đến Eric Hobsbawm, sử gia Anh; Bertrand Russell, Khôi Nguyên Nobel Hòa Bình; Jean Paul Sartre, cha đẻ của thuyết hiện sinh (existentialism); và Olof Palmer, thủ tướng Thụy Điển, cùng những người phản chiến, tức là những kẻ phản đối cuộc Chiến Tranh Việt Nam, cuộc chiến mà Hoa Kỳ và các nước đồng minh trong Thế Giới Tự Do hợp lực chống lại sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản tại Á Châu, với diễn trường chính là Việt Nam. Các nhà xã hội học từng gọi chủ nghĩa cộng sản là “thuốc phiện của dân chúng,” và phần lớn niềm say mê này là do những ảo tưởng hoặc hiểu lầm của con người về học thuyết Marxism-Leninism, tức học thuyết Mác-Lê. Nhưng rồi, vì tính không tưởng của nó cũng có và vì sự giác ngộ của những người trót say mê nó cũng có, chủ nghĩa cộng sản đã dần dà suy tàn, dẫn đến sự sụp đổ của Bức Tường Bá Linh (Berlin Wall) rồi sự tan rã của Cộng Sản Liên Xô và Cộng Sản Đông Âu vào đầu thập niên 1990.

Những kẻ say mê Chủ Nghĩa Cộng Sản tại Việt Nam và Hoa Kỳ, đặc biệt là các thành phần phản chiến, rõ ràng là đã hiểu lầm về thiện ý của người cộng sản Việt Nam trong cuộc nội chiến Nam-Bắc, tức là cuộc chiến tranh Quốc-Cộng hoặc Chiến Tranh Việt Nam. Hậu quả của cuộc chiến này là hàng triệu người, vừa binh lính vừa thường dân, đã chết hoặc bị thương tật, hàng chục nghìn quân, dân, cán, chính Việt Nam Cộng Hòa đã bị giam cầm và đày đọa sau ngày cuộc chiến đó kết thúc hồi Tháng Tư năm 1975, hàng nghìn thuyền nhân và bộ nhân phải bỏ mình ngoài biển khơi hay nơi rừng sâu, núi thẳm khi liều mạng chạy trốn chủ nghĩa Cộng Sản Việt Nam phi nhân, và hằng triệu người khác phải rời quê cha, đất tổ để sống đời lưu vong khắp nơi trên thế giới.

Éo le thay, chính nhờ những hiểu lầm rằng chủ nghĩa cộng sản, tức chủ nghĩa xã hội, là cực kỳ tốt đẹp và xã hội cộng sản chính là thiên đường nơi trần thế nên hằng triệu trái tim thơ ngây của dân chúng Miền Bắc Việt Nam vẫn rung động theo những nhịp điệu “hồ hởi, phấn khởi,” ngất ngây, để rồi liều mạng sống mà lấy thân chèn pháo ở Điện Biên Phủ, xong lại lên đường vượt Trường Sơn hiểm trở, bất chấp bao gian nguy, bom đạn dập vùi để vào Nam mà chống Mỹ cứu nước, mà “tiến về Sài Gòn giải phóng thành đô” (như lời Huỳnh Minh Siêng qua bài hát “Tiến Về Sài Gòn”) trước khi bổ ngửa ra (như tâm trạng của nhà văn cộng sản Dương Thu Hương trong những ngày đầu Sài Gòn được giải phóng) rằng sự thật thì dân chúng miền Nam Việt Nam đã thật sự được hưởng đầy đủ độc lập, tự do, hạnh phúc và cả thịnh vượng nữa, đâu có cần gì phải nhờ vả quân cộng sản tiến vào “giải phóng” cho họ.

Hòa theo niềm hoan lạc vì ảo tưởng đó và trước khi cũng bổ ngửa ra vì thực tế phũ phàng kia, không ít người trí thức và bình dân tại Miền Nam Việt Nam, nạn nhân trực tiếp của cuộc chiến tranh phá hoại và thôn tính do Cộng Sản Bắc Việt tiến hành -có sự yểm trợ tích cực về nhân lực, vật lực và vũ khí của khối Cộng Sản Quốc Tế- ai cũng cảm thấy hăng say, sung sướng không kém các “đồng chí” từ Miền Bắc tiến vào mỗi khi có dịp biểu tình, đình công, bãi thị, bãi khóa nhằm chống phá nỗ lực tự vệ chính đáng của quân, dân, cán, chính Việt Nam Cộng Hòa trước cuộc xâm lược bạo tàn của Cộng Sản Bắc Việt cho tới ngày họ được dịp “nối vòng tay lớn” vì Sài Gòn đã sụp đổ và toàn thể đất nước Việt Nam đã nằm gọn dưới ách độc tài, đảng trị của những người cộng sản Việt Nam sau ngày 30 Tháng tư năm 1975, cho vừa lòng nhau.

Cho tới nay, hậu quả của sự hiểu lầm to lớn này của một bộ phận không nhỏ loài người trong thế kỷ trước về chủ nghĩa cộng sản và thiện ý của những người cộng sản Việt Nam vẫn còn đang được cảm nhận hằng ngày, hằng đêm qua các tai ương và thảm trạng dồn dập trên mọi lãnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, và môi trường ở Việt Nam, một đại họa chưa hề thấy trong suốt chiều dài của lịch sử trên 4,000 năm của một dân tộc từng có một nền văn minh và văn hóa rực rỡ tại Á Châu.

Dẫu sao, cũng nên lấy làm an ủi rằng nhờ hiểu lầm nhau như thế mà một số lớn dân chúng Việt Nam và Tổng Thống Barack Obama đã có những tháng ngày tuy ngắn ngủi nhưng đầy thú vị và đáng yêu thương, nhung nhớ trong khi và sau khi vị nguyên thủ Mỹ đến viếng thăm thiện chí Việt Nam, hay nói như Nguyễn Du (với đối tượng là những người ưa “lẩy Kiều” như các vị tổng thống Mỹ lúc đến Việt Nam) là “mua vui cũng được một vài trống canh.”

Phải chăng cũng chính nhờ sự hiểu lầm của con người về giá trị của sự hiện hữu và cuộc sống nơi trần thế mà, cho dù cuộc đời này có tàn ác và xấu xa đến đâu, loài người vẫn cứ tiếp tục “tự sướng” trong kiếp sống, để thấy rằng mỗi ngày chính là một ngày trên cõi Bồng Lai tiên cảnh, như lời nhạc của Jason Mraz trong “I Don’t Miss You”: Every day is a day in Paradise?

video
play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT