Alexis Zorba con người chịu chơi (Kỳ 60)

Alexis Zorba con người chịu chơi


 


Không biết từ đời thuở nào tôi đã vô cùng ái mộ nền văn minh Hy Lạp. Hy Lạp với những đền đài uy nghi tráng lệ song lại rất giản đơn, thanh nhã. Hy Lạp với những thần linh uy mãnh song lại mỹ miều như những con người ngọc và đầy đam mê rất người. Và rồi dưới ảnh hưởng của Nietzsche, tôi biết ái mộ thêm tinh thần sáng lóa, tinh khôi của thiên tài Hy Lạp, biểu lộ một cách bi tráng, lẫm liệt qua những bi kịch gia vĩ đại, những triết gia độc đáo tiền Socrates, Plato. Cuối cùng, Henry Miller với cuốn du ký tuyệt vời “The Clossus of Maroussi” đã đưa tôi vào những vườn olive, vườn chanh thơm ngát bên bờ biển, gặp gỡ những người Hy Lạp đầy sức sống, nồng nàn tình người.


Với tình yêu Hy Lạp đó tôi đã dịch Alexis Zorba vào năm 1969.


 


Nguyễn Hữu Hiệu


 


Kỳ 60


 


“Ðể nói vắn tắt và khỏi làm rườm tay ông, chương trình này vẫn tiến hành đều. Nhưng ông đừng lo, ông chủ, tôi vẫn để ý chăm lo công việc của chúng ta. Thỉnh thoảng tôi ngó qua các cửa hàng. Tôi sẽ mua dây cáp và tất cả những vật dụng cần thiết, ông hãy an tâm. Sớm hơn một ngày hay chậm hơn một tuần, ngay cả một tháng đi nữa thì cũng có gì quan trọng đâu? Như người ta nói, con mèo trong lúc vội vàng, đẻ con không què thì thọt. Vậy chúng ta đừng hối hả. Vì lợi ích của ông, tôi chờ cho tai tôi thính, tinh thần tôi tỉnh táo để khỏi bị lường gạt. Dây cáp phải là thứ tốt nhất nếu không chúng ta mất nghiệp. Vậy hãy kiên nhẫn một chút, ông chủ, và hãy tin cậy nơi tôi.”


“Nhất là ông đừng lo cho sức khỏe của tôi. Những cuộc phiêu lưu rất có ích cho tôi. Trong vòng vài ngày tôi đã trở thành một thanh niên đôi mươi trở lại. Tôi khỏe đến nỗi tôi sắp mọc lại răng, thận tôi hơi bị đau, nhưng bây giờ tôi khỏe như vâm. Mỗi buổi sáng soi gương, tôi ngạc nhiên sao tóc mình chưa đen bóng trở lại như giầy đánh xi từ đêm qua.”


“Nhưng có thể ông sẽ tự hỏi tại sao tôi lại viết cho ông tất cả những điều đó. Bởi vì đối với tôi ông gần như một vị linh mục nghe xưng tội và tôi không xấu hổ khi thú nhận với ông tất cả tội lỗi của tôi. Ông có biết tại sao không? Theo tôi biết, tôi làm việc phải hay trái, ông đều coi như không. Ông cũng có một miếng bọt biển thấm nước, như Thượng Ðế chí tôn, và pháp! Phốp! Thiện ác tốt xấu bị xóa hết. Ðó là điều khiến tôi có can đảm nói với ông hết. Bởi thế, ông nghe đây!”


“Ðầu óc tôi đảo điên và tôi sắp hoàn toàn mất trí. Vậy xin ông cầm bút viết cho mấy chữ ngay sau khi nhận được lá thư này. Tôi sẽ tiếp tục ngồi trên dầu sôi lửa bỏng cho đến khi nhận được thư trả lời của ông. Tôi nghĩ rằng từ bao năm nay tên tuổi tôi đã bị xóa trong cuốn sổ của Thượng Ðế. Trong sổ của ma quỉ cũng vậy. Chỉ có trong cuốn sổ của ông, tôi nghĩ là còn ghi tên tôi, bởi vậy tôi không còn ai ngoài các hạ để giải bầy; vậy xin lắng nghe điều tôi sắp thố lộ. Và đây là câu chuyện xẩy ra:


Hôm qua, có một cuộc lễ trong một thôn làng gần Candia, ma quỉ bắt tôi nếu tôi biết ngày lễ ông thánh nào! Lola – a! Quả thật tôi đã quên chưa giới thiệu nàng với ông: Tên nàng là Lola – nàng bảo tôi:


‘Ông Nội ơi!’ (Nàng lại gọi tôi là ông nội, nhưng bây giờ đó là một cái tên âu yếm, ông chủ). ‘Ông Nội ơi, em muốn đi xem lễ!’


‘Vậy thì đi đi, Bà Nội, đi đi,’ tôi bảo nàng.


‘Nhưng em muốn đi với anh cơ.’


‘Anh không đi đâu. Anh không ưa thần thánh. Vả lại anh còn có công chuyện. Em đi một mình đi.’


‘Thôi, nếu thế em cũng không đi nữa.’


Tôi trợn mắt ngó nàng:


‘Em không đi nữa à? Tại sao vậy? Em không thích đi sao?’


‘Nếu anh đi với em, em sẽ đi. Nếu anh không đi, em cũng không đi.’


‘Sao vậy? Em không phải là một người tự do sao?’


‘Hông!’


Tôi tưởng tôi nghe nhầm.


‘Em không muốn tự do à?’ Tôi kêu lên.


‘Không, em không muốn tự do! Em không muốn tự do!’


‘Ông chủ, tôi đang viết cho ông trong phòng Lola, trên giấy của Lola; vì Thượng Ðế, xin ông hãy lắng nghe. Tôi nghĩ rằng chỉ có kẻ muốn tự do mới là người thôi. Ðàn bà không muốn tự do. Vậy, đàn bà có phải là người không?’


Xin ông làm ơn trả lời tôi ngay. Hôn ông, ông chủ tốt nhất của tôi.”


Tôi Alexis Zorba


Khi tôi đọc xong thư của Zorba, tôi bối rối một lát. Tôi không biết mình nên giận, nên cười hay nên thán phục con người sơ khai đã đập vỡ cái vỏ của cuộc đời – luận lý, luân lý, tính lương thiện – này và đạt tới cái cốt tủy. Tất cả những đức tính nhỏ bé, rất ít dụng đều thiếu ở nơi hắn. Hắn chỉ có một đức tính bất tiện, khó khăn và nguy hiểm không ngừng thôi thúc hắn và lôi cuốn hắn một cách không cưỡng chế được về những giới hạn cùng cực, về vực thẳm.


Khi viết, người lao công này bóp vỡ những cây bút trong cơn hung hăng bất nhẫn. Tựa những người đầu tiên trút lớp da khỉ, hay như những đại triết gia, hắn bị chế ngự bởi những vấn đề căn bản của nhân loại. Hắn sống những vấn đề ấy như những nhu cầu cấp thiết tối sơ. Giống như đứa trẻ, hắn nhìn vạn vật lần thứ nhứt. Hắn không ngừng sửng sốt và kinh ngạc. Tất cả đối với hắn đều kỳ diệu, và mỗi buổi mai khi mở mắt và nhìn cây cối, biển đá, chim, hắn đều thảng thốt kinh dị.


“Phép lạ nào đây? Hắn la lên. Những sự huyền bí gọi là cây, biển, đá, chim là gì?”

Century Village: ‘Ðất lành chim đậu’

 


Nơi đầu tư tốt nhất cho tương lai



 


Thảo Mộc


 


Vì nhu cầu nhà ở tại Orange County càng ngày càng tăng, công ty BrandyWine Homes, một công ty xây cất địa ốc hàng đầu tại Nam California thấy rõ giá trị của thành phố Garden Grove, nơi được ví như “Mảnh Ðất Lành” và họ quyết định đầu tư một dự án nhà đất gây “sốt.” Khu Century Townhouse ra đời, thật vô cùng đáng giá và được khách mua nhà chú ý đặc biệt.










Khu tam giác thế kỷ trước đây.


Thành phố Garden Grove thật sự là mảnh “đất lành” với những ưu điểm về giao thông và kinh tế phồn thịnh tại Orange County. Ngoài ra, thành phố này còn có học khu được xếp loại tốt nhất Quận Cam, và khá nhiều khu đất trống đang chờ cơ hội được đầu tư phát triển.


 


1. Century Village – Chốn bình yên giữa lòng thành phố


 


Nếu bạn là cư dân của thành phố Garden Grove, bạn sẽ vô cùng sửng sốt trước sự thay đổi như chỉ trong chớp mắt của khu tam giác Thế kỷ (Century Blvd). Ðược khởi công vào tháng 10 năm 2010, với tốc độ xây dựng không ngơi nghỉ, sự sáng tạo không ngừng của các nhà đầu tư, các chuyên viên thiết kế nhà đất đã biến khu đất đang ngủ quên, thành một Ngôi Làng Thế Kỷ đầy sức sống và sự hấp dẫn không thể không ngắm nhìn và ao ước!










Century Village- Ngôi làng Century tọa lạc ngay góc Century Blvd. và Taft St.


Tổng cộng có tất cả 53 căn (town homes) với ba và bốn phòng ngủ được xây cất trong khu tam giác quây quần tạo cảm giác ấm cúng, nhưng vẫn có được sự thoáng đãng, riêng tư, bởi ý tưởng Tiết Kiệm Không Gian – Tràn Ngập Ánh Sáng – Khang Trang Hiện Ðại.










Phòng khách sang trọng, rộng thoáng.


Với ưu thế nằm ngay trung tâm thành phố, cư dân của Century Village chỉ cần bước ra cửa là đã có thể tìm thấy tất cả những dịch vụ như, Costco, Home Depot, nhà thờ cổ kính St. Columban, Garden Grove Park, thư viện thành phố hay tận hưởng cuộc sống về đêm của History Main Street, những ngôi trường thuộc học khu Garden Grove tiêu biểu của Orange County có chỉ số API từ 800 điểm trở lên, như Stanley Elementary School, Jordan Intermediate School, Garden Grove High School. Gần freeway 22, đường sá thông thoáng, nhiều cây xanh và hơn nữa là vị trí không quá xa Little Saigon, là ưu thế nổi bật về địa thế của khu nhà.










Phòng master bedroom cực kỳ ấm cúng, rộng rãi


Cảm nhận đầu tiên của phóng viên báo Người Việt khi được cô Myle Phan – New Home Sales Counselor, dẫn đi thăm 3 căn nhà mẫu của Century Village đó chính là “ngạc nhiên và thán phục.” Ngạc nhiên vì không ngờ rằng mình có thể tìm được một chốn bình yên, tách biệt hẳn với trung tâm thành phố ồn ào náo nhiệt, để trở về, sau một ngày làm việc mệt mỏi. Thán phục vì ý tưởng sáng tạo và những thiết kế xây dựng nên ngôi nhà sang trọng, hiện đại, ấm cúng và chan hòa ánh sáng. Ðây là khu nhà với mục tiêu tiết kiệm điện. Bởi vì kết cấu phòng ốc tận dụng ánh sáng mặt trời đem vào trong mọi ngõ ngách của ngôi nhà, cho nên ban ngày, bạn không cần bật đèn mà nơi nào cũng sáng trưng! Hơn nữa, ông Jim Barisic – cha đẻ của BrandyWine Homes, đã từng là cựu chiến binh Việt Nam. Vì thế, ông hiểu biết tường tận những phong tục tập quán của người Châu Á. Chính lợi thế này đã giúp cho những chuyên viên thiết kế và xây dựng của BrandyWine Homes tránh được những “điều tối kỵ” về phong thủy nhà cửa và đưa vào trong ngôi nhà những “điểm nhấn” quan trọng, như những phòng ngủ ấm cúng, giữ hòa khí, hạnh phúc, những gian bếp “vượng hỏa” mà không “kỵ” nước, những bậc thang “sinh lợi,” những khung cửa “ vượng khí-sinh tài”… Tất cả những điểm lợi trên chắc chắn sẽ níu chân những khách đến xem và không muốn rời chốn này.










Gian bếp lý tưởng cho “cảm hứng ẩm thực.”


Cảm nhận thứ hai của chúng tôi là tính hiện đại và ý tưởng tận dụng không gian của Century Village. Nhắm vào xu hướng thích tận hưởng không gian thoáng đãng mát mẻ, được hít thở khí trời trong lành, gió mát, một ngôi nhà 3 tầng với những khung cửa sổ lớn có thể điều hòa nhiệt độ cho mùa Hè hay mùa Ðông là điểm tối ưu. Ngoài ra, không thể không kể đến cách bố trí hợp lý của các phòng ốc trong nhà. Phòng khách rộng thoáng, phòng ăn và gian bếp luôn ở tầng 2 trong không gian chan hòa ánh sáng dịu dàng của hệ thống đèn đấu trong tường hay trần nhà (recess light), hài hòa với hai màu sắc sang trọng, tự nhiên chung quanh nhà. Những ban công nhỏ nhắn ngay hướng nắng ấm, gió mát, giúp ta tận hưởng giây phút thư giãn. Thêm nữa, những trang trí nội thất sang trọng, tiện lợi, như giàn tủ bếp thường bằng gỗ với mẫu mã mới nhất. Mặt bếp bằng đá Granite mang lại “cảm hứng ẩm thực” cho các bà nội trợ. Và tầng 3 gồm 3 phòng ngủ vừa vặn, tận hưởng khí trời từ các khung cửa sổ kính lớn trong suốt. Cuối cùng là vẻ cao, rộng của ngôi nhà. Cô Myle Phan cho biết thêm, tất cả các trần nhà đều cao 9 feet. Ðây cũng chính là ưu điểm tạo không gian thoáng và thoải mái cho chủ nhân tương lai của căn nhà.










Phòng khách rộng, chan hòa ánh sáng


2. Những thông tin liên quan đến Century Village:


 


Chỗ đậu xe: Ða số nhà đều có garage từ 2 đến 3 xe gắn liền với nhà, cộng thêm khoảng hơn 20 chỗ đậu xe bên trong khuôn viên khu nhà và có thể đậu thêm dọc 2 bên đường Century và đường Taft từ 6 giờ chiều đến sáng.


 Phí dịch vụ chung (HOA): $195/tháng.


Chương trình hỗ trợ cho mượn nợ mua nhà của thành phố: $50,000 không tiền lời


(Hội đủ điều kiện và tiêu chuẩn của thành phố)


Giá cả: Giá chênh lệch giữa các căn hộ từ $409,990 đến $439,000* tùy theo vị trí


– Mỗi căn hộ và diện tích sử dụng.










Phòng ngủ lãng mạn nhìn ra bầu trời về đêm


Tiền down payment từ 3.5% đến 25%.


– Tiền lời cố định: 3.5%


Hỗ trợ tài chánh: IMORTGAGE sẵn sàng hỗ trợ bạn về vấn đề vay tiền


– cô Wendy Buettner


xin gọi: 714.422.1858 (Mobile: 714.330.4457)










Gian bếp đẹp, hiện đại.


NHỮNG KIỂU MẪU NHÀ CỦA CENTURY VILLAGE:


-Nhà kiểu mẫu I: $404,990-$411,990*.


Diện tích: 2000SF, 3 phòng ngủ, 3.5 phòng tắm, garage 2 xe.


-Nhà kiểu mẫu II: $419,990-$428,990*.


Diện tích: 2000SF, 3 phòng ngủ, 2.5 phòng tắm, garage 3 xe.


-Nhà kiểu mẫu III: $434,990-$451,990*.


Diện tích: 2106SF, 4 phòng ngủ, 3.5 phòng tắm, garage 2 xe.


* Giá nhà có thể thay đổi mà không cần báo trước










Phòng khách sắc nét với những kiến trúc góc cạnh hiện đại.


Vài nét về công ty BrandyWine Homes:


Là một công ty gia đình được thành lập từ năm 1994, cho đến nay, BrandyWine Homes đã có mặt khắp nơi trên đất Mỹ để đánh thức và phát triển những mảnh đất đã bị lãng quên. Mảnh đất tọa lạc ngay tam giác đường Centery, thành phố Garden Grove đã lọt vào “mắt xanh” của nhà đầu tư địa ốc BrandyWine Homes. Và một kế hoạch, ý tưởng tuyệt vời đã ra đời: Century Village!





 


CENTURY VILLAGE


Town homes 53 căn hộ – chốn bình yên giữa lòng thành phố


13082 Century Blvd., Garden Grove, CA 92843


(714) 539-3824.


Mở cửa xem nhà mẫu 7 ngày trong tuần


10AM – 6 PM.


Liên lạc cô Myle Phan hoặc Mark Gelberg.


 

Alexis Zorba con người chịu chơi (Kỳ 59)

 


Không biết từ đời thuở nào tôi đã vô cùng ái mộ nền văn minh Hy Lạp. Hy Lạp với những đền đài uy nghi tráng lệ song lại rất giản đơn, thanh nhã. Hy Lạp với những thần linh uy mãnh song lại mỹ miều như những con người ngọc và đầy đam mê rất người. Và rồi dưới ảnh hưởng của Nietzsche, tôi biết ái mộ thêm tinh thần sáng lóa, tinh khôi của thiên tài Hy Lạp, biểu lộ một cách bi tráng, lẫm liệt qua những bi kịch gia vĩ đại, những triết gia độc đáo tiền Socrates, Plato. Cuối cùng, Henry Miller với cuốn du ký tuyệt vời “The Clossus of Maroussi” đã đưa tôi vào những vườn olive, vườn chanh thơm ngát bên bờ biển, gặp gỡ những người Hy Lạp đầy sức sống, nồng nàn tình người.


Với tình yêu Hy Lạp đó tôi đã dịch Alexis Zorba vào năm 1969.


 Nguyễn Hữu Hiệu


 


Kỳ 59


 


“Tôi tự nhủ như vậy trong khi đi lên đi xuống cái công trường lớn mà ông đã biết. Ðột nhiên, tôi nghe thấy tiếng kêu la, khiêu vũ, trống, và mấy điệu hát Ðông Phương.


 Tôi lắng nghe và chạy tới nơi huyên náo. Ðó là một quán café – ca nhạc. Tôi chỉ muốn có thế. Tôi bước vào quán, ngồi xuống một cái bàn nhỏ ngay phía trước. Tại sao tôi lại phải dụt dè? Như tôi đã nói với ông, chẳng có ma nào biết nói, tôi hoàn toàn tự do!”


“Một mụ đàn bà to lớn vụng về đang nhẩy trên bục, mụ vén váy ưỡn ẹo, nhưng tôi không để ý. Tôi gọi một chai bia, rồi một con gà mái tơ đến ngồi bên tôi. Nàng dễ thương, da hung nâu, trát phấn lòe loẹt bằng một cái bay. “Nội cho phép?” Nàng vừa cười vừa hỏi.


“Máu tôi bốc lên đầu. Tôi phát điên muốn vặn cổ nó ngay, con bé trơ tráo! Nhưng tôi dằn lòng, tôi cảm thấy thương hại cái ‘giống cái’, tôi gọi bồi:


‘Hai chai champagne!’


Ông chủ phải thứ lỗi cho tôi! Tôi đã tiêu phí tiền ông, nhưng thực là một điều sỉ nhục ghê gớm, phải cứu vãn danh dự của tôi, phải bắt con bé ngạo mạn này quì trước mặt chúng ta! Bắt buộc phải làm như vậy. Tôi không biết bao giờ ông lại để tôi thiếu tự vệ như vậy, vào giây phút khó khăn này! Bởi vậy, ‘Hai chai champagne, bồi!’


Rượu champagne tới, tôi cũng gọi bánh ngọt đàng hoàng và lại gọi thêm champagne nữa. Một gã mang hoa nhài đi tới, tôi mua cả thúng và đổ vào lòng con ranh con dám sỉ nhục chúng ta.


Chúng tôi uống hết ly này đến ly khác, nhưng tôi xin thề, ông chủ, tôi không hề đụng tới con nhỏ. Tôi biết thân tôi. Khi tôi còn trẻ, việc đầu tiên tôi làm là cấu véo và đùa giỡn với họ. Bây giờ già cả, việc đầu tiên mà tôi làm là chi tiền, nịnh đầm, tiêu tiền như rác. Ðàn bà thích được chiều chuộng như vậy. Mấy con đượi phát điên lên vì những cung cách đó, và ông tha hồ gù lưng, lẩy bẩy, xấu như ma, họ quên hết. Họ không nhìn thấy gì khác, mấy con đĩ, ngoài bàn tay vung tiền như nước. Bởi vậy, như tôi đã nói, tôi tiêu mất một món tiền lớn – cầu Thượng Ðế ban phước lành cho ông và trả lại cho ông gấp trăm lần, ông chủ, – và con đượi không chịu rời tôi ra nữa. Nó xích lại dần dần, nó kề cái đầu gối nhỏ bé của nó vào hai cẳng chân xương xẩu to lớn của tôi. Nhưng tôi giống như hệt một tảng băng, mặc dầu bên trong tôi nóng bỏng và bứt rứt. Ðó là cái làm cho đàn bà điên đầu, ông phải biết điều đó phòng khi gặp trường hợp tương tự, rất có lợi cho ông: Ðể họ cảm thấy rằng ông đang sôi sục bên trong tuy nhiên ông không thèm đụng tới họ!”


Ðã quá nửa đêm. Ðèn bắt đầu tắt, quán café-ca nhạc đóng cửa. Tôi móc túi lấy ra một tờ giấy một ngàn drachma, trả tiền và cho bồi một món tiền nước hậu hỹ. Con nhỏ bám sát lấy tôi. “Anh tên gì? nó hỏi tôi bằng một giọng đắm đuối mê mệt – Ông nội!” Tôi bực mình đáp!


“Con đĩ non véo tôi một cái rõ đau và thì thầm: “Ði với em… đi với em…”


“Tôi cầm bàn tay nhỏ xíu của nó, siết chặt một cách rất điệu và trả lời: “Ði thì đi, cục cưng của tôi…” Giọng của tôi khàn khàn.


“Phần còn lại, ông có thể tưởng tượng lấy, ông chủ. Chúng tôi làm công việc của chúng tôi. Rồi chúng tôi lăn ra ngủ. Khi tôi thức dậy, ít ra là mười hai giờ trưa rồi. Tôi nhìn quanh, và tôi thấy gì? Một gian phòng nhỏ xinh xinh, sạch sẽ, ghế bành, lavabo, xà bông thơm, ve lọ to nhỏ, gương lớn gương con, váy màu sặc sỡ mắc trên tường và đủ thứ hình: thủy thủ, sĩ quan, tướng tá, cảnh sát vũ nữ, đàn bà với một bộ đồ duy nhất trên giường, một đôi dép nhỏ. Và bên cạnh tôi, trên giường một con cái ấm áp, thơm tho, tóc rối.”


“A! Zorba, tôi vừa khẽ nhủ thầm vừa nhắm mắt lại, mi đã vào Thiên Ðàng ngay khi còn sống! Ðây là một nơi thú vị, đừng có nhúc nhích!”


“Ông chủ, tôi đã có lần nói với ông rằng mỗi người có một thiên đàng riêng. Với ông, Thiên Ðàng sẽ chứa đầy sách và những bình mực lớn. Với kẻ khác, nó sẽ chứa đầy những thùng rượu vang, rhum, cognac. Với kẻ khác nữa, nó chất hàng đống tiền. Thiên Ðàng tôi là một gian phòng nhỏ thơm ngát với những xiêm y rực rỡ, những bánh xà phòng thơm, một cái giường rộng với những cái lò-xo thật tốt và bên cạnh tôi, một người đàn bà.”


“Tội lỗi thú thực được tha thứ nửa phần.” Suốt ngày tôi không thò mặt ra ngoài. Ông thử nghĩ xem đi đâu? Làm gì mới được chứ? Tôi đang sung sướng nơi đây! Tôi sai người tới một lữ quán thượng hạng đặt thức ăn và họ mang tới cho chúng tôi một khay thực phẩm, toàn những đồ ăn bổ dưỡng: Trứng cá muối đen, thịt sườn, cá, nước chanh vắt, cadaif (*).Chúng tôi lại làm ái tình một lần nữa và ngủ thêm một giấc. Buổi tối chúng tôi thức dậy, mặc quần áo và khoác tay nhau tới quán café-ca nhạc nơi nàng làm việc.


 


(*) Bánh ngọt Thổ Nhĩ Kỳ gồm hạnh nhân, hạt đỏ, mật ong…

Tin ngắn Song Thành

 


Khóa Huấn Luyện Báo Chí Kỳ 2


Viện Báo Chí Á châu (Asian Community Media Institute) trân trọng thông báo và mời tham dự Lớp Huấn Luyện Báo Chí đợt 2 với các chi tiết như sau:


Thời gian: 2 giờ chiều của 8 chiều Thứ Bảy và 1 giờ chiều Thứ Tư từ 6 tháng 10 đến 1 tháng 12 năm 2012.


Ðịa điểm: Trung Tâm Kỹ Thuật Á Châu (Asian Community Technology Center), 417 University Avenue W., St. Paul, MN 55103


Phone: (651) 224-0242, Fax: 651-224-7032, email: [email protected]


Xin vui lòng ghi danh trước ngày 5 tháng 10, 2012


 


Lớp Việt Ngữ


Hột Thánh Tin Lành Việt Nam tại Song Thành sẽ khai giảng trở lại các lớp dạy tiếng Việt từ ngày 9 tháng 9, 2012.


Chi tiết như sau:


– Thời gian: Từ 12g30 trưa tới 1:30 chiều mỗi ngày Chúa Nhật


– Ðịa điểm: Hội Thánh Tin Lành Việt Nam Minnesota, 3100 Grand Avenue S., Minneapolis, MN 55408


– Các lớp học:


Lớp Thiếu nhi 1 (từ 6-8 tuổi)


Lớp Thiếu nhi 2 (từ 9-12 tuổi)


Lớp Thiếu nhi 3 (từ 13 tuổi trở lên)


– Liên lạc: Quốc Phạm- 651-338-2152 để biết thêm chi tiết hoặc vào mạng: http://www.tinlanhmn.org/ui/home/Programvietnameseclass.aspx


 


Ủy Ban Yểm Trợ Phim Tài Liệu Việt Nam


Qua 2 buổi thuyết trình của GS Nguyễn Ngọc Bích, chủ tịch nghị hội vào ngày 30 tháng 3, 2012 và đạo diễn phim Chu Lynh, giám đốc Câu Lạc Bộ Phim Tài Liệu Việt Nam vào ngày 3 tháng 5, 2012 tại Cơ Quan Xã Hội Việt Nam/MN, Các thiện nguyện viên trong cộng đồng Việt Nam MN dã ủng hộ dự án phim tài liệu bằng cách thành lập Ủy Ban YTPTLVN với thành phần như sau:


Trưởng ban: Phạm Văn Vy, Phó TP: Vĩnh Ðại, Thủ quỹ: Lisa lan Thái, Thư ký: Trần An, Cố Vấn: Cha Minh


Ủy Viên; Phạm Văn Yến, Dương Văn Ngự, Bùi Ngọc Tuấn, Trần Phước, Phan Thanh Tâm, Nguyễn Minh Phan, Phạm Vinh, Phạm Ðễ, Nguyễn Văn Tom, Khánh Vân và Huỳnh Sĩ Nghị.


Phiên họp ngày 16 tháng 6, 2012 ủy ban đã được tường trình nhiều tiến triển khả quan từ Ủy Ban cũng như Câu Lạc Bộ Phim Tài Liệu Việt Nam như phim Quốc kỳ và Quốc ca Việt Nam Cộng hòa đồng thời bàn thảo nhiều vấn đề then chốt về sự liên hệ giữa Ủy Ban và Câu Lạc Bộ Phim Tài Liệu Việt Nam. Phiên họp 14 tháng 7, 2012 rất khích lệ cho các sinh hoạt tương lai.


Phiên họp kế là ngày Thứ Bảy, 18 tháng 8, 2012 lúc 11AM tại Cơ Quan Xã Hội Việt Nam/MN với các tài liệu và phim bản đặc biệt.


Những chương trình sinh hoạt sẽ được chọn lựa vào phiên họp Thứ Bảy, 15 tháng 9, 2012 tại CQXHVN/MN.


Ðể biết thêm chi tiết về sinh hoạt của nhóm, Xin liên lạc: Huỳnh Sĩ Nghị (651) 755-6864, [email protected]


 


Chương trình ca nhạc gây quỹ trợ giúp thương phế binh QLVNCH


Thời gian: 18 giờ Thứ Bảy, ngày 20 tháng 10 năm 2012.


Ðịa điểm: Nhà hàng Hoa Biển, 1105 University Avenue W, St. Paul, MN 55104.


Chương trinh: Ca nhạc, ẩm thực và khiêu vũ.


Vé ủng hộ: $25.00.


Liên lạc: Ông Ngô Trọng Phục (952) 457-0365 Hội Cựu Chiến Sĩ QLVNCH/MN


 


Lễ ra mắt/phát hành phim Hồn Việt


Thời gian: 5PM, Thứ Bảy, ngày 17 tháng 11 năm 2012


Ðịa điểm: Nhà hàng Hoa Biển, 1105 University Ave., St. Paul, MN 55103


Chương trình: Tiếp tân, dạ tiệc, giới thiệu chiếu phim (trích đoạn)… phát hành phim, văn nghệ.


Có sự tham gia của GS Nguyễn Ngọc Bích từ Hoa Thịnh Ðốn (WDC)


Vé ủng hộ $25, vé VIP $40


Liên lạc giữ chỗ/mua vé: Vĩnh Ðại (612) 532-9396, Huỳnh Sĩ Nghị (651) 755-6864, Trí Tang (612) 501-3613 và Phạm Ðễ (952) 281-3612.

Lá thư chủ nhiệm

 


Một diễn tiến “Trao Bó Ðuốc”


 


Tuần qua chúng tôi được chứng kiến một diễn đàn đối thoại giữa hai thế hệ trẻ-già tại đại hội hàng năm lần thứ 27 của tổ chức Nghị Hội Toàn Quốc Người Việt tại Hoa Kỳ (Nghị Hội).


 Ðây là một cuộc thảo luận giữa đại diện giới trẻ và các tham dự viên giới người có tuổi để tìm hiểu lẫn nhau ngõ hầu có sự cảm thông để cùng nhau phục vụ cộng đồng. Chúng tôi xin được tường thuật cuộc đối thoại và cũng là một ví dụ diễn tiến phải có cho việc “Trao Bó Ðuốc.”


Sau nhiều cố gắng mời gọi của Nghị Hội, lãnh đạo giới trẻ đã đáp lời. Cô Nguyễn Lan Anh – tân Chủ tịch Tổng hội Sinh Viên Bắc Mỹ (uNAVSA), Cậu Huỳnh Ðỗ Ðán – cựu Chủ tịch uNAVSA, cậu Nguyễn Long – cựu Chủ tịch Mid-Atlantic Union of Vietnamese Student Associations (MAUVSA) và cậu Stephen Nguyễn – Chủ tịch MAUVSA đã cùng đem lại nhiều suy nghĩ, nhận định của giới trẻ cho diễn đàn. Từ các đề tài về văn hóa, ngôn ngữ, quan niệm xã hội, hình thức dấn thân – giới trẻ đã được chia sẻ. Ngược lại giới có tuổi đã đưa đến sự cởi mở, sẵn sàng, chịu hòa đồng ngôn ngữ và tích cực hợp tác. Nhiều mẫu đối thoại thẳng thắn đầy khích lệ trong suốt thời gian của diễn đàn. Cuối cùng kết quả là giới trẻ cam kết dấn thân.


Chúng tôi mong quý độc giả và đồng hương phát động những đối thoại tương tự để người trẻ có thể xóa bỏ các ngại ngùng cho việc dấn thân và đón nhận những bó đuốc của thế hệ đàn anh.


Trân trọng.

Huỳnh Sĩ Nghị


Chủ nhiệm

Phim ‘Hồn Việt’ và Biển Ðông sẽ là điểm nhấn công tác của Nghị Hội

 


Người Việt Khắp Nơi


 


Tâm Việt


 


Sau ba ngày cật lực làm việc, Nghị hội Toàn quốc Người Việt tại Hoa Kỳ đã bầu xong những chức vụ chính trong Hội đồng Ðiều hợp Trung ương cũng như Ban Chấp hành cho nhiệm kỳ 2012-2014.










GS Nguyễn Ngọc Bích, Chủ tịch Nghị Hội.


Cùng lúc, Nghị hội cũng đã đưa ra một nghị quyết 9 điểm nhằm đưa tuổi trẻ vào một vài địa vị then chốt trong tổ chức và nhấn mạnh mấy công tác như phát hành phim “Hồn Việt” và tìm giải pháp cho vấn đề Biển Ðông.


 


Bữa cơm thân mật ở Harvest Moon với Cộng đồng


 


Chiều Thứ Sáu, 21 tháng 9, Nghị hội đã có một buổi họp tiền hội nghị nhằm duyệt lại công việc của tổ chức trong thời gian qua, nhất là từ Ðại hội năm ngoái ở Dallas, Texas. Buổi họp đã thông qua những báo cáo tài chánh cũng như những phương thức sinh hoạt của Nghị hội trong những năm gần đây, chủ yếu là cộng tác với một số cơ quan, đoàn thể và tổ chức phi chính phủ trong cộng đồng nhằm xúc tiến những mục tiêu mà Nghị hội đeo đuổi trong các lãnh vực tự do, dân chủ hóa và nhân quyền cho VN, bảo vệ quyền lao động của các công nhân VN, bảo vệ chính nghĩa của miền Nam và người Việt tự do, cùng khuyến khích người Mỹ gốc Việt tham gia vào chính trị chính mạch của xứ này, nhất là vì năm nay là năm tổng tuyển cử với cuộc chạy đua vào Tòa Bạch Ốc của hai ông Obama và Mitt Romney.


Sau đó, khoảng 130 người trong cộng đồng địa phương đã đáp lời mời của Nghị hội để đến một bữa cơm thân mật làm quen ở nhà hàng Harvest Moon. Ngoài người của Nghị hội, người ta thấy sự có mặt của cựu Ðại sứ Bùi Diễm, cựu Tổng trưởng Dân vận Hoàng Ðức Nhã, ông Nguyễn Ngọc Linh (cựu Tổng giám đốc Việt Tấn Xã và Ðài phát thanh Sài Gòn), bà Trần Văn Kiện (ông Kiện là cựu Tổng trưởng Kinh tế), các giáo sư Phạm Văn Thuyết (nguyên là chuyên gia của Ngân hàng Thế giới), Nguyễn Mạnh Hùng (GS Bang giao Quốc tế VÐH George Mason University), sử gia Lê Mạnh Hùng và phu nhân, ký giả Lê Phan, đến từ Luân Ðôn, ông bà GS Ðoàn Viết Hoạt, ông bà cựu Thẩm phán Nguyễn Văn Thành, ông bà Luật sư Nguyễn Thế Sinh, các giáo sư Phạm Trọng Lệ, Phạm Văn Tuấn, Hoàng Trọng Hàn, Ðặng Ðình Khiết, Phạm Hữu Bính v.v… Trong giới quân nhân, ta cũng có thể ghi nhận các cựu Ðại tá Lâm Duy Tiên, Võ Nhẫn, Phạm Ngọc Thiệp, Trung tá Nguyễn Văn Lân (hội trưởng Hội Võ bị Ðà lạt), ông Paul Vân và bà Tuyết Lê (Orlando, FL), ông bà Nguyễn Việt Tiến (Mũ Ðỏ), ông Nguyễn Kim Hùng (hội trưởng Hội SVSQ Thủ Ðức), ông bà Ðoàn Hữu Ðịnh (Lôi Hổ), ông bà Ðào Hiếu Thảo (Không quân)… Trong lớp chuyên gia phải kể quý ông Vũ Khắc Dụng từ Philadelphia, Nguyễn Huy Long (Tiến sĩ), Phan Công Tâm từ Wisconsin về, Hồ Văn Sinh từ Cali, Trần Lê Minh, ông Dan Albert (người tổ chức VietFest), ông Võ Tuấn… Thành phần phụ nữ cũng không kém đông đảo: Cụ Nguyễn Thị Vân, bà Renée Bùi, GS Kim Oanh, bà Nguyễn Thị Yến và Trần Thị Thức (dạy ở FSI), nữ sĩ Trương Anh Thụy, bà Tuyết Ngọc, bà Huỳnh Thị Thanh, cô Lê Hoàng Quyên, các bà Lan Schofield, Chấn Eiland và Phượng Bradley, cô Hoài Thanh, nhà thơ Nguyễn Thị Thanh Bình, bà Thịnh Starr… Tóm lại là nhiều bộ mặt quen thuộc trong cộng đồng thuộc nhiều thành phần khác nhau. Riêng Cộng đồng DC-MD-VA thì được đại diện bởi ông Lý Hiền Tài (Ðồng Chủ tịch CÐ Maryland, đồng thời cũng đại diện Liên Minh Dân Chủ Thuần Túy), ông Lê Minh Thiệp (cựu sĩ quan Thiết giáp, Phó CT Cộng đồng DC-MD-VA và người trọng trách bầu cử cộng đồng sắp tới đây), ông Trần Văn Cẩn (LMDCTT), ông Nguyễn Văn Ðặng (Tổng thư ký)…


Sau nghi lễ chào quốc kỳ quốc ca Việt Mỹ, ông Huỳnh Trung Trực (Thụ Nhân) đã giới thiệu bà Jackie Bông lên giới thiệu quan khách và GS Ðào Thị Hợi lên giới thiệu thành phần Nghị hội có mặt, đặc biệt những người đến từ xa như ông Phạm Văn Vy và ông Phạm Văn Yến (Giám đốc Vietnamese Social Services of Minnesota), nhà báo Huỳnh Sĩ Nghị cũng đến từ Song Thành, ông Ðoàn Ðức Phương (cựu sĩ quan Không quân, Hội Diên Hồng, đến từ Boston, Massachusetts)… Rồi đến phiên ông Nguyễn Ngọc Bích, Chủ tịch Chấp hành Nghị hội, lên chào mừng và có đôi lời về Nghị hội. Tiếp đến là phần trình bày bằng PowerPoint công việc làm của Nghị hội do ông Huỳnh Sĩ Nghị giới thiệu.


Bữa cơm đã đặc biệt được ghi nhớ bởi những màn văn nghệ đơn sơ nhưng thật “ấn tượng” của ca sĩ Nguyên Thủy, hát vừa nghệ thuật vừa rất khỏe hai bài hát của Nguyên Khang, “Anh Là Ai?” và “Việt Nam tôi đâu?” Ca sĩ Kiều Nga cũng góp bài “Tình ca” rất đậm đà và bài “Dòng An Giang” rất trữ tình. Anh Vũ Kha, một giọng ca thật ngọt ngào, cống hiến hai bài nhạc tình, và nữ ca sĩ Hoài Thanh trình bày hai bài hát nhộn nhịp. Sau khi ca sĩ Nguyên Thủy lên góp thêm bài “Tình Lính” rất yêu đời thì ca sĩ Ðinh Hùng, một người khách, lên làm mọi người ngạc nhiên vì giọng rất điêu luyện của anh. Anh Hồ Văn Sinh từ Cali sau đó lên tình nguyện hát hai bài hát đấu tranh thật rạo rực, và cuối cùng tất cả mọi người được mời lên hát chung bài “Việt Nam Quê hương Ngạo nghễ” của Nguyễn Ðức Quang. Ra về, ai cũng bảo lâu lắm mới có một buổi văn nghệ hào hùng và ý nghĩa như vậy. Cần cảm ơn hai nhạc sĩ Nguyễn Trung Thành và Ngô Sỹ Thành đã đệm rất ư là chuyên nghiệp cho toàn buổi văn nghệ.


 


Phần hội thảo


 


Sang ngày hôm sau, Thứ Bảy 22 tháng 9, hội nghị đã đi vào những đề tài như bàn về việc tổ chức một hội thảo “Những tiếng nói từ Miền Nam,” tiếp nối Symposium “Voices from the South” do Cornell University tổ chức hồi đầu tháng 6 năm nay (do anh Phan Công Tâm trình bày); “Các quyền lao động” do bà Jackie Bông trình bày dựa trên kinh nghiệm của Ủy ban Bảo vệ Người Lao động VN, thành lập từ tháng 10, 2006 ở Ba Lan; và “Về một Hội nghị Diên Hồng Hải ngoại” do anh Hồ Văn Sinh trình bày. Song điểm thu hút sự chú ý nhiều nhất sáng hôm Thứ Bảy là việc trình chiếu sơ khởi (preview) phim “Hồn Việt” của Vietnam Film Club đang hoàn tất, gần xong, nói về “Quốc ca và Quốc kỳ Việt Nam.” Một bộ phim tài liệu công phu sẽ ra mắt khán giả vào cuối tháng 11 năm nay và phát hành khắp nơi, bắt đầu bằng 6 thành phố lớn ở Mỹ, những nơi nào có đông người Việt. Cùng lúc, phim cũng sẽ có ấn bản tiếng Anh.


Trong lúc cơm trưa được dọn ra tại chỗ thì nhà thơ Nguyễn Thị Thanh Bình cũng cho trình chiếu YouTube trình diễn bài thơ “No China” của cô (phản đối những sự xâm lấn của Trung Cộng ở Biển Ðông cũng như trên đất liền), nay đã được phổ nhạc thành nhạc “rap” rất sống động đã được rất nhiều người vào xem.


Chiều Thứ Bảy, cựu Ðại sứ Bùi Diễm đã bắt đầu buổi họp khoáng đại (có mời công chúng vào nghe) bằng một bài về “Chính sách của Hoa kỳ đối với Việt Nam,” một đề tài rất thời sự và cũng gần nóng bỏng như bài về “Ðiểm nóng Biển Ðông/Nam Hải” của GS Nguyễn Mạnh Hùng thuộc Viện Ðại học George Mason. Ông Nguyễn Ngọc Bích tiếp nối buổi nói chuyện bằng cách phân tích những đóng góp thiết thực của người Việt hải ngoại cho một giải pháp về Biển Ðông. Ông lược duyệt những cái mạnh yếu trong lập trường của phía Việt Nam: về mặt chủ quyền lịch sử (mạnh), về công pháp quốc tế (còn nhiều sơ hở), về luật biển (chưa ngã ngũ, VN bị Trung Cộng ép quá), trên mặt trận tuyên truyền (mình hãy còn yếu), đối với dư luận quốc tế (người ta chưa biết đầy đủ về lập trường của mình). Vì thế nên ông cho ta cần làm mạnh hơn nữa để quốc tế có thể hiểu ra và đứng về phía VN, như kêu gọi đặt tên biển Nam Hải thành “Biển Ðông Nam Á” (Nguyễn Thái Học Foundation đã có “petition on line” về chuyện này), tổ chức một vài hội nghị quốc tế về Biển Ðông, tìm cách tiến đến đồng thuận với các quốc gia trong ASEAN.


Cuối cùng, bốn anh chị em trẻ, Long Nguyễn (cựu CT MAUVSA, Mid Atlantic Union of Vietnamese Student Associations và cựu Thủ quỹ uNAVSA), Stephen Nguyễn, Ðán Huỳnh (Chủ tịch uNAVSA nhiệm kỳ 2010 2012), và Lan Anh Nguyễn (tân Chủ tịch uNAVSA, Union of North American Vietnamese Student Associations) đã đến để chia sẻ với Nghị hội những điều còn làm trở ngại một sự cộng tác thường xuyên hơn giữa tuổi trẻ VN và một hội như Nghị hội.


 


Nghị quyết và những tân ban


 


Sang sáng Chủ Nhật, 23 tháng 9, hội nghị đã thông qua một nghị quyết 9 điểm (đính kèm) và xét lại vấn đề nhân sự để bầu ra cho nhiệm kỳ 2012 2014 hai cơ cấu lãnh đạo Nghị hội như sau:


 


Hội đồng Ðiều hợp Trung ương


Chủ tịch: Nguyễn Ngọc Bích (VA)


Phó CT Miền Tây: Trương Vân Lan (CA)


Phó CT Miền Ðông: Ðoàn Ðức Phương (kiêm nhiệm chức vụ Tổng quản trị) (MA)


Phó CT Miền Bắc: Phạm Văn Vy (MN)


Phó CT vùng Thủ đô: Ðào Thị Hợi (VA)


 


Ban Chấp hành Trung ương


Chủ tịch: Nguyễn Mậu Trinh (MD)


Phó CT Phát triển: Huỳnh Sĩ Nghị (MN)


Phó CT đặc trách Khoa học, Môi trường: Mai Thanh Truyết (CA)


Phó CT đặc trách Tuổi trẻ: Long Nguyễn (VA)


Phó CT đặc trách Văn hóa Xã hội: Nguyễn Thị Thanh Bình (VA)


Tổng kiểm tra: Cụ Nguyễn Ðình Kỳ (VA)


Phụ tá đặc biệt cho Chủ tịch Chấp hành: Ðán Huỳnh (MN)


 


Nghị Quyết Ðại Hội lần thứ 27


Nghị Hội Toàn Quốc Người Việt tại Hoa Kỳ


 


Trong ba ngày từ 21 đến 23 tháng 9, 2012, Nghị hội Toàn quốc Người Việt tại Hoa Kỳ đã nhóm họp Ðại hội hằng niên lần thứ 27 ở khuôn viên Arlington của Viện Ðại học George Mason. Ðại hội đã duyệt lại những thành quả cũng như công tác của Nghị hội trong thời gian qua, đặc biệt là từ Ðại hội lần thứ 26 ở Dallas, TX (tháng 9, 2011). Dựa trên những bàn thảo và kết luận tại hội nghị, Ðại hội đã quyết định tập trung trong thời gian tới vào những sinh hoạt và công tác như sau:


1) Tiếp tục nêu cao chính nghĩa của người Việt Quốc gia qua việc yểm trợ phim “Hồn Việt” do Vietnam Film Club thực hiện nói về lá quốc kỳ và quốc ca của Việt Nam, cụ thể là qua việc phổ biến, gây quỹ, và phát hành phim này.


2) Cộng tác với giới học thuật Mỹ trong các đại học để tiếp tục đưa ra tiếng nói của miền Nam, chữa lại những cách nhìn sai lệch bấy lâu nay của các học giả Mỹ về chiến tranh Việt Nam cũng như xã hội miền Nam (trên mọi lãnh vực).


3) Tiếp tục làm việc với ngành truyền thông để đưa ra tiếng nói của Nghị hội trên các diễn đàn và đóng góp thiết thực vào giải quyết những vấn nạn trong cộng đồng hải ngoại.


4) Tiếp tục hợp tác với Ủy ban Bảo vệ Người Lao động Việt Nam nhằm giải cứu những công nhân gặp nạn ở các nước, như ở Mã Lai, Liên bang Nga, v.v…


5) Tiếp tục hợp tác với Ủy ban Cứu người Vượt biển (Boat People SOS.) để ra bản tin hàng tháng bằng tiếng Anh về nhân quyền ở VN. Cùng lúc, làm việc tay trong tay với Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam và các tổ chức phi chính phủ quốc tế về nhân quyền.


6) Yểm trợ cho những nỗ lực dân chủ hóa Việt Nam như tham gia Họp Mặt Dân Chủ (đã có mặt từ 2002) và Hội nghị Diên Hồng Hải ngoại.


7) Về Biển Ðông, tiếp tục làm việc với Hành pháp và Lập pháp Hoa Kỳ để tạo một thế đa phương, quốc tế hóa vấn để Biển Ðông trong nỗ lực đẩy lui áp lực ngày càng nặng nề của Trung quốc.


8) Trong sinh hoạt chính trị ở Mỹ, khuyến khích người Mỹ gốc Việt trên khắp các tiểu bang, đặc biệt ở những tiểu bang mà lá phiếu của chúng ta có thể giúp định đoạt kết quả, tích cực ghi danh và tham gia đi bầu đông đảo nhằm khẳng định tiếng nói của mình.


9) Cuối cùng, đặc biệt khuyến khích tuổi trẻ tham gia cộng đồng và Nghị hội, qua những sinh hoạt như các khóa huấn luyện tuổi trẻ hàng năm, được biết dưới tên VAYLC (Vietnamese American Youth Leadership Conference).


Vào ngày cuối Ðại hội, những nhân vật sau đây đã được bầu và sắp xếp lại như sau cho nhiệm kỳ 2012-2014:


 


Hội đồng Ðiều hợp Trung ương


Chủ tịch: Nguyễn Ngọc Bích (VA)


Phó CT Miền Tây: Trương Vân Lan (CA)


Phó CT Miền Ðông: Ðoàn Ðức Phương (kiêm nhiệm chức vụ Tổng quản trị) (MA)


Phó CT Miền Bắc: Phạm Văn Vy (MN)


Phó CT vùng Thủ đô: Ðào Thị Hợi (VA)


 


Ban Chấp hành Trung ương


Chủ tịch: Nguyễn Mậu Trinh (MD)


Phó CT Phát triển: Huỳnh Sĩ Nghị (MN)


Phó CT đặc trách Khoa học, Môi trường: Mai Thanh Truyết (CA)


Phó CT đặc trách Tuổi trẻ: Long Nguyễn (VA)


Phó CT đặc trách Văn hóa Xã hội: Nguyễn Thị Thanh Bình (VA)


Tổng kiểm tra: Cụ Nguyễn Ðình Kỳ (VA)


Phụ tá đặc biệt cho Chủ tịch Chấp hành: Ðán Huỳnh (MN)


(Làm tại Arlington, VA, ngày 23 tháng 9, 2012)

Giới Thiệu Sách

 


Trăng Vàng phụ trách


 


Hồ Chí Minh – Nhận định tổng hợp


Minh Võ


 


Minh Võ là bút hiệu của Vũ Ðức Minh, sinh năm 1931 tại Nam Ðịnh. Ðịnh cư tại San Diego.


Nguyên là Tổng bí thư Nguyệt san Tinh Thần, dịch giả nhiều sách Anh Pháp về các vấn đề tôn giáo, chính trị, văn học, lịch sử, tâm lý giáo dục.


Là quản đốc đài Tiếng Nói Quân Ðội, là sĩ quan liên lạc của Hiệp Hội Vô Tuyến Truyền Thanh Truyền Hình Á Châu và Thái Bình Dương.


Tác phẩm đầu tay của ông là Sách Lược Xâm Lăng Cộng Sản được truyền vang khắp nước.


Sau gần 10 năm tù cộng sản, vượt qua nhiều chứng bệnh trầm trọng, năm 1998, Ông lại viết sách. Tác phẩm mới nhất của Ông là Hồ Chí Minh – nhận định tổng hợp bao gồm:


– Tập trung ý kiến của hơn 100 tác giả khắp thế gìới về toàn bộ cuộc sống, sự nghiệp hành vi của Hồ Chí Minh.


– Những sự kiện chính xác nhất về con người tác động vào cuộc sống của dân tộc Việt Nam suốt thế kỷ qua..


– 1000 trang sách giải đáp về cuộc sống Hồ Chí Minh.


Trăng Vàng trân trọng giới thiệu đến bạn đọc tác phẩm mới của Minh Võ, Tiếng Quê Hương xuất bản lần thứ I Virginia 2006.


Sách dày 784 trang, in trong khổ giáy lớn, bìa cứng.


Ấn phí 30 USD.


Mọi giao dịch xin gửi thư về:


Tiếng Quê Hương


P.O Box 4653


Falls Church, VA 22044, USA

Alexis Zorba con người chịu chơi (Kỳ 58)

 


Không biết từ đời thuở nào tôi đã vô cùng ái mộ nền văn minh Hy Lạp. Hy Lạp với những đền đài uy nghi tráng lệ song lại rất giản đơn, thanh nhã. Hy Lạp với những thần linh uy mãnh song lại mỹ miều như những con người ngọc và đầy đam mê rất người. Và rồi dưới ảnh hưởng của Nietzsche, tôi biết ái mộ thêm tinh thần sáng lóa, tinh khôi của thiên tài Hy Lạp, biểu lộ một cách bi tráng, lẫm liệt qua những bi kịch gia vĩ đại, những triết gia độc đáo tiền Socrates, Plato. Cuối cùng, Henry Miller với cuốn du ký tuyệt vời “The Clossus of Maroussi” đã đưa tôi vào những vườn olive, vườn chanh thơm ngát bên bờ biển, gặp gỡ những người Hy Lạp đầy sức sống, nồng nàn tình người.


Với tình yêu Hy Lạp đó tôi đã dịch Alexis Zorba vào năm 1969.


 


Nguyễn Hữu Hiệu


 


Kỳ 58


 


“Làm sao bây giờ, ông chủ? Tới bây giờ hai tên Zorba đánh nhau? Kẻ nào thắng? Nếu tôi sớm ngoẻo, hay lắm, tôi không lo âu gì cả. Nhưng nếu tôi tiếp tục sống dai dẳng, tôi lúa rồi. Tôi lúa rồi, ông chủ, một ngày kia tôi sẽ trở thành đê hèn nhục nhã.


Tôi sẽ mất tự do: Con dâu tôi và con gái tôi ra lệnh cho tôi chăm nom một con khỉ con, một con quái vật kinh khủng, hậu duệ của chúng, để nó đừng phải bỏng đừng ngã, đừng chơi bẩn. Và nếu có chơi bẩn, chúng sẽ bắt rửa ráy cho nó! Khiếp!


Ông cũng sẽ phải chịu số phận nhục nhã tương tự, ông chủ, dầu ông còn trẻ. Ông hãy coi chừng! Hãy nghe điều tôi nói với ông, hãy theo con đường như tôi. Không có cách cứu chuộc nào khác; hãy đi vào trong núi, khai mỏ than, đồng, sắt, kẽm, kiếm cho thật nhiều tiền và cho họ hàng kính nể chúng ta, cho tất cả những tên tai mặt lớn ngả mũ chào chúng ta. Nếu chúng ta không thành công, ông chủ, thà chết, thà bị chó sói, hùm beo hay bất cứ con mãnh thú nào trong rừng ăn thịt còn hơn. Vì lẽ đó Thượng đế chí tôn sinh ra mãnh thú để vồ những kẻ như chúng ta, để họ khỏi trở nên quá đê hạ.”


Chỗ này Zorba vẽ bằng bút chì mầu một người cao lớn, ốm nhom, đang chạy dưới rặng cây xanh với bầy con sói đỏ đeo bén gót, và ở dưới hàng chữ: “Zorba và bẫy Tội Trọng” viết bằng chữ lớn.


Ðoạn hắn viết tiếp:


“Căn cứ vào thư tôi, chắc ông cũng hiểu tôi là kẻ bất hạnh như thế nào. Chỉ khi nào nói với ông nỗi u uẩn của tôi mới có cơ khuây khỏa đôi phần. Bởi ông cũng giống hệt như tôi, có điều ông không biết đấy thôi. Ông cũng có một con quỉ trong ông, nhưng ông không biết tên nó, và, vì không biết ông ngộp thở. Ðặt tên cho nó, ông chủ, và ông sẽ cảm thấy thoải mái hơn.


Tôi đã nói tôi là một kẻ bất hạnh. Tôi có thể nhìn thấy rõ rằng tất cả trí thông minh của tôi chủ là sự ngu dại không hơn không kém. Tuy nhiên, thỉnh thoảng tôi cũng trải qua những ngày có những ý nghĩ cực kỳ cao viễn, và nếu tôi có thể thực hiện điều đó Zorba bên trong ra lệnh, cả thế giới sẽ sửng sốt!


Thấy rằng tôi không ký giao kèo hữu hạn với đời tôi, tôi phải phanh xuống con dốc nguy hiểm nhất. Ðời người là một con đường có lên đèo xuống dốc. Tất cả những người khôn ngoan đều tiến lên với một cái thắng. Nhưng tôi, và đây là giá trị của tôi, ông chủ, tôi phá hủy cặp thắng của tôi từ lâu rồi, bởi sự lắc xóc không làm tôi sợ hãi chút nào. Thợ máy chúng tôi gọi sự trật đường ray là xóc. Trời đánh nếu tôi để ý tới những cái lắc xóc này. Ðêm ngày tôi đâm bổ hết ga về phía trước tôi làm bất cứ điều gì tôi thích: Thây kệ nếu tôi tan như xác pháo. Tôi có gì để mất? Không có gì cả. Bằng cách nào đi nữa, dầu tôi thung dung bước tới, cuối cùng tôi không phải xuôi tay nhắm mắt sao? Dĩ nhiên là có! Vậy chúng ta hãy đốt giai đoạn!


Tôi chắc bây giờ ông đang cười tôi, ông chủ, nhưng tôi cứ viết cho ông những sự u mê của tôi, hay, nếu ông thích, những suy tư của tôi hay những sự yếu đuối của tôi thì cũng vậy – quả thực tôi không thấy có sự khác biệt nào giữa ba điều ấy – tôi cứ viết và ông, ông cứ cười nếu ông thích. Tôi cũng cười khi nghĩ rằng ông cười tôi, và vì thế sự tiếu ngạo không bao giờ dứt trên thế gian. Mỗi người đều có cái điên cuồng riêng, nhưng nỗi điên cuồng lớn nhất, theo tôi, là không có một nỗi điên cuồng nào.


Bởi thế tôi đang xem xét nỗi điên cuồng của tôi ở đây, tại Candia, và tôi viết tỉ mỉ cho ông, ông chủ, bởi tôi muốn hỏi ý kiến ông. Ông còn trẻ thật, nhưng ông đã đọc sách thánh hiền và ông đã thành, xin ông thứ lỗi, một ông cụ non; vì thế, tôi cần những lời khuyên bảo của ông.


Vâng, tôi nghĩ rằng mỗi người có một hơi hám riêng của mình. Chúng ta không phân biệt được vì những hơi hám trộn lẫn với nhau và chúng ta không biết mùi nào của ông, mùi nào của tôi, thực thế… Chúng ta chỉ biết rằng có một mùi hôi thối lắm và đó là cái người ta gọi là “nhân loại”, tôi muốn nói: Mùi hôi thối nhân loại. Không thiếu gì những kẻ hít lấy hít để cái mùi đó như thể đó là mùi lan huệ. Riêng tôi, mùi đó làm tôi muốn mửa. Nhưng thôi, đó là chuyện khác.


Tôi chỉ muốn nói – và tôi lại sắp nhả thắng một lần nữa – rằng những con đàn bà đĩ thõa có những cái mũi ướt như mũi chó, và chúng đánh hơi thấy ngay người đàn ông nào thèm muốn chúng và người nào không thèm chúng. Bởi thế trong bất cứ thành phố nào tôi đặt chân tới, ngay cả bây giờ, già cú đế và xấu xa như một con khỉ đột, quần áo lôi thôi, tôi cũng luôn luôn có hai ba con đàn bà chạy theo đuôi. Chúng hít hơi tôi, mấy con chó. Cầu Thượng Ðế ban phước lành cho chúng!


Ngày đầu tiên tôi an toàn đến Candia vào lúc nhọ mặt người. Tôi chạy ngay tới mấy tiệm buôn nhưng tất cả đều đóng cửa. Tôi vào một lữ quán, cho la ăn tôi cũng ăn uống, rửa ráy. Tôi châm một điếu thuốc và đi dạo một tua. Tôi không biết một ma mãnh nào trong tỉnh và cũng chẳng ma nào biết tôi; tôi hoàn toàn tự do. Tôi có thể huýt gió trong phố, cười nói một mình. Tôi mua một ít passa-tempo (*), tôi nhằn, nhổ và mặc sức lang thang. Ðèn đường bật sáng, đàn ông uống rượu khai vị, đàn bà trở về nhà, không khí ngát mùi son phấn, xà phòng thơm, rượu hồi hương và souvlakia (**).Tôi tự nhủ: “Này lão Zorba kia, mi hy vọng sống với hai cánh mũi phập phồng đó bao lâu nữa? Mi không còn nhiều thì giờ để hít thở không khí nữa đâu đấy nhé. Tiếp tục đi, ông bạn già, hít thở cho thẳm sâu vào!”


 


(*) Hạt bầu rang.


(**) Găm thịt nướng – G.c.D

Tản Mạn Thơ Văn

 


Người phụ trách: Nhà thơ Chân-Trời-Chân-Mây


 


Vài dòng tiểu sử:


Chân-Trời-Chân-Mây là bút hiệu của Thái Văn Phục. Nhà thơ còn có bút hiệu Thái Dương và Thái Văn.


Sinh đầu thập niên 1940 tại miểu Gia khẩu, Hạnh Thông Xã, Gò Vấp, Gia Ðịnh.


Sĩ quan Pháo Binh QLVNCH và trung thành chế độ VNCH mãi mãi.


Chân-Trời-Chân-Mây trân trọng mời quí bạn yêu tiếng Việt muốn tìm thấy hạnh phúc được làm thơ tiếng Việt xin tham gia, không phân biệt già, trẻ, quốctịch, màu da, tôn giáo, nhân sinh quan (ngoại trừ chủ nghĩa Cộng Sản). Ðặc biệt hoan nghênh bạn Thơ Minnesota.


Thư hoặc bài thơ xin gởi về: Phục văn Thái, 10983 98th Avenue N. Maple Grove, MN 55369. Hoặc Email: Phuc Thai<[email protected]>


 


Nhớ người dưng


 


Mỹ Trinh


 


Từ cái thuở ngày xa đêm nhớ


Ðem mộng về ôm nợ tương tư


Người dưng tim bỗng nát nhừ


Nhớ thương da diết thơ ru kết lời


 


Làm sao biết nụ cười chợt tắt


Chong đèn khuya hiu hắt lòng ta


Người dưng mờ ảo mượt mà


Cho ta mơ ước trăng ngà làm thơ


 


Ơi người dưng bơ phờ điệu nhớ


Ơi người dưng trăn trở vì đâu


Xa nhau giây phút để sầu


Xa nhau khắc khoải bể dâu muôn trùng!


–––––––––––-


 


Ðừng chê con gái


 


Trọng Văn


 


Ðừng lầm tưởng là con gái nó ngốc


Khôn thí mồ, làm bộ giỏi một cây


Chính vì thế con trai bị gạt hoài


Vậy thử hỏi ai khôn và ai dại?


 


Bọn con trai, đứa nào hổng mê gái?


Lỡ thương rồi, chả biết phòng hờ chi


Tuổi mới lớn, tập tành trồng cây si


Bao tình cảm trao đi, khỏi lấy lại


 


Yêu một chiều cũng là thường lắm đấy


Như mấy thằng thi sĩ viết lung tung


Nhiều khi đọc thấy tội nghiệp quá chừng


Cùng hoàn cảnh, nói chung dễ thông cảm.


 


Tin con gái dại khờ? Thôi hổng dám!


Nhìn quý bà xỏ mũi đám đàn ông


Cánh mày râu có thoát khỏi hay không?


Chê con gái, chỉ chê cho sướng miệng!


(21 tháng 9, 2012)


–––––––––––––


 


Số kiếp con trai


 


Ai cũng bảo… con trai đa tình lắm


Chung thủy thường là chuyện chẳng… xảy ra


Yêu một lúc nhiều người không ngán ngẫm


Bởi trời sanh… tim có lắm ngăn mà


 


Ai cũng bảo con trai hời hợt lắm


Có bồ rồi, thấy gái vẫn… không tha


Khi lấy vợ, “ăn cơm” hoài cũng… chán


Nên thường ra… “tiệm phở” để… hít hà


 


Nhưng, ai hiểu làm con trai cũng khổ


Khi bồ buồn phải biết dỗ dành luôn


Khi vợ giận nếu tìm không… đúng chỗ


Nằm sofa, ôi… giấc ngủ sao buồn


 


Yêu một lúc nhiều người đâu có sướng


Mỗi một người phải chiều chuộng khác nhau


Phải chia chác thì giờ ra đưa đón


Phải ga lăng, quà cáp, tốn hầu bao


 


Yêu một lúc nhiều người đau tim lắm


Ðổ bể là… “họ” chắc chắn không tha


Rồi bên kéo, bên ghì, bên dấm dẳng


Gặp cảnh này khí phách cũng… ra ma


 


Nói vậy chứ… một phần hai trái đất


Là con trai, đàn ông rất… “tài ba”


Thử tưởng tượng một ngày mai… bất chợt


Cả thế gian toàn con gái, đàn bà


 


(“Họ” trang điểm cho ai coi đây chứ


Rồi… dịu dàng, rồi thục nữ với ai


Ai giúp “họ”… nên con đàn cháu lủ


Ai chống chèo cùng “họ” đến… tương lai)


 


Ai cũng bảo… nhưng nào ai từ chối


Khi bất ngờ hứng trúng… mũi tên yêu


Làm con gái, con trai chi… cũng tội


Nên hòa nhau – vì cuộc sống, nâng niu…


(21 tháng 9, 2012)


––––––––––––-


 


Thiên Hương… rớt lá thơ bay*


 


 


Hương trôi ngược xuống từ trời,


Cô đơn ngơ ngác phố người vô tâm.


Hương thơm từ cõi xa xăm,


Khổ đau quá khứ bay lầm tương lai!


 


Hương à, chia sẻ là ai,


Tri âm, tri kỷ nhạt phai nắng chiều!


Cô đơn về bến cô liêu,


Tiếng than não nuột rơi nhiều mưa Thu


 


Tự do hay vẫn ngồi tù,


Như ai kêu cứu lộng khu rừng già.


Gió cuồng xoáy lá bay xa,


Bay về cố quận nhớ nhà thương con!


 


Lá bay tưởng mất mà còn,


Chữ ghi trên lá linh hồn bài Thơ.


Tôi đi giữa phố, không chờ,


Lá gieo tâm sự bất ngờ nhói tâm


 


Bao nhiêu dâu biển thăng trầm,


Tôi đi vừa khóc… vừa cầm lá Thơ!


Duyên đâu khéo đến, không chờ,


Cảm ơn Hương nhé… rớt tờ Thơ bay!


 


Thái Văn Chân-Trời-Chân-Mây


Vạn Hồ, Hồng Ân Tịnh Lầu, Maple Grove, 21 tháng 9, 2012


 


* Thiên Hương là cố nhân của nhà thơ Sa Giang TTK, đang du lịch Hoa Kỳ

Những áng văn rất ‘điệu đàng, hoa mỹ’ của các cô cậu tú tại Việt Nam

 


* Ðinh Quát


 


Nhiều năm gần đây, đọc báo chí của nhà nước Hà Nội xuất bản tại Việt Nam, độc giả hãi hùng vì những trích thuật từ những áng “Kim Cổ Hùng Văn” của các cô cậu tú. Hãi hùng và buồn cười. Nghĩa là chết vì buồn, và vì cười.


Không buồn sao được khi thấy trình độ Việt văn của học sinh tú tài tại Việt Nam. Không cười sao được vì “tính sáng tạo ngoài sức tưởng tượng của loài người tiến bộ” của học sinh trong nước.


Ðiển hình là một bài viết trên tờ Tuổi Trẻ thuật lại lời một giảng viên môn Văn ở Hà Nội. Thầy giáo này dẫn chứng trong bài viết của ông nhiều vô số, không thể kể hết về tình trạng đáng báo động trong môn văn của học sinh hiện nay tại quê nhà chúng ta. Không phải đây là lần đầu tiên vấn đề này được nêu ra. Từ nhiều năm nay, rất nhiều người đã bày tỏ thái độ lo âu trước trình độ yếu kém tiếng mẹ đẻ của học sinh Việt Nam.


Sau đây là nguyên văn một đoạn trong bài viết của thầy giáo nói trên:


“Là một cán bộ chấm thi môn văn tuyển sinh đại học và cao đẳng từ hơn chục năm nay, chúng tôi có cảm tưởng hình như mỗi năm bài làm của thí sinh lại kém hơn một chút. Có những lỗi sai không thể chấp nhận được; có những bài thi, giám khảo không sao đọc được; có những câu văn của thí sinh, giám khảo ôm bụng cười tới năm phút, rồi mới chấm bài tiếp…”


“…Chúng tôi không đề cập tới những trường hợp khó viết đúng chính tả, chẳng hạn: truyện ngắn, câu chuyện, xuất sắc… hay các dấu ngoặc kép khi trích dẫn trọn vẹn các câu văn, câu thơ, hoặc tên bài văn, bài thơ. Nhưng có những lỗi không thể tha thứ được. Ví dụ:


Xuống dòng không viết hoa, chữ đầu dòng không viết hoa.


Tên riêng của người không viết hoa. Ví dụ: huy cận, nguyễn tuân.


Cả bài viết không có dấu chấm câu nào.


Những từ ngữ thông thường, đơn giản, học sinh viết vẫn sai. Ví dụ: lo nắng, í tưởng, Việt lam, đoạn quối truyện, mùa suân,…


Học sinh rất thường nhầm lẫn những từ có âm gần giống nhau. Ví dụ:


Thân thể ông lái đò rất tráng lệ (phải chăng học sinh định viết là cường tráng)


Những cánh đồng được phù sa bồi đắp sẽ trở nên phù du, màu mỡ (phải viết là phì nhiêu).


Giai đoạn này, ý chí của người dân đang ở mức tuột đỉnh (tột đỉnh).


Ðoạn thơ thể hiện tâm trạng vui sướng, hí hửng của tác giả (hớn hở).


Qua tác phẩm Ông Lái Ðò Sông Ðà, em rất ngưỡng mộ những cuộc giao hữu của ông lái đò với sông Ðà (ý học sinh muốn nói giao chiến?).


Nhan đề bài thơ Tiếng Hát Con Tàu có ý nghĩa rất sâu cay (sâu sắc).


Rất nhiều trường hợp, học sinh dùng từ sai, song chúng tôi cũng không hiểu lúc ấy học sinh muốn diễn đạt cái gì, và cần phải thay bằng từ ngữ nào cho câu văn có ý nghĩa. Ví dụ:


Ðó là một cụm từ gợi cho ta nỗi buồn, nó bê tha đến nhường nào.


Nguyễn Tuân là một nhà văn cổ kính.


Ông lão có đôi chân dài quắc thước.


Tây Bắc là nơi con tàu cất lên những tiếng hát. Ay vậy mà bài thơ Tiếng Hát Con Tàu ra đời.


 


“Nguyễn Tuân rất hung bạo”


 


Thoạt đọc tiểu tựa trên, ắt hẳn, nhiều độc giả sẽ giật mình. Xưa nay, chúng ta biết Nguyễn Tuân là một tên tuổi lớn của văn học Việt Nam thời tiền chiến. Tác phẩm Vang Bóng Một Thời một thời của ông là những áng văn trau chuốt, cầu kỳ, và đã để lại dấu ấn cho nhiều thế hệ. Chúng ta cũng biết Nguyễn Tuân với câu phát biểu “Tôi sống được trong chế độ này (cộng sản) vì tôi biết sợ.” Và Nguyễn Tuân sau năm 54 với “Phở.”


Còn “Nguyễn Tuân rất hung bạo” thì quả là xa lạ. Nhưng đó là Nguyễn Tuân trong các bài luận văn của những cô cậu tú hiện nay tại Việt Nam.


Trong bài viết đăng trên tờ Tuổi Trẻ của cán bộ chấm thi môn văn tuyển sinh, chúng ta đọc thấy một đoạn như sau:


“Có thể kể ra vô vàn những câu văn của học sinh mà người đọc không thể hiểu nổi học sinh đó muốn viết gì. Ðiều này chứng tỏ học sinh rất lơ mơ về kiến thức ngữ pháp tiếng Việt, đồng thời cũng chứng tỏ tư duy của con em chúng ta hết sức rối rắm. Có những giáo viên khi chấm bài không thể chịu đựng nổi đã phải phê: thần kinh không bình thường.


Xin kể vài trường hợp:


-Hình ảnh người lái đò sông Ðà rất dữ dội và hung bạo qua một thác nước thì phải có dữ dội vào tận tấm lòng con người từ lâu đến nay nói tới con sông Ðà nhớ ngay có Nguyễn Tuân vì Nguyễn Tuân có lúc rất là hung bạo, một mình ông cũng ngồi trên một chuyến để lái đò và ông cứ xoáy sâu vào hình tượng sông Ðà.


-Nguyễn Tuân là một cây bút rất đa tài, ông là một tác phẩm xuất sắc của văn chương, vì thế trong một con sông thì lúc nào cũng có sự hung bạo, nhưng đây ông đã miêu tả thật tài tình và phấn khởi.


-Trong nền văn học Việt Nam thì có rất nhiều nhà văn mà chúng ta được biết thì chúng ta không thể nói hết về nhà văn nhà thơ được mà Nguyễn Tuân là một nhà văn rất quen thuộc với bao cô cậu học trò cũng đang in rõ sâu trong lòng nhà thơ.


-Em thấy tùy bút của Nguyễn Tuân là một kiệt tác và được trợ giúp vào đó bởi ngòi bút của ông làm cho tác phẩm đã táo bạo, rùng rợn ghê gớm và bây giờ lại hơn thế nữa.


-Nguyễn Tuân là một nhà văn đã đưa nhân vật ông lái đò ở vào một tình thế vô cùng gian lao khiến ông phải mò mẫm bận rộn hàng ngày với công việc lái đò. Vậy mà Nguyễn Tuân lại miêu tả ông lái đò rất lãng mạn mà không kém phần nguy hiểm vì thế cho nên ông không sợ mà còn phân bố cho nhân vật của mình vào những chỗ nguy hiểm.


-Ông đã hoàn toàn chinh phục được nó, thà luồn lụy rồi lãnh đạo thiên nhiên chứ không để thiên nhiên lãnh đạo con người.


-Bài thơ được ra đời là lúc nằm trong hoàn cảnh trên đà tài năng của Chế Lan Viên đang nở rộ đã làm Tiếng Hát Con Tàu ngày một rạng rỡ.


-Chế Lan Viên là một nhà thơ xuyên suốt cuộc đời trong lãnh tụ của Ðảng và nhân dân cũng như tất cả các cán bộ…


Báo Tuổi Trẻ nhấn mạnh, rằng cần phải nhìn thẳng vào một thực tế là bây giờ có rất ít học sinh biết rung động với những bài thơ hay, câu văn đẹp. Vì vậy, khi viết văn, bình thơ, các em toàn diễn xuôi, hoặc thô thiển hóa văn chương. Bài thơ của người ta hay là thế, sau khi được các em phân tích, bình giảng, bỗng trở thành một thứ ngớ ngẩn, không thể nào chấp nhận được, đọc mà nhiều lúc phát tức. Tờ Tuổi Trẻ trích một số lời bình sau đây:


-Lời bình câu thơ: Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy.


Cảnh đông tàn rét mướt làm cho con người không muốn quét tước gì nữa, để rồi khi nắng lên, sau lưng thềm, lá đã rụng đầy như một bãi rác.


-Lời bình câu thơ: Mùa thu nay khác rồi.


Ðấy mới hôm nào đấy quay về thì phong cảnh ở đây đã khác rồi. Không ai đoán trước được chữ ngờ.


-Lời bình câu thơ: Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu.


Mở đầu đoạn thơ, tác giả đưa ngay ra một cái cồn nhỏ. Cồn của người khác thì rậm rạp còn cồn của Huy Cận thì lơ thơ vài loại cây. Cây cối của Huy Cận chỉ đủ dùng cho một luồn gió.


-Lời bình câu thơ: Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.


“Bến cô liêu” thì có nghĩa cô liêu là tên một bến đò. Và: “Cô” ở đây là chỉ một cô gái đứng cô đơn một mình.


Báo Tuổi Trẻ còn trích đăng đoạn mở đầu một bài luận văn của học sinh mà tờ Tuổi Trẻ mô tả là “rất điệu đàng, hoa mỹ”:


“Mỗi khi nghe tiếng sóng dữ dội đập vào bờ biển đầy rẫy những hòn đá là em lại chợt rùng mình trong lòng như tê tái có một điều gì đó làm em lo sợ. Ðúng rồi, đó là tiếng sóng dữ dội mà ông lái đò từng trải qua mà em đã từng được học trên lớp.”


Tưởng cũng cần nhắc lại, Tuổi Trẻ là tờ báo của Ðảng Cộng Sản Việt Nam. Và những trích đoạn nói trên được đăng trên Tuổi Trẻ. Chứ nếu không, chém chết thì giới lãnh đạo Hà Nội cũng hô toáng lên rằng, “các thế lực thù nghịch đang âm mưu diễn biến hòa bình.”

Giới thiệu thương mại

 


Mai Hoàng


 


SÀIGÒN IPHỞ


 


Nhà hàng Saigon trước đây nằm góc đường Dale và đường Univesity thuộc khu thương mại người Việt trong thành phố St. Paul, MN.



Khi chính phủ thành phố phát triển gia cư, cần trưng dụng cả khu vực nên phải dời về địa điểm mới, 704 University Avenue.


Chúng tôi xin được giới thiệu một loại nhà hàng đặc biệt này để quý vị có cơ hội thưởng thức.


Ðây là một nhà hàng tổng hợp các món ăn thuần túy Việt Nam với chỗ ngồi và phục vụ bình thường, bên cạnh là gian hàng bánh mì rộng rãi cho khách mua đi (to go). Chủ nhân là anh John Bùi có 15 năm kinh nghiệm (1997-2009 tại địa điểm cũ và 2009 hiện tại, ở địa điểm mới).


Ngoài các món thông dụng, nhà hàng còn cung cấp những món ăn đặc biệt như bò lúc lắc, bánh xèo v.v.


Giờ mở cửa từ 10am đến 8pm từ Thứ Ba đến Thứ Bảy, Chủ Nhật từ 10am đến 7pm và Thứ Hai đóng cửa.


Ðược hỏi về bí quyết thành công anh John Bùi cho biết, “Ngon miệng, sạch sẽ, nhanh chóng và giá cả phải chăng là các tiêu chuẩn của nhà hàng.”


Ðịa điểm: Nhà hàng SÀIGÒN IPHỞ


704 University Ave. W.


St. Paul, MN 55104


ÐT: (651) 225-8751

Có những cái quên mang trọng tội với lịch sử

 


Magna Carta Việt Nam


Nguyễn Văn Trần


 


Từ khi có đảng cộng sản Hà Nội xuất hiện hoạt động cướp chánh quyền ở Việt Nam, những người Việt Nam yêu nước và lương thiện không có chỗ đứng trên đất nước. Lẽ phải và sự thật lịch sử Việt Nam theo đà phát triển của lực lượng cộng sản ngày càng bị khuynh đảo, bôi xóa, tiếm đoạt để chỉ còn thứ lịch sử của đảng cộng sản làm ra.


Thảm hại hơn là trong lúc đó vì ảnh hưởng tuyên truyền của cộng sản và mặt khác, một nhóm người vì muốn đem lại chánh nghĩa cho việc truất phế Vua Bảo Ðại với khẩu hiệu “bài phong đả thực,” đã làm cho những người Việt Nam không cộng sản quên hoặc phủ nhận một số sự kiện lịch sử, điều này dĩ nhiên, đã góp thêm phần củng cố “tính tất yếu lịch sử” cho vai trò của cộng sản cướp chánh quyền để làm cộng sản trên cả nước.


Trong những cái quên đó, có thể kể ra hai cái quên hay phủ nhận cực kỳ thảm hại cho lịch sử dân tộc, đó là Bản Tuyên ngôn Ðộc lập ngày 11 tháng 3 năm 1945 và Chiếu Thoái Vị ngày 25 tháng 8 năm 1945 tại Ngọ Môn Ðài của Hoàng Ðế Bảo Ðại. Ý nghĩa của hai văn kiện lịch sử này rất đáng được trân trọng vì giá trị lịch sử to lớn của nó.


Nay, sau khi cái ồn ào rổng tuếch về ngày “Lễ Ðộc Lập 2 tháng 9” ở Hà Nội đã lắng đọng, chúng tôi muốn nhắc lại Chiếu Thoái Vị của Hoàng Ðế Bảo Ðại.


 


Ðại Hiến Chương Anh


 


Người ta biết qua “Ðại Hiến Chương của Anh,” tức “La Grande Charte” hay “Magna Carta Libertatum” như một sự kiện quan trọng về quyền lợi của dân được nhà vua tôn trọng. Khái niệm khởi đầu cho chế độ pháp trị ở Âu Châu. Nhưng thât ra, dân ở đây chưa phải là người dân tay lấm chân bùn, thợ thuyền lao động như ngày nay ta biết, mà là tầng lớp chư hầu của nhà vua. Tức các ông hoàng bà chúa, những nhà quí tộc. Những người này mới được gọi là thần dân và mới có tài sản.


Ðại Hiến Chương là một bản văn gồm 63 điều do tầng lớp chư hầu tranh thủ được ở nhà vua “Jean sans Terre” ngày 15 tháng 6 năm 1215 sau một cuộc nội chiến ngắn, quân phiến loạn chiếm lấy được thành phố Luân-đôn. Các chư hầu bất mãn những đòi hỏi thái quá của nhà vua về nghĩa vụ quân sự và nghĩa vụ tài chánh.


Bản “Ðại Hiến Chương về những quyền tự do của Anh” bảo đảm quyền tự do cá nhơn. Nó giới hạn sự chuyên quyền của nhà vua và thiết lập quyền an ninh nhân thân thành luật để ngăn cản sự bắt bớ bỏ tù một cách tùy tiện. Bản văn thiết lập sự kiểm soát thuế vụ do Ðại Hội Ðồng của Triều đình đảm trách.


Ðại Hiến Chương được làm mới lại suốt thời Trung cổ và qua suốt hai thế kỷ XVII và XVIII. Tới đầu thế kỷ XIX, một số điều khoảng được hủy bỏ trong luật của Anh.


Ảnh hưởng của Ðại Hiến Chương ra ngoài nước Anh, có thể nhận thấy ở bản Hiến pháp Huê kỳ và bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhơn quyền.


Hiến Pháp của các quốc gia theo “common law “đều chịu ảnh hưởng Ðại Hiến Chương nên bản văn do đó trở thành một tài liệu về luật pháp quan trọng hơn hết trong lịch sử dân chủ ngày nay. Nhứt là nó đánh dấu một Nhà nước chuyên chế bước qua một Nhà nước pháp trị chỉ do quyền hạn của nhà vua bị giới hạn.


Về tầm vóc, bản Ðại Hiến Chương chỉ giới hạn quyền lực của nhà vua để nhờ đó những quyền lợi của lớp chư hầu được tôn trọng mà trở thành một bản văn lịch sử mở ra chế độ dân chủ Âu Châu. Tính vĩ đại của bản văn không ở tự thân của bản văn mà do con người đã biết đánh giá bản văn, biết khai thác giá trị bản văn và biết đề cao và bảo vệ nó, trân quí nó.


 


Chiếu Thoái Vị của Hoàng Ðế Bảo Ðại


 


Về tầm vóc, có thể nói Chiếu Thoái Vị của Hoàng Ðế Bảo Ðại lớn hơn nhiều. Ngài đánh đổi ngai vàng gần 400 năm của Triều Nguyễn với tư cách “công dân một nước độc lập.” Và ngài làm công dân cho tới ngày cuối đời, kể cả lúc trở lại chánh quyền thành lập “Quốc gia Việt Nam.”


Có giá trị lớn về sự mất mát và tinh thần chấm dứt chế độ quân chủ để thật sự mở ra một đất nước độc lập, dân chủ.


Nhựt đảo chính Pháp tại Ðông Dương ngày 9 tháng 3, 1945. Bảo Ðại tiếp thu nền độc lập của Viêt Nam từ Nhựt với nhận định chánh đáng: “Trước kia nước Pháp giữ quyền bảo hộ nước ta, nay đã không giữ được nước cho ta, để quân Nhật đánh đổ, vậy những điều trong hiệp ước năm 1884 không có hiệu quả nữa, nên Bộ Thượng Thư đã tuyên hủy hiệp ước ấy. Trẫm phải dứng vai chủ trương việc nước và lập chính phủ để đối phó mọi việc,” (Le Dragon d’Annam, Plon, Paris, 1980), tuyên bố hủy bỏ các hiệp ước bất bình đẳng đã ký với Pháp trước đây và thành lập Chánh phủ Trần Trọng Kim ngày 16 tháng 4, 1945 để thể hiện một Việt Nam độc lập.


Nhựt hoàng đầu hàng vô điều kiện ngày 15 tháng 8, 1945, Thủ Tướng Trần Trọng Kim từ chức. Hai hôm sau, ngày 17 tháng 8, Việt Minh biến cuộc biểu tình lối 20,000 người được Tổng Hội Công Chức phát động trước Nhà Hát Lớn Hà nội để ủng hộ Chính phủ Trần Trọng Kim thành một cuộc biểu tình tuần hành đòi độc lập. Lần đầu tiên lá cờ đỏ sao vàng xuất hiện, với vài tên cộng sản cầm súng bắn chí choét chỉ thiên. Thế là ngày 19 tháng 8,Việt Minh huênh hoang tuyên bố cướp chính quyền trong một “cuộc binh biến” mà chúng gọi là “Cách Mạng Tháng Tám,” “Cách mạng mùa Thu” hay “Tổng Khởi Nghĩa.”


Vua Bảo Ðại công bố ngày 25 tháng 8 năm 1945 Chiếu Thoái Vị, chánh thức chấm dứt Nhà Nguyễn và chế độ quân chủ ở Việt Nam. Bản tuyên ngôn được vua Bảo Ðại soạn với sự trợ giúp của hoàng thân Vĩnh Cẩn trong đêm 22 tháng 8, 1945 tại điện Kiến Trung, hoàng thành Huế. Sáng hôm sau, khi đại diện Việt Minh là Trần Huy Liệu và Cù Huy Cận đến cung điện để tiếp thu bàn giao, lúc đầu Bảo Ðại đưa bản Tuyên ngôn cho Trần Huy Liệu. Nhưng Trần Huy Liệu hội ý với Cù Huy Cận và tâu với Bảo Ðại rằng:


“Thưa Hoàng thượng, nhân danh dân tộc Việt Nam, chúng tôi nhận bản văn này rất nhẹ nhàng, không câu nệ. Nhưng, chúng tôi kính xin Hoàng thượng cho tổ chức một buổi lễ vắn tắt, trong đó xin Hoàng thượng công khai tuyên bố cho mọi người biết.”


Theo lời yêu cầu của Trần Huy Liệu, đại diện Chánh phủ Dân Chủ Cộng Hòa ở Hà Nội, chiều ngày 25 tháng 8, 1945, Bảo Ðại mặc trào phục và đọc bản Tuyên ngôn Thoái vị trước hàng ngàn người tụ họp vội vã trước cửa Ngọ Môn (sđd), như sau:


 


“Vì hạnh phúc của dân tộc Việt Nam,


“Vì nền độc lập của Việt Nam,


“Ðể đạt hai mục đích ấy, Trẫm tuyên bố sẵn sàng hy sinh tất cả, và ước mong rằng sự hy sinh của Trẫm đem lại lợi ích cho Tổ quốc.


“Nhận định rằng sự đoàn kết của toàn thể đồng bào chúng ta vào giờ phút này là một sự cần thiết cho Tổ quốc chúng ta, ngày 23 tháng 8, Trẫm đã nhắc lại cho toàn thể nhân dân ta là: Ở giờ phút quyết định này của lịch sử, đoàn kết có nghĩa là sống, mà chia rẽ là chết.


“Chiếu đà tiến dân chủ đang đẩy mạnh ở miền Bắc nước ta, Trẫm e ngại rằng một sự tranh chấp giữa miền Bắc với miền Nam khó tránh được, nếu Trẫm đợi sau cuộc trưng cầu dân ý, để quyết định thoái vị. Trẫm hiểu rằng, nếu có cuộc tranh chấp đó, đưa cả nước vào sau hỗn loạn đau thương, thì chỉ có lợi cho kẻ xâm lăng.


“Trẫm không thể không ngậm ngùi khi nghĩ đến các tiên đế đã chiến đấu trên bốn trăm năm để mở mang bờ cõi từ Thuận Hóa đến Hà Tiên. Trẫm không khỏi tiếc hận là trong hai mươi năm ở ngôi, Trẫm không thể làm gì đem lại lợi ích đáng kể cho đất nước.


“Mặc dù vậy, và vững mạnh trong sự tin tưởng của mình, Trẫm đã quyết định thoái vị, và Trẫm trao quyền cho Chính phủ Dân Chủ Cộng Hòa.


“Trước khi từ giã ngai vàng, Trẫm chỉ có ba điều muốn nói:


-Thứ nhứt: Trẫm yêu cầu tân chính phủ phải giữ gìn lăng tẩm và miếu mạo của hoàng gia.


-Thứ hai: Trẫm yêu cầu tân chính phủ lấy tình huynh đệ đối xử với các đảng phái, các phe nhóm, các đoàn thể đã chiến đấu cho nền độc lập của đất nước, mặc dù không theo cùng đường hướng dân chủ của mặt trận, như vậy có thể giúp cho họ được tham gia vào sự kiến thiết đất nước, và chứng tỏ rằng tân chế độ đã được xây dựng trên tình đoàn kết dứt khoát của toàn thể nhân dân.


-Thứ ba: Trẫm yêu cầu tất cả các đảng phái, các phe nhóm, tất cả các tầng lớp xã hội cũng như toàn thể hoàng gia phải đoàn kết chặt chẽ để hậu thuẫn vô điều kiện cho Chính phủ Dân Chủ Cộng Hòa, hầu củng cố nền độc lập quốc gia.


“Riêng về phần Trẫm, trong hai mươi năm ở ngôi, Trẫm đã trải qua bao nhiêu cay đắng. Trẫm muốn được làm Dân một nước tự do, hơn làm Vua một nước bị trị. Từ nay Trẫm lấy làm sung sướng được là dân tự do, trong một nước độc lập. Trẫm không để cho bất cứ ai được lợi dụng danh nghĩa Trẫm, hay danh nghĩa hoàng gia để gieo rắc sự chia rẽ trong đồng bào của chúng ta.


“Việt Nam độc lập muôn năm,


“Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa muôn năm,


Huế, điện Kiến Trung ngày 25 tháng 8 năm 1945.”


 


Theo hồi ký của Bảo Ðại (sđd), bản tuyên ngôn được đọc trong sự yên lặng hoàn toàn. Mọi người có mặt trong buổi lễ đều ngẩn ngơ, bàng hoàng:


“Tôi quan sát các khán giả hàng đầu. Tất cả các vẻ mặt đều tỏ vẻ ngạc nhiên cùng cực. Nam và nữ đều ngẩn ngơ. Bản tuyên ngôn thoái vị của tôi như tiếng sét đánh xuống ngang đầu họ. Họ lặng người đi.


“Trong một bầu không khí bực dọc, tôi trao nhanh ấn tín, quốc bảo của hoàng triều cho Trần Huy Liệu, mà chính ông ta cũng có cảm tưởng như tự trên mây mà lại. Trong khi tôi hồi cung, đám đông tan rã, không một tiếng kêu.”


Thế mà Nguyễn Minh Triết trong lễ 2 tháng 9, 2010 dám tuyên bố: “Cách mạng Tháng Tám và sự ra đời của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là thắng lợi của trí tuệ, bản lĩnh và tinh thần đấu tranh quật cường của toàn thể dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Ðảng; là sự lựa chọn của chính nhân dân dân Việt Nam của lịch sử dân tộc Việt Nam…”


Lực lượng võ trang của Hồ Chí Minh lúc đó được mấy ngoe, đánh với ai? Nên nói lại cho rõ “Hồ Chí Minh chỉ cướp Chánh quyền của Chánh phủ Trần Trọng Kim sau khi Cụ từ nhiệm.” Tức Việt Minh vào ngôi nhà, cửa đã mở sẳn mà chụp lấy đồ đạc.


Qua Chiếu Thoái Vị, ai cũng thấy Hoàng Ðế Bảo Ðại quả thật là người yêu nước và lương thiện. Suốt thời gian ở ngai vàng và qua làm Quốc trưởng, Ngài giữ được hai bàn tay không vấy máu của dân. Nên ngài mất thanh thản với tuổi thọ 84, an táng ở Paris.


Phái đoàn đại diện chánh phủ Hồ Chí Minh ở Hà Nội, qua cách tiếp nhận Chiếu Thoái Vị ở Hoàng Ðế Bảo Ðại, mặc nhiên đã long trọng cam kết chấp hành những yêu cầu của hoàng đế. Nhưng họ đã lật lộng. Vì người cộng sản chỉ có mục tiêu, chớ không có vấn đề đạo đức lương thiện. Mục tiêu của họ là cướp giựt chánh quyền cho bằng được để thực thi chế độ cộng sản mà Hồ Chí Minh đã nhận lảnh vai trò ở Staline và Mao-trạch-đông.


Nhưng người Việt Nam chơn chánh, lương thiện, tức không cộng sản, phải biết trân quí bản văn thoái vị của Hoàng Ðế Bảo Ðại vì giá trị to lớn lịch sử dân tộc. Lịch sử không có dối trá. Lịch sử là công bằng.

Sưu tầm những mẩu truyện đạo

 


Tác giả: Viên Minh (Vi Tiếu)/Người Việt Utah


 


Trả Ðũa


 


Lão hành khất vào ngồi dưới hiên chùa, bắt đầu bữa ăn xin được trong ngày gồm ít vắt cơm, muối và… một con cá rô cây.


Người gác chùa quan sát bữa ăn, thấy con cá rô cây được đẽo gọt khá cẩn thận, dọn ra giống y con cá thật đã được nấu nướng đàng hoàng, ông hỏi người hành khất với giọng châm chọc:


“Nầy ông bạn, ông làm gì với con cá gỗ ấy, hay cuối cùng cũng chỉ có cơm với muối?”


Lão hành khất bình tĩnh đưa tay chỉ tượng Phật bằng đá trên tòa sen giữa chính điện trả đũa:


“Nầy ông bạn, còn ông làm gì với tượng Phật đá kia, hay cuối cùng cũng chỉ là vô minh với ái dục?”


 


***


 


Không Có Ðường Ðến Niết Bàn


 


Ai cũng biết mục đích tối hậu của đạo Phật là Niết Bàn, như vậy chẳng cần nghĩ bàn gì, người ta cứ việc khẳng định rằng đạo Phật chính là con đường đi đến Niết Bàn đó.


Nhưng sư lại nói: “Chẳng bao giờ có đường đến Niết Bàn, chỉ có con đường vào luân hồi sinh tử mà thôi.”


Các thiền sinh lấy làm lạ thắc mắc: “Như vậy Ðức Phật dạy đạo để làm gì?”


Sư nói: “Ðạo chỉ để xóa tan Tập Ðế, như ánh sáng xóa tan bóng tối chứ đâu phải đường đi đến Niết Bàn, ví như trong bóng tối anh không tự nhìn thấy mình, đến khi thắp đèn lên mới nhìn thấy được mình, như vậy anh đâu cần phải đi đâu mà tìm kiếm chính anh. Niết Bàn cũng y như vậy đó.”

Nhà văn, thơ Vũ Gia Sắc

 


Lời giới thiệu của Tòa Soạn Tuần Báo Người Việt Utah


 


Chúng tôi xin hân hạnh giới thiệu đến quý độc giả: Nhà văn, thơ Vũ Gia Sắc:


Họ và tên: Vũ Ðình Giá


Bút hiệu khác: Bạch Trâm, Nguyễn Thị Bạch Tâm, Nguyễn Kim Sắc


Sinh năm : 1937 tại Thăng Bình, Tỉnh Quảng Nam


Trước 1975: Giáo chức, công chức, sĩ quan Cảnh Sát Quốc Gia Việt Nam. Hiện định cư tại Hoa Kỳ năm 1990. Ông làm thơ, viết văn từ lúc còn đi học. Bài vở của ông đã đăng trên các nhật báo, tuần báo, nguyệt san, và đặc san trong và ngoài nước. Có những bài thơ in chung với nhiều tác giả.


Nhà văn, thơ Vũ Gia Sắc là phó chủ tịch Nội Vụ-Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại Trung Tâm Tây Bắc Hoa Kỳ (nhiệm kỳ 2006-2008).


Với tình cảm người bạn đồng quê xứ Quảng đã nhận lời yêu cầu của tôi góp bút trong “Lễ Lạc Thành Cổng Tam Quan Phổ Quang”, mang chữ đầu của 2 bài thơ “song thất” và thơ “Gửi Người Xa Xứ” đăng trên Tuần Báo Người Việt Utah.


Thân ái cảm ơn anh Vũ Gia Sắc, với duyên văn nghệ mong anh sẽ góp bút thường xuyên gọi là món quà tinh thần cho độc giả nơi miền đất lạnh đầy tuyết rơi này.


Phan Chức


Chủ bút Tuần báo Người Việt Utah


 


***


 


Lễ Lạc Thành Cổng Tam Quan


Phổ Quang


 


Vũ Gia Sắc/Người Việt Utah


 


BÀI 1:


LỄ Phật sen hồng tỏa ngát hương


LẠC hòa Sư Ðệ mãi còn vương…


THÀNH công hội tụ, người trăm hướng.


CỔNG đón quy hồi, khách thập phương…


TAM giác, Bờ mê, mờ mịt lối!


QUAN tâm, Tứ thiện, sáng soi đường.


PHỔ cung nhạc Ðạo: (TAM, QUAN, PHỔ,


QUANG) đãng Cửa Thiền: rạng ánh dương…


 


 


BÀI 2:


LỄ hội (Khai môn) hướng Phật đường.


LẠC viên, hòa quyện khói trầm hương…


THÀNH tâm tụng niệm, ban ơn đức,


CỔNG mở cầu xin, nguyện cúng dường…


TAM bảo tuôn tràn nguồn suối đạo


QUAN Âm trang tải tấm lòng thương…


PHỔ thông bờ giác Ưu Ðàm nở…


QUANG cảnh sen hồng sắc lộng gương…

Ý nghĩa và biểu tượng cổng Tam Quan

 


Nguyên Hòa/Người Việt Utah


 


Trong kinh điển Phật Giáo bất cứ một con số nào đều có ý nghĩa riêng của nó, thường gọi là pháp số; hai chữ Tam Quan cũng thế. Tam Quan còn gọi là Tam Môn nghĩa là 3 cửa, cửa chùa thường xây cất theo kiểu nầy tức là cổng lớn gồm có 3 cửa đi vào.










Cổng Tam Quan Chùa Phổ Quang tại 1185 West 1000 North, Salt Lake City, Utah. (Hình: Nguyên Bình)


Cổng Tam Quan chùa biểu tượng cho Tam Giải Thoát Môn để vào được Niết bàn. Do đó mà cổng chùa dù xây một cửa cũng vẫn gọi là Tam Quan hay Tam Môn, nhưng hầu hết đều xây 3 cửa.


Kiến trúc Tam Quan có lẽ căn cứ vào Luận Trí Ðộ, quyển 20: “Thí như ngôi thành có 3 cửa, một thân người không thể cùng một lúc vào cả 3 cửa, chỉ có thể vào 1 cửa mà thôi. Thật tướng các pháp là Thành Niết Bàn. Thành có 3 cửa: Không, Vô Tướng, Vô Tác.”


1. Cửa Không (Không môn, Không Giải Thoát môn): Phải quán sát tất cả các pháp đều không có tự tánh, do nhân duyên hòa hợp mà sanh ra, nếu thông đạt được như thế thì tự tại đối với các pháp.


2. Cửa Vô tướng (Vô Tướng Môn, Vô Tưởng Môn): Ðã hiểu biết được tất cả các pháp đều không, liền quán đến các tướng như nam, nữ, nhất nhị… thì chắc chắn là không có thật tướng như vậy. Nếu thông đạt được các pháp đều vô tướng như thế thì xa lìa tướng sai biệt và được tự tại.


3. Cửa Vô Nguyện (Vô Nguyện Môn, Vô Tác Môn, Vô Dục Môn): Cửa Không Mong Cầu, khi biết rõ tất cả các pháp đều vô tướng thì không mong cầu điều gì trong 3 cõi nữa, nếu không mong cầu thì không tạo tác các nghiệp sanh tử, nếu không có nghiệp sanh tử thì không có khổ quả báo và được tự tại.


Trên đây là tóm tắt ý nghĩa 3 cửa của cổng Tam Quan, một biểu tượng của ngôi chùa, nơi người trì giới, tu đạo, cầu tới Niết Bàn nên vào theo 3 cửa nầy.


Tuy nhiên muốn hiểu rõ phương pháp tu hành để vào được 3 cửa nầy không phải là dễ dàng. Hiểu mà không thực hành thì cũng chẳng đi đến đâu, nên tôi xin phép kèm theo đây bản Kinh Tam Pháp Ấn, Ðức Phật dạy rõ về 3 cửa giải thoát do Hòa Thượng Thích Thiện Trì dịch từ Hán sang Việt và đoạn “Ngũ Uẩn” trích trong cuốn “Vô Ngã” của Thầy Thích Trí Siêu để giúp chúng ta hiểu rõ về ngũ uẩn và cách quán sát nó hầu đi dần đến 3 cửa “Không”, với những thí dụ rất cụ thể, dễ hiểu sẽ giúp cho người Phật tử tại gia chúng ta tiến bước trên con đường tu học mỗi khi bước vào cổng tam Quan của ngôi chùa. Dù rằng chúng ta chỉ thực hành được một phần nào đó cũng đủ đem sự an bình cho chính bản thân, bạn đồng tu và tất cả những người khác.


Nam mô thường hoan hỷ Bồ Tát Ma Ha Tát.


Sau đây là phần đính kèm: Kinh Pháp Ấn và trích đoạn Ngũ Uẩn:


 


Pháp Ấn Kinh


Dịch giả: Thích Thiện Trì


(Ðại-tạng Tích-Sa quyển 514, dịch theo bản chữ Hán của Thần Thi-Hộ)


 


Như thật tôi nghe một thuở nọ Phật cùng các vị Tỳ-kheo vân tập tại nước Xá-Vệ. Bấy giờ Phật bảo các vị Tỳ-kheo rằng:


“Các ông nên biết, có Thánh-Pháp-Ấn ta sẽ phân biệt giảng nói cho các ông rõ. Các ông cần phải phát khởi sự hiểu biết thanh tịnh, lắng nghe và ghi nhận cho kỹ suy nghĩ đúng đắn.”


Các vị Tỳ-kheo liền bạch Phật rằng: Hay thay! Bạch Thế-Tôn, chúng con rất mong được nghe, xin Thế-Tôn tuyên thuyết.


Phật dạy: “Này các Tỳ-kheo! Nói đến tánh không, là không có gì cả, không vọng tưởng không sanh, không diệt xa lìa mọi sự thấy biết. Tại sao thế? -Vì tánh Không không có nơi chốn, không có sắc tướng, không có tư tưởng, vốn không sanh, chẳng phải sự thấy biết có thể thấu được. Xa lìa mọi đắm chấp, nên thâu nhiếp được tất cả pháp, trú ở sự thấy biết bình đẳng, là sự thấy biết chơn thật. Các ông nên biết, tánh Không như vậy, các pháp cũng như vậy. Ðó gọi là Pháp-Ấn.


Lại nữa, các Tỳ-kheo, Pháp- Ấn này là cửa ngõ của ba pháp giải thoát, là căn bản của chư Phật, là con mắt của chư Phật, là nơi chư Phật đạt đến. Vậy nên các ông nghe cho kỹ, ghi nhận cho đúng, như sự thật mà suy nghĩ quán sát.


Lại nữa, các Tỳ-kheo! Nếu có người nào tu hành, nên đi vào chốn núi rừng, hoặc ở dưới gốc cây và các nơi vắng vẻ yên tĩnh, đúng như sự thật quán sát: Sắc là khổ, là không, là vô thường, nên sanh tâm nhàm chán xa lìa như vậy quán sát về Thọ, Tưởng, Hành, Thức là khổ, là không, là vô thường nên sanh tâm nhàm chán xa lìa. Trú ở sự thấy biết bình đẳng.


Các Tỳ-kheo! Các uẩn vốn không, chỉ do tâm phát sanh. Khi tâm diệt thì các uẩn không còn có tác động gì nữa. Biết đúng như vậy, tức là chánh giải thoát. Khi được chánh giải thoát, xa lìa mọi sự thấy biết, thì gọi là cửa Giải-thoát-không.


Lại nữa, trú trong chánh định quán sát các sắc cảnh, tất cả đều tiêu diệt, xa lìa mọi ý tưởng. Như vậy, thanh, hương, vị, xúc, pháp cũng đều tiêu diệt, xa lìa mọi ý tưởng. Quán sát như vậy gọi là cửa Giải-thoát-vô-tưởng. Vào được cửa Giải-thoát này tức được thấy sự thanh tịnh. Do sự thấy biết thanh tịnh đó, dứt trừ được tất cả tham sân si. Tham sân si đã dứt trừ, trú ở sự thấy biết bình đẳng, trú ở sự thấy biết bình đẳng này rồi, tức xa lìa được cái thấy ta và vật sở hữu của ta. Thấu rõ được mọi sự thấy biết không nơi sanh khởi, cũng không nơi nương tựa.


Lại nữa, khi xa lìa được cái thấy ta rồi, tức không còn thấy, không còn hay, không còn biết. Tại sao thế? -Vì do nhơn duyên cho nên mới sanh các thức, tức nhơn duyên kia cùng với thức được phát sanh đều là vô thường. Vì là vô thường nên thức không thể thật có được. Thức uẩn đã không, không có tạo tác, thì gọi là cửa Giải-thoát vô tác. Vào được cửa Giải-thoát này, tức biết được pháp cứu cánh, không còn đắm chấp các pháp và chứng được pháp tịch diệt.


Phật bảo: Các Tỳ-kheo, như vậy gọi là Thánh-pháp-ấn, là cửa ngõ ba pháp giải thoát. Nếu người nào tu học theo đó tức đặng sự thấy biết thanh tịnh. Các Tỳ-kheo nghe pháp này rồi đều vui vẻ lạy Phật và tin tưởng tuân hành.


 


Ngũ Uẩn


(Trích trong cuốn “Vô Ngã” của Thầy Thích Trí Siêu)


 


Hiểu Vô Ngã hay nói chuyện Vô Ngã không có nghĩa là thành A La Hán liền đâu nhé bạn! Hiểu là một chuyện, tu tập chứng đắc là một chuyện khác. Ở đây không có chuyện “kiến tánh thành Phật.”


Theo giáo lý Nguyên Thủy thì tất cả các pháp đều có, trừ cái Ta (ngã), vì cái Ta chỉ là một ảo tưởng (illusion), một giả danh (désignation) của 5 uẩn. Nhưng 5 uẩn là gì? Là phật tử lâu năm chắc chắn bạn biết 5 uẩn là gì, nhưng ở đây tôi xin định nghĩa lại.


Năm uẩn là: Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Uẩn (P. Khanda, Skt. Skandha) Pháp dịch là “agrégat” có nghĩa là một nhóm, một tổng hợp.


* Sắc uẩn: Tức thân thể con người, được cấu tạo bởi bốn đại (đất, nước, gió, lửa), nếu kể chi tiết thì gồm 32 thứ: tóc, tai, mũi, lưỡi, tim, gan, ruột, phổi… Sắc uẩn tương đối cụ thể, dễ nhận biết nên không cần nói nhiều.


* Thọ uẩn: Là những cảm thọ (sensation) phát sinh do sự tiếp xúc giữa 6 căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) và 6 trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp). Có 6 loại thọ: nhãn thọ, nhĩ thọ, tỷ thọ, thiệt thọ, thân thọ, ý thọ. Tính chất của 5 loại thọ đầu có thể là: lạc (dễ chịu), khổ (khó chịu), xả (không khổ, không sướng). Riêng ý thọ, theo Duy Thức, có thể có 5 tính chất: lạc, khổ, xả, ưu (buồn) và hỷ (vui).


Khi mắt nhìn lên mặt trời bị chói và nhức, đó là nhãn thọ khổ. Khi tai nghe nhạc êm dịu, thoải mái, muốn nghe nữa, đó là nhĩ thọ lạc. Khi nghe tin người thân chết, sanh ra buồn khổ, đó là ý thọ ưu.


* Tưởng uẩn: Tưởng (P. Sanna, Skt. Samjna) được dịch là tri giác (perception) có nghĩa là sự biết (tri) của các giác quan (căn). Tri giác được phát sanh do sự tiếp xúc giữa 6 căn và 6 trần. Và như thế chúng ta có đến 6 loại tưởng.


Mắt thấy sắc: Sự thấy của mắt gọi là nhãn tưởng.


Tai nghe tiếng: Sự nghe của tai gọi là nhĩ tưởng.


Mũi ngửi mùi. Sự ngửi của mũi gọi là tỷ tưởng.


Lưỡi nếm vị: Sự nếm của lưỡi gọi là thiệt tưởng.


Thân xúc chạm vật: Sự xúc chạm của thân gọi là thân tưởng.


Ý biết các pháp: Sự biết của Ý gọi là ý tưởng.


Chữ Ý ở đây là ý căn (manas, organe mental) và các pháp là những gì thuộc tâm linh như: ý nghĩ, ý niệm, ý tưởng…


Những sự thấy, nghe, ngửi,… biết ở đây chưa tạo nghiệp, vì nó không có khả năng tác ý mà chỉ là sự cảm nhận đơn thuần, vô tư của 6 căn đối với 6 trần. Nếu nói theo Duy Thức thì nó có thể được xem như là hiện lượng (pratyaksapramana).


Tới đây cần định nghĩa lại vài danh từ thông dụng: ý thức, ý niệm, ý tưởng, ý nghĩ. Bốn danh từ này đều liên quan đến Ý, tức ý căn (manas). Trong ngôn ngữ Việt nam, khi nói đến chữ “ý nghĩ”, ta có thể hiểu theo hai chiều: chủ thể (sujet) và đối tượng (objet).


1. Chủ thể: Ý căn (chủ thể) suy nghĩ (động từ).


2. Ðối tượng: Ý nghĩ (danh từ) là những điều do Ý căn nghĩ ra.


Thông thường chữ “ý nghĩ” được hiểu theo nghĩa thứ hai.


Ý niệm và ý tưởng cũng vậy. Ý niệm có thể được hiểu là:


1. Ý căn ghi nhớ (se souvient).[ 1]


2. Những điều ghi nhớ (souvenir) bởi Ý căn.


Ý tưởng có thể được hiểu là:


Ý căn thâu nhận (percoit).


Những điều thâu nhận bởi Ý căn (perception).


Khi Ý-tưởng-một điều gì đó, chúng ta cho cái “điều-gì-đó” là ý tưởng.


Khi Ý-nghĩ-một điều gì, chúng ta cho cái “điều-gì” này là ý nghĩ.


Khi Ý-niệm-một điều gì, chúng ta cho cái “điều-gì “ này là ý niệm.


Ý tưởng, ý nghĩ, ý niệm thường được chúng ta xem là những sản phẩm của Ý, hay nói dễ hiểu hơn là của tâm. Nhưng thực ra chúng không phải là sản phẩm của Ý mà là những đối tượng của sự tưởng, nghĩ, niệm của Ý.


Thay vì hiểu ý tưởng là sự tri giác của Ý, chúng ta lại cho ý tưởng là một sản phẩm của Ý, đồng nghĩa với tư tưởng. Ðể tránh trường hợp khó xử này, chúng ta có thể tạm gom cả 3 thứ: ý tưởng, ý nghĩ, ý niệm, đối tượng của ý thành một loại: ý trần. Chữ ý trần này chỉ là một thuộc phần của pháp trần tức đối tượng tổng quát, bao la của Ý.


Về tưởng uẩn, đa số thường hiểu là tưởng tượng (imaginer). Tưởng tượng là gì? Ở đây có hai nghĩa: thụ động và tác ý.


1) Nghĩa thụ động: Tưởng là sự cảm nhận, thâu nhận, ghi nhận của 6 căn còn gọi là tri giác. Tượng là những hình tượng, hình ảnh thuộc tâm linh.


Thí dụ: bất chợt có những hình ảnh (tượng) thuộc quá khứ như núi, sông, v.v… hiện hành trong tâm. Khi những hình ảnh này khởi lên và Ý (căn) thâu nhận (percoit) nó, thì đó gọi là tưởng tượng. Nói cho rõ hơn là Ý (căn) tưởng (cảm nhận) những hình tượng. Ở đây không có sự tác ý. Ngược lại, nếu cố nhớ, moi đầu, moi óc, hình dung lại hình ảnh, thì đó là một sự tác ý, cố ý thuộc về hành nghiệp (karman). Và khi hình ảnh này hiện ra trên mặt ý thức thì có sự thâu nhận(tưởng). Trong trường hợp này phải nói là Ý-nghĩ-niệm-tưởng-ý trần, tức là có sự suy nghĩ, cố nhớ làm hiện hành ra những hình tượng và từ đó có sự nhận biết (tưởng).


2) Nghĩa tác ý: Tưởng tượng là tạo ra trong tâm trí hình ảnh của những sự vật đã tác động vào giác quan, hoặc hình ảnh của những sự vật mới lạ chưa xảy ra.


Theo ngôn ngữ thông dụng thì tưởng tượng mang nghĩa thứ hai, tức tác ý. Như vậy tưởng tượng (imaginer) là một tác động từ ý nên có thể tạo nghiệp. Còn tưởng (percevoir) của tưởng uẩn là một động từ cảm nhận nên không tạo nghiệp.


Chữ tưởng (samjna) của tưởng uẩn, thấy có vẻ giản dị nhưng cho tới bây giờ, nó vẫn chưa được giảng giải và dịch nhất định là gì. Những điều vừa nói ở trên chỉ là ý kiến cá nhân, nên không chắc là đúng. Ai cũng có quyền cho những điều mình hiểu là đúng nhưng không có quyền bắt người khác phải tin và nghe theo mình. Vì thấy đúng hay sai chỉ là chủ quan tương đối. Sau đây tôi xin liệt kê vài dịch từ về chữ tưởng (samjna) trong các tác phẩm Việt ngữ để bạn đọc tùy ý lựa chọn.


Trong sách “Vấn đề nhận thức trong Duy Thức Học” của thầy Nhất Hạnh, tr.79, nói về 5 uẩn, dịch chữ tưởng là các khái niệm (concepts). Trong Kinh “Pháp Ấn” do thầy Nhất Hạnh dịch và chú giải, tr.28, dịch tưởng là tri giác (perception). Trong “Câu Xá Luận Cương Yếu “ của thầy Ðức Niệm, tr.40, dịch tưởng (uẩn) là nhận thức tổng hợp của các cảm giác đưa đến tưởng nhớ, nghĩ ngợi. Trong Phật Học Từ Ðiển của Ðoàn Trung Còn, tập 3, trang 1093, dịch tưởng (uẩn) là tư tưởng, sự tưởng tượng nơi tâm trí. Ngoài ra đa số đều dịch tưởng (uẩn) là tưởng tượng, tưởng nhớ.


Ðến đây bạn đọc có thể ngạc nhiên hỏi lại tôi rằng: “Tưởng tượng không thuộc tưởng uẩn, thế nó thuộc cái gì?”


Trong pháp số Phật học, có nhiều danh từ giống nhau, nhưng ý nghĩa lại khác, tùy trường hợp, vị trí và bối cảnh. Theo tôi, chữ tưởng trong ngũ uẩn, không có nghĩa là tưởng tượng, nó chỉ có nghĩa là tri giác. Trong tâm lý học Phật giáo có nói đến tưởng (P.Sanna, Skt.Samjna) như là một tâm sở trong 51 tâm sở (caittas) của Duy Thức, hoặc 52 tâm sở (cetasika) của A Tỳ Ðàm Tiểu Thừa (Abhidham-matthasangaha), hoặc 46 tâm sở của Câu Xá Hữu Bộ. Trong phạm vi này, nó có thể được xem là tưởng tượng (imaginer), vì có sự tác ý và như vậy nó thuộc về hành uẩn.


– Trong “Vấn đề nhận thức trong Duy Thức học”, tr.66, nói về tưởng (tâm sở) như sau: Tưởng là động tác của trí năng trên ảnh tượng thu nhận được, nói một cách khác hơn, là sự cấu tạo thành khái niệm.


– Trong Phật Học phổ thông, khóa thứ IX, tr.38, nói giản dị hơn: Tưởng là nhớ tưởng. Nghiệp dụng của nó là bịa đặt những danh từ để kêu gọi.


Tóm lại khi nói về tưởng, bạn đọc nên cân nhắc xem mình muốn nói về tưởng uẩn hay hành uẩn. Vì nếu thuộc tưởng uẩn thì chưa tạo nghiệp, còn nếu thuộc hành uẩn thì tạo nghiệp.


Nãy giờ chưa nói về ý thức, vì nó thuộc thức uẩn, sẽ được bàn đến sau.


* Hành uẩn: Là một tổng hợp của những ý nghĩ lưu chuyển. Hành có nghĩa là đi, là làm, là tiếp tục, là chuyển. Pháp dịch là formations mentales. Khi Ý căn hoạt động phối hợp với các tâm sở, kết quả của sự hoạt động này cho ra những ý nghĩ, hay nói chung là tất cả ý trần, đối tượng của 51 tâm sở. Như vậy hành uẩn bao gồm cả 51 tâm sở (caittas, facteurs mentaux) và cùng những đối tượng của nó.


Năm mươi mốt tâm sở là:


– Năm biến hành: xúc, tác ý, thọ, tưởng, tư.


– Năm biệt cảnh: dục, thắng giải, niệm, định, huệ.


– Mười một thiện: tín, tàm, quý, vô tham, vô sân, vô si, tinh tấn, khinh an, bất phóng dật, hành xả, bất hại.


– Sáu căn bản phiền não: tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến.


– Hai mươi tùy phiền não: phẫn, hận, phú, não, tật, xan, cuống, siểm, hại, kiêu, vô tàm, vô quí, trạo cử, hôn trầm, bất tín, giải đãi, phóng dật, thất niệm, tán loạn, bất chánh tri.


– Bốn bất định: hối, miên, tầm, tư.


Ðể biết nhiều hơn, bạn có thể nghiên cứu về Duy thức hoặc A Tỳ Ðàm.


* Thức uẩn: Thức (P.Vinnana, Skt.Vijnana) là sự nhận thức, phân biệt, hiểu biết. Pháp dịch là conscience hay discernement. Theo giáo lý nguyên thủy thì thức được phát sinh do sự tiếp xúc giữa 6 căn và 6 trần. Và như vậy chúng ta có 6 loại thức.


Nhãn thức là cái biết của mắt khi nhìn thấy cảnh trần.


Nhĩ thức là cái biết của tai khi nhìn thấy âm thanh.


Tỷ thức là cái biết của mũi khi ngửi thấy mùi hương.


Thiệt thức là cái biết của lưỡi khi nếm vị.


Thân thức là cái biết của thân khi xúc chạm đồ vật.


Ý thức là cái biết của Ý khi nhận thức ý trần.


Ðến đây, chắc hẳn bạn đọc đã để ý, từ lúc nói về Tưởng uẩn, tôi đã dùng chữ Ý đi đôi với căn. Ðó là để phân biệt Ý căn (Manas) với Ý thức (Mano- vijnana). Ý căn là một bộ phận tâm linh (organe mental) mà từ nơi đó làm phát sinh ra sự nhận thức. Sự nhận thức này gọi là Ý thức (conscience mentale).


* Sự khác biệt giữa Tưởng và Thức: Tưởng là tri giác, tức sự biết của các giác quan. Thức cũng là sự biết của 6 căn, vậy hai cái biết này giống hay khác?


Cái biết của Tưởng có tính chất cảm nhận đơn thuần, vô tư, trong khi cái biết của Thức lại có tính chất phân biệt, khái niệm. Ðể dễ hiểu, xin lấy thí dụ về một em bé gái (ngây thơ), một anh thợ săn và một đồng tiền vàng. Khi đi đường, nếu em bé nhặt được một đồng tiền vàng, em sẽ chỉ thấy đó là một vật tròn, mỏng, màu vàng, có hình vẽ xinh xắn, có thể trở thành một món đồ chơi của em. Em không hề hay biết gì về giá trị của đồng tiền cả. Sự “thấy” đồng tiền vàng của em bé được dụ cho Tưởng. Ngược lại, đối với anh thợ săn thì khác. Khi thấy đồng tiền vàng, anh ta liền biết đó là một đồng tiền vàng cùng với giá trị của nó. Vói tiền này anh sẽ mua được tất cả thứ gì anh thích. Sự “thấy” đồng tiền vàng của anh thợ săn này dụ cho Thức.


Ðúng ra theo giáo lý Nguyên Thủy thì chúng ta có thể ngưng ở đây, sau khi đã định nghĩa năm uẩn. Nhưng đa số thường không rõ sự khác biệt giữa Tâm, Ý và Thức nên tôi sẽ tạm mượn một ít giáo lý của Duy Thức, trong đó phân biệt chi tiết về Tâm, Ý và Thức.


Vẫn biết mục đích của tập sách này là nói về Vô Ngã chứ không phải Duy Thức, nhưng cái Ngã là một tổng hợp phức tạp, cấu tạo bởi năm uẩn, trong đó thủ phạm chấp ngã nằm trong Thức uẩn. Nói về thức uẩn, không gì đầy đủ chi tiết hơn Duy Thức. Ðây là lý do thứ hai cần phải nói một chút về Duy Thức.


Theo Duy Thức thì Thức uẩn (vijnãna skandha) bao gồm Tâm (citta), Ý (manas) và Thức (Vijnãna). Tâm được xem là thức thứ 8, Ý được xem là thức thứ 7, Thức tức là 6 thức đầu được kể ở trên. Sau đây chỉ xin lược nêu về 3 thức: thứ 8, thứ 7 và thứ 6.


Thức thứ 8, có tên là Tàng thức hay A lại Da thức (Alaya-vijnãna). Thức này có 3 nghĩa:


a. Năng tàng: Thức này chứa đựng, gìn giữ chủng tử (bija) của các pháp.


b. Sở tàng: Sở tàng ở đây không có nghĩa là bị chứa, mà có nghĩa là Thức này bị ươm ướp (parfumé) bởi chính những chủng tử được chứa trong nó.


c. Ngã ái chấp tàng: Thức này bị thức thứ 7 (manas) bám víu và chấp làm Ta.


Thể và dụng của thức này sâu rộng vô cùng, chúng ta không thể thấu hiểu bằng ý thức thông thường được. Nó chính là nền tảng cho 7 thức kia phát sinh. Tánh chất của nó là vô phú vô ký, có nghĩa là không bị che lấp bởi vô minh, nhưng cũng không thiện, không ác. Như vậy nó không phải là thủ phạm chấp ngã.


Thức thứ 7 tên Mạt Na (manas-vijnãna). Nó là Ý căn (organe mental) tức là căn cứ, nơi phát sinh ra ý thức (conscience mentale). Cũng như mắt là nhãn căn, nơi phát sinh ra nhãn thức. Thức này còn có tên là “Truyền tống thức” vì nó công năng truyền các pháp hiện hành vào Tàng thức và tống đưa các pháp chủng tử khởi ra hiện hành. Thức này được xem là thủ phạm chính của sự chấp ngã. Sự chấp ngã của nó thuộc loại “câu sinh ngã chấp” tức sự chấp ngã sinh ra cùng lúc với thân mạng. Sự chấp ngã này rất khó diệt trừ. Mạt Na thường tương ưng với bốn căn bản phiền não: ngã si (avidya), ngã ái (atmasneha), ngã kiến (atmadrsti), ngã mạn (asmimana). Ngã si chíng là vô minh, ngã ái là sự thương yêu, ái luyến cái Ta, ngã kiến là cái thấy sai lầm về ngã, ngã mạn là sự kiêu ngạo cho cái Ta cao cả hơn hết.


Hai thức A lại Da và Mạt Na hằng chuyển không bao giờ gián đoạn, ngay cả khi cá nhân đã chết.


Thức thứ 6, gọi là Ý thức (mano-vijnãna). Khi Ý căn tiếp xúc với pháp trần làm phát sinh ra sự nhận thức, sự nhận thức này được gọi là Ý thức. Ý thức có ba hình thái nhận thức: hiện lượng, tỷ lượng và phi lượng.


– Hiện lượng: sự nhận thức trực tiếp, vô tư, chưa trải qua suy luận, phân biệt.


– Tỷ lượng: sự nhận thức qua suy luận, phân biệt.


– Phi lượng: Khi hai sự nhận thức trên (hiện lượng hoặc tỷ lượng) phản ảnh sai lầm về thực tại thì gọi là phi lượng. Thí dụ trong đêm tối , thấy sợi dây tưởng là con rắn.


Trong tám thức, duy có thức này là lanh lẹ và khôn ngoan hơn hết. Trong Bát Thức Quy Củ tụng khi nói về Ý Thức có câu: “Ðộc hữu nhứt cá tối linh ly” nghĩa là riêng có một cái thức rất lanh lẹ. Suy nghĩ làm việc phải, thức này đứng đầu, tính toán tạo nghiệp ác thì nó cũng hơn cả (công vi thủ, tội vi khôi). Về tội thì thức này cũng chấp ngã và chấp pháp. Nhưng sự chấp ngã của nó là “phân biệt ngã chấp”, tức chấp ngã do nhận thức phân biệt sai lầm mà ra. Sự chấp ngã này tương đối dễ loại trừ. Sau này tu tập về Vô Ngã, chúng ta sẽ rất cần đến thức thứ 6 này.


Ðến đây sự định nghĩa về 5 uẩn có thể được xem như tạm đủ. Năm uẩn, còn gọi tắt là thân tâm, tuy được liệt kê thành từng phần, nhưng thật ra chúng hoạt động rất chặt chẽ, không thể tách rời được. Thí dụ khi bị đau răng. Răng thuộc về thân (sắc uẩn), đau thuộc khổ thọ (thọ uẩn), cảm biết có sự đau thuộc tưởng uẩn, biết rõ đó là đau răng thuộc thức uẩn, và mỗi khi thức làm việc đều có sự tương ưng, trợ giúp của các tâm sở, do đó hành uẩn cũng có trong cuộc.


(Source: www.phoquang.org)

Diễn văn tuyên đọc tại buổi Ðại Lễ Lạc Thành

 


Cổng Tam Quan chùa Phổ Quang


                                               


-Kính bạch Chư Tôn Ðức Tăng, Ni


-Kính thưa quý vị quan khách Việt-Mỹ


-Thưa quý đồng hương và cộng đồng Phật tử


Nhân danh thành viên Hội đồng Quản trị, đồng thời là trưởng ban Thiết Kế và điều hành tổng quát xây dựng cổng Tam Quan chùa Phổ Quang, chúng tôi hân hạnh và thành kính chào mừng Chư Tôn Ðức Tăng, Ni, quý vị quan khách Việt Mỹ, cùng toàn thể đồng hương và cộng đồng Phật tử đã dành thời giờ quý báu đến tham dự Ðại Lễ Lạc Thành Cổng Tam Quan tại chùa Phổ Quang ngày hôm nay. Sự hiện diện của toàn thể quý vị đã thể hiện sự quan tâm đặc biệt với tấm lòng ưu ái đối với chúng tôi trong khung cảnh trang nghiêm và hoan hỉ của mọi người.


Kính thưa liệt quý vị,


Sau đây chúng tôi xin phép được sơ lược ý nghĩa thâm thúy khi một ngôi chùa xây dựng được một cổng Tam Quan. Cổng Tam Quan tức là cổng chùa có ba cửa đi vào: một cửa giữa lớn và cao, hai cửa nhỏ hai bên hơi thấp so với cửa giữa.


Vì ảnh hưởng sâu đậm bởi tinh thần Thiền học cho nên khi nói đến ngôi chùa, người ta thường gọi là Thiền môn, có nghĩa là cửa Thiền, hay còn gọi là Không môn, có nghĩa là cửa Không, nơi đó có những người tu học hiền lương, hướng đến giải thoát. Còn về cổng Tam Quan được gọi là Tam Giải Thoát môn, tức là ba cánh cửa giải thoát. Ba cánh cửa đó là: cửa Không, cửa Vô Tướng, cửa Vô Tác, hay cũng gọi là Vô Nguyện. Nói tóm lại ý nghĩa thâm thúy của cổng Tam Quan là biểu tượng cho sự thiêng liêng, sùng kính. Ngoài ra, cổng còn làm tăng thêm vẻ đẹp hùng vỹ cho ngoại cảnh của một ngôi chùa.


Ðến đây, chúng tôi xin tóm lược quá trình thực hiện công việc thiết kế và điều hành xây dựng Cổng Tam Quan trong thời gian qua:


-Hoàn thành họa đồ Cổng Tam Quan do đạo hữu Kiến trúc sư Trần Thiện Khiêm đảm trách và được cấp giấy phép ngày 25 tháng 2, 2010 sau thời gian sáu tháng do Hội Ðồng thành phố Salt Lake xét duyệt.


-Lễ đặt viên đá đầu tiên và khởi công ngày 10 tháng 4, 2010.


-Tổng kinh phí cho công trình là $46,217; so sánh với thời giá hiện tại nếu giao cho công ty xây dựng của Mỹ sẽ tốn phí đến $120,000.


-Hoàn thành công trình xây dựng ngày 10 tháng 9, 2011.


Sau hơn 18 tháng xây dựng kể từ ngày khởi công đến khi hoàn thành, chúng tôi gặp rất nhiều khó khăn trở ngại như thời tiết, nhân sự, tiết kiệm kinh phí tối đa, cũng như mất thời gian đặt hàng tại Nhật, Việt Nam và một số các tiểu bang tại Mỹ.


Về công trình xây dựng, chúng tôi chia làm hai giai đoạn:


-Giai đoạn 1: Tận dụng công nhân thiện nguyện thanh niên Phật tử đến làm ngoài giờ và những ngày cuối tuần như công việc đào móng, đúc nền, đóng khung gỗ bốn trụ cổng và mái, làn sắt, đổ ciment, tự tay đi tìm mua những vật tư cần thiết cho giai đoạn này…


-Giai đoạn 2: Chú trọng về kỹ thuật và mỹ thuật, chúng tôi phải thuê những công ty chuyên môn của Mỹ như xây gạch cho bốn trụ, tô ciment, bọc đồng con lươn của mái chùa, bắt điện và hệ thống đèn, lợp ngói mái cổng, làm cửa sắt…


Nhờ thế mà chúng tôi đã tiết kiệm được một số tiền đáng kể cho toàn bộ công trình này.


Cổng Tam Quan của chùa Phổ Quang đạt được phần nào thành tựu trang nghiêm, khiêm tốn với sự góp sức của nhiều bàn tay, khối óc của quý đồng hương, Phật tử, tất cả khởi từ tấm lòng vì Ðạo, đã ngày đêm thao thức, nỗ lực bằng tất cả khả năng, mồ hôi, tâm đức và chí nguyện của mỗi người, để đóng góp công quả vào việc thực hiện biểu tượng của ngôi Tam Bảo, thể hiện nền văn hóa Phật giáo Việt Nam trên xứ người. Về mặt kiến trúc, công trình xây dựng không những hoàn thành một cách tốt đẹp mà còn toàn vẹn nữa. Ðặc biệt nổi bật nhất là hai đạo hữu được vinh danh sau đây với thiện tâm mà đem hết khả năng, thiện chí góp phần công quả lớn lao cho công trình này:


1. Ðạo hữu kiến trúc sư Trần Thiện Khiêm là người đã thực hiện họa đồ, chẳng những không nhận một lệ phí nào, mà còn dành rất nhiều thời gian để trực tiếp điều hành công tác xây dựng.


2. Ðạo hữu Võ Thanh Hòa chịu trách nhiệm vân động tài chánh và nhân lực qua những tổ chức ca nhạc, hội chợ gây quỹ hàng năm cho chi phí của công trình xây dựng cổng Tam Quan.


Ngoài ra còn có nhiều thiện nam, tín nữ đã phát tâm đóng góp tịnh tài để thực hiên một viên gạch tượng trưng có khắc tên để lưu niệm.


Hôm nay, trong không khí trang nghiêm và ấm cúng, dạt dào tình đời, tình đạo của ngày Ðại lễ Lạc Thành Cổng Tam Quan, chúng ta cùng nhau đem hết tâm thành và quy ngưỡng, nhờ năng lực gia trì của mười phương Tam Bảo, chư Hộ Pháp Thiện thần, và sự gia tâm cầu nguyện, cũng như cúng dường tịnh tài, tịnh vật và công sức của quý Phật tử.


Chúng tôi một lần nữa xin tán thán và tri ân công đức tùy hỉ để hộ đạo. Vô cùng cảm kích tấm lòng ủng hộ của cộng đồng Phật tử xa, gần, chúng tôi thật không biết nói lời gì tốt đẹp nhất để biểu lộ lòng tri ân. Chúng tôi xin chia sẻ cùng quý vị niềm hoan hỉ vô biên mà tất cả chúng ta cùng mong đợi từ bấy lâu nay bằng một lời mộc mạc chân tình:


“Cảm niệm công đức tùy hỉ ủng hộ xây dựng cổng Tam Quan để trang nghiêm cảnh Phật, góp thêm một bông hoa tươi thắm trong vườn hoa đầy hương sắc của Phật Giáo Việt Nam trên đất nước Hoa Kỳ, quê hương thứ hai của chúng ta.”


Một lần nữa, chúng tôi trân trọng gởi đến liệt quý vị lời cảm ơn chân thành nhất, lời chào mừng thân thiết nhất, và lời chúc tốt đẹp nhất.


Tâm Nguyện – Phan Chức

Tiếng ru thầm

 


Cao Mỵ Nhân/Người Việt Utah


 


Em về sau cuộc hành hương


Qua bao đền miếu hoang đường, mông lung


Thành xưa cây mọc như rừng


Tìm đâu dấu vết thuở cùng lớn lên


 


Thẫn thờ phố xá đổi tên


Niềm đau day dứt tạm yên lúc này


Tuổi mình áo, tóc đều phai


Thần hay Thánh cũng u hoài tháng năm


 


Em về đô thị tủi thân


À ơi, những tiếng ru thầm héo hon


Rằng sao nước chảy đá mòn


Mà tâm tư lại rũ buồn vì nhau.

Sống! Sống! Sống

 


Tác giả: Nguyễn Kim Sắc/Người Việt Utah


 


Sống không giận, không hờn, không oán trách


Sống mỉm cười với thử thách chông gai


Sống vươn lên theo kịp ánh ban mai


Sống an hòa với những người chung sống.


Sống là động nhưng lòng luôn bất động


Sống là thương nhưng lòng chẳng vấn vương


Sống hiên ngang nhưng lợi danh xem thường


Tâm bất biến giữa dòng đời vạn biến.


(Sưu tầm)

Nghệ thuật rút lui

 


Tác giả: Thoại Dung trích dịch/Người Việt Utah


 


Một “chiến binh ánh sáng” tin tưởng quá nhiều vào sự thông minh của mình rồi rốt cuộc đánh giá thấp sức mạnh của đối phương.


Ðiều quan trọng là đừng quên rằng đôi khi sức mạnh có hiệu quả hơn chiến lược. Khi chúng ta phải đối đầu với bạo lực thì dù có thông minh, tài giỏi hay tranh luận, khuyến dụ cũng không ngăn được thảm kịch.


Ðó là lý do người chiến binh không bao giờ coi thường sức mạnh vũ phu. Khi sức mạnh ấy tỏ ra quá mãnh liệt, họ rút lui khỏi chiến trường cho đến khi kẻ địch kiệt sức.


Tuy nhiên một điều rõ ràng là “chiến binh ánh sáng” không hề hèn nhát. Sự tháo chạy là một hình thức bảo vệ tuyệt hảo, nhưng không thể dùng khi một người quá sợ hãi .


Khi cảm thấy không chắc thắng người chiến binh thích đối mặt với thất bại hơn, rồi liếm vết thương của mình, bởi vì anh ta hiểu rằng nếu chạy trốn sẽ làm tăng thêm sức mạnh thực sự của kẻ địch.


Người “chiến binh ánh sáng” có thể hồi phục sau những cơn đau thể xác nhưng căn bệnh tâm linh sẽ bám theo anh ta mãi mãi. Trong những lúc khó khăn và đau khổ, người chiến binh phải đối mặt với sự chênh lệch quá mức, trước chí khí anh hùng, tính nhẫn nhục và lòng can đảm.


Ðể đạt được trạng thái anh hùng cần thiết (từ khi bước vào cuộc chiến đầy đau khổ và bất lợi), Người “chiến binh ánh sáng” cần biết chính xác điều gì tổn hại đến anh ta.


Okacura Kacuzo viết trong cuốn sách của ông ta, trong một buổi trà đạo tại Nhật Bản: “Chúng ta thấy lỗi lầm nơi người khác vì chúng ta biết lỗi lầm trong chính ta. Chúng ta không bao giờ tha thứ cho kẻ nào làm ta tổn thương vì chính chúng ta tin rằng mình cũng không hề được tha thứ. Chúng ta nói ra sự thật đầy khó khăn với người khác vì chúng ta muốn giấu kín nó trong lòng. Chúng ta tỏ ra mạnh mẽ để không ai thấy được sự yếu đuối của mình. Ðó là lý do khi anh phán xét người anh, em của mình thì anh cũng nên hiểu rằng chính mình đang ngồi ở ghế bị cáo.”


Ðôi khi nhận thức này có thể tránh được một trận đánh chỉ mang đến bất lợi. Tuy nhiên, đôi khi cũng không còn cách nào khác trong một trận đánh không cân sức.


Chúng ta biết mình sắp thua, nhưng kẻ địch cùng với sự hung hãn không để chúng ta có sự chọn lựa nào khác, ngoại trừ phải hèn nhát đầu hàng và điều đó chẳng có gì thú vị trong những trường hợp như thế. Ðiều cần nhất là nên chấp nhận số phận và hãy cố ghi nhớ một đoạn trong cuốn Kinh Vệ-Ðà tuyệt diệu (Chương II, trang 16-20):


“Con người không sinh cũng không diệt, khi đã hiện hữu, nó sẽ không bao giờ chấm dứt hiện hữu, vì con người là thường hằng bất biến. Cũng như một người bỏ chiếc áo cũ, để mặc một chiếc áo mới, linh hồn bỏ cái thân xác cũ để tái sinh trong một thân xác mới.


Nhưng linh hồn không thể bị hủy hoại, kiếm không thể xuyên thủng, lửa không thể đốt cháy nước, nước không thể làm ướt gió, gió không thể làm khô, linh hồn vượt ra ngoài năng lực của tứ đại.


Vì lẽ con người không bao giờ bị hủy hoại, nó luôn luôn chiến thắng (kể cả trong thất bại), và cũng vì lẽ đó, con người không nên buồn.”


(Thoại-Dung trích dịch “The Art of Withdrawal” trong cuốn: Like The Flowing River của Paulo Coelho, bản tiếng Anh của: Margaret Jull Costa.)



 

Hạnh phúc mãi đi tìm

 


Nguyên Bình/Người Việt Utah


 


Anh làm thơ viết rồi nhưng không gởi


Ðể đêm buồn mòn mỏi với thời gian


Nhớ thương ai mà giấc ngủ mơ màng


Chợt tỉnh thức với hai hàng mi ướt


 


Ðời của anh đã một lần dừng bước


Bến thuyền mơ đâu biết trước đúng sai


Gói hành trang ôm trọn một hình hài


Của hạnh phúc hay u hoài tan vỡ


 


Ðêm từng đêm trói niềm đau muôn thuở


Buộc đời mình theo nhịp thở trái tim


Cõi hư không hạnh phúc mãi đi tìm


Còn hay mất con tim mình thuở ấy


 


Tìm lại anh giữa biển đời sóng dậy


Lướt trùng khơi tìm thấy nỗi phân vân


Nếm đau thương, hạnh phúc đã bao lần


Anh lạc bước hồng trần muôn vạn lối


 


Thượng Ðế ơi, con làm chi nên tội


Mà tim đau trong vạn lối đường về


Ðể vần thơ viết đi rồi cũng thế


Nét mực buồn như giọt lệ đời con.

Tin mới cập nhật