Ðêm ca nhạc thời trang gây quỹ và phát thưởng của Việt Foundation


Tâm Nguyễn/Người Việt


 


COSTA MESA (NV) – Việt Foundation tổ chức chương trình ca nhạc thời trang gây quỹ và phát giải thưởng tại nhà hàng Anqi bên trong South Coast Plaza, Costa Mesa vào Thứ Năm, ngày 18 Tháng Mười, với sự tham gia của các ca sĩ và các gương mặt quen thuộc của cộng đồng.










Luật Sư Derrick Nguyễn và xướng ngôn viên Leyna Nguyễn cùng điều khiển buổi lễ. (Hình: Tâm Nguyễn/Người Việt)


Việt Foundation, bảo trợ một phần bởi Hội Thương Mại Việt Mỹ (VACOC), là một tổ chức chuyên giúp đỡ sinh viên và các doanh nghiệp mới thành lập. Tổ chức được thành lập năm 1985 tại Little Saigon, miền Nam California, với hơn 1,500 thành viên. Bác Sĩ Phạm Ðặng Long Cơ, người sáng lập Bolsa Medical Group, là người giữ chức giám đốc lâu năm nhất của Việt Foundation.


Tôn chỉ của Việt Foundation là ủng hộ và giúp đỡ thành viên về vấn đề kinh doanh, giáo dục, và xã hội, cũng như thúc đẩy nền giáo dục và kinh tế của cộng đồng. Hội Thương Mại Việt Mỹ sẽ mang đến những người Việt có khả năng lãnh đạo để dẫn đầu sự phát triển của cộng đồng, trong nước và cả ngoài nước, trong các lĩnh vực kinh doanh, giáo dục, văn hóa và hoạt động xã hội. Các thành viên theo đuổi tiêu chí của tổ chức trở thành công dân thế giới, giúp ích cho xã hội ở bất kỳ thời gian và hoàn cảnh nào.


Giám đốc đương nhiệm của tổ chức, Tiến Sĩ Tâm Nguyễn, với mục tiêu xây dựng một cộng đồng doanh nghiệp đoàn kết, cho biết:


“Qua việc thành lập Việt Foundation, chúng tôi có thêm cơ hội để phục vụ nhu cầu giáo dục và từ thiện của cộng đồng. Từng chương trình phát triển kinh tế mỗi lần.”


Ðây là lần đầu tiên tổ chức có một buổi ca nhạc thời trang gây quỹ. Sự kiện này sẽ được tổ chức mỗi năm và phần tiền thu được dùng để lập nên các giải học bổng cho những đóng góp phát triển kinh tế trong cộng đồng các sắc dân thiểu số.


Ngoài ra, chương trình ca nhạc thời trang gây quỹ hàng năm này còn là dịp để tôn vinh văn hóa, ca nhạc, thời trang và các doanh nghiệp. Trong buổi lễ, Việt Foundation tặng thưởng cho những tên tuổi gốc Việt thành công trong lãnh vực kinh tế của Hoa Kỳ và có đóng góp cho cộng đồng.


Trên tất cả, chương trình này là một phần của sứ mạng quan trọng của tổ chức Việt Foundation. Tổ chức mang lấy cho mình sứ mạng thúc đẩy giáo dục ở cao đẳng và đại học cho các sắc dân dân thiểu số, cung cấp chương trình hướng dẫn cho các doanh nghiệp nhỏ và chương trình điều hành cho việc phát triển ngành nghề và giáo dục xã hội.


Việt Foundation thành lập một quỹ học bổng cho sinh viên, số tiền vé thu được từ chương trình sẽ vào thẳng quỹ này. Dưới sự điều hành của ban giám đốc, Việt Foundation thành lập quỹ học bổng để nâng cao hiểu biết về xuất nhập khẩu tại Hoa Kỳ và tạo thêm công ăn việc làm bằng cách đào tạo thế hệ doanh nhân mới có khả năng dẫn đầu trong việc xây dựng các doanh nghiệp mạnh chuyên về xuất nhập khẩu hàng hóa với các nước trên thế giới.


Với tình hình thị trường việc làm ngày càng đòi hỏi kiến thức chuyên môn, nhu cầu về đào tạo và nâng cao chuyên môn về các cơ hội kinh doanh tăng lên, nhất là về kinh doanh với các doanh nghiệp lớn của nhiều nước khác nhau trên thế giới.


Bên cạnh đó, nhu cầu tăng cường doanh nhân gốc Việt ngày càng cao, bên cạnh các sắc dân khác trong lãnh vực kinh doanh và theo đuổi bằng cao đẳng và đại học. Hợp tác với các tổ chức giáo dục của California, Việt Foundation thành lập “Global Supplier Initiative” để tập hợp các công ty của Hoa Kỳ, các tổ chức mua bán, các nhà máy sản xuất khác nhau nhưng có cùng mong muốn ủng hộ sự hợp tác kinh tế chiến lược của Hoa Kỳ và các nước Thái Bình Dương, thông qua U.S. Trans-Pacific Strategic Economic Partnership. Ðiều này giúp tăng cường ngành xuất nhập khẩu của Hoa Kỳ và tạo việc làm cho người dân.


Buổi hòa nhạc có sự tham gia của ca sĩ, nhạc sĩ Gina Nguyễn và nghệ sĩ nổi tiếng thế giới người Mông Cổ, Nominjin. Công ty thời trang Runway Entertainment cung cấp các cô người mẫu xinh đẹp cho buổi trình diễn. Nghệ sĩ Mosha Katani phụ trách phần trang điểm.


Một số giải thưởng được trao tặng trong buổi ca nhạc thời trang gây quỹ.


Ðầu tiên là các giải Corporate Advocate, tạm dịch là ủng hộ doanh nghiệp. Giải thưởng này trao cho các cá nhân và doanh nghiệp ủng hộ cho cộng đồng Á Châu nói chung và cộng đồng người Việt nói riêng. Những người này có nhiều đóng góp cho các sắc dân thiểu số và đề cao sự đa dạng văn hóa tại Hoa Kỳ.


Một giải thưởng khác cũng được trao tặng hôm đó là Supplier Diversity, tạm dịch là cung ứng đa dạng. Giải thưởng này được trao cho các cá nhân và tổ chức chứng tỏ hoặc ủng hộ được khả năng cung ứng hàng hóa trong cộng đồng người Việt và cộng đồng người Châu Á Thái Bình Dương. Họ đã hoặc đang giúp đỡ các cá nhân và tổ chức khác trở thành đối tác thông qua hiệu suất, sự nhạy bén và khả năng xuất sắc trong quá trình làm việc.


Giải National Excellence in Community Service, tạm dịch là giải xuất sắc quốc gia về công tác xã hội, là một giải thưởng khác được trao tặng trong buổi lễ. Người nhận giải là những nhân vật thiện nguyện trong giới doanh nghiệp nhỏ và các tổ chức chính phủ và tổ chức vô vị lợi của cộng đồng người Việt và người Châu Á Thái Bình Dương. Họ cũng đóng góp cho hoạt động của Việt Foundation, bao gồm các hoạt động ủng hộ sắc dân thiểu số trong các trường cao đẳng và đại học, trong kinh doanh, trong việc nâng cao chuyên môn và kiến thức xã hội.


Cuối cùng là giải Viet Heroes, tạm dịch là người hùng Việt. Người được trao giải là các cá nhân và tổ chức ủng hộ cộng đồng người Việt, người Châu Á Thái Bình Dương trong giáo dục, kinh doanh, hoạt động chính phủ và các chương trình thiện nguyện. Họ mang đến các cơ hội lãnh đạo cho cộng đồng địa phương và là người hướng dẫn cho các doanh nghiệp nhỏ và các tổ chức gồm nhiều sắc dân của Orange County


Một cựu ủy viên Tòa Bạch Ốc, Luật Sư Derrick Nguyễn, điều phối buổi lễ cùng với Leyna Nguyễn, xướng ngôn viên từng đoạt giải Emmy của đài CBS KCAL 9 News. Hiệu trưởng trường Cal State Monterey Bay, ông Eduardo Ochoa, là người phát giải thưởng của chương trình.

Khu vực eurozone bị ảnh hưởng trầm trọng bởi nợ công

 


LONDON (AP) – Dù có nhiều biện pháp cắt giảm ngân sách, thắt lưng buộc bụng, tăng thuế, tình trạng nợ nần chồng chất ở Âu Châu ngày càng trở nên trầm trọng hơn.










Người ủng hộ đảng Independent Greeks giương cờ Hy Lạp trong một cuộc biểu tình ngoài cửa một cơ quan đòi nợ ở Tauros, Greece sáng Thứ Tư. (Hình: Petros Giannakouris/AP Photo)


Các con số chính thức được công bố hôm Thứ Tư cho thấy tổng số nợ ở 17 quốc gia trong khối eurozone vào quý thứ nhì lên tới 90% tổng trị giá nền kinh tế của khối – con số cao nhất từ khi thành lập năm 1999.


Sự gia tăng từ 88.2% trong quý thứ nhất và 87.1% trong năm qua được Eurostat, cơ quan thống kê EU loan báo, cho thấy nỗi khó khăn đối phó với tình trạng nợ công của các quốc gia Âu Châu này.


Trong khi đó, kết quả một cuộc thăm dò khác cho thấy giới doanh gia ở Ðức, nền kinh tế lớn nhất Âu Châu cũng đang trong chiều hướng suy giảm – một điều rất đáng lo ngại vì nếu Ðức ngã quỵ thì cả Âu Châu sẽ đi vào suy thoái kinh tế. (V.Giang)

Ford đóng cửa cơ xưởng ở Bỉ: 9,500 người mất việc


BRUSSELS (AP) –
Công ty Ford Motor Co. sẽ đóng cửa một xưởng ráp xe ở vùng Ðông nước Bỉ, một trong những nơi sản xuất chính của công ty tại Âu Châu, vào cuối năm 2014 và sẽ khiến 4,500 nhân công tại xưởng mất việc cùng với khoảng 5,000 người khác từ các công ty cung cấp dịch vụ.









Phản ứng của một nhân viên sau khi ban điều hành của European Ford tuyên bố sẽ đóng cửa xưởng ráp xe ở Genk, Bỉ hôm Thứ Tư. Hơn 4,500 nhân viên hãng Ford tại đây sẽ mất việc cùng với hơn 5,000 người làm việc tại các công ty cung cấp dịch vụ liên quan. (Hình: AP Photo)


Ðúng nửa thế kỷ sau khi thành lập, cơ xưởng Genk của công ty Ford được cho biết là sẽ phải đóng cửa vì tình hình kinh tế Âu Châu suy sụp, ảnh hưởng đến số bán.


Công ty Ford bị nhiều khó khăn tại Âu Châu vì ngày càng ít khách hàng do cả khu vực này lao đao vì cuộc khủng hoảng nợ công.


Công ty Ford dự trù sẽ bị lỗ khoảng hơn $1 tỉ năm nay tại thị trường Âu Châu, nơi tiêu thụ của khoảng 25% sản phẩm công ty. (V.Giang)

Bé gái 10 tháng mất tích sau khi bà nội bị giết


PHILADELPHIA, Pennsylvania (AP) –
Cảnh sát và FBI đang tìm kiếm và điều tra vụ một bé gái 10 tháng tuổi bị bắt cóc sau khi bà nội bị giết ở Upper Merion Township, Pennsylvania.










Saanvi Venna, đứa bé gái 10 tháng mất tích. (Hình: AP)


Nhà chức trách chưa phổ biến chi tiết nào về cái chết của bà Satyavathi Venna, 61 tuổi, tại nhà trong khu Marquis Appartments ở King of Prussia cách thành phố Philadelphia khoảng 15 dặm về hướng Ðông Nam. Cảnh sát tìm thấy xác bà hôm Thứ Hai và tin rằng vụ bắt cóc giết người xảy ra khoảng thời gian từ 8 giờ sáng đến 1 giờ trưa Thứ Hai.


Chưa biết lý do cái chết của bà nội bé Saanvi Vena, người đang giữ cháu. Ông bố Venkata Konda Silva Venna xin mở cuộc tìm kiếm đứa con gái mất tích và cảnh sát đã ban hành báo động vàng. Ông cùng người vợ là di dân từ Ấn Ðộ đến Hoa Kỳ năm 2007 sống tại San Antonio, Cleveland và Troy, Michigan, trước khi dời sang Philadelphia hồi tháng 6 năm nay. Bà Satyavathi qua chơi hồi tháng 7 và dự tính trở về Ấn Ðộ đầu năm tới.


Khu apartments đã được phong tỏa để điều tra tìm tang chứng và đại gia đình nạn nhân vẫn nuôi hy vọng sẽ tìm thấy đứa bé gái.


Upper Merion Township từ 50 năm qua đã phát triển thành một trong những trung tâm hoạt động nhất trong vùng, hiện nay có khoảng 27,000 cư dân, với 9.5 triệu square feet mặt bằng làm văn phòng, cung cấp 50,000 công việc. Tại đây có công viên lịch sử Valley Forge và King of Prussia Mall, khu thương xá diện tích lớn nhất Hoa Kỳ. (HC)

Y Vân, tình khúc như nhân chứng kỷ niệm


Du Tử Lê


 


Nói tới đời thường của cố nhạc sĩ Y Vân, tôi nghĩ không ai có thẩm quyền hơn người bạn đời sau cùng, chia sẻ buồn vui với ông mấy chục năm thăng trầm; nhất là những năm tháng sau biến cố tháng 4, 1975. Ðó là bà Minh Lâm. Hơn một lần bà tâm sự rằng:










Nhạc sĩ Y Vân. (Hình: Internet)


“Nhiều người thêu dệt Y Vân thành một con người đa tình, trăng hoa. Là vợ chồng, mấy mươi năm đầu gối tay ấp nên tôi rất hiểu nhà tôi. Anh ấy là một người đàng hoàng, có gì cũng thật thà kể với vợ (kể cả những việc sâu kín như trường hợp lấy nghệ danh Y Vân). Anh ấy rất có hiếu với mẹ và thương yêu vợ con.


“Thời gian sau năm 1975, Y Vân tham gia đoàn ca nhạc Hương Miền Nam, rồi nhận viết nhạc cho nhiều nguồn: phối nhạc cho Saigon Audio, viết nhạc phim, nhạc nền cho sân khấu… Anh làm việc cật lực bất kể ngày đêm. Ban trưa, nhìn anh xoay trần viết nhạc dưới mái tôn thấp nóng hầm hập, thấy thương vô cùng. Trời thương, nên giai đoạn đó anh được ‘đặt hàng’ dồn dập, có thể nói là ‘ăn nên, làm ra’, nhờ đó mà gia đình chúng tôi xây lại được căn nhà tạm gọi là ngăn nắp, nhưng anh làm ra cho mẹ con chúng tôi hưởng, bởi chỉ một năm sau thì anh mất…” (6)


Kể lại phản ứng của thân mẫu nhạc sĩ Y Vân/Trần Tấn Hậu, người đàn bà không đi thêm bước, dù còn trẻ khi người chồng qua đời – (Bà ở vậy nuôi con. Nhờ thế, chúng ta có được ca khúc bất tử “Lòng Mẹ”) – người vợ tấm cám của cố nhạc sĩ Y Vân cho biết:


“Dạo ấy, đứng trước quan tài của anh đang được quàn tại Hội Âm Nhạc TP. Mẹ chồng tôi không hề khóc một tiếng. Có lẽ tất cả nước mắt để khóc thương con, bà cụ đã âm thầm nuốt ngược vào trong. Chúng tôi nghe bà cụ nói: ‘Người đời thường bảo: Con ‘đi’ trước mẹ là bất hiếu, nhưng mẹ chẳng trách con đâu bởi con đã làm tròn chữ hiếu ngay từ lúc viết xong bài ‘Lòng mẹ’… Con đi trước mẹ nhưng không nợ mẹ, vì mẹ nuôi con 20 năm nhưng con đã nuôi mẹ đến 40 năm… ‘”


10 tháng sau, Mẹ nhạc sĩ Y Vân mất. (7)


Về âm nhạc của cố nhạc sĩ Y Vân không chỉ có “Lòng Mẹ.” Ông còn để lại cho đời mảng tình khúc, phong phú, như một khu rừng tâm tưởng thăng hoa.


Tôi hằng nghĩ, một tình khúc khi đạt được cả hai yếu tố: Giai điệu đẹp, và ca từ ý nghĩa hoặc, tâm lý thì, những tình khúc ấy sẽ có một vị trí, một chỗ đứng như những kỷ niệm bất hoại trong nhiều cuộc tình đôi lứa. Như những hạt giống gieo trồng an ủi những tâm hồn cô độc. Chúng như người bạn đồng hành, như nhân chứng đi theo tới cuối đời kẻ nào từng có đôi lần hát lên trong ánh sáng yêu thương hay, bóng tối đoạn lìa.


Theo tôi, hầu hết tình ca Y Vân/Trần Tấn Hậu đều có được tính chất đặc biệt này.


Nhìn lại, chúng ta thấy hàng trăm tình khúc của họ Trần chẳng những được đón nhận một cách nồng nàn ngay khi tác phẩm mới phổ biến mà, chúng còn được yêu quý trải qua nhiều thế hệ – Hiểu theo nghĩa chúng đã ở lại bền lâu trong ký ức.


Những tình khúc của Y Vân như “Ðồi Thông,” Ngăn Cách,” “Ðêm Giã Từ (phổ thơ Thể Vân), “Thôi,” “Ðừng Lừa Dối Nhau,” Người Em Sầu Mộng” (phổ thơ Lưu Trọng Lư), “Hãy Yêu Tôi” (phổ thơ Ðinh Hùng), “Những Bước Chân Âm Thầm (phổ thơ Kim Tuấn) v.v… dù với nội dung nào, cũng đều như những nhân chứng của kỷ niệm. Như người bạn thân thiết nhất của những kẻ lạc lõng, cô đơn!


Bên cạnh đó, ca khúc “Ảo Ảnh” của Y Vân, sớm được nhiều giai thoại (hay huyền thoại) tìm đến, vây quanh!


Tôi không biết “Ảo Ảnh” với những chi tiết được báo Thanh Niên, cột mục “Nghệ Thuật Yêu” đăng tải, có nằm trong điều mà, người bạn đời của cố nhạc sĩ Y Vân từng than phiền là “thêu dệt” (?) – Nhưng, cách gì thì, dưới đây cũng là một giai thoại làm mủi lòng nhiều người:


“Y Vân lập gia đình năm 1963, lúc này anh đã là trưởng ban nhạc Y Vân danh tiếng ở Sài Gòn (cùng với sự cộng tác của các ca sĩ Thanh Thoại, Tuyết Mai, Mai Hương…). Một buổi trưa năm 1965, từ đài phát thanh, Y Vân dắt xe máy ra cổng chuẩn bị về thì có một chú bé chạy đến mời anh vào quán nước cạnh đấy. Nơi đây, một thiếu nữ khá xinh ngồi chờ sẵn, chú bé giới thiệu đó là chị của mình, tên Huyền, đang là sinh viên Ban Việt-Hán, Ðại Học Văn Khoa Sài Gòn. Huyền có đôi mắt to, đen và buồn. Trên bâu áo của nàng có một mảnh tang đen. Y Vân cố nhớ lại xem mình đã gặp cô gái này ở đâu chưa, nhưng chịu thua. Theo phép xã giao anh ngỏ lời chia buồn. Nhưng cô gái lắc đầu, buồn bã: ‘Em đâu có người thân nào qua đời. Mảnh tang này là dành cho mối tình của em đó!’ Y Vân sượng sùng, anh cũng manh nha đoán rằng phải có một điều bí ẩn gì đó mới khiến cô gái này vượt qua nỗi e dè thường thấy của phái nữ, không ngại điều thị phi để đánh bạo gặp anh, nhưng cũng khó mở miệng để hỏi, đành chỉ ngồi nói chuyện bâng quơ một lát rồi viện cớ cáo từ.


“Hai hôm sau, Y Vân tìm đến nhà Huyền theo địa chỉ cô đã cho. Ðó là một căn nhà vách gỗ đơn sơ nhưng ngăn nắp, sạch sẽ nằm bên chiếc ao rau muống trong con hẻm đường Trương Minh Giảng (gần chợ Phú Nhuận bây giờ). Huyền không có nhà nhưng cậu em trai đã thổ lộ với chàng nhạc sĩ những điều thầm kín của chị mình. Chú bé cho biết họ là con của một địa chủ tiếng tăm ở Long An, được gia đình gửi lên Sài Gòn trọ học. Huyền rất thích âm nhạc và ca hát, đặc biệt là thích nhạc của tác giả Y Vân. Những cuốn vở học trò của Huyền cũng được cô kẻ khung, chép nhạc (hầu hết là nhạc của Y Vân). Tiền gia đình gửi lên để Huyền hoàn tất chương trình cử nhân Văn khoa lại được nàng đem đóng học phí vào… lớp dạy đàn Tây Ban Cầm. Suốt ngày Huyền chỉ ôm đàn và hát nhạc Y Vân.


“Việc học bê trễ, mấy năm liền chẳng đậu thêm được chứng chỉ nào. Thấy vậy, ông bố đã bắt hai chị em về quê, ép gả Huyền cho một anh trung úy hải quân. Huyền quyết liệt từ chối. Bẽ mặt với nhà trai, ông bố đăng báo từ con. Huyền đau khổ, trút tâm sự với em trai rằng đã yêu nhạc sĩ Y Vân. Sau khi bàn tính, hai chị em trốn nhà lên Sài Gòn, Huyền phải tìm việc làm để mưu sinh và nuôi hy vọng có ngày sẽ được cùng người trong mộng kết tóc se tơ. Sau nhiều lần dò hỏi, biết chắc nhạc sĩ Y Vân đã có gia đình, Huyền làm một mảnh tang đen, luôn đeo nó trên bâu áo…” (8)


Tác gỉa bài báo kết luận, ca khúc “Ảo Ảnh” ra đời từ chuyện tình tuyệt vọng ấy.


(Còn tiếp một kỳ)


 


Chú thích:


(6), (7): Nguyễn Việt, bđd.


(8): Nguồn đd.

Tòa Bạch c được tin ngay sau cuộc tấn công ở Libya


WASHINGTON (Reuters) –
Các giới chức ở Tòa Bạch Ốc và Bộ Ngoại Giao được thông báo hai giờ sau khi xảy ra cuộc tấn công vào tòa Lãnh Sự Mỹ ở Benghazi, Libya hôm 11 Tháng Chín rằng một nhóm phiến quân Hồi Giáo đã nhận trách nhiệm trong vụ này qua trang mạng Facebook và Twitter, theo các điện thư trao đổi giữa giới chức trách nhiệm.










Quang cảnh điêu tàn của một phòng bên trong Tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ tại Benghazi, Libya, ngày 11 Tháng Chín, sau khi bị tấn công. (Hình: Ibrahim Alaguri/AP)


Các điện thư này cho hay là một nhóm phiến quân Libya, có tên Ansar al-Sharia, đã lên tiếng nhận trách nhiệm trong cuộc tấn công.


Các bức điện thư ngắn ngủi này cũng cho thấy các nhà ngoại giao Mỹ liên tục thông báo diễn tiến tình hình cho Washington biết, ngay cả trong khi cuộc tấn công đang diễn ra.


Ðại Sứ Mỹ Christopher Stevens và ba công dân Mỹ khác bị giết trong cuộc tấn công tại Benghazi, điều mà Tổng Thống Barack Obama và các giới chức chính quyền Mỹ khác sau cũng công nhận rằng đây là “hành động khủng bố” do thành phần phiến quân có liên hệ với al-Qaeda thi hành.


Các phát ngôn viên chính phủ Mỹ, kể cả phát ngôn viên Tòa Bạch Ốc Jay Carney, dựa vào một bản nhận định của CIA, trong nhiều ngày liên tiếp sau đó đã nói rằng cuộc tấn công là hành động tự phát của dân chúng phẫn uất về một cuốn phim báng bổ Hồi Giáo.


Ông Carney, hôm Thứ Tư đang tháp tùng Tổng Thống Obama trên chiếc Air Force One, tuyên bố rằng những emails nói trên không phải tài liệu mật, và đề cập đến những lời tuyên bố trên trang mạng xã hội.


Trong khi đó, Ngoại Trưởng Mỹ Hillary Rodham Clinton, khi tiếp xúc với các phóng viên tại Bộ Ngoại Giao, nói “Ủy Ban Duyệt Xét Trách nhiệm” do bà bổ nhiệm để điều tra các cuộc tấn công sẽ “nhìn vào tất cả mọi thứ,” chứ không chỉ “trích riêng một câu chuyện hay một tài liệu nào đó.” (V.Giang)

Cung cấp dịch vụ cai thuốc miễn phí trên toàn quốc

Trung Tâm Cai Thuốc Lá Cho Người Á Châu


 


Trung Tâm Cai Thuốc Lá Cho Người Á Châu (www.asiansmokersquitline.org), do trường đại học California, San Diego điều hành, đang cung cấp dịch vụ tư vấn qua điện thoại miễn phí cho người Trung Hoa, Ðại Hàn, và Việt Nam muốn cai thuốc lá, kể cả băng dán nicotine miễn phí dùng cho 2 tuần lễ.










(Hình: www.asiansmokersquitline.org)


Băng dán nicotine là một dược phẩm giúp cai thuốc lá hữu hiệu được Cơ Quan Kiểm Soát An Toàn Dược Phẩm và Thực Phẩm (FDA: Food and Drug Administration) chấp thuận.


Trung Tâm Cai Thuốc Lá Cho Người Á Châu là trung tâm đầu tiên đặc biệt giúp cho người Á Châu trên toàn quốc cai thuốc lá. Trung Tâm Cai Thuốc Lá California đã cung cấp những dịch vụ giúp cai thuốc lá từ năm 1992 và là trung tâm cai thuốc lá cho toàn tiểu bang đầu tiên của Hoa Kỳ. Hiện nay, cả 50 tiểu bang cung cấp dịch vụ cai thuốc lá tương tự bằng Anh ngữ nhưng ít có tiểu bang nào có khả năng cung cấp những dịch vụ giúp đỡ cai thuốc bằng tiếng Á Châu.


Sự hữu hiệu của những dịch vụ do Trung Tâm Cai Thuốc Lá Cho Người Á Châu cung cấp đã được xác nhận qua một cuộc nghiên cứu với hơn 2,200 người Á Châu tham dự. Những người tham dự đã được chọn một cách ngẫu nhiên để nhận tài liệu tự cai hoặc nhận tài liệu cùng với tư vấn qua điện thoại.


Tiến Sĩ Shu-Hong Zhu, giám đốc nghiên cứu, cho biết rằng “nhìn toàn bộ, tư vấn qua điện thoại làm gia tăng gấp đôi cơ may cai thuốc được thành công. Các nhóm tham dự người Trung Hoa, Ðại Hàn, và Việt Nam đều có tỷ lệ thành công cao nhờ được tư vấn qua điện thoại.”


Trung Tâm Kiểm Soát và Ngăn Ngừa Bệnh Tật (Centers for Disease Control and Prevention) chỉ tài trợ một lần cho những dịch vụ giúp người Á Châu trên toàn quốc cai thuốc.


Bác Sĩ Tim McAfee, giám đốc đặc trách về thuốc lá và sức khỏe của Trung Tâm Kiểm Soát và Ngăn Ngừa Bệnh Tật nói:


“Chúng tôi biết rằng tư vấn qua điện thoại là một phương pháp giúp cai thuốc lá hữu hiệu. Cung cấp những dịch vụ giúp cai thuốc lá bằng tiếng Á Châu sẽ giúp làm thay đổi nếp sống thường lệ và giảm thiểu tử vong vì thuốc lá trong các cộng đồng Á Châu.”


Ông Rod Lew, giám đốc điều hành Liên Hội Á Châu Thái Bình Dương về Ủy Quyền, Hỗ Trợ, và Lãnh Ðạo (Asian Pacific Partners for Empowerment, Advocacy and Leadership) phát biểu:


“Chúng tôi hoan nghênh Trung Tâm Kiểm Soát và Ngăn Ngừa Bệnh Tật cùng Trung Tâm Cai Thuốc Lá Cho Người Á Châu trong việc cung cấp những dịch vụ giúp cai thuốc lá bằng ngôn ngữ của người Á Châu. Nhiều cư dân Á Châu muốn cai thuốc lá nhưng họ không hiểu được những nguồn giúp đỡ bằng Anh ngư.ờ”


Ông nói thêm:


“Chúng tôi cũng hy vọng rằng cung cấp băng dán nicotine miễn phí sẽ thúc đẩy thêm nhiều người muốn thử cai thuốc lá.”


Trung Tâm Cai Thuốc Lá Cho Người Á Châu phối hợp với những tổ chức giúp đỡ người Á Châu trên toàn quốc để phát động một đời sống không lệ thuộc vào thuốc lá. Trung tâm cũng khuyến khích những tổ chức y tế giới thiệu những bệnh nhân nói tiếng Á Châu đến với dịch vụ cai thuốc lá miễn phí và hữu hiệu này.


Muốn biết thêm chi tiết hay muốn ghi tên tham dự vào chương trình này, xin vào trang mạng www.asiansmokersquitline.org hay gọi điện thoại từ Thứ Hai đến Thứ Sáu, 8 giờ sáng đến 9 giờ tối, giờ miền Tây Hoa Kỳ:


1-800-838- 8917 Tiếng Quảng Ðông và Quan Thoại


1-800-556-5564 Tiếng Ðại Hàn


1-800-778-8440 Tiếng Việt Nam


Liên lạc:


Joann Lee, DrPH


(858) 300-1023


[email protected]

Cảnh Sát Quận Cam thiêu hủy 501 khẩu súng



Thiên An/Người Việt


 


SANTA ANA (NV)- Phòng Hiện Vật và Tang Chứng (The Property and Evidence Bureau) của Sở Cảnh Sát Orange County tiến hành thiêu hủy 501 khẩu súng các loại. Số súng được thu giữ từ khắp Orange County trong nhiều năm, một số được giao nộp tại sở cảnh sát, một số khác bị tịch thu từ các vụ án, sẽ bị đốt chảy thành thép khối vào Thứ Năm, ngày 25 Tháng Mười năm 2012.










Trung sĩ Cảnh sát Steve Mitchell kiểm tra số súng trước khi tiến hành việc thiêu hủy. (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)


“Không giống với các sở cảnh sát khác, chúng tôi không bán các tang vật chứng tại Orange County. Các khẩu súng này dù có giá vài trăm đồng hay vài ngàn đồng, hay vô giá trị, chúng được thiêu hủy thay vì quay lại thị trường và có thể rơi vào tay các thành phần nguy hiểm.” Trung sĩ Cảnh sát Steve Mitchell cho biết.


Ðược buộc thành gần ba mươi bó súng các loại, 305 súng ngắn và 196 súng trường được nhân viên cảnh sát trang bị vũ trang canh gác cẩn thận trước khi được chuyển đến nhà máy thép cho việc thiêu hủy. Chi tiết của việc vận chuyển cũng như thông tin về nhà máy thép không được tiết lộ.


“Một nhà máy thép trong khu vực gần đây thôi, nhưng chúng tôi không thể cho quý vị biết nhiều hơn,” cảnh sát trưởng Sở Cảnh Sát Orange County, bà Sandra Hutchens, trả lời phóng viên báo Người Việt.


Phần lớn các khẩu súng trong đợt thiêu hủy này là từ người dân gửi tới sở cảnh sát. Số còn lại bị tịch thu từ các nơi buôn súng bất hợp pháp hay từ các vụ trộm cướp và tự sát. “Có vài ngàn khẩu súng được giữ làm tang vật chứng, chỉ một phần nhỏ được thiêu hủy lần này. Vật chứng các vụ án còn trong quá trình điều tra cần được giữ lại trong nhiều năm,” Steve Mitchell nói.


Khi một khẩu súng bị tịch thu, sở cảnh sát có 5 ngày để điều tra và nếu không phát hiện dấu hiệu khả nghi, chủ nhân khẩu súng có 90 ngày để nhận lại súng. Số súng không được nhận về sẽ được lưu trữ, ít nhất trong một năm, trước khi thiêu hủy.










Hơn 500 khẩu súng ngắn và súng trường được phân thành các loại. (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)


Cảnh sát cho biết những khẩu súng có giá trị nhất lần thiêu hủy này là do người dân nộp vào. “Một người gọi tới sở cảnh sát để nhờ thiêu hủy các khẩu súng mà ông của bà ta để lại. Khi đến nơi, chúng tôi bất ngờ khi thấy bộ sưu tập hàng trăm khẩu súng tại nhà bà,” cảnh sát Jim Amormino cho biết.


Ðể bán một khẩu súng cho người mua, cửa hàng gửi tên và hồ sơ của khách hàng để tiểu bang xét duyệt theo luật. Trong hai tuần nếu không có sự từ chối của tiểu bang, cửa hàng có toàn quyền giao súng cho người mua. Ðó là tại các tiệm buôn bán súng tuân theo luật mới nhất của tiểu bang và của Hoa Kỳ. Lượng súng được mua bán giữa các cá nhân thường không được khai báo với sở cảnh sát.


“California không có luật về sở hữu và mua bán súng trong suốt một thời gian dài. Số súng được lưu hành trước đây và số súng bất hợp pháp nằm ngoài số liệu thống kê của sở cảnh sát,” viên cảnh sát Steve Mitchell cho biết. Cảnh sát Jim Amormino nói thêm, “Nhiều bộ sưu tập súng của người dân Orange County có thể làm ngạc nhiên bất kỳ viên cảnh sát nào.”


Những năm gần đây, thị trường súng ống tại Hoa Kỳ phát triển mạnh. Tại Hoa Kỳ, một đất nước có lượng súng ngang ngửa lượng dân, việc sở hữu và mua bán súng là một đề tài gây nhiều tranh cãi không chỉ trong các cuộc thảo luận chính trị, mà còn là một vấn đề được số đông người dân quan tâm. Khi được hỏi về tình hình súng ống hiện nay, Steve Mitchell nói, “Bản thân tôi không có ý kiến về việc này. Nhưng quả thật việc mua bán súng ở Hoa Kỳ là dễ dàng so với nhiều nước khác. Người dân Hoa Kỳ có truyền thống ủng hộ quyền tự do sở hữu súng ống.”










Báo giới từ Orange County và các khu vực lân cận đến sở cảnh sát từ Thứ Tư để theo dõi việc thiêu hủy súng. (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)


Không phải tất cả các khẩu súng bị tịch thu đều bị thiêu hủy. “Khẩu súng tôi được giao là một trong các khẩu súng thu từ một vụ án. Chúng tôi giữ các loại súng ngắn phù hợp với sở cảnh sát để tái chế, tiết kiệm một phần ngân sách cho Orange County,” Steve Mitchell nói về sở cảnh sát nơi ông đang làm việc.


Vài năm một lần, Sở Cảnh Sát Orange County tổ chức sự kiện thiêu hủy súng. Lần thiêu hủy gần đây nhất là vào năm 2010. “An toàn của người dân sẽ được củng cố khi số súng này chắc chắn không trở lại vào tay các thành phần nguy hiểm,” Cảnh Sát Trưởng Sandra Hutchens phát biểu.

Thêm một người Tây Tạng tự thiêu phản đối Trung Quốc


BEIJING (AP) –
Một nông dân Tây Tạng vừa thiệt mạng sau khi tự thiêu ở vùng Tây Bắc Trung Quốc, vụ tự thiêu thứ nhì gần tu viện Labrang Monastery trong liên tiếp hai ngày và là vụ mới nhất trong hàng chục vụ tự thiêu của người dân Tây Tạng nhằm phản đối sự cai trị của chính quyền Trung Quốc.









Ông Dorje Rinchen, một nông dân ở tuổi ngũ tuần, chạy trên con đường chính ở quận Xiahe thuộc tỉnh Gansu sau khi châm lửa tự thiêu để phản đối sự cai trị của chính quyền Trung Quốc, đã chết sau đó. Ðây là vụ tự thiêu thứ hai trong hai ngày liên tiếp gần Tu viện Labrang, thuộc quận Xiahe. (Hình: AP Photo)


Tu viện Labrang, nằm trong quận Xiahe thuộc tỉnh Gansu, là một trong những tu viện danh tiếng nhất của Phật Giáo Tây Tạng bên ngoài lãnh thổ Tây Tạng, và cũng là nơi xảy ra nhiều vụ tự thiêu của các nhà sư tiếp theo cuộc nổi dậy năm 2008 chống lại chế độ Bắc Kinh.


Tổ chức International Campaign for Tibet, có trụ sở đặt tại Washington, cho hay trong điện thư gửi đến báo chí rằng ông Dorje Rinchen, một nông dân ngoài 50 tuổi, đã tự thiêu hôm Thứ Ba trên con đường chính ở Xiahe vào trưa ngày Thứ Ba, và chết sau đó. Tân Hoa Xã, cơ quan thông tấn nhà nước Trung Quốc, cũng loan báo tin một người đàn ông 58 tuổi tự thiêu, nhưng không cho biết tên.


Hàng chục người dân Tây Tạng đã tự thiêu từ Tháng Ba năm 2011 ở các vùng có đông đảo dân Tây Tạng sinh sống để phản đối sự đàn áp và âm mưu đồng hóa của nhà cầm quyền Trung Quốc. Hôm Thứ Hai, một người khác cũng đã tự thiêu gần tu viện Labrang. (V.Giang)

Triết lý tự do, chủ nghĩa phát xít và độc tài cộng sản

Những ngã rẽ bất ngờ của một chữ tự do


 


Hùng Tâm/Người Việt


 


Tiếp theo kỳ trước, về nội dung của chữ “liberal” hay “liberalism,” kỳ này “Hồ Sơ Người-Việt” đi sâu hơn vào cội nguồn của chữ tự do để nói về những biến chứng tai hại của chủ nghĩa tự do hay các lý luận khai thác chữ tự do, trong đó có các chế độ độc tài và chủ nghĩa “libertarian” rất đặc thù tại Hoa Kỳ.


 


Triết lý tự do


 


Cùng một khái niệm tự do khi bổ dọc theo lằn ranh kinh tế và luân lý, người ta có thể phân biệt hai cánh tả và hữu tại Hoa Kỳ – chúng ta đã thấy qua chuyện này trong hồ sơ tuần trước.


Cánh hữu chủ trương bảo vệ quyền tự do của công dân đối lập với nhà nước và muốn thu hẹp vai trò của chính quyền để mở rộng không gian sinh hoạt của người dân và vì vậy mới đòi quyền tự do kinh tế, muốn giảm thuế và giản lược bộ máy hành chánh công quyền. Cánh tả thì nhân danh một thứ tự do khác, không chỉ là tự do được quyền làm việc này việc kia, mà còn là tự do tiêu cực, là không để bị áp chế vì sự nghèo đói. Vì vậy họ đòi hỏi công bằng xã hội và hạn chế tự do thị trường, đôi khi còn đối lập với chủ nghĩa tư bản.


Từ cách suy diễn khác nhau của triết lý tự do, nhưng xẻ ngang trên trục kinh tế và xã hội, người ta thấy ra hai vế đối lập của phát triển kinh tế và công bằng xã hội.


Phe hữu đề cao phát triển và muốn sản xuất ngày càng nhiều của cải tài sản để chất lên cỗ xe kinh tế quốc gia. Cánh tả thì coi trọng công bằng xã hội nên muốn tái phân phối lợi tức từ cỗ xe đó cho người nghèo, gọi đấy là “redistribution.” Trong cuộc tranh cử năm nay, khác biệt này gây tranh luận gay gắt vì kinh tế không phát triển, cỗ xe tài sản gần cạn, lợi tức trung bình của người dân sa sút trong khi số người nghèo phải lãnh phiếu lương thực lên tới mức kỷ lục là 47 triệu.


Khi đã có tranh luận là phải nói đến sự cường điệu. Phe hữu thực dụng thì bị đả kích là chỉ để ý đến kinh tế và bảo vệ quyền lợi của nhà giàu và rơi vào chế độ cai trị của trọc phú – plutocracy. Cánh tả lý tưởng thì bị phê phán là vô trách nhiệm khi sử dụng công quỹ và tăng chi bừa phứa để lập nên một nhà nước phúc lợi hay vú em (welfare state) nhờ chế độ bao cấp.


Chi tiết rắc rối mà ít được đa số chú ý là khi khai triển hai hướng lý luận này đến tận cùng, một cách cực đoan, thì chúng ta gặp chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa cộng sản, hai biến chứng tai hại của cùng một khái niệm tự do. “Hồ Sơ Người-Việt” sẽ đề cập đến sự gặp gỡ bất ngờ đó ở phần cuối.


 


Chủ nghĩa tự do trong ngoại giao và ngoại thương


 


Trong lãnh vực đối ngoại, triết lý chính trị gọi là chủ nghĩa tự do cũng dẫn đến hai ngã rẽ.


Thời Chiến Tranh Lạnh giữa hai khối Tự Do và Cộng Sản, vì lý tưởng dân chủ và nhân quyền cánh tả có lập trường chống Cộng rất mạnh chẳng kém gì cánh hữu, (xin hãy nhớ đến các Tổng Thống Dân Chủ John Kennedy hay Jimmy Carter, hoặc trước đó, Woodrow Wilson và Harry Truman).


Ngày nay, với trường hợp Trung Quốc, người ta cũng chứng kiến điều tương tự. Nhân danh tự do cá nhân, cánh tả tấn công Bắc Kinh tội kiểm duyệt thông tin, vi phạm nhân quyền hoặc bóc lột sức lao động của phụ nữ, thiếu nhi và tù nhân. Ðặc biệt quan tâm đến khía cạnh môi sinh, cánh tả cũng đả kích Trung Quốc về tội gây ô nhiễm môi trường.


Nhân danh tự do kinh tế và quy luật thị trường, cánh hữu đả kích Trung Quốc hạn chế tự do, kể cả tự do tín ngưỡng, kiểm soát hối đoái và quản lý kinh tế bằng hệ thống doanh nghiệp nhà nước. Cũng từ cánh hữu, chủ trương bảo vệ luân lý và chống phá thai thì phê phán chánh sách kiểm soát dân số, triệt sản, phá thai và sát hại thai nhi phái nữ. Ngoài ra, vì quan tâm đến quyền lợi an ninh của nước Mỹ, cánh hữu thường báo động về mối nguy bành trướng của Trung Quốc.


Nếu gác qua một bên loại lý luận có vẻ tuyên truyền trong mùa bầu cử thì thật ra hai phe tả hữu chẳng có quá nhiều dị biệt và đều lấy chủ nghĩa tự do làm nền tảng tư tưởng.


Trường hợp thứ hai là khác biệt về ngoại thương hay mậu dịch và chúng ta nên chú ý đến từ ngữ, sự dị biệt giữa “free trade” (tự do mậu dịch) và “fair trade” (mậu dịch công bằng).


Nhân danh tự do thị trường, cánh hữu đề cao tự do ngoại thương như một động lực của phát triển và chủ trương là nhà nước và các nước không can thiệp vào hối suất, giảm thiểu thuế suất đánh trên hàng hóa giao dịch và không đặt ra chế độ hạn ngạch hay quota. Ða số cánh tả cũng chủ trương tự do mậu dịch trên lý thuyết, nhưng còn đòi hỏi sự công bằng để bảo vệ quyền lợi của công nhân viên Hoa Kỳ và họ gọi đó là “fair trade.”


Vì vậy, chính quyền George W. Bush đã thương thuyết và ký kết thỏa ước tự do mậu dịch với Nam Hàn, Colombia hay Peru từ năm 2007 theo thủ tục “fast track” – thủ tục nhanh gọn để Quốc Hội phê chuẩn trọn gói mà khỏi phải xin chấp nhuận từng khoản. Nhưng các thỏa ước đó bị Quốc Hội chặn trong nhiều năm do áp lực bảo hộ mậu dịch (protectionism) bên cánh tả và hiệp định với Nam Hàn đã phải tu chính lại rồi mới được phê chuẩn năm ngoái.


Trên đại thể thì đã rắc rối như vậy, thực tế còn phức tạp hơn.


Phe cực đoan bên cánh hữu lại nhân danh quyền lợi và thể thống quốc gia lẫn chủ nghĩa tự cô lập (isolationism – nước Mỹ ưu tiên lo cho dân Mỹ và không can thiệp vào chuyện thế giới) mà ngăn chặn tự do mậu dịch và nhiều hoạt động có tính chất quốc tế, kể cả viện trợ cho các nước nghèo hoặc góp tiền cho Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế. Bên cánh tả, phe cực đoan đề cao chế độ bảo hộ mậu dịch để bảo vệ công nhân và nghiệp đoàn và đòi các nước giao thương với Hoa Kỳ phải áp dụng tiêu chuẩn tương tự như Hoa Kỳ về môi sinh hay quyền lợi lao động.


Rốt cuộc thì các đạo luật về tự do ngoại thương chỉ được Quốc Hội phê chuẩn với lá phiếu của đa số trung dung trong cả hai đảng Dân Chủ và Cộng Hòa. Thí dụ là Hiệp ước Tự do Mậu dịch Bắc Mỹ NAFTA thành hình năm 1992 thời ông Bill Clinton, hoặc các hiệp định tự do mậu dịch với Nam Hàn hay Colombia mới được Quốc Hội phê chuẩn năm ngoái là nhờ lá phiếu Cộng Hòa nay đã chiếm đa số trong Hạ Viện sau cuộc bầu cử năm 2010.


 


Tự do là quyền chọn lựa


 


“Hồ Sơ Người-Việt” tránh đi vào nhiều chi tiết quá trừu tượng về triết lý của tự do hay chủ nghĩa tự do mà chỉ muốn nhấn mạnh rằng từ xuất xứ là Âu Châu, khái niệm này đã trở thành phổ quát trên thế giới nhưng lại mang nội dung khác biệt do cái quyền chọn lựa của từng người về yếu tố quan trọng nhất trong tự do.


Khởi đi từ Âu Châu, khái niệm tự do đã trước hết bị/được lồng vào các vấn đề đặc thù Âu Châu, trong đó có vai trò của giáo quyền, sự ra đời của chủ nghĩa cộng sản và sự hiện hữu của chế độ cộng sản. Vì thế, tự do được hiểu trong tinh thần tích cực bảo vệ tự do cá nhân về cả hai mặt tôn giáo (tự do đối với giáo quyền) và kinh tế (tự do đối lập với chế độ kinh tế chỉ huy của cộng sản). Ý nghĩa đó trở thành phổ biến nhất trên toàn cầu nên các đảng phái hay khuynh hướng mang tên Tự Do đều thuộc cánh hữu hoặc trung hữu, như tại Anh, tại Úc hay tại Nhật.


Ngược lại, tại Hoa Kỳ thì thế lực có thể đe dọa tự do của người dân lại không là chế độ cộng sản mà là tư bản, hoặc sự quá đáng của thị trường. Vì vậy, khuynh hướng có tinh thần giới hạn chủ nghĩa tư bản và quy luật thị trường mới tự xưng là tự do, liberal. Khi đọc hay phiên dịch các bản tin có những từ như tự do hay chủ nghĩa tự do, chúng ta nên thận trọng xét đến nội dung của nhận thức hoặc vấn đề tại từng nước để tránh hiểu sai. Thí dụ như lý luận “kinh tế tự do” Âu Châu lại gần với quan điểm bảo thủ của đảng Cộng Hòa tại Hoa Kỳ và xu hướng gọi là tự do của đảng Dân Chủ tại Hoa Kỳ lại gần với các đảng Xã Hội hay Lao Ðộng Âu Châu.


Ðể tổng kết cho dễ nhớ thì xin quý độc giả mường tượng ra một đồ biểu hình quả trám có bốn góc như sau:


Bên tay phải là vị trí của đa số đảng viên Cộng Hòa với chủ trương bảo thủ về luân lý và tự do về kinh tế, càng ở về bên phải thì càng bảo thủ. Bên trái là vị trí của đa số đảng viên Dân Chủ với chủ trương tự do về luân lý nhưng can thiệp về kinh tế, càng ở bên trái thì càng can thiệp mạnh. Ở giữa, vùng có dấu thập là khuynh hướng trung dung, nơi tiếp cận và hợp tác của hai đảng trong các quyết định căn bản nhất và được đa số tả hữu chấp nhận nhờ sự đổi chác và tương nhượng.


Trong mọi cuộc tranh cử, các ứng cử viên đều chuyển dịch lập trường từ ngoài vào trong, từ quan điểm thiên tả hay hữu khuynh nhất để tranh thủ thành phần cử tri nòng cốt của mình. Khi đảm bảo được hậu thuẫn đó rồi để có triển vọng đắc cử ở vòng sơ bộ, họ nghĩ đến giai đoạn kế tiếp là cầm quyền. Muốn cầm quyền thì phải có hậu thuẫn của đa số chứ không chỉ từ thành phần trung kiên của mình. Khi ấy, các ứng cử viên mới bày tỏ tinh thần hòa hoãn và lập trường trung dung hơn. Họ ngả dần vào giữa, phía Dân Chủ về bên phải, và Cộng Hòa về bên trái.


Cũng trên đồ biểu này, góc dưới là các khuynh hướng cực đoan giảm thiểu tự do. Từ cánh hữu xuống là các chế độ phát xít, có một chút tự do kinh tế nhưng toàn trị về tư tưởng. Từ cánh tả xuống là các chế độ cộng sản hoặc cộng sản tự xưng danh xã hội chủ nghĩa, cũng có cái thế đối lập với tôn giáo để giải phóng con người, nhưng thật ra kiểm soát về cả kinh tế lẫn tư tưởng.


Ở góc trên mới là thành phần độc đáo nhất: đó là khuynh hướng tự do tuyệt đối mà Hoa Kỳ gọi là “libertarian.”


 


“Libertarian” là gì?


 


Chúng ta có thể gọi đó là “chủ nghĩa tự do tuyệt đối” hoặc “vô vi” vì trào lưu chính trị này chủ trương là nhà nước phải ít can thiệp, là người dân phải có tối đa quyền tự do về cả luân lý, xã hội lẫn kinh tế. Xu hướng này bảo vệ mọi quyền tự do của xã hội.


Hôn nhân đồng tính, phá thai, tự do thông tin hay nghệ thuật hoặc hút cần sa, v.v… là loại dân quyền thiêng liêng của cá nhân mà nhà nước không được ngăn cấm. Trong tinh thần đó, họ gần với cánh tả phóng túng của đảng Dân Chủ.


Xu hướng này cũng đòi giảm thiểu sự can thiệp của chính quyền vào kinh tế. Bộ máy nhà nước phải tinh giản, ngân sách chiếm tỷ trọng tối thiểu với thuế suất đồng hạng càng thấp càng tốt. Trong tinh thần đó, phe “libertarian” lại gần với xu hướng tự do kinh tế bên đảng Cộng Hòa.


Nhưng độc đáo nhất là tinh thần bất can thiệp trên cả địa hạt quốc tế.


Triết lý “libertarian” chống lại các hiệp định tự do mậu dịch, các liên minh quốc tế và đòi quyền tự do cư trú cho di dân từ bên ngoài vào. Họ có sắc thái chủ hòa hay phản chiến như cánh cực tả trong đảng Dân Chủ và đến độ tự cô lập như cánh cực hữu đảng Cộng Hòa. Họ cho là Hoa Kỳ không nên can thiệp vào chuyện quốc tế, chỉ bất đắc dĩ khai chiến khi quyền lợi sinh tử bị đe dọa, chứ không có quyền áp đặt tư tưởng tự do hay dân chủ của mình cho xứ khác! Và Hoa Kỳ cũng không thể bị quốc tế ràng buộc vào những cam kết vô ích.


Sau hai đảng lớn là Cộng Hòa và Dân Chủ, chính đảng thứ ba có ảnh hưởng nhất và đang bành trướng mạnh chính là đảng “Libertarian.” Nhiều phần tử trong phong trào Tea Party thấy gần gũi với đảng này và đả kích đảng Cộng Hòa là xa dần lý tưởng tự do của nước Mỹ mà cùng đảng Dân Chủ góp phần bành trướng vai trò của chính quyền với sưu cao thuế nặng và gây bội chi ngân sách!


 


Kết luận ở đây là gì?


 


Tự do cũng có ý nghĩa là quyền chọn lựa và sự đòi hỏi phải tôn trọng quan điểm của người khác. Ðây là điều không trừu tượng vô ích mà là cần thiết. Trước khi nói đến dân chủ hay tự do, ta phải nói đến một điều kiện khác, đó là sự khiêm tốn chấp nhận ý kiến người khác.


Xã hội cởi mở là xã hội không có chân lý độc tôn. Sự cởi mở là điều kiện không thể thiếu để có dân chủ. Hoa Kỳ là một xã hội cởi mở vì là nơi mà người ta có quyền tự do tranh luận về mọi chuyện, kể cả về nội dung của tự do. Từ thực tế đó, khái niệm tự do vào đến Hoa Kỳ đã bị đảo lộn và có những ý nghĩa trái ngược với quan niệm phổ biến của thế giới, xuất phát từ Âu Châu.


Ðã vậy, chủ nghĩa tự do hay “liberal” như triết lý chính trị của cánh tả và chủ nghĩa tự do bảo thủ của cánh hữu còn bị thách đố bởi một chủ nghĩa tự do tuyệt đối hơn, chủ nghĩa “libertarian.”


Hoa Kỳ không là quốc gia đơn giản!

Giới chức lập pháp Mỹ đòi chấm dứt mua quân phục nước ngoài

 


WASHINGTON (AirForce Times) – Một nhóm các nhà lập pháp ở cả hai đảng tại Quốc Hội Mỹ nay đang đòi hỏi Bộ Quốc Phòng chấm dứt mua quân phục làm tại ngoại quốc để cấp cho các quân nhân.










Quân phục của quân nhân Hoa Kỳ đa số sản xuất ở trong nước. (Hình: AFP/Getty Images)


Bộ Quốc Phòng hiện phải mua quân phục và giày chế tạo 100% ở Mỹ, dù rằng cũng có một số trường hợp ngoại lệ. Nhưng có nhiều nhân viên trách nhiệm việc mua hàng cho quân đội không tuân theo điều này và cũng có một số quân nhân tự bỏ tiền mua quần áo họ muốn thay vì dùng các món do quân đội cấp phát.


Các nhà lập pháp ở các vùng có nhiều công ty may đang thúc đẩy phải thi hành chặt chẽ lệnh mua 100% hàng Mỹ này và không mua từ các công ty ngoại quốc.


Vấn đề này gây sự chú ý thời gian gần đây khi một quân nhân Không Quân Mỹ từ chối nhận giày làm ở Trung Quốc và được cho hay là chỉ có giày này để cấp phát mà thôi. (V.Giang)

Dân quân Libya chiếm cựu cứ địa của Gadhafi


BANI WALID, Libya (AP) –
Thành phần dân quân thân chính phủ Libya vừa chiếm được trung tâm một thành phố từng được coi là cứ địa sau cùng của nhà độc tài Moammar Gadhafi, tiếp theo các cuộc đụng độ dữ dội khiến hàng chục người thiệt mạng và hàng chục ngàn người khác phải rời bỏ nhà cửa đi lánh nạn.









Một người trong nhóm nổi dậy kéo zipper của một bao chứa xác 1 trong 30 lính trung thành của Gadhafi bị giết tại Sirte, Libya trong cuộc đụng độ Tháng Mười năm ngoái. (Hình: Manu Brabo/AP)


Giới truyền thông hiện diện tại Bani Walid, cách thủ đô Tripoli chừng 140 km về phía Ðông Nam, nhìn thấy các tay súng dân quân bắn chỉ thiên chào mừng việc chiếm được nơi này hôm Thứ Tư. Các cột khói bốc cao ở khu vực bên ngoài phi trường, nơi các cuộc giao tranh vẫn còn tiếp diễn dù rằng có bản thông cáo của chính phủ cho hay hoàn toàn kiểm soát nơi này.


Nguồn tin từ cơ quan thông tấn nhà nước Libya hôm Thứ Ba cho biết có 13,000 gia đình đã phải di tản vì chiến cuộc.


Bani Walid từng là cứ địa vững chắc sau cùng của thành phần thân chế độ Gadhafi trong suốt thời gian tám tháng có cuộc nổi dậy và ngay cả sau khi chế độ bị lật đổ. (V.Giang)

Sau tranh luận lần thứ 3: Cử tri gốc Việt quyết định thế nào?

TS Ðinh Xuân Quân


 


Sau các cuộc tranh luận giữa hai ứng viên tổng thống, bây giờ cử tri Hoa Kỳ trong đó có người Mỹ gốc Việt đã thấy rõ lập trường hai bên. Thực ra các ứng cử viên đã đề cập tới quá nhiều vấn đề, về kinh tế, thất nghiệp, nợ công, hàng triệu nhà bị nhà băng xiết, chuyển hướng về Á Châu, v.v… trong đó có khi họ nói sai hay thay đổi lập trường đã tuyên bố từ trước.


Vài ví dụ ông Obama nói sai: Về lao động – “Sau 10 năm phải sa thải bớt công nhân, nước Mỹ đã tạo được nửa triệu việc làm cho các ngành kỹ nghệ.” Không đúng: từ năm 2009, nước Mỹ sa thải khoảng 1 triệu công nhân làm việc cho các nhà máy, bây giờ mới có một nửa có việc làm trở lại. Về phá thai – “Cả hai ông Romney và Ryan đều muốn hủy bỏ luật cho phụ nữ được quyền phá thai, kể cả trường hợp mang thai vì bị hiếp hay loạn luân.” Không đúng: Ông Romney chấp nhận cho những phụ nữ bị hiếp hay loạn luân được quyền phá thai.


Vài ví dụ ông Romney nói sai: Kinh tế – “Chúng ta chỉ còn vài inch nữa là sẽ trở thành một quốc gia không có nền kinh tế tự do.” Không đúng: phúc trình do viện nghiên cứu The Heritage Foundation của phe Cộng Hòa cho biết Hoa Kỳ là một trong 10 quốc gia có nền kinh tế tự do vững chắc nhất thế giới, hơn cả những cường quốc kinh tế khác như Nhật, Ðức và Anh. Y tế: “Kế hoạch tốn cả ngàn tỉ đô la để chính phủ liên bang kiểm soát hệ thống y tế mà ông Obama thực hiện là kế hoạch gây thảm họa.” Không đúng: nhiều điều khoản trong đạo luật y tế “Obamacare” đang được tranh cãi, nhưng không hề có chuyện chính phủ liên bang kiểm soát hệ thống y tế. Thương mại: “Chúng ta phải mở rộng thị trường để bán hàng hóa. Ông Obama không mở rộng được thị trường cho nước Mỹ.” Không đúng: chính phủ Obama ký hiệp ước thương mại với Colombia, Panama và Nam Hàn.


Tham gia bầu cử là quyền lợi và nghĩa vụ của mọi người dân, vậy người Mỹ gốc Việt sẽ bầu cho ai? Bài này sẽ cố gắng phân tích lập trường của hai ứng cử viên Thống Ðốc Romney (CH) và Tổng Thống Obama (DC) hầu giúp cử tri sử dụng lá phiếu của mình một cách tốt nhất.


Tiêu chuẩn:


Các tiêu chuẩn chọn lựa cho các vấn đề quốc nội là kinh tế, thuế, an sinh xã hội, giáo dục, xem chủ trương nào giúp cộng đồng chúng ta nhiều hơn, trong khi về đối ngoại liệu chính sách ngoại giao sẽ thiên về Á Châu hay thiên về Trung Ðông?


 


Phân tích các vấn đề chính trong cuộc bầu cử tháng 11







Phân tích đối nội


Về kinh tế: TT Obama thừa hưởng nền kinh tế với quá nhiều khó khăn và đang cố gắng vượt qua những khó khăn. Ông đầu tư vào giáo dục, đào tạo, và cắt giảm thuế là con đường hữu hiệu nhất cần theo đuổi.


Phe Cộng Hòa – TÐ Mitt Romney nói rằng nước Mỹ phải chọn một con đường khác. Ông nói rằng các kế hoạch của ông bao gồm cả việc gia tăng sản xuất năng lượng, mở cửa hơn nữa cho giao thương quốc tế, đào tạo nhiều hơn nữa, cân bằng ngân sách và hỗ trợ cho sự phát triển doanh nghiệp nhỏ. (Xin xem bảng so sánh).


Về thuế trong một quốc gia tự do dân chủ và công bằng thì người giàu nên đóng góp nhiều và người nghèo đóng góp ít.


Lập trường DC về thuế là giảm thuế cho giới trung lưu và tăng thuế cho người giàu để giảm bội chi ngân sách (deficit). Ða số các gia đình Mỹ gốc Việt (theo Census 2010) có lợi tức thấp hay trung bình thì chủ trương của DC có phần có lợi cho mình.


Lập trường CH ông Romney hứa không tăng thuế, hơn nữa có thể giảm, với tỷ lệ thuế ở mức 20%. Trung tâm “non-partisan Tax Policy Center” cho là như thế nhà giàu lợi nhiều hơn.


Về an sinh xã hội, ông Romney nay hứa không thay đổi chương trình An Sinh XH (khác với khi tranh cử sơ khởi), hứa bỏ Obama care (ACA) và các thế hệ dưới 50 có quyền chọn. Theo Census 2010 thì trên 20% gia đình Mỹ gốc Việt còn tùy thuộc vào An Sinh Xã Hội vì còn lợi tức thấp. Thành phần này được hưởng Housing, SSI, Medicare, Medical, v.v. tùy thuộc vào trợ cấp của chính phủ liên bang. Nhưng phải nói là còn nhiều lạm dụng về Housing, SSI, v.v… và cộng đồng chúng ta cũng không ngoại lệ.


Tóm lại, về quốc nội Obama thiên về giáo dục, an sinh xã hội, hạ tầng cơ sở trong khi Romney thiên về giảm thuế và chương trình của ông không rõ và không mấy thuyết phục và sẽ gây nợ công.


 


Phân tích đối ngoại


 


Chính sách mới về ngoại giao – (Chính sách này cho là Saddam Hussein, Ghadafi hay Assad là độc tài. Nhưng cũng công nhận là các chế độ thay thế “chưa chắc là khá hơn” do đó Hoa Kỳ công nhận chính dân chúng của các nước liên hệ phải có trách nhiệm thay đổi, hoặc nếu cần chính các nước trong vùng phải can thiệp.) Các nước như Lybia hay tại Syria không đe dọa Mỹ cho nên không có lý do để Mỹ can thiệp trực tiếp, mà chỉ làm một cách gián tiếp qua NATO, (ủng hộ Pháp, Anh giải quyết Lybia), hay yểm trợ Thổ Nhĩ Kỳ và Ả Rập về Syria.


Theo thuyết này thì khi Iran xây dựng vũ khí hạt nhân sẽ dọa Israel. Hoa Kỳ sẽ không gây chiến đánh Iran hay giúp Israel đánh Iran. Mỹ chỉ dùng khí giới gián tiếp là kinh tế-cấm vận để áp lực Iran. Mỹ sẽ can thiệp quân sự trong trường hợp không làm gì khác được.


Với chính sách ngoại giao này, Mỹ đã chuyển về Á Châu và sẽ rút khỏi Âu Châu trong 10 năm tới.


Tại Á Châu, Mỹ “tuyên bố chuyển hướng.” Mỹ đã thay đổi chính sách đối với Trung Quốc trong việc tranh chấp tại Biển Ðông và Hoa Ðông, muốn nói “thẳng thừng” với Trung Quốc về các “giới hạn.” Quốc Hội Hoa Kỳ đã ra một nghị quyết năm 2011, chỉ trích việc Trung Quốc sử dụng võ lực tại Biển Ðông, kêu gọi giải pháp hòa bình, đa phương cho các tranh chấp ở Ðông Nam Á.


Ðầu năm 2012, Tổng Thống Barack Obama đã công bố chiến lược quốc phòng mới của Hoa Kỳ. Hướng chủ đạo của chiến lược này là duy trì sức mạnh của quân đội Mỹ tại Á Châu-Thái Bình Dương. Bản phúc trình của Pentagon nêu các ưu tiên cho Á Châu. Chiến lược quân sự của Hoa Kỳ nhắm vào Trung Quốc là nước đang thách thức vai trò siêu cường Hoa Kỳ đang nắm giữ. TT Obama nhắc Hoa Kỳ sẽ sử dụng tất cả các phương tiện quân sự, ngoại giao, phát triển kinh tế, tình báo và an ninh quốc nội cho mục tiêu này.


Hiện nay Hoa Kỳ đã để các đồng minh như Philippines, Nhật và Nam Hàn chơi quân cờ của họ trong các vùng biển trong khi Hải Quân Hoa Kỳ “có thể” can thiệp. Mỹ khuyến khích Philippines, Nhật và các nước trong vùng giúp đỡ nhau trong thế liên hoàn – và Mỹ đứng đàng sau. Ví dụ hiện nay Hạm Ðội Thái Bình Dương Hoa Kỳ cho biết là hàng không mẫu hạm (HKMH) USS G. Washington đang ở Biển Ðông trong khi một hàng không mẫu hạm USS John C. Stennis cũng đang tiến hành các hoạt động ở biển Hoa Ðông. Hai HKMH này phô trương sức mạnh Hoa Kỳ trên các vùng biển đã trở thành một trọng điểm trong chính sách đối thủ chiến lược của Washington đối với Bắc Kinh.


Tại Virginia Military Institute – Thống Ðốc Romney chỉ trích chính quyền Obama, và đòi thay đổi chính sách ngoại giao tại Trung Ðông nhưng không đưa ra nhiều chi tiết. Ông Romney cho là TT Obama thiếu lãnh đạo – không giúp phe nổi dậy Syria. (Hè 2012 Thống đốc Romney tuyên bố nghiêng về Israel. Nay thay đổi lập trường chấp nhận chính sách của chính phủ Mỹ công nhận hai nước Palestine và Israel sống chung hòa bình. Ông Romney muốn tăng cường quốc phòng.)


Trong tranh luận kỳ 3 – ông Romney thay lập trường, cho nên hiện nay chủ trương về Trung Ðông hai bên gần giống như nhau.


Theo khảo cứu của Pew Research Center – thì 45 % dân cho là chính sách của TT Obama đối với TQ không đủ mạnh trong khi đa số chuyên gia cho là đủ. TT Obama “mềm dẻo” dùng ngoại giao nhưng cũng không “ngần ngại sử dùng quân đội – sức mạnh” để bảo vệ lợi ích của Mỹ. Chính sách ngoại giao và quân sự của TT Obama cho thấy quan tâm đặc biệt của ông này đối với Á Châu – một quan tâm mà các phe thân Israel đang chỉ trích trong bầu cử vào tháng 11 này.


 


Nói tóm về vấn đề quốc ngoại ông Obama thiên về Á Châu, tránh chiến tranh (vì chi tiêu chiến tranh đã làm nước Mỹ kiệt quệ), nhưng có chính sách “bàn tay sắt bọc nhung,” trong khi ông Romney thiên về Trung Ðông, nói tăng chi phí quốc phòng nhưng chưa thấy ông nói cụ thể sẽ làm gì.


 


Thượng nghị sĩ và dân biểu liên bang hay tiểu bang


 


Dân Mỹ sẽ không những bầu TT mà còn đi bầu TNS và DB và các đại diện ở cấp tiểu bang và cấp quận hay thành phố. Các vị này sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới các luật lệ quốc nội và các chính sách quốc ngoại của chính phủ Mỹ.


Tiêu chuẩn đánh giá TNS và DB hay chính quyền địa phương sẽ dựa trên việc ủng hộ các ưu tư người Mỹ gốc Việt (các vấn đề về nhân quyền, dân chủ và Biển Ðông). Ví dụ dân biểu Sanchez (DC) của quận Cam ủng hộ nhân quyền tại VN trong khi dân biểu Ed Royce (CH) ủng hộ đài Á châu Tự do – RFA hay nghị quyết về Biển Ðông, v.v… Yếu tố đảng phái không quan trọng bằng việc ủng hộ lập trường của cử tri người Việt.


 


Tạm kết


 


Theo tác giả các tiêu chuẩn quốc nội có thể là công ăn việc làm, giáo dục cho con em và an sinh xã hội trong khi về đối ngoại thì phải nhằm đến việc chú ý vào VN.


Ðối với dân biểu ở cấp liên bang hay tiểu bang là các vị dân cử trực tiếp giúp đỡ như đưa Việt Nam trở lại danh sách CPC (vì đàn áp tôn giáo) hoặc vận động Quốc Hội thông qua Dự Luật Nhân Quyền, hay về Biển Ðông v.v.), nếu họ giúp giải quyết các ưu tư của người Việt chúng ta sẽ dồn phiếu cho họ không phân biệt đảng phái.


Cử tri hãy chọn lựa theo lời hai ứng viên: ông Obama – chấm dứt hai cuộc chiến tranh tốn kém, chuyển trọng tâm về Á Châu và xây dựng trở lại nền kinh tế suy sụp từ thời tổng thống tiền nhiệm trong khi ông Romney muốn tranh đua, hứa xây dựng kinh tế và thiên về Israel nhiều hơn. Chúng ta sẽ dồn phiếu cho người nào giải quyết các ưu tư của chúng ta (giáo dục, an sinh xã hội, kinh tế, chính sách ngoại giao).


Cuộc bầu cử này là cuộc bầu cử quan trọng nhất của thập niên và lá phiếu của cử tri Mỹ gốc Việt rất quan trọng.


Cần phải bầu – dùng lá phiếu một cách tối ưu. Phải suy nghĩ kỹ vì nó sẽ ảnh hưởng đến chúng ta và con cái chúng ta trong 4 năm tới.

Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí

 


Luật Sư Nguyễn Văn Ðài


 


Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí là quyền con người không thể bị tước đoạt. Bởi vậy nó được bảo vệ không chỉ ở cấp độ đạo luật có giá trị pháp lý cao nhất của quốc gia là Hiến Pháp mà còn được bảo vệ ở Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị do Liên Hiệp Quốc ban hành.


Ðiều 69 Hiến Pháp Việt Nam 1992 qui định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí…”


Ðiều 4 Luật Báo Chí cụ thể hóa quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận như sau :


“1. Ðược thông tin qua báo chí về mọi mặt của tình hình đất nước và thế giới;


2. Tiếp xúc, cung cấp thông tin cho cơ quan báo chí và nhà báo; gửi tin, bài, ảnh và tác phẩm khác cho báo chí mà không chịu sự kiểm duyệt của tổ chức, cá nhân nào và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung thông tin;


3. Phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới;


4. Tham gia ý kiến xây dựng và thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Ðảng, pháp luật của Nhà nước;


5. Góp ý kiến, phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức của Ðảng, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và thành viên của các tổ chức đó.”


Ðiều 19 Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị:


“Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận. Quyền này bao gồm cả quyền tự do tìm kiếm, nhận và truyền đạt mọi loại tin tức, ý kiến, không phân biệt ranh giới, hình thức tuyên truyền miệng, hoặc bằng bản viết, in, hoặc bằng hình thức nghệ thuật hoặc thông qua mọi phương tiện đại chúng khác tùy theo sự lựa chọn của họ.”


Theo các qui định của Hiến Pháp, Luật Báo Chí và Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị. Chúng ta đều nhận thức rằng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí là điều kiện không thể thiếu cho sự phát triển đầy đủ của các quyền con người. Chúng cần thiết cho bất kỳ xã hội nào. Chúng cần thiết cho tất cả các xã hội tự do và dân chủ. Hai quyền này liên quan chặt chẽ với nhau, chúng cung cấp phương tiện cho việc trao đổi và phát triển ý kiến. Tự do ngôn luận, tự do báo chí là điều kiện cần thiết cho việc thực hiện các nguyên tắc minh bạch, cần thiết cho việc thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền.


Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí được đề cập đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, bao gồm cả thể chế chính trị, pháp luật, văn học (sáng tác thơ, ca,…), nghệ thuật,… Không có sự hạn chế nào. Nhà nước không được áp đặt hay ép buộc công dân chỉ được bày tỏ quan điểm, chính kiến theo một chiều. Công dân có quyền giữ quan điểm chính trị của mình mà không bị can thiệp. Họ có quyền tự do lựa chọn thay đổi quan điểm bất cứ khi nào và vì bất cứ lý do gì. Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí không bị ràng buộc bởi đường biên giới quốc gia.


Công dân được sử dụng mọi phương tiện truyền thông như báo giấy, báo điện tử, radio, truyền hình, Internet,… để thực hiện quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của mình. Một nền báo chí hay truyền thông tự do, không bị kiểm duyệt hay bị cản trở là cần thiết cho bất kỳ xã hội nào. Ðó là trụ cột của một xã hội dân chủ. Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm cho mọi công dân có thể tiếp cận và sử dụng các phương tiện đó.


Công dân sử dụng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí để yêu cầu, kiến nghị việc sửa đổi hay bãi bỏ bất kỳ điều nào trong Hiến Pháp cũng như trong các bộ luật. Không có điều nào trong Hiến Pháp là điều cấm mà công dân không có quyền kiến nghị sửa đổi hoặc hủy bỏ.


Công dân sử dụng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí để bày tỏ mong muốn thay đổi, cải cách hệ thống chính trị nhằm đáp ứng các quyền tự do dân chủ cũng như lợi ích của nhân dân. Công dân có quyền bày tỏ ước muốn xây dựng nền chính trị đa nguyên, đa đảng.


Do đó, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí đã được qui định trong Hiến Pháp, luật và Công ước Quốc tế để bảo đảm rằng chính quyền phải tôn trọng và không được xâm phạm đến quyền của công dân.


Và trách nhiệm của chính quyền là:


Chính quyền cũng như cả hệ thống chính trị từ trung ương đến các địa phương có nghĩa vụ tôn trọng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của công dân. Cũng như có trách nhiệm bảo vệ mọi công dân khi họ thực hiện quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí.


Trong bình luận chung số 34 về điều 19 Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị của Hội đồng Nhân quyền LHQ trong phiên họp 102 từ ngày 11 đến ngày 29 tháng 7 năm 2011. Mục số 7 và 8 nêu rõ:


“7. Nghĩa vụ tôn trọng tự do quan điểm và tự do biểu đạt là nghĩa vụ bắt buộc đối với mọi quốc gia thành viên như một chỉnh thể. Tất cả mọi nhánh quyền lực nhà nước (hành pháp, lập pháp và tư pháp) và các cơ quan công quyền và tổ chức của chính phủ, dù ở cấp độ nào – quốc gia, khu vực hay địa phương – đều có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ của quốc gia thành viên. Các trách nhiệm đó cũng có thể phát sinh với một quốc gia thành viên trong một số trường hợp nhất định liên quan đến các chủ thể có tư cách bán nhà nước. Nghĩa vụ này cũng yêu cầu các quốc gia thành viên phải đảm bảo rằng mọi người được bảo vệ khỏi bất kỳ hành vi nào của cá nhân hay pháp nhân thuộc khu vực tư có thể ảnh hưởng xấu đến việc thụ hưởng các quyền tự do quan điểm và tự do biểu đạt đến mức độ những quyền theo Công ước này dễ bị ảnh hưởng bởi việc áp dụng của các cá nhân hoặc pháp nhân thuộc khu vực tư.


8. Các quốc gia thành viên phải đảm bảo rằng các quyền trong Ðiều 19 của Công ước có hiệu lực trong hệ thống nội luật của quốc gia, và có tinh thần nhất quán với những chỉ dẫn của ủy ban trong Bình luận chung số 31 về bản chất của các nghĩa vụ pháp lý chung đối với nước thành viên Công ước…”


Những trở ngại khi công dân Việt Nam thực hiện quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí.


Trong những năm vừa qua, đã có nhiều công dân khi sử dụng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí để bày tỏ quan điểm chính trị đối lập, phê phán những sai lầm, yếu kém, tham nhũng của đảng cộng sản. Một số nghệ sĩ như Việt Khang, Trần Vũ Anh Bình chỉ sáng tác những ca khúc bày tỏ những trăn trở với vận mệnh đất nước. Nhưng tất cả họ đã bị truy tố và xét xử với mức án nặng nề theo điều 88 Bộ Luật Hình Sự. Ngoài ra hàng trăm người khác thường xuyên bị sách nhiễu.


Do vậy điều 88 Bộ Luật Hình Sự là trở ngại cho công dân khi họ thực hiện quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. Các hành vi chống nhà nước của điều 88 được hệ thống các cơ quan tư pháp của Việt Nam hiểu, giải thích và áp dụng như sau: Hành vi tuyên truyền nhằm làm giảm lòng tin với đảng CS, với chế độ XHCN, phá hoại sự thống nhất về chính trị, tư tưởng trong xã hội, xâm phạm sự vững mạnh của chính quyền nhân dân và chế độ XHCN. Hành vi xuyên tạc, đả kích các chủ trương, chính sách của đảng CS và nhà nước trong các lĩnh vực quản lý kinh tế, quản lý xã hội, quản lý cán bộ, công chức nhà nước,… Hành vi lợi dụng những tiêu cực, khoét vào những khó khăn trước mắt, thổi phồng những khuyết điểm trong quản lý kinh tế, quản lý xã hội, làm cho người khác không tin vào chế độ, và sự lãnh đạo của đảng CS, sự quản lý điều hành của bộ máy nhà nước.


Khi chúng ta đối chiếu nội hàm của điều 88 Bộ Luật Hình Sự với điều 69 Hiến Pháp, điều 4 Luật Báo Chí, điều 19 Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị. Thì chúng ta thấy rằng chính quyền cũng như các cơ quan tư pháp của Việt Nam đã diễn giải điều 88 Bộ Luật Hình Sự nhằm bóp chết quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của công dân. Do vậy điều 88 Bộ Luật Hình Sự là VI HIẾN, nó chống lại điều 69 Hiến Pháp, điều 4 Luật Báo Chí và điều 19 Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị.


Lòng tin của nhân dân với đảng cộng sản phụ thuộc vào năng lực lãnh đạo, phẩm chất đạo đức của mỗi đảng viên và cả tập thể đảng cộng sản. Còn lòng tin của nhân với chế độ XHCN phụ thuộc vào việc nó có mang lại quyền bình đẳng và quyền làm chủ đất nước của nhân dân hay không. Ðảng cộng sản không thể áp đặt tuyệt đối tư tưởng chính trị của mình lên toàn bộ xã hội. Còn các đường lối, chủ trương, chính sách của đảng cộng sản, của chính phủ trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội,… có thể đem lại lợi ích cho một bộ phận người dân này, nhưng với những người khác thì ngược lại. Những người được hưởng lợi thì họ ủng hộ, còn những người mất lợi ích thì họ có quyền phản đối. Những tiêu cực, sai lầm, khuyết điểm của chính quyền thì có nhưng người đánh giá không đáng kể, còn những người khác họ có quyền đánh giá là nghiêm trọng, tùy theo cách nhìn của mỗi người. Hoặc chế độ XHCN được nhiều người dân cho là phù hợp, và họ ủng hộ. Nhưng với rất nhiều người khác họ cho là không phù hợp và họ có quyền tự do phê phán, đả kích, thậm chí họ có quyền đòi hỏi thay đổi. Cùng một sự việc, một hiện tượng, nhưng mỗi người dân có những cách nhìn, quan điểm khác nhau. Nhóm này đồng ý, ủng hộ. Nhóm khác không đồng ý và phản đối.


Và nếu tất cả mọi công dân đều sử dụng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí để ca ngợi và bày tỏ sự ủng hộ đối với chính phủ, đảng cộng sản và chế độ XHCN. Chắc chắn chính quyền không bao giờ trừng phạt họ. Và quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí không cần thiết được bảo vệ bởi Hiến Pháp, luật và Công ước Quốc tế. Nhưng ở Việt Nam cũng như trên thế giới, công dân thường sử dụng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí để bày tỏ sự bất bình, sự phản đối, chỉ trích hay phê phán những yếu kém, sai lầm, khuyết điểm của chính phủ, chế độ XHCN. Trách nhiệm của chính quyền là bảo vệ và tôn trọng quyền tự do ngôn luận của cả nhóm công dân ủng hộ và nhóm công dân phản đối.


Làm thế nào để quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của công dân được tôn trọng và bảo vệ?


Nếu đảng cộng sản và Nhà nước Việt Nam thực sự tôn trọng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của công dân. Quốc Hội Việt Nam phải tiến hành hủy bỏ điều 88 Bộ Luật Hình Sự, bởi đây là một điều luật vi hiến. Trong khi việc này chưa xảy ra thì chính phủ phải trả tự do cho tất cả những người đang bị giam giữ, bị cầm tù theo điều 88 Bộ Luật Hình Sự, bãi bỏ quản chế với những người đã hết án tù. Chấm dứt sách nhiễu với những công dân đang thực hiện quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí.


Hà Nội, ngày 22 tháng 10 năm 2012


Luật Sư Nguyễn Văn Ðài

Alexis Zorba con người chịu chơi (Kỳ 83)


Không biết từ đời thuở nào tôi đã vô cùng ái mộ nền văn minh Hy Lạp. Hy Lạp với những đền đài uy nghi tráng lệ song lại rất giản đơn, thanh nhã. Hy Lạp với những thần linh uy mãnh song lại mỹ miều như những con người ngọc và đầy đam mê rất người. Và rồi dưới ảnh hưởng của Nietzsche, tôi biết ái mộ thêm tinh thần sáng lóa, tinh khôi của thiên tài Hy Lạp, biểu lộ một cách bi tráng, lẫm liệt qua những bi kịch gia vĩ đại, những triết gia độc đáo tiền Socrates, Plato. Cuối cùng, Henry Miller với cuốn du ký tuyệt vời “The Clossus of Maroussi” đã đưa tôi vào những vườn olive, vườn chanh thơm ngát bên bờ biển, gặp gỡ những người Hy Lạp đầy sức sống, nồng nàn tình người.


Với tình yêu Hy Lạp đó tôi đã dịch Alexis Zorba vào năm 1969.


Nguyễn Hữu Hiệu


 


Kỳ 83


 


Gã thầy tu vùng khỏi tay Zorba và nằm sấp dưới chân tượng thượng đẳng thiên sứ. Gã nằm bất động một lát đầu ngẩng lên, mắt trợn trừng, miệng há hốc, chăm chú rình rập thánh tượng.


Ðột nhiên gã nhẩy cỡn lên vì sung sướng.


– Tôi sẽ thiêu chúng! Gã quả quyết tuyên bố. Thượng đẳng thiên sứ đã cử động, tôi đã trông thấy, ngài đã ra dấu cho tôi!


Gã lại gần thánh tượng và dán cặp môi dầy lên thanh gươm của thượng đẳng thiên sứ.


– Cảm tạ Chúa! Gã nói, tôi được an ủi!


Zorba lại nắm lấy cánh tay gã thầy tu, hắn nói:


– Lại đây, Zaharia. Bây giờ bạn làm điều tôi đã nói với bạn.


Và hắn quay sang tôi:


– Cho tôi xin tiền, ông chủ, tôi sẽ đi ký giấy tờ một mình. Trong đó, tất cả bọn chúng đều là lang sói, còn ông là một con cừu non, chúng sẽ ăn thịt ông. Ðể đấy cho tôi. Ông đừng lo, tôi sẽ trị bọn chúng, những con heo thiến mập. Ðến trưa, chúng ta sẽ rời khỏi đây với cánh rừng trong túi. Ði thôi, bạn Zaharia!


Họ lén trở lại tu viện. Tôi đi dạo dưới những rặng thông.


Mặt trời đã lên cao, sương lóng lánh trên những phiến lá. Một con sáo bay trước mặt tôi, đậu trên cành cây lê dại, vẫy đuôi, há mỏ, và hót lên đôi ba tiếng diễu cợt.


Qua rặng thông tôi nhìn thấy những tu sĩ xếp hàng ra sân, đầu cúi xuống, những tấm khăn đen vắt trên vai. Tế thức đã chấm dứt, bây giờ họ đang đi tới phòng ăn.


Tôi tự nhủ: “Tiếc thay một sự khắc khổ như thế, và một sự cao nhã như thế từ nay không có linh hồn!”


Tôi mệt mỏi, đêm qua không ngủ được, tôi nằm dài trên cỏ. Những cây đổng-thảo dại, cây kim-tước-chi, cây mê-điệt, cây đan-sâm dâng hương trong không gian. Côn trùng bay vo ve, đói khát, chúng lăn xả vào những đóa hoa như quân cướp biển và hút mật hoa. Xa xa, rặng núi lấp lánh, trong suốt, thanh thản, như một đám hơi nước di động trong ánh mặt trời thiêu đốt.


Tôi nhắm mắt, tâm hồn lắng dịu. Một niềm hân hoan lặng lẽ, bí ẩn tràn ngập tôi – như thể tất cả cái phép lạ xanh xung quanh này là Thiên Ðàng, như thể tất cả vẻ tươi mát này, sự nhẹ nhàng này, nỗi say sưa ngây ngây này là Thượng Ðế. Thượng Ðế thay đổi hình dung trong từng giây phút. Sung sướng thay cho kẻ nào có thể nhận biết ngài dưới tất cả những mặt nạ ngài mang! Khi thì ngài là một ly nước lạnh, khi thì ngài là một đứa trẻ nhẩy nhót trong lòng ta, hoặc là một người đàn bà quyến rũ, hay có thể chỉ là một cuộc đi dạo buổi mai.


Dần dần, vạn vật xung quanh tôi, không thay đổi hình thể, trở thành mộng. Tôi hân hoan. Trần gian và thiên đàng chỉ là một. Một bông hoa trong cánh đồng với một giọt mật lớn trong lòng hoa, đó là hình ảnh cuộc đời hiện ra với tôi. Và tâm hồn tôi, một con ong man rợ hút nhụy hoa.


Ðột nhiên tôi bị lôi ra khỏi niềm vĩnh phúc này một cách tàn bạo. Tôi nghe thấy tiếng bước chân và những tiếng thì thầm sau lưng tôi. Ðồng thời một giọng nói vui vẻ vang lên:


– Ông chủ, chúng ta đi thôi!


Zorba đứng trước mặt tôi và đôi mắt nhỏ của hắn lóe lên một tia sáng ma quái.


– Chúng ta đi? Tôi nói một cách khoan khoái. Xong xuôi tất cả rồi à?


– Tất cả! Zorba vừa nói vừa vỗ vào túi trên chiếc áo khoác ngắn của hắn. Cánh rừng đây rồi. Mong nó mang lại may mắn cho chúng ta! Và đây là bẩy ngàn đồng Lola đã nuốt của chúng ta!


Hắn móc túi trong lấy ra một tập giấy bạc. Hắn nói:


– Ông cầm lấy! Tôi trả nợ của tôi, tôi không còn mắc cỡ trước mặt ông nữa. Trong đó có cả bít tất, xắc tay, nước hoa và dù của mụ Bouboulina. Cả đậu phọng cho con két! Và cả halva mà tôi đã mang về cho ông nữa!


– Giữ lấy đi, Zorba! Tôi tặng bác đó, tôi nói. Hãy tới đốt một cây nến to bằng người bác để tạ tội Ðức Mẹ Ðồng Trinh mà bác đã xúc phạm.


Zorba quay lại. Cha Zaharia đang tiến về phía chúng tôi trong tấm áo choàng dơ dáy, đang ngã mầu xanh, và đôi giầy ống vẹt gót. Gã dắt hai con la đến cho chúng tôi.


Zorba đưa cho hắn một tập giấy bạc:


– Chúng ta chia nhau, cha Joseph. Bạn có thể mua một trăm kí lô cá thu muối và bạn sẽ nhồi nhét cho đến khi bụng bạn căng lên như cái trống. Cho đến khi bạn mửa ra và bạn sẽ thoát khỏi cá thu mãi mãi và mãi mãi! Nào chìa tay ra!


Gã thầy tu vồ lấy những đồng tiền bẩn thỉu và giấu trong ngực áo. Gã nói:


– Tôi sẽ mua dầu hỏa!


Zorba hạ thấp giọng và ghé vào tai gã thầy tu, ra lệnh:


– Phải chờ đến đêm, khi tất cả bọn chúng ngủ say và gió thổi mạnh. Bạn tưới dầu ở bốn góc.

Thơ Trần Vấn Lệ


Nam Mô A Di Ðà Phật


 


Sáng mùa Thu trời đẹp.


Lá vàng lác đác rơi…


Nhà sư huơ chổi quét.


Thỉnh thoảng dừng tay, cười:


“Trăm năm một kiếp người, một năm một kiếp lá.


Xanh tươi và tàn tạ, bắt đầu – kết thúc, thôi!”


 


Nhà sư nghe ai gọi.


Quay lại, người đàn bà, ôm cái bọc chìa ra: “Này con của ông, đấy!”


“Ồ! Thì ra là vậy!” Ông ôm bọc, vào chùa.


Người đàn bà ngẩn ngơ, quay lưng và đi mất.


 


Nhà Sư trước bệ Phật, mở bọc nhìn hài nhi,


ông hôn, không nói chi.


Ngày ngày chăm sóc nó.


Mỗi sáng ông quét lá.


Chiều chiều ông bế con, đi vòng quanh cái sân.


Bánh luân hồi cứ chuyển.


 


 


Rồi một ngày lại đến, người đàn bà năm nao,


thêm người đàn ông, vào, cúi chào ông lí nhí:


“Thưa Thầy xin đại xá, trả lại con cho tôi.”


 


Nhà sư mỉm nụ cười: “Ồ! Thì ra là vậy!”


 


Ðứa bé thơ năm ấy/nó là con người ta.


Ông gọi thằng bé ra, bảo nó chào Cha Mẹ.


Dĩ nhiên có giọt lệ/từ con mắt ông lăn,


ông nuôi nó bao năm, không luyến lưu không thể!


 


Ông nhìn theo thằng bé.


Nó quay lại nhìn ông.


Lá vàng rơi trắng sân, ông cầm cây chổi quét.


Bánh luân hồi quay miết.


Hết Hạ đang là Thu.


Mai mốt Ðông vi vu /gọi mời mùa Xuân khác…


 


Xếp bằng trước bệ Phật, ông chắp tay nhìn lên.


Trước mặt ông, mông mênh.


Trong lòng ông, bát ngát.


Ngoài vườn, tiếng chim hót/nghe vui như tiếng chuông.


 


Giọt nước mắt ông tuôn lăn tròn như viên ngọc…


Nam Mô A Di Ðà Phật


Nam Mô A Di Ðà Phật…


____________


 


Thêm mùa Thu nữa


 


Nắng hôm nay vàng hơn hôm qua


Ðầy vườn anh vàng hoa cúc hoa


Hoa cúc nở nên là Thu Cúc


Ðào Xuân và Sen Hạ đã xa…


 


Anh nhớ em má hồng môi sen


Anh nhớ em bốn mùa không quên


Ðào Ðà Lạt một thời thắm thiết


Sen Ðơn Dương từng đóa bình minh…


 


Nắng ngày xưa nắng xanh long lanh


Mùa Xuân xưa em là nữ sinh


Tay ôm cặp đứng nhìn hoa nở


Mắt huyền mơ muôn thuở thanh bình…


 


Rồi một hôm nắng vàng hoa núi


Em đâu rồi cho tủi cho thương


Dã quỳ nở dọc theo con suối


Tiếng thác rền nhói tới đại dương…


 


Nắng hôm nay Thu vàng đang tới


Cả vườn anh hoa nở cúc vàng


Anh là núi ngàn năm đứng đợi


Ngó hoa vàng buồn nghe miên man…

Thơ Nguyễn Minh Thanh


Thu buồn


 


Chợt thấy rừng xanh khoác áo vàng


Mới hay trời đã chuyển mùa sang


Mới hay thu tới heo may tới


Gió chở thu bay khắp nẻo đàng


 


Lững thững tầng mây ngự cõi không


Mưa thu se sắt tái tê lòng


Nắng thu chan chứa niềm hiu quạnh


Héo hắt thu buồn vương mắt trong


 


Sương khói hoàng hôn khuất cõi xa


Chân mây đầu núi hướng quê nhà


Nỗi buồn cố thổ bao giờ cạn


Ai ngắm thu vàng ai xót xa…!


 


Vũ trụ vận hành sanh tháng năm


Vầng trăng khi khuyết tiếp trăng rằm


Riêng ta chỉ có mùa thu úa


Chim trắng nàng Xuân mãi bặt tăm!


 


Ai đứng bên này xứ Georgia


Mà hồn phiêu phưởng tận đâu xa


Mong mùa thu dứt mùa thu dứt


Về lại quê xưa sửa lại nhà…


(Nguồn: Tác giả gửi qua sangtao@org)

Muốn có sức mạnh chính trị: Cần phải đi bầu

 


* TS Julie Phạm


 


LTS: Bài này được trích từ tuần báo Người Việt Tây Bắc số 2132, Thứ Sáu ngày 5 tháng 10, năm 2012.


 


Kêu gọi sự tích cực tham gia bầu phiếu của cộng đồng đa sắc dân-thiểu số. Ðể chúng ta có sức mạnh từ kinh nghiệm rút tỉa được của nhóm truyền thông đa sắc tộc.


Trong tháng 5 năm 2012, số trẻ sơ sinh thuộc các sắc dân thiểu số bắt đầu đông tăng vọt vượt qua sắc dân da trắng ngay ở Mỹ. Nhưng ngay cả với một tổng thống người Mỹ gốc Phi và sự tăng trưởng rất lớn của các dân tộc thiểu số. Nhưng vì sao các sắc dân của chúng ta vẫn còn xa để thực hiện được đầy đủ tiềm năng của quyền lực chính trị phải có như những cử tri Mỹ và dòng chính?


Số cử tri đi bầu của chúng ta tương đối thấp vì: 1) những người nhập cư có đủ điều kiện nhập tịch nhưng không trở thành công dân; 2) người dân không đăng ký bỏ phiếu, và 3) cử tri đã đăng ký, nhưng không chịu bầu phiếu!


Theo Trung Tâm Chính Sách Người Di Dân (Immigration Policy Center), hiện có tới 8 triệu người di dân trên toàn quốc hội đủ điều kiện trở thành công dân HK nhưng vẫn chưa xin nhập tịch. Ủy Ban Ðiều Tra Dân Số Mỹ cho thấy làm thế nào sắc dân thiểu số vẫn còn đường mòn đi sau người da trắng không phải gốc Tây Ban Nha trong việc đăng ký cử tri và đi bầu trong kỳ bầu cử mỗi tiểu bang năm 2010.


Trong khi khoảng một phần năm dân số của Washington bao gồm các dân tộc thiểu số, chỉ có khoảng 8% của những người dân tộc thiểu số tham gia bầu cử mà thôi. Nhiều tổ chức cộng đồng địa phương được tiến hành các cuộc vận động để ghi danh có thêm cử tri ghi danh nhằm đảo ngược sự thất lợi này hiện nay. Hãy hỗ trợ những nỗ lực hiện nay của các nhóm, tổ chức.


Ngoài vận động đăng ký cử tri và có nhiều cử tri đi bầu hơn, chúng ta cần phải điều chỉnh lại nhận thức phổ biến rằng các dân tộc thiểu số bỏ phiếu trong các khối (ví dụ, “phiếu người gốc La tinh,” “phiếu người Châu Á,” “phiếu người gốc Phi Châu” là “khối chiến thắng” và “sở hữu của một phía” của một bên hoặc một ứng cử viên. Trong ngắn hạn, lá phiếu của khối cử tri có thể được dùng hỗ trợ cho các trợ cấp tài chánh, lợi nhuận do quảng cáo nữa!)


Cả hai bên và tất cả các ứng cử viên cần phải nhìn thấy rằng lá phiếu của các sắc dân của chúng ta là một cái gì đó vẫn còn giá trị thu nhập. Chúng ta cho dù có ủng hộ tài chánh cho ứng cử viên trước mỗi mùa bầu cử, nhưng hơn cả chúng ta vẫn phải chứng minh mình có lá phiếu bầu cử.


Thay vì củng cố nhận thức của các dân tộc thiểu số hoạt động trong khối bỏ phiếu khối, tăng số lượng cử tri thiểu số tổng thể sẽ làm tăng quyền lực chính trị của chúng ta.


Năm 2010, cùng với các đồng nghiệp trong các cơ quan truyền thông địa phương chúng tôi thành lập một hiệp hội có tên gọi là Sea Beez (NAM), cùng kết hợp khoảng 25 cơ quan truyền thông cùng với nhau phục vụ cộng đồng sắc dân khác nhau. Chúng ta đã có thể đến với nhau, cùng quan tâm đến vấn đề bầu cử trong khi vẫn duy trì quan điểm và ý kiến đa dạng của từng nhóm sắc dân.


Các thành viên của tổ chức Sea Beez quan niệm tài chánh độc lập và quan điểm chính trị riêng. Sea Beez, không ủng hộ riêng một phía ứng cử viên cũng như các dự luật bầu cử.


Chúng tôi tổ chức hàng năm các buổi gặp gỡ tranh luận cùng với các tổ chức truyền thông hàng năm Meet & Greet để thúc đẩy các cơ hội cho các ứng cử viên tham gia với các phương tiện truyền thông địa phương dân tộc và các thành viên cộng đồng. Ðiều này mang lại cho các chiến dịch tiếp cận với cộng đồng thiểu số, nhưng cách duy nhất để vận động tận dụng điều này bằng cách nhìn thấy sắc thái riêng và cũng không mang tính đồng nhất của tổ chức.


Mùa bầu cử năm nay, các sắc dân thiểu số có cơ hội để chứng tỏ sức mạnh chính trị của cộng đồng sắc dân của mình.


Lá phiếu mới của khối cử tri thiểu số thậm chí có thể “quyết định” cho nhân vật thuộc đảng Cộng Hòa sẽ bước vào dinh thống đốc lần đầu tiên kể từ năm 1980. Nếu ta tích cực hơn!


Mặc dù các văn phòng chiến dịch vận động tranh cử của cả hai đảng vẫn gia tăng thu hút lá phiếu, nỗ lực dành cho việc tham gia của các cộng đồng dân tộc, cả hai đều được trích dẫn danh sách dài các tham gia của cộng đồng, văn kiện chiến dịch đa ngôn ngữ, và toàn thời gian tiếp cận cộng đồng dành riêng gặp gỡ tiếp xúc các chuyên gia của cộng đồng này.


Tính đa dạng của Washington là tỷ lệ ngày càng tăng của những người nói một ngôn ngữ khác ngoài tiếng Anh tại nhà (18.6%) và những người nói tiếng Anh “nói được chút ít” (8%). Ðiều này đặt ra những thách thức để huy động tham gia bầu phiếu từ nhóm cử tri có trình độ tiếng Anh hạn chế.


Tài liệu hướng dẫn cách bầu phiếu hiện chỉ ấn hành thêm 4 ngoại ngữ (không kể Anh ngữ) trong 39 quận hạt của TB Washington.


Phương tiện truyền thông bằng ngôn ngữ sắc dân thiểu số phục vụ quan trọng như một “kênh truyền thông” chủ chốt của những người nói tiếng Anh như một ngôn ngữ thứ nhì.


Truyền thông sắc tộc là một công cụ cần được sử dụng đúng mức để kêu gọi sự tham gia của các dân tộc thiểu số trong mùa bầu cử.


Theo Ủy ban Public Disclosure Commission (Ủy Ban Công Báo Công Khai) và một cuộc khảo sát của các phương tiện truyền thông địa phương dân tộc thiểu số, thời gian mùa bầu cử trước đây cộng đồng này nhận dưới $30,000 trong toàn bộ các sắc sắc dân thiểu số trong chiến dịch quảng cáo trong năm 2011.


Trong số 22 ủy ban tranh cử liên hệ với các cơ quan truyền thông thiểu số chỉ có 4 ủy ban tiêu xài trên $1,000 cho chiến dịch có quảng cáo với báo chí thiểu số vào năm 2011.


Ðó là: Quality Efficient & Accountable Home Care ($7826), One America Votes ($6895), Bruce Harrell ($5273) và Thomas Rasmussen ($1,023). Hãy so sánh khoảng chi tiêu nhỏ nhoi trên với: Ngân sách dành riêng để in, phát thanh và truyền hình quảng cáo cho các phương tiện truyền thông trong năm 2011 đạt tổng cộng hơn $12,400,000 (trên 12 triệu đôla).


Các ủy ban tranh cử hiện nay họ chỉ muốn đổ tiền quảng cáo vào những khối đa số vốn có tiếng là mạnh, thay vì chuyển hướng vào những cộng đồng còn yếu khi cần so chiếu.


Với thống kê hiện nay thì người đi bầu từ cộng đồng thiểu số còn tương đối thấp trong số các nhóm sắc dân bầu phiếu. Ðây chính là sự khó khăn cho các cơ quan truyền thông các sắc sắc dân thiểu số. Làm sao chúng ta có thể thuyết phục các ủy ban vận động tranh cử, nhắc nhở các chính trị gia đầu tư phải đến tiếp cận với cộng đồng chúng ta.


Sức mạnh khối cử của các cộng đồng dân tộc thiểu số đang phát triển mạnh. Tăng dân số vẫn không chứng minh được sự thực là chúng ta có dân số cao để các ủy ban tranh cử phải nghĩ đến ngân khoản tranh cử đổ vào, hoặc dành cho chúng ta một vị thế chính trị sức mạnh quyền lực chính trị.


Hãy nhớ: Chỉ có lá phiếu của chúng ta mới làm nên sức mạnh!*


(New America Media)

Người lính Quân Lực VNCH

 


Hung Tran


 


Trên quê hương tự do miền Nam Việt Nam, trong hơn 20 năm chiến tranh, có những người nhận lãnh phần thức cho người khác ngủ, chết cho người khác sống. Ðó là những người lính Việt Nam Cộng Hòa.


Họ là ai?


Họ là những chàng trai mắt sáng, môi tươi, tâm hồn trẻ trung phơi phới tinh tươm, là học sinh, sinh viên, là con em những gia đình lao động ở thành thị hay nông dân chơn chất ở nông thôn. Họ là những thanh niên tuổi đôi mươi căng tràn nhựa sống, ăm ắp mộng mơ, là những con người rất bình thường cũng đầy những thương ghét vui buồn… Sinh ra và lớn lên trong buổi loạn ly, dù không ham chém giết, dù ham sống, sợ chết, nhưng họ bình thản chấp nhận bổn phận được chính quyền, đại diện cho người dân giao phó trở thành những người lính


Những người trẻ, 19, 20, hay “21 tuổi vào quân đội mà lòng chưa hề yêu ai” ấy đã lấy đất làm giường, rừng lá làm màn, bỏ lại sau lưng ánh đèn màu của đô thị phồn hoa, mải miết đêm rồi lại ngày, chỉ rừng và núi, chỉ biết yêu những cánh rừng lá thấp vì đấy là màn che cho họ và đồng đội khỏi mắt quân thù, dù không quên những ngày hoa mộng nhưng chẳng cần những tiếng nỉ non đóng kịch rên rỉ câu yêu đương giả tạo.


 


Rừng lá xanh xanh cây phủ đường đi


Thành phố sau lưng ôm mộng ước gì


Tôi là người đi chinh chiến dài lâu


Nên mộng ước đầu nghe như đã chìm sau.


Từ máy thâu thanh cô nàng vừa ca


Trọn kiếp yêu anh lính khổ xa nhà


Giữa rừng già vang tiếng hát thật cao


Nhưng giữa già tôi có thấy gì đâu?


Sao không hát cho người giết giặc trên cầu


Khi bùn lầy còn pha sắc áo xanh


Trong khói súng xây thành


Mắt quầng thâm mất ngủ


Tàn đêm chiến cuộc, giờ chỉ còn hai tiếng yêu anh


Sao không hát cho những người còn mải mê


Lá rừng che kín đường về phồn hoa


Không hát cho những bà mẹ hằng đêm nhớ con xa


Hay hát cho những người vừa nằm xuống chiều qua


Rừng lá xanh xanh núi đồi chạy quanh.


Ðời lính quen yêu gian khổ quân hành


Nghe từ ngày thơ khói súng triền miên


Ðánh giặc lâu bền cho non nước bình yên


Lời hát xin gây rung động thật lâu


Ðừng hát như chim giữa rừng lá sầu


Xin thật lòng qua câu hát đầu môi


Như lính giữa rừng yêu lá thấp mà thôi


(Nhạc: Rừng Lá Thấp – Trần Thiện Thanh)


 


Ðất anh ở và rừng anh thở


Sớm anh đi chiều lại trở về


Rừng vi vút những đêm gió thổi


Bóng anh chìm với bóng hư vô


Ðôi khi đứng bên triền đá dựng


Anh hoang mang sợ núi đẻ mình


Có khi thấy con chồn con cáo


Anh giật mình lòng thoáng hãi kinh


Anh đi qua rừng cao quá đỗi


Anh đi về rừng quá đỗi cao


Anh thấy rồi, anh: con sâu gạo


Nằm rung rinh trong đám lá rì rào


Và buồn thảm ôi những chiều lặng lẽ


Núi và anh thành hai kẻ đăm chiêu


Núi ngó anh và anh ngó núi


Núi đụng trời anh đụng nỗi đìu hiu


Ðất anh ở và rừng anh thở


Quá lâu ngày nên thấy hoang mang


Anh sống dở và anh chết dở


Giữa núi rừng cao ngất ngàn năm


(Thơ: Ở trong rừng lâu ngày – Phạm Cao Hoàng)


 


Những người lính Việt Nam Cộng Hòa ấy, trong hai mươi năm dài, hàng hàng lớp lớp, tai nghe tiếng đạn réo, bom rơi mà lòng vẫn mềm như gió, sinh mạng treo đầu súng nhưng tim chẳng hận thù, ngày lội ruộng, đêm băng rừng nhưng mỗi lúc dừng chân lại tha thiết nhớ về mẹ, về em, về quê hương xóm làng, về những ngày thơ ấu


Phải là người đã cùng chia với họ túi cơm sấy nguội lạnh, hớp nước hố bom, đi cùng họ hàng mười ngày không thấy ánh mặt trời, và khi dừng chân bên trảng trống ở bìa rừng, mới vừa tạm ngả lưng vào gốc cây chưa kịp lại sức, đã nghe lệnh tiếp tục lên đường thì mới cảm được trọn vẹn tấm lòng rất đỗi thô sơ nhưng vô cùng tha thiết của người lính trẻ ngâm nga câu hát bên rừng


 


Lội bùn dơ băng lau lách xuyên đêm


Sương trắng rơi vai tôi buốt lạnh mềm


Chim muông buồn rủ nhau bay về đâu


Ngẩn ngơ lũ vượn gọi nhau


Nào những khi ôm thép súng tê tay


Ðắm mắt theo bao hư ảo thở dài


Nơi chốn xa cuộc đời mẹ quẳng gánh


Em còn khều sáng ánh đèn từ sương mai


Mẹ biết bây giờ con ngồi hố nhỏ


Gió hẹn mưa thề một khi con về quê ngoại xưa


Ðể mẹ nhắn lời thăm


Trường làng cũ năm nào khi con còn bé nhỏ


Theo mẹ đến trường giờ đây con đường xưa còn đó


Tóc liều vờn gió ru hoài…


Bận hành quân nên chắc khó thăm nhau


Nhưng có nhau như hơi thở vào đời


Tóc em còn có thơm hương cỏ may


Ðể anh nói chuyện ngày mai


Bạn bè anh theo lớp tuổi ra đi


Dăm đứa thân đôi khi chẳng trở về


Xin có em nguyện cầu cho đời anh


Ðá mềm chân cứng để mẹ còn tương lai…


(Nhạc: Sương Trắng Miền Quê Ngoại – Ðinh Miên Vũ)


 


“Lội bùn dơ băng lau lách xuyên đêm…”


bài nhạc đầy cải lương nói về người lính


Nam Bắc phân tranh, chiến hào Nguyễn Trịnh


điệu Habanera nón sắt úp trên đầu


“Sương trắng rơi vai tôi ướt…” rồi sao?


Vai ai ướt, Bắc kỳ hay Nam bộ?


đời lính thú lưu đồn quên cố thổ


“LÍNH” viết hoa, bao ngôn ngữ đều thừa


gặp lại bạn bè cũ vẫn như xưa


thằng nào cũng hát những bài ca tang chế


điệu Boléro như một lời trách khẽ


tiếng đàn đêm bỗng hóa tiếng than dài


phải rồi tiếng đàn quen thuộc ở Chu Lai


nắp hầm đầy rêu ta ngồi bưng mặt khóc


tay gõ nhịp kiểu sênh tiền lóc cóc


nhạc ngựa reo thấp thỏm giọng nam trầm


phải rồi tiếng đàn quen thuộc ở Chu Prong


dân “sinh Bắc tử Nam” không cần Trương Lương thổi sáo


thằng “ca sĩ lính Cộng Hòa” cụt đầu cây guitar chảy máu


khán giả hét “xung phong” qua tiếng hát ngậm ngùi


phải rồi tiếng đàn quanh quất đây thôi


thằng Nhái Hải Quân, thằng Nhảy Dù, thằng Lôi Hổ


cũng tiếng đàn ấy xưa mà chẳng cũ


dù đứt một giây, gân cổ vẫn nghẹn ngào


mười năm mới gặp nhau mỗi đứa một cơn đau


cởi áo binh chủng sao hồn còn vằn vện


nói gì đây khi rửa tay gác kiếm


chỉ biết lặng im chờ thái độ tiếng đàn


tiếng đàn của binh nhì không giống sĩ quan


lại habanera, lại bolero, lại những bài hát ấy


không phải tango, không phải valse quý phái


mà rất rưng rưng con mắt kẻ giang hồ


“giải phóng” về ta bỏ súng làm thơ


bạn bè tàn phế phải ăn mày hát dạo


tiếng đàn từ đó trở thành ra giọt máu


máu đã ứa ra không thể ứa hai lần


không thể một gã lính dù đã từng cõng bạn tải thương


lại đóng ngược vào đời mình đinh nhọn


cảm ơn lời ca và tiếng đàn chưa muộn


đã đánh thức ta sau mười tuổi công hầu


(Thơ: Ðêm lính ngụy – Bùi Chí Vinh)


 


Người lính ấy suốt hai mươi năm, vai mang balô, tay ghì chặt súng lội qua những cánh đồng sinh lây ở Ðồng Tháp Năm Căn, nơi đỉa lội như bánh canh, muỗi kêu như sáo thổi, đi qua những địa danh xa lạ: Ashau, A lưới, Ia Drang, Toumorong, Pleime,… Chu Pao ai oán hờn trong gió, mỗi tấc khăn tang một khúc đường.


Anh miệt mài những ngày truy lùng địch nơi Cổ Thành Quảng Trị, bên dòng sông Dakbla cuồn cuộn nước phù sa đỏ ngầu như máu, đã có những người bạn anh nằm yên trong rừng cao su Ðồng Xoài, trên bãi cát Sa Huỳnh hay trên cánh đồng miền Tây xanh ngát luống mạ non.


 


trời bỗng sầm đen tóe sấm sét


mặt đất ào ào trận pháo tuôn


trong thành phố tử thần co quắp


viên đạn cuối cùng đã bắn đi


người chết giữa trời – trên đồi cháy


hồn anh thảng thốt bay lên không


suốt dọc Trường Sơn đất run rẩy


mặt trời chưa thấy đêm dài ôi


từng khối lớn mênh mông đặc cứng


qua khe nhìn lại đồi C2


nhớ anh em ta đã nằm xuống


(Thơ: Ngày mưa đọc lại Dấu Binh Lửa – Ðỗ Quý Toàn)


 


Thế nhưng người lính ấy, đi chiến đấu với tâm niệm “súng đạn dẫu vô tình nhưng lòng người thì độ lượng,” biết quý vô cùng sự sống nhưng cũng không ngại thản nhiên dấn thân vào nơi binh lửa


 


nửa đêm kẻng giục, quân ra trận


kinh động cả lòng đêm tối bưng


nhận lấy ba ngày cơm gạo sấy


không buồn chỉ một chút bâng khuâng


đời ta là con số không vô tận


may trên đầu còn chiếc mũ rừng


mũ nhẹ nên coi đời cũng nhẹ


chiến tranh. Thì cũng tựa phù vân


(Thơ: Trước Giờ Tiếp Viện – Trần Hoài Thư)


 


Trong nỗi chịu đựng hy sinh, âm thầm nhưng kỳ vĩ, người lính vẫn sống và luôn gắng vượt qua chính mình và số phận, để ước mơ một giấc mơ hiền hòa về một ngày mai.


 


Rồi có một ngày, sẽ một ngày chinh chiến tàn


Anh chẳng còn chi, chẳng còn chi


Ngoài con tim héo em ơi


Xin trả lại đây, bỏ lại đây


Thép gai giăng với lũy hào sâu


Lỗ châu mai với những địa lôi


Ðã bao phen máu anh tuôn, cho còn lại đến mãi bây giờ


Trả súng đạn này, ôi sạch nợ sông núi rồi


Anh trở về quê, trở về quê tìm tuổi thơ mất năm nao


Vui cùng ruộng nương, cùng đàn trâu


Với cây đa khóm trúc hàng cau


Với con đê có chiếc cầu tre


Ðã bao năm vắng chân anh


Nên trở thành hoang phế rong rêu


Rồi anh sẽ dựng căn nhà xưa


Rồi anh sẽ đón cha mẹ về


Rồi anh sẽ sang thăm nhà em


Với miếng cau, với miếng trầu, ta làm lại từ đầu


Rồi anh sẽ dìu em tìm thăm


Mộ bia kín trong nghĩa địa buồn


Bạn anh đó đang say ngủ yên


Xin cám ơn! Xin cám ơn! Người nằm xuống


Ðể có một ngày, có một ngày cho chúng mình


Ta lại gặp ta, còn vòng tay mở rộng thương mến bao la


Chuông chùa làng xa, chiều lại vang


Bếp ai lên khói ấm tình thương


Bát cơm rau thắm mối tình quê


Có con trâu, có nương dâu


Thiên đường này mơ ước bao lâu!


(Nhạc: Một mai giã từ vũ khí – Ngân Khánh)


 


Người lính không mơ ước lớn lao, chỉ mơ có ngày trả súng đạn, cởi chiến y về với em với mẹ, mơ có ngày sống sót để được đi tạ ơn những đồng đội đã nằm xuống cho anh và cho bao người được “làm lại từ đầu.”


Nhưng hôm nay, đã hơn 30 năm, có thật chiến tranh đã kết thúc? người lính đã giã từ khẩu súng hôm qua, có thật được an phận sống đời một kẻ thường dân, được gặp lại con trâu bên nương dâu và có tìm được chốn thiên đường giản dị mà anh, cũng như bao lớp người đã bao lâu mơ ước?


Hai mươi năm chiến tranh, hơn năm trăm ngàn người lính đã để lại một phần thân thể trên chiến trường, và một số tương đương đã vĩnh viễn gục bên súng mũ bỏ quên đời, có ai trong chúng ta nhớ đến họ?


Từ trong tăm tối hận thù, người lính đã thắp sáng ý nghĩa đời người, đã từ cõi chết bước vào sự sống bất tử.


Xin cám ơn và chân thành nguyện cầu cho anh.


Hung Tran


Executive Producer


Vietnamese Language Group


SBS Radio


PO Box 294


South Melbourne


Victoria 3205 – Australia

Mười năm Thủ Ðức gọi ta về

 


Chính Biên


 


Mười năm Thủ Ðức gọi ta về là nhóm anh em cựu SVSQ Thủ Ðức thuộc nhiều khóa khác nhau của quân trường Thủ Ðức, nay tị nạn ở Hoa Kỳ trong quận O.C., Nam California và Phụ Cận đã quần tụ lại với nhau tính ra đã được 10 năm. Mười năm ấy biết bao nhiêu tình luyến lưu sau mỗi lần họp mặt.


Nhìn lại nhau trong bộ nhung phục ngày nào, lòng những rộn lên như ngày nào chờ giờ lãnh phép cuối tuần. Con đường Bonard cứ vởn vơ trước mắt để hình dung ra dáng người em gái hậu phương cùng người anh trở về từ quân trường dắt tay nhau dạo phố. Ôi, những chiều cuối tuần lề đường Lê Lợi Bonard sao mà dập dìu tài tử giai nhân đến thế. Và những chàng trai từ quân trường về chỉ có một ngày phép đã hoan hỉ trong bộ nhung phục số 2 “đi phép” với một người đẹp óng ả sóng bên. Không biết ai trong hai người thoáng lên niềm kiêu hãnh vì bộ nhung phục này. Ðất nước trong cơn nguy vì nạn xâm lăng của cộng sản thì “có ta (hay người thương của ta) đã đáp lời sông núi.”


Chỉ một kỷ niệm xưa ấy cũng đủ cho những người trai nơi quân trường ngày nào được hồn nhiên vui sướng trở lại cho dù nay đầu đã hai thứ tóc, sau đủ những gian truân chiến trường khi đáo nhậm đơn vị, đủ những đắng cay đời quân ngũ “thi hành trước, khiếu nại sau,” đủ những nhục nhằn khi phải buông súng đi vào những trại “học tập cải tạo.”


Họ đã hồn nhiên vui sống gặp lại mày tao chi tớ cùng với những nắm tay nhau siết chặt, những vòng tay thân khít nói lên cả một trời “tơ vương đến thác.”


Ðó là không khí, là cảm nhận của hơn 500 anh em cựu SVSQ các khóa của quân trường Thủ Ðức vừa tụ họp lại với nhau tại nhà hàng Hoàng Sa Paracel Seafood ở thành phố Westminster Nam California vào chiều tối hôm Chủ Nhật, 21 Tháng Mười. Giờ hẹn là 5 giờ nhưng mới 4.30 trước cửa nhà hàng đã có hàng chục anh em, người quân phục cũ, người vận ci vin nhưng cũng ráng có chiếc mũ nồi đen với hai giải vàng đỏ, dấu hiệu của người lính khi chưa ra trường. Xúc động hơn nữa là có hai chiếc Jeep A2 với đủ cần câu lệ bộ nơi chiến trường đậu chình ình trước cửa nhà hàng. Thôi thì bà con cô bác (những em gái hậu phương xưa ấy mà) cứ thay nhau leo trèo lên để có bằng được tấm hình kỷ niệm. Có cô em gái hậu phương nào nhớ được kỷ niệm có lần ngồi trên xe Jeep dạo phố cùng người yêu đã bị Quân Cảnh hỏi thăm đến nơi đến chốn người yêu của mình không nhỉ. Nhưng nhằm nhò gì mấy ngày trọng cấm để đổi lại được một chiều vi vút cùng em.


Kỷ niệm cứ thế tràn ra. Người ta nói đến chuyện kẻ mất người còn. Thằng A. lên lon sớm quá mà thằng B. thì lại leo lên bàn thờ. Còn thằng C. thì lại trở về “cho dang dở đời em” (lời nhạc Phạm Duy). Chuyện anh hùng nơi chiến trường thì cũng là sự thường tình. Chuyện anh hùng ngay cả trong vòng tay kìm kẹp lao cải của cộng sản nữa chứ. Thằng K. dám phanh ngực áo ra thách thức tên vệ binh cấm anh em không được xuống suối tắm (ở trại Thanh Lâm Thanh Hóa) khi lao động về vì “tội chây nười nao động.” Thế mà tên vệ binh phải thua, lên đạn soạch rồi mà phải quay súng bắn chỉ thiên. Bây giờ thằng K. sống hiền lắm, không “nổ” một tiếng nào trong sinh hoạt với anh em và cũng chẳng thấy ló mặt ra cộng đồng đấu tranh tranh đấu. Hỏi nó bảo, còn đứa con út chưa ra trường nên nợ áo cơm chưa dứt được. Hỏi nữa nó bảo mười năm đáp lời sông núi rồi để sau đó lãnh cái án 11 năm vì tội “làm đại úy” thấy cũng đủ trả nợ đời rồi, bây giờ thì trả nợ cho con vợ nó thủy chung nuôi giữ con cho mình suốt 10 năm mình đi lao cải.


Kỷ niệm thì có vui có buồn, nhưng với người lính VNCH, nhất là với những cựu SVSQ Thủ Ðức thì vui buồn nó cũng như nhau vì đã qua rồi, giờ thì chỉ còn lại những “thằng lính cũ” sống với nhau, biết với nhau trước những thờ ơ của thế hệ trẻ mà cả Hội Trưởng Nguyễn Văn Chuyên cũng như Tổng Thư Ký Trung Thu cho biết: “Trước đây thì hội cũng tổ chức lớp Hậu Duệ Thủ Ðức nhưng nay chúng lớn cả, ra trường đi làm mỗi đứa mỗi nơi, lại quen tiếng Anh nhiều hơn tiếng Việt nên tổ chức Hậu Duệ Thủ Ðức O.C. & Phụ Cận cũng không còn nữa.”

Tin mới cập nhật