Hoa Kỳ khuyên Ai Cập nên hòa giải nội bộ, chấm dứt khủng hoảng chính trị

 


CAIRO (AP) – Ngoại Trưởng Mỹ Hillary Rodham Clinton, trong cuộc họp đầu tiên với tân tổng thống gốc Hồi Giáo Mohammed Mursi của Ai Cập, khuyến khích ông khởi sự cuộc thảo luận với giới lãnh đạo quân đội hầu duy trì cuộc chuyển tiếp sang thể chế dân chủ.









Ngoại Trưởng Hillary Rodham Clinton nói chuyện với tân Tổng Thống Mohammed Mursi của Ai Cập. (Hình: AP Photo/Brendan Smialowski, Pool)


Bà Clinton bày tỏ sự ủng hộ dành cho việc “chuyển tiếp hoàn toàn” sang chính quyền dân sự vào lúc những người ủng hộ ông Mursi đang đối đầu với các tướng lãnh, từng cai trị Ai Cập từ khi Tổng Thống Hosni Mubarak bị lật đổ hồi năm ngoái.


Ðể giải quyết tình trạng bế tắc hiện nay “cần có thảo luận và thỏa hiệp,” theo lời bà Clinton. Bà cũng nói rằng Mỹ sẽ làm tất cả những gì có thể làm được “để hậu thuẫn chính phủ được bầu lên một cách dân chủ và giúp thành công trong việc đem đến kết quả cho người dân Ai Cập”.


Bà Clinton và ông Mursi không bắt tay nhau lúc họ xuất hiện trước giới truyền thông, vì ông Mursi theo Hồi Giáo. Tuy nhiên, một giới chức Mỹ nói rằng trong cuộc gặp riêng, ông Mursi bắt tay bà Clinton và toàn thể phái đoàn Mỹ.


Ông Mursi hiện trong cuộc đối đầu với phía tướng lãnh vốn khởi sự từ ngay trước khi ông nhậm chức.


Phía Mỹ cẩn thận để không bị coi là đứng về phía nào, chỉ chú trọng vào những nguyên tắc chính. Chính phủ Obama từng lên tiếng kêu gọi mọi phía ở Ai Cập hãy thương thảo một đường hướng tương lai theo như tinh thần và mục tiêu của cuộc cách mạng năm 2011 vừa qua.


“Chúng tôi tin rằng các quyền lợi chiến lược chung mà Mỹ có với Ai Cập nhiều hơn những khác biệt của chúng ta,” bà Clinton nói.


Trong cuộc thảo luận với ông Mursi, bà Clinton nhấn mạnh nhu cầu Ai Cập phải duy trì thỏa thuận hòa bình ký năm 1979 với Israel, trong khi tiếp tục hợp tác chống khủng bố và hỗ trợ Cairo kiểm soát khu vực Bán Ðảo Sinai đang ngày càng trở nên bất ổn và là mối lo ngại an ninh cho Israel. (V.Giang)

‘Sông Côn Mùa Lũ’

 


Trịnh Hội (Nguồn: VOA)


 


Tôi tiếc. Tiếc lắm. Tiếc vì biết rằng mình đã mãi mãi đánh mất một cơ hội quý giá. Là tôi sẽ không bao giờ gặp được ông trong đời. Một người mà tôi trong suốt gần 2 tháng qua luôn tự nhủ thầm là mình sẽ phải gặp. Phải gặp ngay sau khi đọc xong quyển trường thiên tiểu thuyết của ông.










Nhà văn Nguyễn Mộng Giác. (Hình: Blog Trịnh Hội)


Nó mang tên: ‘Sông Côn Mùa Lũ’.


Và ông là nhà văn Nguyễn Mộng Giác.


Ông vừa qua đời đêm hôm trước ở Cali. Tôi cũng vừa đọc xong quyển “Sông Côn Mùa Lũ” của ông trên đường bay về Mỹ. Thế vậy mà tôi vẫn không gặp được ông. Sẽ không bao giờ có dịp hỏi ông thế ông có nghĩ là nhân vật Nguyễn Huệ mà ông tạo dựng lại trong truyện sẽ xuất hiện một lần nữa hay không ngay trên quê hương mình?


Cũng sẽ không bao giờ tôi còn dịp mang đến tặng ông một giỏ lan rừng như tôi đã tự hứa với lòng. Vì tôi nghĩ là ông sẽ rất thích. Rất thích như nhân vật Lãng ngây thơ, lãng mạn trong truyện đã tìm đến thiên nhiên và những cành hoa lan mỏng manh, hoang dại, khi chinh chiến đã tàn. Lúc anh đã thôi không còn muốn vướng bận vào cõi đời lắm trái ngang, tranh chấp.


Tôi có một thói quen là thích hỏi thăm những người tôi vừa mới làm thân, những người cũng thích đọc sách như tôi, là đối với họ tác phẩm văn chương nào, ở đâu, là tác phẩm tuyệt vời nhất? Gặp bạn Mỹ, Úc tôi hỏi cho cả hai thể loại: fiction (tiểu thuyết) và non-fiction (những thể loại còn lại). Gặp các anh em, bạn bè người Việt tôi cũng hỏi y thế.


Vì đối với riêng tôi, người chọn sách nhưng sách giúp chọn bạn. Nếu may mắn, không những chúng ta sẽ tìm được những người bạn có cùng một sở thích đọc sách mà hơn thế nữa, chúng ta sẽ tìm được một sự đồng cảm, quan tâm và rất thích thú khi biết được rằng cũng có người có cùng một ý tưởng, một nhân sinh quan như mình. Qua tác phẩm mà cả hai vừa tìm đến, có cùng một cảm nhận.


Không phải ai cũng đồng ý đấy là một quyển sách hay. Vì không phải ai cũng tìm thấy những gì đã có từ lâu ở trong ta. Như câu kết trong bài viết trước của tôi: “Books are mirrors. You only see in them what you already have inside you”. Tìm được những người bạn có những gì mình đang có từ lâu ở trong ta là một sự may mắn hi hữu.


Vì thế người đầu tiên tôi cần phải cảm ơn là anh Cường, một người bạn, đàn anh của tôi mà tôi chỉ vừa mới có dịp làm thân cách đây chỉ vài tháng. Mặc dù tôi biết anh đã lâu.


Hôm trước khi tôi bay vòng một chuyến từ Âu sang Úc để gây quỹ cho những thuyền nhân cuối cùng ở Thái Lan, chúng tôi đã gặp nhau ở một quán ăn ở Cali với một số anh em khác để cùng hàn huyên tâm sự về một số công việc mà chúng tôi đang cộng tác chung. Nhân tiện đó tôi hỏi anh thế này:


Theo anh thì quyển sách nào đã có ảnh hưởng nhiều nhất đến anh? Hay nhất theo ý anh?


Anh trả lời: “Có thể đó là cuốn Guns, Germs and Steel của Giáo Sư Jared Diamond chứng minh về sự ra đời và kết thúc của các nền văn minh cổ đại”.


Quả thật đó là một quyển sách nghiên cứu khoa học tự nhiên quá tuyệt vời.


Thế còn trong tiếng Việt thì sao thưa anh?


Tôi hỏi tiếp.


“Chắc chắn đó phải là cuốn ‘Sông Côn Mùa Lũ’ của Nguyễn Mộng Giác”.


Không một chút ngần ngại, đắn đo anh đã trả lời ngay lập tức.


Và thế là tôi đã đến với quyển trường thiên tiểu thuyết dã sử này nhân đúng ngày tôi ra mắt quyển “Hội & Ngộ” của tôi ở hội trường nhật báo Người Việt. Khi anh mang đến tặng cho tôi cả hai bộ I & II có chữ ký của chính tác giả. Mặc dù anh biết là tôi chỉ có thể trả lễ lại bằng cách tặng cho anh quyển “Hội & Ngộ” có phần hơi ngô ngố, quá đỗi tầm thường của mình.


Kể từ hôm đó cho đến tuần trước cứ bước lên máy bay, sau khi cài chặt dây an toàn là tôi mở sách ra đọc. Có thể nói đây là quyển tiểu thuyết tiếng Việt dài nhất mà tôi đã đọc được hết từ đầu cho đến cuối trong suốt hơn một thập niên qua. Và càng đọc thì tôi càng bị cuốn hút vào câu chuyện của 3 anh em nhà họ Nguyễn từ vùng đất quê nghèo Tây Sơn đã lập được nên sự nghiệp từ Nam ra Bắc trên 200 năm trước. Cùng với thân phận nổi trôi của 4 người con, 3 trai, một gái của ông Giáo Hiến khi đất nước phải trải qua biết bao cuộc bể dâu. Của Vua Lê, Chúa Trịnh ở Ðàng Ngoài. Và con cháu của Chúa Nguyễn là Nguyễn Ánh ở Ðàng Trong.


Mỗi nhân vật là một vẻ. Một Nguyễn Nhạc với tính khí thẳng thắn nhưng có phần đa nghi. Một Nguyễn Lữ suốt đời chỉ muốn tìm đến sự đơn giản và chân lý trong cuộc sống sao có lắm kẻ bon chen này.


Và Nguyễn Huệ. Một nhân vật, một anh hùng mà tôi nghĩ tác giả muốn gói ghém tất cả những gì cao đẹp nhất cần phải có ở một nhà lãnh tụ quốc gia trong thời loạn lạc. Ông là một tướng giỏi nhưng hơn hết ông là một nhà chính trị gia đại tài. Ông khoan dung nhưng dứt khoát. Biết là xã hội nào cũng cần phải có nề nếp, kỷ cương nhưng vẫn sẵn sàng gạt bỏ quá khứ để hướng đến tương lai.


Và đó cũng là thông điệp được gửi gấm qua trên 1,500 trang giấy của bộ trường thiên tiểu thuyết “Sông Côn Mùa Lũ” mà tác giả đã bắt đầu nghiên cứu để viết lại trong suốt những năm tháng đầu tiên tại Sài Gòn sau năm 1975 trước khi ông vượt biên sang Mỹ định cư. Ðó là thái độ các nhà khoa bảng, của giới trí thức, của các nhà nho ngày xưa khi có những cuộc tranh chấp, thay đổi giữa các triều đại lúc hưng suy.


Thế nào là trung với quân? Khi nào thì chúng ta cần phải lắng nghe tiếng nói của chính người dân chân lấm tay bùn? Là đã đến lúc chúng ta cần phải thẳng thắn gạt bỏ những hệ lụy của quá khứ để thành lập một xã hội mới, một trật tự mới?


Rất tiếc là tôi sẽ không bao giờ có dịp hỏi tác giả những câu hỏi trên trong hoàn cảnh hiện tại của đất nước. Cũng như tôi sẽ không bao giờ có cơ hội được chia sẻ với ông về thái độ của giới trí thức ở Việt Nam và ở hải ngoại về những vấn đề cấp bách chung.


Vì đúng như lời ông đã từng chia Sẻ trước đây: “Nếu có một lời nhắn nhủ cho lớp trẻ, tôi sẽ nói: Nếu có ý định làm gì thì nên làm ngay. Ðừng đợi có điều kiện tối hảo mới làm như kiểu tự hứa ‘khi có điều kiện, tôi sẽ làm việc này việc kia…’’ mà nên bắt tay làm ngay”.


Lẽ ra anh Cường phải cho tôi biết sớm về “Sông Côn Mùa Lũ”. Lẽ ra tôi phải biết tự tìm đến ông để sớm học được lời nói này.

Chùa Phổ Ðà tổ chức lễ giỗ cố HT Thích Hạnh Ðạo

 


SANTA ANA (NV) – Nhiều chư tôn đức tăng ni và Phật tử trong vùng tề tựu tại chùa Phổ Ðà, Santa Ana, hôm Chủ Nhật để dự Lễ Tiểu Tường, tưởng niệm cố Hòa Thượng Thích Hạnh Ðạo, viện chủ chùa, qua đời cách đây một năm.



Trước năm 1975, cố hòa thượng là trung tá QLVNCH, chánh sở Tuyên Úy Phật Giáo Quân Ðoàn 4, Quân Khu 4, từng dạy học tại Phật Học Viện Phổ Ðà, trường Bồ Ðề, phó đại diện Nội Vụ trong Ban Ðại Diện Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Ðà Nẵng. Sau 10 năm bị tù Cộng Sản, ngài về cư trú tại Sài Gòn và dạy Phật học cho tăng ni của Phật Học Viện Giác Ngộ. Ðến năm 1993, ngài sang Hoa Kỳ, thường trú tại chùa Việt Nam, Los Angeles cho tới năm 1996. Trong hình, nghi lễ cung thỉnh chư tôn đức tăng ni vào chánh điện chuẩn bị làm lễ. Phía cuối là di ảnh cố Hòa Thượng Thích Hạnh Ðạo. (Hình: Ðỗ Dzũng/Người Việt)

TNS Lou Correa lắng nghe khó khăn của người làm nail

 


Linh Nguyễn/Người Việt


 


SANTA ANA (NV) – Thượng Nghị Sĩ Lou Correa chủ tọa buổi hội thảo với một số các chuyên gia và đại diện ngành nail trưa Thứ Sáu tại văn phòng địa hạt ở Santa Ana, để cập nhật về những luật lệ mới và thảo luận một số đề tài liên quan đến các vấn đề huấn luyện, thi lấy bằng, trở ngại ngôn ngữ và những khó khăn của người làm chủ tiệm nail.









TNS Lou Correa (giữa) cùng Bác Sĩ Tâm Nguyễn (trái) xem bằng chứng khám xét tiệm nail người Việt. (Hình: Linh Nguyễn/Người Việt)


“Bản dịch tiếng Việt của đề thi bằng nail có còn là trở ngại hay không? Ai là người dịch?” TNS Lou Correa đặt vấn đề mở đầu buổi thảo luận. Ðây là lần thứ hai ông bàn thảo với cùng nhóm người tham dự.


“Chúng tôi thấy bản dịch vẫn sai và khó hiểu,” Bác Sĩ Tâm Nguyễn, chủ nhân trường thẩm mỹ Advance Beauty College (ABC) phát biểu, và nói “giọng văn và lời lẽ dịch khác với tiếng Việt trước năm 1975. Có lẽ ai đó đã dùng người trong nước Việt Nam dịch”.


Cô Linh Nguyễn, cũng thuộc trường ABC, đưa ra một giải pháp tạm thời cho trường của cô: “BBC (Board of Barbering and Cosmetology) có thể nào cho trường chúng tôi một danh sách các từ ngữ chuyên môn bằng Anh ngữ, rồi mướn ai đó ở Mỹ dịch cho đúng ngôn ngữ người Việt Nam ở đây. Không cần dịch hết cả các tài liệu và bài thi. Chúng tôi sẽ căn cứ vào đó để dạy cho các học viên tại trường.”


Phó thị trưởng Westminster, ông Trí Tạ, đồng ý về giá trị tiêu cực của phẩm chất dịch thuật tài liệu ngành nail.


Ông nói: “Vấn đề này cần phải có một ủy ban để cải thiện, nhưng vấn đề nghiêm trọng hơn cho các chủ tiệm nail là các giấy phạt vô lý và thái độ của các nhân viên thanh tra. Chuyện này đã xảy ra cả chục năm nay rồi!”


Ông Trí đề nghị TNS Lou Correa cải thiện tình trạng này bằng một dự luật của thượng viện.


Ông Lou Correa nói: “Tôi có thể bảo trợ một dự luật, nhưng chỉ ngại vấn đề hành chánh chậm chạp.”


Luật Sư Mike Võ, 36 tuổi, sống ở Westminster và là chủ tịch Hiệp Hội Ngành Nails Việt-Mỹ (VANA), nhấn mạnh vấn đề quyền của chủ tiệm nail: “Người chủ có quyền chất vấn nhân viên thanh tra và đừng ký giấy tờ nếu không hiểu nội dung.”


Ông khẳng định: “Báo chí Việt ngữ có thể giúp quảng bá những luật lệ cập nhật và giúp đưa thông tin rộng rãi vì các chuyên viên ngành nail người Việt chưa làm quen được với việc vào trang mạng của BBC để theo dõi tin tức.”


Cô Lisa Fu, giám đốc tổ chức Liên Hiệp Ngành Móng Tay Lành Mạnh, nhấn mạnh sự quan trọng của việc dịch thuật tài liệu sang tiếng Việt.


Cô nói: “Thợ nail gốc Việt chiếm từ 60-80% số thợ trong ngành nail ở California. Vì thế, cần tài liệu bằng tiếng Việt.”


Bà Ann Ðàm, chủ tiệm Queen Nails & Spa ở thành phố Brea, tỏ vẻ phẫn nộ than phiền các nhân viên thanh tra khi tiệm của bà bị nhận giấy phạt.


Bà nói: “Tôi không thể hiểu được tại sao nhân viên thanh tra khám xét có một ghế spa mà lại cho giấy phạt cả 16 ghế trong tiệm của tôi? Họ có vẻ như không được huấn luyện và chỉ muốn làm khó chúng tôi.”


Bà nói tiệm của bà đã hoạt động 15 năm và luôn cố gắng tuân thủ luật lệ của BBC.


Bà kể: “Mới đây khi thanh tra đến xét tiệm của tôi, họ cho giấy phạt và nói có hai bồn chứa nước pha dung dịch sát trùng không đúng tiêu chuẩn của nhà thương mà luật tiểu bang đòi hỏi. Tôi cố giải thích là thuốc có ghi ‘hospital grade’ trên giấy nhãn hiệu, và nước họ thấy là nước xả (rinse). Nhân viên họ không thèm nghe và phạt $3,800 như thường!”


Bà Ann Ðàm vừa nói vừa chỉ cho TNS Lou Correa, Bác Sĩ Tâm và mọi người xem những tấm hình do video của tiệm ghi lại.


Ông Phước Ðàm, chồng bà Ann, phân trần: “Làm sao phải có sự đối thoại giữa người chủ tiệm và nhân viên thanh tra. Họ không cần nghe mình nói là sao? Phải chăng những người tới xét là nhân viên nghiệp đoàn, họ không quan tâm đến việc của BBC?”










Bà Ann Ðàm trao hình ghi cảnh nhân viên thanh tra xét tiệm. (Hình: Linh Nguyễn/Người Việt)


Ông cũng quan tâm đến vấn đề tiền phạt: “Có cách nào để BBC cho các chủ tiệm trả góp khi bị phạt không? Có người trả một lần không nổi và dẹp tiệm luôn!”


Sau cùng ông đề nghị: “Có thể nào chủ tiệm bị phạt được đi học để xóa giấy phạt như trường hợp lái xe hay không?”


Hiện diện tại buổi hội thảo tại văn phòng TNS Lou Correa kéo dài một giờ đồng hồ, gồm các chủ tiệm nail gốc Việt, các chuyên viên tư vấn, cựu Thiếu Tá Hải Quân Mỹ, Luật Sư Chris Phan, hiện đang ứng cử chức nghị viên Garden Grove, và các đại diện báo chí Việt ngữ.


Chi tiết về các luật lệ ngành thẩm mỹ bằng Việt ngữ có thể tìm thấy ở địa chỉ: http://www.barbercosmo.ca.gov/laws_regs/act_regs_vt.pdf.


Thông tin tiếng Việt về các buổi điều trần kỷ luật: http://www.barbercosmo.ca.gov/forms_pubs/drch_factsheetvt.pdf.


––


Liên lạc tác giả: [email protected]

Vài điều cần nói rõ thêm về lời phát biểu của tôi trong cuộc gặp gỡ báo giới và cộng đồng của Nhật báo Người Việt

 


Trần Phong Vũ


 


Trước khi kết thúc buổi gặp gỡ báo chí và đại diện Cộng Ðồng Nam California chiều Thứ Sáu 13 tháng 7, 2012 của Nhật báo Người Việt để nhìn nhận lỗi lầm và công khai tạ lỗi về sơ sót nghiêm trọng trong việc đăng tải những lời lẽ xúc phạm tới cộng đồng người Việt tị nạn của ông Sơn Hào trên số báo ngày 08 tháng 7, cá nhân tôi đã lên tiếng về hai điểm.


-Thứ nhất, bày tỏ ý kiến riêng về diễn tiến cuộc gặp gỡ.


-Thứ hai, xác định thái độ và lập trường của cá nhân tôi về sự hiện diện không chờ đợi trong cuộc gặp gỡ này của hai khuôn mặt đã công khai thách thức tập thể đồng bào Việt Nam tị nạn cộng sản ở hải ngoại qua hành vi về nước hợp tác với chế độ.


Ðể tránh ngộ nhận có thể xảy ra về những lời truyền tai không đầy đủ, đồng thời để rộng rãi thông tri tới các đồng nghiệp truyền thông và toàn thể đồng bào trong ngoài nước bằng văn bản những gì tôi đã phát biểu trong buổi gặp gỡ kể trên, tôi xin được ghi lại trong bài viết ngắn này với nội dung sau đây.


1. Tôi thành thực nghĩ rằng buổi gặp gỡ chiều 13 tháng 7 đã diễn ra trong tinh thần xây dựng, thành khẩn, thiện chí và hữu ích giữa đôi bên trong nỗ lực tạo bầu không khí thông cảm và liên đới trách nhiệm giữa những thành phần trong cộng đồng Việt Nam tị nạn hải ngoại nhằm yểm trợ hữu hiệu công cuộc đấu tranh cho tự do, dân chủ và nhân quyền, nhân phẩm của đồng bào quốc nội.


Sự lên tiếng nhìn nhận lỗi lầm đồng thời công khai xin lỗi cộng đồng, đoạn hứa sửa sai của những thành phần chủ chốt trong nhật báo Người Việt là một điểm son cần được tập thể ghi nhận. Dĩ nhiên, ghi nhận trong những điều kiện sẽ được đề cập ở phần sau.


Mở Người Việt Online sáng hôm Thứ Bảy ngày 14 tháng 7, tôi đọc được trong bài tường thuật của ký giả Hà Giang về buổi gặp gỡ với những lời lẽ: Luật Sư Phan Huy Ðạt, Chủ Nhiệm nhật báo Người Việt, trình bày rằng, sự xuất hiện của lá thư này trên Nhật Báo Người Việt là một “tai nạn” và là một “lỗi lầm nghiêm trọng,” gây nhiều phẫn nộ trong cộng đồng; và đại diện Nhật Báo Người Việt, ông “chân thành xin lỗi đến toàn thể độc giả, các đoàn thể, tổ chức cựu quân, dân, cán chính Việt Nam Cộng Hòa”.


Ở một đoạn kế tiếp trong bài tường thuật, Hà Giang ghi nhận:


Cũng trong lời xin lỗi ấy, Luật Sư Phan Huy Ðạt tái xác định trong cuộc gặp gỡ cộng đồng rằng: Các biện pháp kỷ luật đã được đưa ra. Người chịu trách nhiệm trực tiếp trong việc để lá thư độc giả ấy xuất hiện trên mặt báo, là Phụ Tá Chủ Bút Vũ Quí Hạo Nhiên, phải thôi việc; đồng thời Hội Ðồng Quản Trị đã có khiển trách nghiêm khắc cùng biện pháp chế tài đối với hai người liên đới trách nhiệm, là chủ nhiệm và chủ bút.


Trong những phản biện tiếp theo trong buổi gặp gỡ của các nhà báo và các nhân sĩ trong cộng đồng như các ông Phan Tấn Ngưu, Nguyễn Tấn Lạc, LS Nguyễn Xuân Nghĩa, BS Trần Văn Cảo, nhà báo Khúc Minh, v.v. hầu hết đã có những lý do chính đáng để quy trách nhiệm cho ông Phạm Phú Thiện Giao với tư cách chủ bút, đồng thời trách cứ phản ứng chậm trễ của nhật báo Người Việt. Ðiều này sau đó đã được LS Phan Huy Ðạt lý giải khi ông nhấn mạnh tới căn nguyên khó vượt qua của một cơ cấu được tổ chức theo quy chế “ESOP” (Employees Stocks Ownership Plan) như công ty Người Việt khiến cho những lúc phải quyết định những vấn đề cấp bách như vụ này không thể thực hiện ngay được trong sớm chiều.


Sau khi ghi nhận thiện chí nhận mọi lỗi lầm và công khai xin lỗi của các đại diện cao cấp của Nhật báo Người Việt, trước cử tọa, cá nhân chúng tôi cũng không ngần ngại đề cập tới một ưu điểm khó ai có thể phủ nhận về giá trị những bài được coi là thể hiện lập trường và quan điểm của tờ báo do nhà báo Ngô Nhân Dụng tức GS Ðỗ Quý Toàn phụ trách. Những bài này cũng từng được một vài trang mạng ở quốc nội loan tải, mà theo tôi ít nhiều đã ảnh hưởng tới cuộc đấu tranh cho tự do, dân chủ và nhân quyền trong nước.


Vấn đề còn lại tôi cũng đã công khai bày tỏ trong lời phát biểu. Ðó là mối âu lo về một tình trạng xáo trộn, bất ổn liên miên trong cộng đồng, nếu những cuộc bất hòa cứ tiếp tục xảy ra mà căn do dường như thuộc về trách nhiệm của mọi phía khi vì lý do này hay lý do khác, các phe phái không chấp nhận thiện chí của nhau mà tiếp tục phản ứng theo cảm tính, không nghĩ tới quyền lợi chung của cộng đồng, của đất nước.


Theo nhận định chủ quan của cá nhân tôi: Sau cuộc gặp gỡ báo chí và các đại diện cộng đồng chiều Thứ Sáu 13 tháng 7, 2012 của báo Người Việt, chúng ta cần chấp nhận thiện chí hối lỗi, nhận lỗi và biện pháp sửa sai cũng như lời tái minh định lập trường không cộng sản của ban quản trị tờ báo. Dĩ nhiên vấn đề chưa kết thúc ở đây, vì qua những lời phàn nàn công khai của những người hiện diện trong buổi gặp gỡ vừa qua, đây không phải là lần đầu báo Người Việt vấp phạm những lỗi lầm nghiêm trọng. Trong quá khứ, hơn một lần tờ báo đã công khai xúc phạm danh dự và lập trường của tập thể người Việt tị nạn và cũng đã nhiều lần nhận lỗi và xin lỗi!


Vì thế, trong lời phát biểu của tôi, tôi hàm ý nói với Nhật báo Người Việt: “Hơn ai khác, chính quý vị là những người chịu trách nhiệm trực tiếp về những lời nhận lỗi, xin lỗi và cam kết sửa sai”. Trong khi ấy, các thành phần trong cộng đồng, trong đó có các bậc thức giả, các cơ quan truyền thông, sẽ là những trọng tài, những tai mắt để nghe, nhìn, quan sát và lượng giá mọi hành vi của Người Việt.


2. Bước vào hội trường Người Việt chiều Thứ Sáu 13 tháng 7 như một độc giả, một người làm truyền thông văn hóa và hơn hết thảy, một người con của cộng đồng Việt Nam tị nạn, tôi không khỏi ngỡ ngàng khi thấy hiện diện một khuôn mặt chủ chốt của tờ Viet Weekly, tờ báo từng bị cộng đồng tẩy chay qua văn bản lên tiếng của nhiều nhân sĩ, trí thức trong cộng đồng và những cuộc biểu tình phản đối liên tiếp trong nhiều ngày tháng của bà con. Ðó là ông Êcêtơra. Tôi càng ngạc nhiên đến phẫn nộ khi thấy sự xuất hiện tiếp theo của nhân vật mang tên Nguyễn Phương Hùng, người đã công khai từ bỏ cộng đồng tị nạn, lại còn ngang nhiên lạm dụng danh nghĩa những người Việt làm truyền thông ở hải ngoại về nước đầu quân cho chế độ độc tài. (Tưởng cũng cần mở dấu ngoặc ở đây để nhấn mạnh rằng khi những lãnh tụ cỡ thứ trưởng và phó chủ tịch nước phải xếp hàng chụp hình chung với những khuôn mặt rác rưởi kể trên để hô hoán là họ đã được sự hậu thuẫn của giới truyền thông Việt hải ngoại thì rõ ràng là họ đã hoàn toàn thất bại trong chính sách ngoại vận. Sau khi đổ ra biết bao công của để thi hành Nghị quyết 36, Hà Nội đã không tìm đâu ra một vài khuôn mặt tạm coi là sáng sủa ở hải ngoại đề bày hàng!)


Tôi đã kiên nhẫn chờ đến phút chót vẫn không thấy ai, kể cả chủ nhân buổi gặp gỡ là Nhật báo Người Việt, bày tỏ thái độ hoặc đưa ra một lời giải thích. Ðối với tôi, đây là một hiện tượng vừa nghịch lý lại vừa có nguy cơ tạo nên những hỏa mù làm xáo trộn một cộng đồng được coi là đối kháng quyết liệt với chế độ tham tàn, chuyên chính Hà Nội như cộng đồng Việt ở Nam California. Riêng với báo Người Việt, tôi tự hỏi mai ngày liệu sự kiện kể trên có thể trở thành căn nguyên nổ ra một cuộc chống đối mới khi có ai đó nhân việc này quy trách cho tờ báo, dù là quy trách oan uổng?


Thử hỏi còn có gì nghịch lý hơn khi một cuộc gặp gỡ để làm sáng tỏ điều các đoàn thể chống cộng đang sục sôi phản ứng vì nghĩ rằng Nhật báo Người Việt có hành vi tiếp tay cho những tên bồi bút phản bội và bôi nhọ những người quốc gia, nhất là những chiến sĩ VNCH, những nạn nhân trong các nhà tù trá hình trại cải tạo của cộng sản lại có sự hiện diện ngơ ngáo bằng xương bằng thịt của hai kẻ đã từng minh nhiên về nước “chung chăn chung chiếu” với kẻ thù của dân tộc? Ðây không còn là những lời tố cáo vu vơ. Người ta đã được nhìn thấy bằng mắt qua những hình ảnh trên mặt báo, trên các diễn đàn Internet và được nghe, được đọc bằng chính những lời lẽ huênh hoặc qua sản phẩm chữ nghĩa của các đương sự.


Chính vì những băn khoăn thao thức kể trên tôi đã miễn cưỡng phải vượt qua những dè dặt, kể cả sợ hãi, căn bệnh thông thường của con người yếu đuối để công khai cất lên tiếng nói thẳng thắn và chân thật của mình. Giống như mọi người, tôi cũng không khỏi e dè, sợ hãi khi nghĩ tới sự an toàn bản thân của tôi trước những thủ đoạn “ném đá giấu tay” của phường rắn độc, nhất là khi chúng có cả một hậu phương là chế độ Hà Nội tiếp trợ và bao che, bằng tiền bạc và bằng những hành vi tàn bạo không gớm tay.


Nhưng đấy có phải là lý do để im hơi lặng tiếng?


Và khi vạn bất đắc dĩ phải nói lên tiếng nói của mình, tôi hướng tới hai mục tiêu.


Trước hết, để báo Người Việt có cơ hội minh định thái độ, hầu tránh hậu họa.


Thứ hai, để nhân danh cộng đồng tái minh xác lập trường dứt khoát là không chấp nhận những con chiên ghẻ vì miếng cơm thừa, canh cặn đã đầu hàng cộng sản.


Chúng ta đang sống trên một đất nước tự do. Chúng ta tôn trọng tự do của mọi người, kể cả những tên cộng sản và những kẻ theo đóm ăn tàn. Nhưng chúng ta không thể là căn nguyên để cho những phần tử như thế đứng chung trong những sinh hoạt của chúng ta.


Mục tiêu thứ nhất đã tạm thanh thỏa khi nhà báo Ðinh Quang Anh Thái với tư cách phụ tá chủ nhiệm tuyên bố trong cuộc gặp gỡ là Người Việt không hề đạt giấy mời hai nhân vật kể trên.


Mục tiêu thứ hai, tôi muốn nhân phản ứng phẫn nộ này để nói với cộng đồng người Việt tị nạn, trong đó bao gồm những đồng bào ruột thịt, thân tiết của tôi rằng: Chúng ta là những kẻ may mắn đang được sống trên một đất nước tự do và phồn thịnh hàng đầu của thế giới. Chúng ta cần hành xử sao cho xứng đáng với lòng kỳ vọng của 90 triệu đồng bào đang sống lầm than điêu đứng ở quê nhà. Chúng ta cũng cần hành xử như những người tự do, văn minh, hoàn toàn khác với những kẻ man rợ, tuy sống giữa xã hội hôm nay nhưng thực chất không khác gì những loài dã thú man rợ, vô cảm của thời tiền sử.


Vì thế, nhất quyết chúng ta không vọng động, nhất quyết không để cho bất cứ nguyên do nào tạo nên những xào xáo, bất ổn trong tập thể chúng ta. Chúng ta tôn trọng tự do của tất cả mọi người, sẵn sàng cảm thông cho những ai nhận ra lỗi lầm và biết hối lỗi. Nhưng cùng lúc chúng ta phải có đủ bản lãnh, ý chí cương quyết, lòng can đảm, và thái độ sáng suốt để phân biệt bạn thù, dứt khoát cảnh giác trước những hành vi lộn sòng, tráo trở của bọn phản quốc.


 


Một lời minh xác cần thiết:


Trong lời giới thiệu với cử tọa trong buổi gặp gỡ, nhà báo Ðinh Quang Anh Thái đã giới thiệu tôi là chủ bút nguyệt san Diễn Ðàn Giáo Dân. Tôi xin nói lại cho đúng. Kể từ đầu năm nay, vì bước vào tuổi 80 tôi đã từ nhiệm vai trò chủ bút. Tuy nhiên, tôi vẫn còn là một thành viên trong gia đình tờ báo của những người công dân Việt Nam có tín ngưỡng Công Giáo này. Trân trọng.


T.P.V.


Nam California, ngày 14-7-2012



 

Tìm hiểu luật di trú

 


Darren Nguyen Ngoc Chuong, Esq.


 


Luật di trú Hoa Kỳ là loại luật rất phức tạp, do đó, theo yêu cầu của đa số bạn đọc cần am tường và thấu hiểu về luật này, tòa soạn nhật báo Người Việt mời Luật Sư Darren Nguyen Ngoc Chuong phụ trách mục “Tìm Hiểu Luật Di Trú,” đăng hàng tuần trên Người Việt. Luật Sư Darren Nguyen Ngoc Chuong là người Việt Nam đầu tiên và duy nhất tại Orange County, California được Luật Sư Ðoàn Tiểu Bang California công nhận chuyên môn về ngành Luật Di Trú Hoa Kỳ. Hiện nay California có trên 232,000 luật sư nhưng chỉ có 167 luật sư có bằng chuyên môn về Luật Di Trú. Ngoài ra, Luật Sư Darren Nguyen Ngoc Chuong từng phục vụ lâu năm tại Sở Di Trú Hoa Kỳ (INS) nên rất có kinh nghiệm trong việc thiết lập hồ sơ và thường đại diện thân chủ trước các tòa án di trú. Ông là một luật sư đầy kinh nghiệm và uy tín, chuyên trách giải quyết và phục vụ đồng hương Việt Nam về lãnh vực di trú nhiều năm tại California và khắp các tiểu bang Hoa Kỳ.


 


Ðề tài: Trục xuất – Phần 2


 


Trục xuất tiếng Anh là Removal và trục xuất có hai loại. Loại trục xuất thứ nhất là “Removal Under Inadmissibility Grounds” theo điều luật 212 của bộ luật di trú và được áp dụng để trục xuất những người đang xin nhập cảnh Hoa Kỳ.


 Loại trục xuất thứ nhì là “Removal Under Deportation Grounds” theo điều luật 237 của bộ luật di trú và được áp dụng để trục xuất những người nào đã nhập cảnh Hoa Kỳ.


Loại Trục Xuất Thứ Nhì (Removal under Deportation Grounds) có 4 trường hợp xảy ra thường xuyên. Trường hợp thứ nhất là ở Hoa Kỳ bất hợp pháp. Trường hợp thứ nhì là khai gian với Sở Di Trú để hưởng quyền lợi di trú. Trường hợp thứ ba là không làm đúng điều kiện mà người đó đã cam kết với Sở Di Trú. Trường hợp thứ tư là những người không phải công dân Hoa Kỳ bị kết án phạm hình luật.


Trường hợp thứ nhất: Ở Hoa Kỳ bất hợp pháp, trường hợp này xảy ra rất nhiều. Theo luật di trú, ở Hoa Kỳ bất hợp pháp có rất nhiều trường hợp. Ðiển hình trong trường hợp du lịch, có người ở Hoa Kỳ quá thời hạn Sở Di Trú cho phép, hoặc người đó đi làm hay đi học trong khi giấy chiếu khán của người đó ở Hoa Kỳ là du lịch, và vì vậy tự động người đó trở thành lưu trú tại Hoa Kỳ bất hợp pháp. Ðiển hình khác là trong trường hợp du học, có người chỉ đi học được một hoặc hai mùa sau đó bỏ học, hoặc đi làm mà không có giấy phép do Sở Di Trú cấp.


Trường hợp thứ hai: Khai gian với Sở Di Trú, hoặc tòa đại sứ, hoặc tòa lãnh sự Hoa Kỳ, để được hưởng quyền lợi về Di Trú. Ðiển hình trong trường hợp diện Public Interest Parole (thường được gọi là diện PIP). Những người con là công dân Hoa Kỳ bảo lãnh cho cha mẹ, khi cha mẹ được đi Hoa Kỳ, những người con còn ở lại trên 21 tuổi được đi theo cha mẹ nếu chưa có gia đình. Theo luật di trú, không có gia đình tức là không có vợ hoặc có chồng. Có những người khai với Sở Di Trú là họ không có vợ hoặc có chồng, sự thật người đó đã có gia đình nhưng giấu để được đi Mỹ theo cha mẹ. Mười năm sau khi vào Mỹ, được thẻ xanh, người đó lại bảo lãnh cho chồng hoặc cho vợ còn ở lại Việt Nam. Ðương đơn dùng giấy hôn thú đã có trước khi qua Mỹ để nộp cho Sở Di Trú, vì họ nghĩ rằng chuyện đó đã quá lâu, và hồ sơ đó chính phủ Mỹ không còn lưu giữ lại. Sau khi Sở Di Trú chấp thuận hồ sơ bảo lãnh và gửi hồ sơ cho lãnh sự phỏng vấn. Lãnh sự phát giác là người bảo lãnh đã có hôn thú trước khi nhập cảnh Hoa Kỳ, tòa lãnh sự sẽ chuyển những hồ sơ đó về Sở Di Trú để giải quyết. Khi nhận được những hồ sơ đó, Sở Di Trú bắt đầu tiến hành thủ tục trục xuất người đã làm đơn bảo lãnh cho vợ hoặc chồng ở Việt Nam.


Trường hợp thứ ba: Không làm đúng điều kiện đã cam kết với Sở Di Trú. Trường hợp này tôi thấy xảy ra rất nhiều trong cộng đồng Việt Nam của chúng ta. Công dân Hoa Kỳ về Việt Nam để lập gia đình với một người ở Việt Nam, và sau đó làm đơn bảo lãnh người ấy qua Hoa Kỳ. Theo luật di trú Hoa Kỳ, khi một công dân Hoa Kỳ bảo lãnh cho chồng hoặc vợ để được sang Mỹ, người được bảo lãnh phải chấp thuận điều kiện là chỉ có thẻ xanh tạm, có hiệu lực 2 năm thôi, khoảng 2 năm sau khi vào Hoa Kỳ, người công dân Hoa Kỳ cùng với người được bảo lãnh phải làm đơn để xin thẻ xanh vĩnh viễn. Sở Di Trú chỉ cấp thẻ xanh nếu hai người vẫn còn hôn thú và vẫn còn chung sống với nhau như vợ chồng. Nếu khoảng 2 năm sau khi vào Hoa Kỳ, mà người được bảo lãnh không được người bảo lãnh làm đơn xin thẻ xanh vĩnh viễn, thì có thể sẽ bị trục xuất, ngoại trừ điều kiện đó được miễn.


Trường hợp thứ tư: Trường hợp của những người nào không phải là công dân Hoa Kỳ và đã bị kết án phạm hình luật. Tôi đã thấy nhiều trường hợp, có những người bị cáo về hình luật, đã chấp nhận plea bargain (điều đình) với District Attorney, hoặc nhận tội, dù người đó có tội hay không, vì họ nghĩ rằng, ở tù vài tháng sau đó thêm vài năm tù treo là xong, họ muốn chấm dứt sự đối đầu với pháp luật, để bắt đầu lại cuộc đời. Nhưng thật ra chính vì những sự nhận tội cho xong đó, hoặc chấp nhận điều đình đó, lại có thể làm cho họ bị trục xuất.


Một phần trong điều luật 237 nói rằng, khi người thường trú nhân phạm tội Moral Turpitude (tạm dịch là có tính cách suy đồi đạo đức) trong vòng 5 năm được sự thường trú và tội đó có thể bị án tù một năm trở lên thì sẽ bị trục xuất. Quí vị nên chú ý rằng có thể bị án tù một năm trở lên chứ không phải là bị án tù một năm trở lên. Nghĩa là dù rằng đương sự bị án 6 tháng nhưng tội đương sự phạm phải có thể bị phạt 1 năm tù trở lên, đương sự cũng sẽ bị trục xuất.


Một phần khác trong điều luật 237 nói rằng, nếu đương sự bị phạm 2 tội có tính cách suy đồi đạo đức thì đương sự có thể bị trục xuất. Theo điều luật này, nếu đương sự phạm 2 tội ăn cắp vặt sẽ bị trục xuất.


Một phần trong điều luật 237 nói rằng, nếu đương sự bị phạm tội được coi là aggravated felony thì sẽ bị trục xuất. Những tội được coi là aggravated felony là: 1) Murder (giết người), 2) rape (hãm hiếp), 3) ăn cướp và bị án trên một năm, 4) Buôn lậu ma túy, 5) Buôn lậu vũ khí, 6) Những tội hành hung và bị án tù trên một năm, 7) Những tội giả mạo chữ ký hoặc giấy tờ và bị án tù trên một năm, 8) Những tội gian lận và sự thiệt thòi cho nạn nhân trên $10,000.


Những tội nêu trên chỉ là một phần của những tội có thể bị trục xuất và sự trình bày trên không bao gồm tất cả tội mà đương sự có thể bị trục xuất. Ðương sự nên tham khảo với một luật sư thực thụ về luật di trú để biết rõ thêm.


 


Bản tin chiếu khán


 


Theo sự yêu cầu của quí bạn đọc, sau đây là bản thông tin chiếu khán cho tháng 8 năm 2012.


Ưu tiên 1 – priority date là ngày 1 tháng 8 năm 2005, tức là ưu tiên được dành cho những người con trên 21 tuổi chưa có gia đình của công dân Hoa Kỳ.


Ưu tiên 2A – priority date là ngày 15 tháng 3 năm 2010, tức là ưu tiên được dành cho vợ, chồng, hoặc con độc thân dưới 21 tuổi của thường trú nhân.


Ưu tiên 2B – priority date là ngày 22 tháng 6 năm 2004, tức là ưu tiên được dành cho con độc thân trên 21 tuổi của thường trú nhân.


Ưu tiên 3 – priority date là ngày 1 tháng 5 năm 2002, tức là ưu tiên được dành cho con đã có gia đình của công dân Hoa Kỳ.


Ưu tiên 4 – priority date là ngày 15 tháng 2 năm 2001, tức là ưu tiên được dành cho anh, chị hoặc em của công dân Hoa Kỳ.


Quí vị có thể tự theo dõi bản thông tin chiếu khán cho hàng tháng tại website của Tổ Hợp Luật Sư Nguyen & Luu, LLP tại: http://www.nguyenluu.com/vn/vnbulletin/2012-8%20luatditru_banchieukhan_dienthannhan.html


Ghi chú: Ðể am tường về việc nhập cảnh Hoa Kỳ đầy phức tạp, mời quý vị đón đọc mỗi tuần mục “Tìm Hiểu Luật Di Trú” và mục “Giải Ðáp Thắc Mắc” trên nhật báo Người Việt phát hành ngày Thứ Hai ở trang Ðịa Phương, do Luật Sư Di Trú Darren Nguyen Ngoc Chuong phụ trách.


Mọi thắc mắc xin liên lạc: Luật Sư Darren C. N. Nguyen hoặc Luật Sư Thuong T.C. Luu của Tổ Hợp Luật Sư Nguyen & Luu, LLP địa chỉ số 1120 Roosevelt, Irvine, CA 92620. Website www.NguyenLuu.com. Ðiện thoại (949) 878-9888.

Câu chuyện thầy lang

 


‘Test tube baby’


 


Bác Sĩ Nguyễn Ý Ðức


 


Ðầu tháng 7 năm 2012 vừa qua, các nhà chuyên môn của European Society of Human Reproduction and Embryology (ESHRE) nhóm họp tại thủ đô Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ, cho hay, hiện nay có khoảng 5 triệu trẻ em trên thế giới được sinh đẻ qua ống nghiệm. Nói chung, mỗi năm có khoảng 350,000 em sinh qua test tube trong tổng số 130 triệu sơ sinh trên thế giới.


Trước đó vào ngày 6 tháng 6 năm 2012, người phụ nữ đầu tiên có con qua test tube, bà Lesley Brown, qua đời ở tuổi 64.


Thụ tinh trong ống nghiệm, tiếng Anh gọi là In Vitro Fertilisation – IVF – do Bác Sĩ Robert G. Edwards, Anh Quốc, khám phá và thực hiện lần đầu tiên vào năm 1976. Ông đã được tặng giải Nobel Y Học năm 2010, vì theo Hàn Lâm Viện Thụy Ðiển, “nghiên cứu này đã giúp dễ dàng điều trị bệnh vô sinh, một vấn nạn y khoa ảnh hưởng tới một số lớn nhân loại và đặc biệt là 10% các cặp vợ chồng trên khắp thế giới”.


Xin cùng ôn lại sự kiện quan trọng của nền y học hiện đại này.


 


Vô sinh


 


Vô sinh được định nghĩa như một bệnh của bộ máy sinh sản ở cả người nam lẫn nữ, sau khi họ đã cố gắng trong đời sống tình dục được một năm mà vẫn không có con, hoặc người nữ không tiếp tục mang thai được cho tới ngày nở nhụy khai hoa.


Ðã có thời kỳ người ta quy trách nhiệm về sự vô sinh, không có con nối dõi tông đường của cặp vợ chồng là do lỗi ở người vợ. “Cây khô không lộc, người độc không con”. Thế là bà vợ bèn bị cả nhà chồng giáng cấp, hắt hủi, ruồng bỏ.


Hoặc có quan niệm không con là do số phận, ý muốn của Thượng Ðế. Nên đã có việc đi lễ bái, xin con cầu tự. Hoặc tin không có con là do tiền oan nghiệp chướng, ăn ở ác đức từ kiếp trước cũng như bị tà ma ám ảnh nên phải mời thầy cúng về lập đàn trừ oan, giải độc.


Thực ra, hiếm muộn thường có 35% nguyên nhân do người nam, 35% từ người nữ, 20% trách nhiệm cả đôi bên và 10% không giải thích được. Có thống kê lại nói 60% do nữ, 40% do nam.


 


Nghiên cứu


 


Từ thập niên 1950, Bác Sĩ Edwards đã manh nha ý định nghiên cứu một phương pháp nào đó có khả năng tạo ra thụ tinh trứng nữ với tinh trùng ở trong phòng thí nghiệm. Ðến năm 1968, ông đã thành công tạo ra một phôi bào nhỏ. Sau đó, với sự hợp tác của bác sĩ phụ khoa Patrick Steptoe, họ tiếp tục nghiên cứu đặt phôi bào vào tử cung. Với mọi cố gắng, ngày 25 tháng 7 năm 1978, họ đã thành công tạo ra em bé ống nghiệm đầu tiên trên thế giới Louise Joy Brown.


Louise là con của một cặp vợ chồng đã cố gắng có thai trong 9 năm nhưng đều thất bại vì ống dẫn trứng của bà vợ bị tắc nghẽn. Ngày 10 tháng 11 năm 1977, bà vợ được hai vị bác sĩ kể trên giúp có thai qua thụ tinh trong phòng thí nghiệm. Louise có sức khỏe tốt, có việc làm. Năm 2007 cô có thai theo cách tự nhiên và sanh ra một cháu bé bình thường.


Cho đến tháng 6 năm 2012 đã có 5 triệu trẻ em trên thế giới sinh ra với phương pháp invitro-fertilisation. Tại Việt Nam, thụ thai trong ống nghiệm cũng được áp dụng từ năm 1998, riêng bệnh viện sản phụ khoa Từ Dũ đã sanh khoảng 3,000 em.


 


Diễn tiến


 


Thụ thai trong ống nghiệm là lấy trứng của người nữ đã trưởng thành mới rụng cho kết hợp với tinh trùng, nuôi trong hộp dinh dưỡng Petri cho tới khi thành phôi bào rồi đặt vào tử cung người nữ.


Thường thường hộp chứa nhiều tinh trùng khỏe mạnh đã được lựa chọn. Sau 9 tháng 10 ngày phôi bào phát triển thành con người bình thường. Cũng có kỹ thuật đưa tinh trùng trực tiếp vào trứng gọi là Intra-cytoplasmic Sperm Injection.


Thụ thai ống nghiệm khác với sinh sản vô tính (cloning). Trong cloning, người ta lấy nhân của một cái trứng nữ ra, thay vào đó là nhân của một tế bào khác trong cơ thể. Trứng kết hợp này được nuôi trong dung dịch dinh dưỡng để thành phôi bào rồi lớn lên thành một sinh vật. Như trường hợp con cừu Dolly được tạo ra vào ngày 5 tháng 7 năm 1996 ở bên Anh.


Phương pháp thụ tinh ống nghiệm tiến hành như sau:


1. Người nữ được cho dùng dược phẩm để kích thích trứng rụng và trưởng thành. Bình thường mỗi tháng chỉ có một trứng rụng mà thôi.


2. Trứng được hút ra qua một lỗ nhỏ trong khoang xương chậu với một dụng cụ đặc biệt. Thường thường người nữ được cho dùng thuốc an thần hoặc thuốc tê để khỏi đau. Nếu không có trứng thì có thể xin trứng từ phụ nữ khác.


3. Lấy tinh trùng, thường là qua thủ dâm của người nam.


4. Trứng và tinh trùng được đặt trong hộp ống nghiệm chứa dung dịch dinh dưỡng, kích thích cho đôi bên kết hợp với nhau để trở thành phôi bào.


5. Phôi bào được đưa vào tử cung trong vòng 2 hoặc 3 ngày để phát triển. Có thể đưa vào một hoặc nhiều phôi bào. Phôi bào không dùng hết sẽ được giữ đông lạnh để dành.


 


Chỉ định


 


IVF được chỉ định trong các trường hợp sau:


– Phụ nữ ngoài tuổi mang thai.


– Tắc nghẹt hoặc tổn thương ống dẫn trứng.


– Bệnh lạc nội mạc tử cung endometriosis.


– Hiếm muộn nam giới vì ít tinh trùng hoặc cản trở lưu thông tinh trùng.


– Hiếm muộn không rõ nguyên nhân.


Tỷ lệ thành công của phương pháp tùy thuộc nhiều yếu tố như thời gian vô sinh, tuổi tác người phụ nữ, cấu trúc niêm mạc dạ con, trứng tươi hay trứng giữ đông lạnh. Tại Hoa Kỳ tỷ lệ sinh thành công là 35% cho phụ nữ dưới 35 tuổi mà trên 40 tuổi tỷ lệ giảm xuống cón từ 6-10%. Phụ nữ tuổi cao thường có ít trứng, kém đáp ứng với phương pháp kích thích noãn sào sản xuất trứng và vì tỷ lệ có thai cũng giảm.


Thụ thai ống nghiệm có thể dùng trứng và tinh trùng của cặp vợ chồng hoặc do người khác cho.


 


Sửa soạn


 


Cũng như các phẫu thuật khác, phương pháp thụ thai ống nghiệm cũng có một số biến chứng/hậu quả xấu.


Trước hết là tâm trạng căng thẳng trong khi được thực hiện phương pháp, lo nghĩ không biết kết quả ra sao, lại còn tốn kém. Rồi đến các rối loạn thể chất như đau bụng, nôn ói, tiểu tiện ít, chảy máu, nhiễm trùng nhưng bác sĩ đều giải quyết được.


Sau khi nhận phôi bào, người nữ cần nghỉ một ngày rồi trở lại công việc bình thường nhưng tránh việc nặng. 12-14 ngày sau, tái khám với bác sĩ để xét nghiệm coi đã có thai chưa.


Trong thời gian từ 8-10 tuần lễ, người nữ cần uống hoặc chích một lượng rất ít hormon progesteron mỗi ngày để niêm mạc tử cung dày lên, mang nhiều máu nuôi phôi bào.


Nên thông báo cho bác sĩ ngay nếu nóng sốt, xuất huyết cửa mình, đau bụng, đi tiểu ra máu.


Người nữ cần áp dụng một vài sửa soạn như sau:


– Dinh dưỡng đầy đủ, uống nhiều nước, thăng cường sinh tố khoáng chất cũng như tiêu thụ chất đạm cao hơn bình thường.


– Về thể chất: Ðừng quá mập hoặc quá gầy để sự mang thai dược thuận lợi; vận động nhẹ hoặc tập yoga để máu huyết lưu thông dễ dàng; đừng ngồi quá lâu.


Về tinh thần, tránh các căng thẳng suy tư quá độ bình tĩnh chờ đợi kết quả của IVF.


Chi phí cho mỗi IVF cao hơn ở Hoa Kỳ: từ 10,000-15,000 Mỹ kim, Việt Nam khoảng $2,500, Nhật $4,000, Âu Châu $3,000.


 


Kết luận


 


Kết quả nghiên cứu của hai bác sĩ Edwards và Steptoe cũng gặp nhiều nhận xét khen chê.


Giới chức y tế của Tòa Thánh Vatican nói rằng, không có Edwards thì không có thị trường bán cả triệu trứng nữ, không những phòng ướp lạnh chứa đầy phôi bào trên thế giới mà một số được đưa vào tử cung còn đa số bị hủy hoại, vứt bỏ.


Một ý kiến khác cho rằng việc làm của Bác Sĩ Edwards đã trao cho con người cái quyền hạn làm điều mà trước đây vẫn được coi là lãnh vực của Thượng Ðế: Tạo ra và điều khiển đời sống sinh mạng đó.


Một số nhà chuyên môn e ngại thụ tinh ống nghiệm sẽ tạo ra một sinh vật có thể có vài khuyết tật hoặc tỷ lệ sanh ra nhiều con trai hơn con gái.


Tuy nhiên, thực tế mà nói thì còn gì vui mừng bằng một cặp vợ chồng lấy nhau đã nhiều năm không có con mà bây giờ bà vợ mang thai với chính mầm sinh sản của hai người nhờ có thụ tinh trong phòng thí nghiệm.


Ðặc biệt là niềm hạnh phúc của người mẹ ôm đứa con sanh ra sau 9 tháng 10 ngày rồi lớn lên trong lòng mình. Cặp vợ chồng có thể quên đi một vài khó khăn trở ngại của phương pháp, nhưng với họ, thụ thai trong ống nghiệm là một phép lạ và đứa trẻ do phương pháp này tạo ra cũng là điều kỳ diệu chưa bao giờ có được.


Vì như văn hào Victor Hugo đã diễn tả:


“Mỗi khi trẻ thơ xuất hiện


Trong mái ấm gia đinh


Mọi người đều hân hoan


Ánh mắt dịu hiền của bé


Làm sáng lên ánh mắt mọi người.”


Bác Sĩ Nguyễn Ý Ðức


Texas-Hoa Kỳ


www.bsnguyenyduc.com

Bảy yếu tố giúp không bị Alzheimer

 


Gần phân nửa trường hợp bệnh Alzheimer trên khắp thế giới đều do bảy yếu tố mà chúng ta có thể tránh được, MSNBC trích dẫn theo một nghiên cứu mới được công bố.









Heather Davidson, nhà trị liệu học bằng âm nhạc, mang trống đi quanh bệnh nhân bị Alzheimer, ở trung tâm điều trị Copper Ridge Care Center ở Sykesville, Maryland. (Hình: Saul Loeb/AFP/Getty Images)


Nghiên cứu cho thấy, các trường hợp bị Alzheimer có thể giảm thiểu nếu chịu khó bỏ hút thuốc, gia tăng hoạt động cơ thể, tăng cường các hoạt động tinh thần, chế ngự huyết áp và tiểu đường, đồng thời tránh đừng để mập phì và khủng hoảng tinh thần.


Trên toàn thế giới, có chừng 33.9 triệu người bị Alzheimer, nhưng con số này có thể giảm xuống còn 3 triệu nếu có thể giảm được 25% trong tất cả bảy yếu tố nêu trên. Nghiên cứu còn cho thấy, nếu chỉ bớt được 10% cũng đủ ngăn được 1.1 triệu trường hợp. Con số người bị Alzheimer trên toàn thế giới dự trù sẽ tăng gấp ba trong 40 năm sắp tới.


Ba yếu tố góp phần hàng đầu là do ít hoạt động tinh thần, ít hoạt động cơ thể, và hút thuốc.


Các nhà nghiên cứu nói rằng, gia tăng hoạt động tinh thần có thể tạo một thay đổi lớn khiến Alzheimer chậm phát triển. “Ðạt trình độ học vấn thấp” là yếu tố có tác động lớn ở các ca bị Alzheimer trên toàn cầu. Ðạt trình độ học vấn thấp được định nghĩa là không thực hiện được nền giáo dục bậc cao, có chỉ số thông minh IQ thấp hay không tham dự các hoạt động giải trí nhằm kích thích trí óc. Các nhà nghiên cứu nhận thấy yếu tố này đóng góp 19% vào các trường hợp bị Alzheimer, hay 6.5 triệu ca trên toàn thế giới.


Yếu tố góp phần đứng hạng hai vào chứng mất trí nhớ là hút thuốc, chiếm 14%, hay tương đương 4.7 triệu trường hợp bệnh trên thế giới.


Hoạt động cơ thể đóng góp 13% và là yếu tố quan trọng hạng ba. Tuy nhiên, ở Mỹ, yếu tố này lại đóng vai trò lớn nhất, chiếm 21% hay 1.1 triệu trường hợp.


Barnes, một giáo sư về tâm thần học ở đại học UC San Francisco, nói: “Ở Mỹ, chừng một phần ba dân số làm công việc ngồi một chỗ, do vậy một số lớn trường hợp đưa đến bệnh Alzheimer là do ít hoạt động cơ thể.”


Ông tiếp, “So với thế giới nói chung, kém học thức là yếu tố quan trọng hơn, vì quá nhiều người trên thế giới bị nạn mù chữ hoặc học chưa hết tiểu học. Hút thuốc cũng góp phần không ít vì tình trạng này hiện còn khá phổ biến.”


Nghiên cứu đưa ra đề nghị nên bỏ hút thuốc và có đời sống sức khỏe hoạt động lành mạnh suốt cuộc đời, có thể làm giảm bớt rõ rệt các ca bệnh Alzheimer.


Nghiên cứu này được công bố trong hội nghị quốc tế ICAD về bệnh Alzheimer năm 2011 ở Paris, đồng thời được đăng trên tập san The Lancet Neuroloty. (T.P.)

Tiếng nói của lốp xe

 


Phạm Ðình


 


Nhắc lại bài lần trước, để bảo đảm an toàn cho “chân cẳng” của cái xe, nếu có thể được mỗi khi thay mới, chúng ta phải thay cả 4 lốp. Ðó là ý kiến của Pepboys, một hệ thống cửa hàng chuyên sửa chữa và bảo trì xe cộ lớn vào hàng đầu của nước Mỹ.










Vỏ xe bị mòn. (Hình: Phil Walter/Getty Images)


Còn nếu không thay được cả 4, mà chỉ có thể thay 2 lốp, thì không phải là 2 lốp trước mà chính là 2 lốp sau mới cần được thay sớm. Ðó là ý kiến xem ra nghịch đời của các chuyên gia thuộc trang mạng www.popularmechanics.com. Họ lý luận như thế này: Hai lốp ở trục sau mới là nơi cung cấp sự vững vàng cho xe khi di chuyển. Nếu không có sự vững vàng đó, thì khi phải bẻ lái hoặc khi thắng trên đường trơn ướt, chiếc xe có thể bị xoay tròn. Nếu bạn có 2 bánh mới toanh ở trục trước, thì bánh xe có thể dễ dàng gạt nước ra để di chuyển, trong lúc bánh sau, vốn là 2 bánh đã cũ, sẽ không có khả năng đó. Với những đường rãnh đã mòn, chúng không thể rẽ nước được dễ dàng như bánh trước, mà sẽ di chuyển như “người lướt sóng”, để cho nước nâng cặp bánh mòn ra khỏi mặt đường. Rõ ràng hơn nữa là khi phải bẻ cua, hoặc đi trên mặt đường vun lên ở giữa với 2 cạnh đường thoai thoải (crowned road), chiếc xe sẽ xoay tròn rất nhanh. Và những gì xảy ra sau đó là chuyện chỉ có ông Trời mới biết được mà thôi!


Thực tế, những chuyên gia nói trên không đơn độc trong lập trường của mình, càng ngày càng có nhiều lập luận đưa đến khuyến cáo tương tự: Nếu bánh xe đã mòn và bạn không có đủ khả năng thay 4 bánh một lúc, thì ít nhất phải thay 2 lốp, và cặp lốp mới phải được lắp vào cho ‘trục bánh sau’.


 


Lốp xe là dấu chỉ về tình trạng của xe


 


Nếu câu nói “Ðôi mắt là cửa sổ của tâm hồn” mà đúng, thì chúng ta cũng có thể mạnh dạn phát ngôn, “Bộ lốp chính là dấu chỉ về tình trạng của cái xe”. Mặc dầu là một thành phần ít được ngó ngàng tới vì ở “miệt dưới”, nhưng bộ lốp là thành phần duy nhất nối kết chiếc xe với mặt đường, và nó có rất nhiều điều để nói với bạn về tình trạng cái xe. Chúng ta thử “nghe” một vài “tiếng nói” tiêu biểu:


 


1.Lốp xe mòn ở giữa


Qua hình 1, bạn có thấy là cái lốp này trũng xuống ở giữa, còn 2 cạnh thì vẫn nở nang đầy đặn hay không? Hình ảnh này nói lên điều gì?


Ðó là bánh xe thường được bơm quá căng (overinflation) khiến chỉ có đường vòm trung tâm là bắt được với mặt đường, vì thế nên nó bị mòn nhiều hơn, dẫn đến hậu quả là lốp xe mòn vẹt ở giữa.


Có nhiều người cho rằng, lốp cần được bơm căng thì xe chạy mới đỡ hao xăng. Bạn có thể tiết kiệm được chút xăng, nhưng lại phải sớm thay lốp thì không biết có bù vào đó được không. Thêm nữa, lốp bơm quá căng khiến cho diện tích bám đường giảm, làm tăng nguy cơ tai nạn, và buộc bạn phải tăng khoảng cách với xe trước mặt. Ấy là chưa kể, lốp xe bơm quá căng làm mất thăng bằng giữa lốp và dàn nhún, khiến các thành phần của hệ thống suspension mau hư hơn.


Nếu tai nạn trầm trọng xảy ra, như trường hợp một độc giả mô tả trong bài trước, thì nguyên nhân dẫn đến tai nạn sẽ được điều tra rất kỹ càng. Khi điều tra viên khám phá ra rằng, lốp xe được bơm căng quá 10% trên con số do nhà sản xuất đề nghị, thì chủ xe sẽ bị qui kết phần nào trách nhiệm gây ra tai nạn. Và nếu người lái cũng là chủ xe, kiêm luôn nạn nhân, thì tình cảnh thật đáng buồn!


Vậy, hành động phải có đối với lốp xe là gì? Bơm xe đúng với áp suất do nhà sản xuất đề nghị như chúng ta có đề cập trong bài trước.


 


2.Lốp xe nứt nẻ, phồng rộp


Ðây là hậu quả của thói quen lái xe cẩu thả, để lốp phải chịu đựng quá nhiều va chạm, như ổ gà, gờ đường, hoặc chướng ngại trên đường.


Các đường nứt lớn ở vách lốp, chạy vòng theo đường viền trên niềng bánh xe (rim) chứng tỏ lốp bị va chạm mạnh nhiều lần, hoặc vì yếu hơi thường xuyên.


Những đường nứt nhỏ ở vách lốp hoặc ở các đường răng cho thấy lốp đã có tuổi, nếu không thì cũng là do nhiều va chạm nhẹ.


Lốp bị phồng rộp, thường là trên vách lốp, là dấu chỉ cho thấy sự va chạm nào đó trước đây đã gây ra tổn hại bên trong, nhưng mãi đến bây giờ mới có cơ hội “lên tiếng”. Ông Woody Rogers, chuyên viên của Tire Rack, khuyến cáo, “Lốp bị nứt hoặc phồng rộp cần phải được thay ngay, đừng ngần ngại tốn kém. Bởi vì, không biết nó hư lúc nào!”


 


3.Lốp “lũng đồi”


Có thể cách gọi nghe hơi lạ, nhưng nhìn hình ảnh chắc bạn sẽ không lạ: Lốp xe bị lẹm lam nham, chỗ lõm xuống như thung lũng, chỗ lại cao lên như đồi, có chỗ thì lũng đồi tiếp nối lũng đồi.


Tình trạng này xảy ra khi hệ thống ống nhún (suspension) đã hư hại ít nhiều, khi xe lăn bánh thì lốp bị nẩy lên rồi hạ xuống mạnh, làm mặt lốp bị mòn nhiều ở một nơi so với nơi khác, dẫn đến tình trạng “lũng đồi, lũng đồi” nối tiếp.


Gặp trường hợp này thì trước hết phải đặt vấn đề với hệ thống suspension, và chỉnh đốn ngay nếu quả thực nó bị hư hại. Bằng không thì chẳng phải bộ lốp mà còn nhiều thành phần khác trong xe bị ảnh hưởng theo.


 


4.Lốp mòn chéo


Lốp mòn theo kiểu “lũng đồi” nhưng tiếp nối với nhau theo đường chéo ngang trên mặt lốp.


Tình trạng này thường xảy ra với các lốp sau của một xe FWD (lực kéo đặt trên bánh trước). Cũng có thể do chủ xe không để ý đến tire rotation (đổi vị trí lốp trước ra sau, sau ra trước) đúng thời hạn. Giả thuyết khác là do xe thường xuyên chở nặng ở cốp (trunk), khiến cho cấu trúc hệ nhún (suspension) bị biến dạng, đưa đến tình trạng “lốp mòn chéo”.


Nếu đã biết nguyên nhân là như vậy thì bạn có thể kiếm cách điều chỉnh được không?


 


5.Lốp mòn hai cạnh


Trường hợp này diễn tiến ngược lại với trường hợp 1: Vòm trung tâm không mòn, nhưng 2 cạnh bìa, bìa trong và bìa ngoài thì mòn nhiều.


Ðây là hậu quả của tình trạng lốp yếu hơi (underinflation). Theo kết luận của nhiều người trong giới am tường thì lốp yếu hơi là tình trạng nguy hiểm nhất đối với lốp xe. Và đáng tiếc thay, đây lại là tình trạng xảy ra thường xuyên nhất. Phạm Ðình biết có những người… cả năm chẳng coi đến lốp xe, nói gì đến việc để ý lốp xe non hơi, đủ hơi, hay quá căng hơi. Bị bỏ bê như vậy thì chắc chắn lốp chỉ có non hơi, chứ hơi ở đâu ra mà có đủ hoặc quá căng được.


Lốp xe non hơi buộc phải “gồng” mình để chịu đựng nhiều hơn, từ đó nhiệt lượng tích lũy nhanh có thể dẫn đến nổ lốp. Lốp xe bơm non không thể thẩm thấu sức nẩy khi xe gặp những chỗ lồi lõm trên lề đường, khiến trục bánh trước không cân (misaligned) và hệ nhún bị tổn hại.


Không biết có ai còn nhớ vụ lùm sùm giữa hãng xe Ford và hãng lốp Firestone, xảy ra từ năm 2001 hay không? Các trường hợp rủi ro đã xảy ra phần lớn cũng là vì lốp xe non hơi mà thôi.


Ðể tránh tình trạng lốp xe non hơi, chúng ta cần phải kiểm tra áp suất lốp ít nhất mỗi tháng một lần. Ðừng chỉ dựa vào cái đèn báo động TPMS ở trước mặt. Như lần trước chúng ta đã nói, và hôm nay, ông Woody Roger có đề cập, “Hệ thống cảnh báo này chỉ hoạt động khi lốp xe đã xẹp tới 25%, tức là đã mất 1/4 số hơi cần thiết. Như vậy nếu lốp xe của bạn cần ít nhất 28 psi thì khi áp suất xuống còn 21 psi, đèn báo động mới bật sáng”. Chả cần phải xuống tới mức đó, áp suất 22 psi cũng đã đủ để làm tiêu đời bộ lốp rồi.


Một lần nữa, để biết lốp xe cần một mức áp suất bao nhiêu là thích hợp, chúng ta phải xem lại những con số ghi trên vách lốp và trên thành cửa xe (door jamb). Nếu 2 số này khác nhau thì lấy con số thấp hơn, rồi cộng thêm 3 psi nữa. Nếu nhà có nhiều xe, bạn nên sắm sẵn một cái bơm và máy đo áp suất ở nhà. Ðành rằng chúng ta có thể xin bơm nhờ miễn phí ở các cây xăng, nhưng chạy ra chạy vào cũng bất tiện, và những cái lốp xe vốn ít được để ý trước nay, bây giờ “người ta” sẽ có cớ để nhắm mắt luôn… thì chắc đến lúc tai nạn xảy ra mới mở mắt!


Phạm Ðình


[email protected]


Xe lột dên, xe kêu lóc cóc, xe rỉ nhớt…? Xin xem Cẩm Nang Bảo Trì Tập III đã phát hành. Cùng với Tập I, Tập II, mỗi tập $6.00+$2.00 cước phí. Money Back Guarantee 3 tháng. Gửi cheque hoặc tiền mặt cho Phạm Ðình, PO Box: 9255, Fountain Valley, California 92728 – 9255. Tel: 714-837-1935. Cho biết điện thoại và email, nếu có. Có thể hỏi tại nhà sách Tú Quỳnh 714-531-4284; hoặc Tự Lực 714-531-5290.



 

Khai khánh tận

 


Luật Sư LyLy Nguyễn


 


LTS: Luật Sư LyLy Nguyễn chuyên về luật bảo vệ tài sản, luật thương mại cho các công ty hoặc tiểu thương, cố vấn điều hành tài sản, bênh vực thân chủ trong những vụ rắc rối khi bị kiểm tra thuế, kế hoạch địa ốc, và khai phá sản. Luật Sư LyLy còn thay mặt cho thân chủ trong các vấn đề liên quan đến thuế lợi tức cá nhân (income tax), thuế trả nhân công (employment tax), thuế mua bán (sale and use tax) và thuế tài sản (estate tax), ở cả hai cấp liên bang và tiểu bang, cũng như đã nhiều lần diễn thuyết về các vấn đề giao dịch thương mại, ngân hàng, thuế và điều hành tài sản tại nước ngoài. Ngoài ra LyLy Nguyễn còn rất giàu kinh nghiệm về luật khánh tận với Chương 7 hay Chương 13. Luật Sư LyLy Nguyễn được chứng nhận hành nghề tại Supreme Court of California, United States District Court, United States Court of Appeals for the Ninth Circuit và United States Tax Court. Nếu cần tham khảo riêng xin liên lạc với Luật Sư LyLy Nguyễn tại văn phòng ở 2009 North Broadway, Santa Ana, CA 92706. Ðiện thoại: (714) 531-7080.


 


Một số đông đồng bào Việt Nam tại Hoa Kỳ, cũng như các cư dân gốc khác, trong cuộc sống đôi khi gặp phải lúc khốn khó vì nợ ngập đầu, nợ nhiều hơn tiền kiếm được. Vướng vào nợ đã chưa trả được vốn, ngược lại nợ càng chồng chất thêm vì lãi.


Những tai họa như mất việc, ly dị, buôn bán thua lỗ, bị nan y hay gặp tai nạn đưa đến hoàn cảnh bi đát nợ quá sức trả. Tối ngày đám đòi nợ thuê (debt collectors) gọi điện thoại réo rắt đe dọa xiết nhà, câu xe khiến nhiều người nản phân vân không biết giải quyết ra sao. Có người được bạn bè khuyên nên khai khánh tận hay phá sản, nhưng cũng có người lại đề nghị giải pháp khác vì cho rằng phá sản là một điều nhầm lẫn có thể đưa đến hậu quả cay đắng hơn là hạnh phúc. Luôn luôn họ cảm thấy lẫn lộn cảm giác phân vân, lo lắng, tội lỗi lẫn đau khổ không biết nên chọn giải pháp nào, nên hay không nên khai khánh tận?


Những ai vướng vào tình trạng này xin đừng quá ưu tư vì còn rất nhiều bạn đồng hội đồng thuyền. Ở Mỹ từ năm 1996 hàng năm có khoảng một triệu người Mỹ phá sản cùng cả ngàn công ty. Khai khánh tận trở thành một nhu cầu cần thiết lan rộng khắp hệ thống kinh tế Hoa Kỳ và trở thành cứu tinh cho nhiều người phút chốc bỗng rũ sạch được nợ để có cơ hội làm lại cuộc đời. Trên khía cạnh khác phá sản cũng có điểm bất lợi, do đó trước khi quyết định khai nên tìm hiểu kỹ căn bản Luật Khánh Tận với các trường hợp khai khác nhau cùng hậu quả về sau.


Căn bản khai khánh tận có hai loại: Thứ nhất là “thanh toán (liquidation)” áp dụng Chương 7 dùng tài sản để trả nợ, và thứ hai là “tái tổ chức (reorganization)” tình trạng tài chánh theo Chương 11, 12, và 13 trả nợ bằng lợi tức sẽ kiếm được trong tương lai.


Theo Chương 7 người nợ có cơ hội bán hết tài sản trả bớt cho các chủ nợ, đổi lại rũ hết mọi nợ nần mà làm lại cuộc đời. Thủ tục tòa thường kéo dài từ bốn đến sáu tháng, ngoài lệ phí trả cho luật sư chỉ phải đóng một số tiền nhỏ tiền tòa (thay đổi hàng năm) và phải ra tòa trình diện ít nhất một lần. Trước hết nhờ luật sư điền mẫu đơn rồi nộp cho Tòa Khánh Tận Liên Bang ở địa phương. Trong đơn phải khai hết các loại tài sản có trong tay, lợi tức hiện hữu cùng tất cả các nguồn lợi tức khác, chi tiêu hàng tháng, liệt kê tất cả nợ nần, các tài sản “miễn trừ (exempt)” là tài sản được phép giữ lại, cùng các tài sản làm chủ hay bán đi trong vòng hai năm trở lại. Khai khánh tận theo Chương 7 thường được xóa hầu hết mọi khoản nợ, tuy nhiên có những món không xóa được vẫn phải giữ nguyên như cũ.


Theo Chương 13 người thiếu nợ phải dùng lợi tức sẽ kiếm được trong tương lai để trả cho các chủ nợ và thường kéo dài từ 3 tới 5 năm. Người khai phải có lợi tức đều đặn và có số nợ có thế chấp không quá $871,550 Mỹ kim cùng nợ không thế chấp không quá $290,525 Mỹ Kim. Nợ thế chấp là nợ có cầm thế thí dụ như nhà cửa, xe cộ hay các món đồ có giá trị mua trả góp chưa hết, nếu không trả thì chủ nợ sẽ xiết lấy đem đi bán. Nợ không thế chấp thí dụ như nợ thẻ tín dụng hay nợ tiền bệnh viện và bác sĩ thì chủ nợ không có quyền xiết gì cả.


Ngoài lệ phí trả cho luật sư còn phải đóng tiền tòa, Chương 13 cũng phải làm đơn như Chương 7 là liệt kê tài sản, nợ nần cùng lợi tức và chi tiêu trong công ăn việc làm hiện tại rồi cũng nộp tại Tòa Khánh Tận Liên Bang ở địa phương. Theo Chương 13 người khai phải nộp tiền hàng tháng cho “Vị Tín Nhiệm Tòa Khánh Tận (A Bankruptcy Trustee)” do tòa án chỉ định.


Vị Tín Nhiệm sẽ phân chia ra trả nợ cho các chủ nợ Chương 13 theo thứ tự luật định như sau:


(1) Nợ hành chánh (administrative claims) là tiền tòa và lệ phí của luật sư đã giúp khai phải trả 100%.


(2) Nợ ưu tiên (priority debts) là lương nhân công đã làm việc trong vòng 90 ngày trước khi khai, hay tiền đóng cho quỹ phúc lợi (benefit fund) cho nhân công, tiền nuôi trẻ (child support) và nợ thuế, tất cả đều phải trả 100%.


(3) Tiền vay mua nhà (mortgage default) nếu muốn giữ nhà lại thì phải trả 100%.


(4) Nợ thế chấp khác như nợ xe nếu muốn giữ xe lại cũng phải trả 100%.


Sau thời hạn ấn định từ 3 tới 5 năm, những nợ nào chưa trả hết theo Chương 13 nhưng hội đủ điều kiện sẽ được xóa luôn, còn những nợ không đủ điều kiện vẫn phải tiếp tục trả như thường. Nếu vì lý do nào đó người nợ không trả nổi như đã định thì có thể xin tòa thay đổi lại cho hợp với khả năng. Sau khi đã tỏ thiện chí cố gắng mà vẫn không trả nổi nếu có lý do chính đáng thì lúc đó tòa có thể ban đặc ân cho xóa hết tất cả nợ còn lại.


Ngược lại nếu tòa không chấp thuận thì người nợ có thể xin hoán cải khai lại theo Chương 7. Trong suốt thời gian trả nợ theo Chương 13, người nợ phải sống đạm bạc thắt lưng buộc bụng mà trả nợ, tòa án theo dõi rất nghiêm ngặt không cho tiêu pha phung phí xa xỉ.


Khắp nước Mỹ phần đông khai theo Chương 7 vì dễ khai và nhanh chóng, hữu hiệu nhất là được xóa hết nợ, phần đông vẫn giữ được nhà cửa tuy có trường hợp bị mất. Những người khai theo Chương 13 thường vì lý do đạo đức vì họ có tín ngưỡng phải giữ bổn phận trả nợ nếu không muốn bị trái với lương tâm như dân Utah và nhiều tiểu bang Nam Hoa Kỳ.


Ngoài lý do tín ngưỡng ra phần đông những người chọn Chương 13 vì các nguyên cớ sau:


(1) Muốn bắt kịp lại tiền trả chậm để giữ được nhà cửa hay xe cộ, nếu theo Chương 7 sẽ bị mất.


(2) Có nhiều nợ không xóa được (non-dischargeable) như nợ thuế, nợ tiền học (student loan), những nợ này Chương 13 dàn xếp trả dần được.


(3) Người nợ có thiện chí muốn trả nợ cần được luật pháp bảo vệ tạo cho điều kiện trả dần.


Khi nộp đơn khai phá sản lợi điểm đầu tiên có một điều khoản gọi là “tự động đình chỉ (automatic stay)” theo đó các chủ nợ không được có các hành động đòi nợ trực tiếp nữa trừ phi được phép của tòa. Thông thường luật này ngăn không cho các chủ nợ gửi thư hay điện thoại tới làm phiền, nộp đơn kiện tụng, cắt các dịch vụ thiết yếu như điện, nước, điện thoại hay “nợ buộc (lien)” trên tài sản cùng tịch thu trương mục ngân hàng để xiết nợ. Nếu một chủ nợ nào dù là cơ quan công quyền, vi phạm luật tự động đình chỉ, người nợ có thể xin tòa can thiệp để trừng phạt kẻ vi phạm.


Tuy nhiên có vài ngoại lệ, luật tự động đình chỉ không áp dụng với:


(1) Tội phạm hình sự, thí dụ một người viết chi phiếu không tiền bảo chứng vẫn bị tòa bắt trả tiền phạt lẫn thi hành tạp dịch công cộng (community service).


(2) Không được trì trệ bổn phận chu cấp người hôn phối cũ (alimony) hay cấp dưỡng trẻ thơ (child support).


(3) Không ngưng được các vụ kiểm thuế theo đó cơ quan thuế vụ liên bang Internal Revenue Service (IRS) có quyền đòi số tiền chưa đóng hay đóng thiếu, tuy nhiên luật tự động đình chỉ vẫn ngăn IRS không cho áp đặt nợ buộc hay tịch thu gia sản.


Trường hợp bị cắt điện nước vì không trả tiền, luật tự động đình chỉ ngăn không cho cắt tối thiểu 20 ngày, sau đó tòa án có thể cho xóa số tiền chưa đóng còn thiếu. Trường hợp bị xiết nhà, luật đình chỉ tự động tạm thời cấm không cho tịch thu, nhưng sau đó nếu không có biện pháp nào khác thì chủ nợ trước sau cũng được quyền đem bán đi. Nếu bị trục xuất ra khỏi nhà thì luật đình chỉ tự động có thể hoãn được trong vài tuần hay vài tháng, tuy nhiên sau đó chủ nhà vẫn có quyền xin trục xuất.


Cũng như thường lệ, người viết xin xác nhận nội dung của những loạt bài tìm hiểu luật pháp này chỉ hoàn toàn được sử dụng với tính cách thông tin (information) giúp quí độc giả một vài kiến thức tổng quát căn bản về luật pháp Hoa Kỳ mà thôi và không thể coi như liên hệ của luật sư với thân chủ (attorney-client relationship). Do đó nếu có vấn đề liên quan đến luật, quí độc giả vẫn cần phải thảo luận với luật sư chuyên môn về trường hợp của quí vị.


Nếu cần tham khảo riêng xin liên lạc với Luật Sư LyLy Nguyễn tại văn phòng ở 2009 North Broadway, Santa Ana, CA 92706. Ðiện thoại: (714) 531-7080.

Cổng Trời Cắn Tỷ (Kỳ 1)

 


LTS: Ông Kiều Duy Vĩnh là một trong những chứng nhân của sự độc ác cùng cực của cai tù CSVN tại nhà tù “Cổng Trời” tỉnh Hà Giang. Ông mất ở Việt Nam ngày 7 tháng 7, 2012 vừa qua, thọ 81 tuổi. Ông từng tốt nghiệp Võ Bị cùng khóa với ông Nguyễn Cao Kỳ, là đại úy tiểu đoàn trưởng Nhảy Dù. Năm 1954 ông đã không theo đơn vị di cư vào Nam vì lý do gia đình. Ông đã bị bỏ tù hai lần 17 năm trong đó có nhiều năm ông bị giam ở “Cổng Trời,” nơi ông và một người nữa (ông Nguyễn Hữu Ðang trong nhóm Nhân Văn Giai Phẩm) sống sót trong số 72 người tù ở cùng một phân trại. Ông kể lại những ngày tù ở “Cổng Trời” qua các hồi ký từng phổ biến trên tạp chí Thế Kỷ 21 cách đây hơn chục năm. Trong các hồi ký này, ông kể về sự kiên cường giữ vững niềm tin tôn giáo của các giáo dân, tu sĩ và linh mục Công Giáo mà ông gọi là “các Thánh Tử Ðạo”.


 


 


Kỳ 1


 


Kiều Duy Vĩnh


 


Tôi sở dĩ sống đến hôm nay là vì tôi không phải là người Thiên Chúa Giáo. Nếu tôi mà đeo Thánh Giá ở ngực và biết câu Kinh thì tôi phải chết đã lâu rồi, từ những năm 60 của thế kỷ này, khi còn đi tù đày ở Cổng Trời kia.



Ngày ấy tuy qua mà như còn đấy…


(Chí Thiện)


Chúng tôi được tập trung ở Hỏa Lò Hà Nội từ khắp mọi miền đất Bắc, từ vĩ tuyến 17 trở ra: Vĩnh Linh, Quảng Bình, Nghệ Tĩnh, Thanh Hóa, Mỏ Chén, Bất Bạt, Sơn La, Yên Bái, Lao Kay.


Tay xích còng số 8, hai người một.


Hàng đầu: Cha Vinh (địa phận Hà Nội) người bị kết án có 18 tháng tù thôi thế mà hóa ra án tử hình. Cha Quế, địa phận Xã Ðoài, Nghệ An. Thứ đến là Nguyễn Hữu Ðang, người cầm đầu Nhân Văn Giai Phẩm. Tu sĩ Ðỗ Bá Lung, tu sĩ xứ Ngọc Ðồng Hưng Yên (nay là Hải Hưng), khét tiếng chống Cộng Sản (1). Tiếp sau đó là một lũ tù dây, đầu trần trán khỉ, hôi hám rách rưới, chống bướng, cứng đầu cứng cổ không chịu sự cải tạo của đảng và chính phủ, bọn “dám bẻ que chống trời…


Chúng tôi lên xe đi. Súng ống bao quanh. Ði đâu?


Không ai ai biết cả. Cả những người cầm súng, cũng không biết. Có lẽ chỉ có một người biết. Người đó xách cặp đen đựng danh sách tù nhân, mặt mũi tử tế, ăn mặc dân sự chỉnh tề, đi trên chiếc commăng ca dẫn đường.


Chỉ biết là chúng tôi đi lên hướng Bắc. Ngày đó đường sá đầy ổ gà ổ voi, xe đi chậm. Mãi trưa chúng tôi mới tới Vĩnh Yên. Nghỉ lại ăn cơm trưa.


Tôi ngồi gần Nguyễn Hữu Ðang, thấy người xách cặp đen đi qua để “kiểm tù” nói năng lễ độ tử tế, nhẹ nhàng.


“Anh Ðang, anh có khỏe không?”


“Vâng, tôi khỏe”.


Hai người nhìn nhau thông cảm:


“Anh có yêu cầu điều gì không?”


“Không. Cám ơn.”


Người đó lặng lẽ đi tiếp.


Chúng tôi lại tiếp tục đi lên phía Bắc. Ðến Ðoan Hùng. Lúc đó chưa có cầu. Chúng tôi phải xuống xe chờ phà. Ðể tránh sự chú ý: Họ lùa chúng tôi vào sâu trong ngõ cạnh đường, ở đó có một trường học. Có lẽ cấp hai. Các em học sinh và các thầy cô giáo tò mò ra xem lũ tù đày. Họ chỉ trỏ xì xào, hỏi han.


Nguyễn Hữu Ðang hỏi:


“Các cháu có biết nhân vật lịch sử Cao Bá Quát không?”


Qua phà chúng tôi đến Tuyên Quang ngủ lại trại giam Tuyên Quang. Lệnh: Không được cởi xích tay. Qua một đêm không thể nào mà ngủ được. Thằng muốn đi ỉa đi đái, phải đánh thức thằng tù đang ngủ dậy.


5 giờ dậy đi tiếp.


Kiểm số tù lần cuối vẫn là ông xách cái cặp đen tử tế. Ông ta tỏ vẻ rất biệt đãi đối với anh Ðang, làm tôi nghĩ đến chuyện “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân trong “Vang Bóng Một Thời”.


Ðến Hà Giang, sau khi ăn cơm trưa, chúng tôi đi tiếp vào một con đường mới mở, hẹp và cheo leo. Mọi người nhìn nhau:


“Ði mô?”


Mấy ông Nghệ Tĩnh hỏi nhau.


“Có lẽ sang Tàu.”


Anh Ðang bảo: “Lên Cổng Trời Cắn Tỷ.”


Xe đi chậm vì đường quá xấu. Thế rồi cũng qua được hết, qua đèo Quyết Tiến như là đi máy bay, qua rừng, qua suối, qua mây, và rồi màn đêm buông xuống, chúng tôi đi trong đêm. Tôi vốn là một sĩ quan rất giỏi về Topo, cố định hướng xem mình đi về đâu, hướng nào và đã đi bao xa, nhưng lúc đó cũng chịu. Ðộ 2 giờ sáng đến một địa điểm đèn đuốc sáng choang.


Lệnh xuống xe.


Chúng tôi bị lùa vào một khu rừng, và vào một cái nhà có tường dầy 0.80 mét bằng đất nện, cửa lim, trong nền nhà mọc đầy cây nghệ, lá xách om mượt mà. Cửa khóa lại. Không có đèn đóm gì. Tay hai người vẫn bị xích lại với nhau. Mỗi nhà nhận độ 20 người. Sờ soạng sắp xếp và ngủ tiếp.


Sáng hôm sau, cửa mở, đem toàn bộ đồ dùng ra sân. Khám xét. Lục lọi. Tất cả cái gì bằng kim loại, thánh giá, tràng hạt, kể cả cái thìa nhôm cũng bị tịch thu lấy đi.


Xong, đọc tên phân loại.


Khu O. Khu H. Khu A. Khu B. Khu C. Khi đi và lúc đọc tên tôi nhẩm: có 72 người. Phần lớn là già, đứng tuổi và 99 phần trăm là Thiên Chúa Giáo.


Cha Vinh, cha Quế được gọi đi trước, đi về khu O. Nguyễn Hữu Ðang vào khu C. Tôi và tu sĩ Ðỗ Bá Lung vào khu A. Khu A có hai nhà. Nhà tôi ở có: – Ðinh Hiền Lương, tu sĩ dòng tu ép xác Châu Sơn, Ninh Bình, Ðức cha Lê Hữu Từ trước khi làm Giám mục Phát Diệm đã tu ở đó. – Nguyễn Trung Chính, tức Nhẩm, tu sĩ xứ Trung Ðồng, Thái Bình. Nguyễn Văn Khánh Sơn, giáo dân đeo kính cận người Nghệ Tĩnh. – Cố Hoàng: giáo dân Ðức Thọ, Hà Tĩnh, có hai người sinh đôi là Song, Toàn để phân biệt với – Tu sĩ Hoàng cũng Nghệ An. – Lưu Nam phụ trách thanh niên Công Giáo địa phận Xã Ðoài. – Tu sĩ Bình, địa phận Thái Bình. – Tu sĩ Ðỗ Bá Lung xứ Ngọc Ðồng, Hưng Yên. – Trần Văn Liệu, giáo dân làm nghề đồ tể ở Cầu Giát, Quỳnh Lưu, v.v.


Nhà rất rộng, có 2 sạp nằm đối đầu nhau. Chúng tôi là tù chính trị nên đều hết sức tử tế nhường nhịn nhau, ai nằm đâu thì nằm không hề tranh giành cãi cọ.


Xếp đồ đạc xong, đã đến giờ làm việc thiêng liêng, ai nấy đều cầu kinh và làm dấu thánh giá.


Riêng tôi, có mỗi một mình tôi, không biết cầu, không thuộc kinh bổn gì ráo trọi nên tôi bèn nghĩ tới cái trò Yoga mà tôi đã đọc ở đâu đó. Những năm của thập kỷ 60 người ta ít biết và ít nói về cái trò đó. Tôi ngồi thở và sau đó Trần Văn Liệu hỏi tôi “Ðược mấy cân hơi rồi.”


Ngày đầu tiên ở Cổng Trời Cắn Tỷ chấm hết ở đó.


Sang ngày thứ hai, mọi người dậy sớm. Cứ ngồi mà nhìn nhau. Không có nước để đánh răng rửa mặt. Tám giờ, chín giờ rồi mười giờ. Vẫn im ắng như không. Các đấng bậc tu sĩ lại cầu kinh. Tôi lại luyện yoga.


Hai cái thùng đựng phân và nước tiểu bằng gỗ đều đầy cả. Nước đái tràn cả ra ngoài.


Mãi đến 11 giờ, có tiếng gọi: “Lấy cơm.”


Có hai tên tù hình sự ở trại ngoài khênh cơm đến để ở cửa rồi chạy biến. Cấm được nhìn, được hỏi, được tiếp xúc trao đổi cái gì. Bọn kiên giam, biệt giam là cực kỳ nguy hiểm, chúng giết người không gớm tay, bọn ăn gan uống máu đồng bào.


Nhưng thật sự, nhìn kỹ thì: – Ðinh Hiền Lương dòng tu ép xác Châu Sơn xanh lướt như một cái bóng. Các tu sĩ đều vậy cả. – Cố Hoàng thì chỉ có hát là cao giọng thôi, chứ đi đứng thì lẩy bẩy. – Khánh Sơn thì mù dở. Nếu ăn gan uống máu đồng bào được thì may ra có tôi và Trần Văn Liệu. Nhưng sau những năm tháng tù đầy ở dưới đồng bằng, bị đói, bị khát bị quần cho đến tơi người bản thân tôi, nắm tay không chặt thì còn làm gì được nữa. Ðã rất nhiều lần tôi thử sức, nắm thật chặt để nắm tay mình trở thành quả đấm, nhưng không bao giờ thành, bàn tay tôi không bao giờ có thể nắm chặt lại để thành nắm đấm cả. Thực trạng là như vậy đấy. Nhưng chắc là có lệnh nghiêm mật, giám thị, quản giáo và lính coi tù họ đối xử với chúng tôi cực kỳ tàn bạo và hà khắc.


Ðiều cuối cùng họ phải thi hành nghiêm chỉnh là làm cách nào giết hết được chúng tôi. Và họ đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đó: 72 người còn lại độ chừng 11 người. Tôi dám nói con số đó chính xác đến 99%.


Năm đó là năm 1961. Chúng giết anh em ta ở khu O, khu H, và khu A. Những lò thiêu xác (khổng lồ hay nhỏ nhoi?) không có khói và không cần chất đốt.


Chúng giết anh em ta


Bằng chiều cao của núi


Bằng chiều sâu của đất


Bằng thông cáo của nha khí tượng.


Cứ âm O độ là gọi đi xà lim. Xà lim là một cái quan tài bằng đất dầy một mét, cùm răng cá sấu cắn chân không bao giờ được mở, và bỏ đói cho đến chết. Tiếng gọi của thần chết đột ngột, bất thần, không lý do và khỏi cần giải thích. Lưu Nam, chuẩn bị đi. Khánh Sơn chuẩn bị đi. Ðinh Hiền Lương, chuẩn bị đi. Cứ thế lần lượt ra đi và không ai trở lại.


Những năm tháng ấy, tôi ngửi thấy cái chết gần gũi quá. Lần đầu tiên trong đời, qua những năm chinh chiến, qua những cuộc hành quân chiến dịch, tôi đi trong cảnh máu chảy đầu rơi, chân tay vung vãi, khói lửa mù trời, tiếng đại bác bắn dồn dập, mặt đất rung chuyển, máy bay rít sát trên đầu, tiếng xích sắt của xe tăng nghiến sàn sạt sát sườn, cả khi người vệ sĩ của tôi chạy cạnh tôi trong chiến đấu, bị nguyên một băng tiểu liên quét trúng, ngã trong cánh tay tôi, người đầy máu thều thào: “Em chết, trung úy ạ…” cả những lúc ấy tôi vẫn chưa cảm thấy mùi Thần Chết.


Nhưng ở đây, Cổng Trời Cắn Tỷ, những năm 60, tôi ngửi thấy và cảm thấy nó rất gần. Lặng lẽ, lặng lẽ nó tiến đến. Không thể nào cản nổi. Một cặp lỗ hổng vô cảm của đôi mắt, một tiếng gọi tên, vài cái lưỡi lê chĩa vào… Thế là ra đi, thế là chết.


Một người ra khỏi cửa, những người còn lại nhìn nhau chờ đợi. Không ai nói với ai điều gì. Chúng tôi ăn cơm hai bữa một ngày, chín giờ sáng và ba giờ chiều. Ăn xong ngồi nhìn nhau. Chờ.


Các đấng bậc tu sĩ rất ít nói, nhất là Ðinh Hiền Lương, dòng tu ép xác Châu Sơn. Trông Ðinh Hiền Lương tôi nhớ đến Ðức Giám Mục Lê Hữu Từ địa phận Phát Diệm: Khô, gầy, mặt đầy nếp nhăn khắc khổ. Tuy còn trẻ hơn nhưng tu sĩ Lương cũng gần giống vậy, chỉ có nước da trắng xanh hơn vì ở xà lim suốt. Tuy ông mặc áo tù, nhưng trước mắt tôi vẫn cứ hiện lên hình ảnh của Giám Mục Lê Hữu Từ, người ngồi đó lặng lẽ ôn tồn nhẹ nhàng để đi đến cái chết.


Ở với ông lâu, nhưng tôi chưa được nghe một câu chuyện nào do ông kể, vì ông chỉ nói mỗi ngày có vài tiếng thật cần thiết để tồn tại. Còn thì im lặng suốt. Cái im ắng của ông, tỏa ra chung quanh, đè xuống mọi người.


Còn tiếp

California: 3 thành phố khai phá sản trong 1 tháng

 


Triệu Phong/Người Việt


 


Khai phá sản, có một thời là điều hiếm khi xảy ra, nay trở thành một chọn lựa đau đớn nhưng đầy quyến rũ đối với những thành phố, nơi có chi phí lao động cao và nợ công nặng hơn tiền thuế thu vào.


 


Stockton


 


Stockton, cái nôi của hạt San Joaquin County, tọa lạc ở phía Bắc California và về hướng Nam thủ phủ Sacramento. Với dân số gần 300,000 người, Stanton được xếp hạng là thành phố lớn thứ 13 của tiểu bang.


Cuối Tháng Sáu 2012, Stockton trở thành thành phố thuộc cỡ lớn đầu tiên của Hoa Kỳ khai phá sản, sau khi không đạt được sự đồng thuận của các nghiệp đoàn nhân viên và các chủ nợ, về kế hoạch tìm cách lấp $26 tỉ thâm thủng trong công quỹ. Hậu quả là hội đồng thành phố quyết định ngưng trả tiền công khố phiếu, cắt giảm phúc lợi y tế và hưu bổng của nhân viên, đồng thời áp dụng một ngân sách khẩn cấp chỉ có giá trị từng ngày.


Bob Deis, giám đốc thành phố, ví von tiến trình này như việc chặt đứt một cánh tay để cứu lấy toàn bộ thân thể.


Stockton từng thương thảo trước với các chủ nợ để tránh đi đến tình trạng phá sản từ cuối Tháng Ba, chiếu theo luật AB 506, một điều luật mới của tiểu bang California, đòi hỏi một thành phố phải có sự điều đình với chủ nợ, trước khi nộp đơn khai phá sản. Tuy nhiên cuối cùng, những cuộc thương thảo đã kết thúc vào khuya Thứ Hai, 25 Tháng Sáu, thành phố không đạt được một nhân nhượng nào.


Stockton chính thức tuyên bố không đủ sức trả nợ và mong được tái phối trí các món nợ đó, đồng thời nộp một danh sách gồm những chủ nợ không được bảo hiểm (unsecured creditors).


Hệ Thống Hưu Bổng Công Chức Tiểu Bang (California Public Employees’ Retirement System), cơ quan chuyên quản lý kế hoạch hưu bổng của Stockton, đứng đầu danh sách các chủ nợ quan trọng này. Hệ thống này đòi $147.5 triệu chi phí trả hưu của ngân quỹ thiếu hụt (unfunded pension costs).


Các chủ nợ hàng đầu khác gồm các chủ đầu tư có trong tay $124.3 triệu bằng công khố phiếu thuộc quỹ hưu bổng pension obligation bond, $40.4 triệu giao ước nợ của thành phố thuộc loại variable rate demand obligation, $35.1 triệu cho công khố phiếu về chi phí cơ sở công cộng của thành phố (public facilities fees bond) và $31.6 triệu nợ xây nhà để xe của thành phố.


Wells Fargo Bank NA được liệt kê là ngân hàng mà các chủ nợ tín thác.


Ngân sách được hội đồng thành phố Stockton chấp thuận vào đêm 26 Tháng Sáu, gồm việc ngưng trả $10.2 triệu tiền nợ, đồng thời cắt tiền đền bù và phúc lợi hưu bổng cho công chức trị giá $11.2 triệu. Ngoài ra thành phố còn tiết kiệm được $7 triệu nhờ cắt phúc lợi y tế cho người nghỉ hưu trong một năm.


Stockton bị nợ ngập đầu như thế nào? Ðiều đó có thể thấy được ở khắp nơi.


Một đầu tư vào khách sạn cao tầng, công trình xây dựng lối đi dạo và bến thuyền du lịch tráng lệ hồi giữa thập niên 2000. Tuy nhiên, chỉ cách đó vài khu phố, sự mất an ninh do các vụ bạo hành khiến bậc phụ huynh không dám cho con trẻ ra chơi trước ngõ.


Vào thời gian kinh tế nở rộ, thành phố của giới lao động, nơi rải rác với nhiều khu phố nghèo nàn, đã tái đầu tư với mục đích tìm cách thu hút, hầu biến nó thành một nơi được chọn để tổ chức các buổi hội thảo lớn. Thành phố đưa ra nhiều kế hoạch phúc lợi và hưu bổng hấp dẫn cho nhân viên.


Vô số dãy nhà hai tầng được xây lên ở ven thành phố. Nhưng không lâu sau đó, những khu ngoại ô này nhanh chóng trở thành một trong những nơi có nhiều nhà bị ngân hàng tịch thu nhất toàn quốc. Thật vậy, Stockton có số nhà bị tịch thu cao thứ nhì trên khắp Hoa Kỳ và cũng đứng nhì về thành phố có tội ác cao so với toàn tiểu bang.


Ngân quỹ của Stockton bị thất thu trầm trọng, từ khi gặp phải cơn sụp đổ địa ốc, mà một thời là nguồn thu nóng bỏng của thành phố. Trong ba năm qua, thành phố cắt giảm $90 triệu từ ngân quỹ chung, gồm việc bớt 25% lực lượng cảnh sát, sở cứu hỏa 30%, kể cả giảm lương cũng như phúc lợi của nhân viên thành phố. Tiểu bang đang điều tra xem phải chăng sự sụp đổ tài chánh của Stockton là do chính sách thiển cận, chủ quan hay có sự tham nhũng.


 


Mammoth Lakes


 


Hôm 2 Tháng Bảy, thị trấn nghỉ mát tí hon Mammoth Lakes trở thành thành phố thứ hai của tiểu bang nộp đơn khai phá sản, một phần do món nợ $43 triệu mà tòa án ra phán quyết thành phố phải trả, nhưng đã không thể thực hiện được.


 


San Bernadino


 


Sang đến ngày 10 Tháng Bảy, lại đến San Bernadino cũng theo chân trên con đường phá sản, cũng với lý do không trả nổi nợ. San Bernadino không lấp đầy được khoản thiếu hụt ngân sách $45.8 triệu và đến Hè này thì không còn khả năng trả lương cho nhân viên. Trước ngày Hội Ðồng Thành Phố bỏ phiếu quyết định khai phá sản, thành phố với 211,000 dân này chỉ còn $150,000 trong trương mục ngân hàng, vừa đủ để trả lương cho Tháng Sáu.


Theo báo cáo ngân sách, thành phố vốn đã lấp vá nhiều chỗ thiếu hụt của ngân sách tài chánh, vấn đề lại trở nên trầm trọng hơn khi gặp nạn kinh tế khó khăn, lại thêm cứ rút dần tiền trong quỹ dự trữ suốt những năm qua.


Thị Trưởng Patrick Morris phát biểu rằng, tìm đến sự che chở qua hình thức phá sản là phần việc dễ dàng. Nay thành phố chỉ việc vạch ra một kế hoạch để vươn lên từ cơn khủng hoảng tài chánh. Ít ra trong bốn năm qua, họ cũng đã cắt bớt 20% nhân lực. Ông Morris cho biết, rồi đây có lẽ sẽ cho giải tán Sở Cứu Hỏa hay một phần của Sở Cảnh Sát. Ðây là điều không thể tránh được, một khi an toàn công cộng ngốn hết 75% ngân quỹ chung. Thay vào đó thành phố sẽ hợp đồng với các cơ quan khác của quận hoặc tiểu bang cho các dịch vụ đó.


Steve Tracy, phát ngôn viên nghiệp đoàn cứu hỏa thành phố, đổ vấn đề khó khăn tài chánh cho thị trưởng và cựu giám đốc quản trị thành phố đã chi tiền vào các việc vô bổ như xây rạp chiếu bóng mới ở khu trung tâm. Ông nói: “Trước khi đổ thừa cho các nhóm lao động, xin quí ông hãy chỉnh đốn ngân sách của mình trước.”


Hai năm trước, khi Hội Ðồng Thành Phố được biết $22 triệu thiếu hụt ngân sách của San Bernadino sẽ tăng thành $38 triệu vào năm 2012, khiến thành phố rơi vào tình trạng khủng hoảng tài chánh. Lãnh đạo thành phố cắt bớt nhân lực, đòi hỏi nhượng bộ tạm thời từ các chủ nợ và đem đất công ra bán đấu giá. Nhưng họ đã không màng đến những khuyến cáo, rằng những động thái đó chưa đủ để giải quyết vấn đề. Theo các giới chức cũ cũng như đang làm việc, thay vì cần phải có hành động cấp thời như tăng thuế hay giảm bớt lực lượng cứu hỏa và cảnh sát, thì lại trở thành nạn nhân của bầu không khí có tính cách chính trị độc hại, làm tê liệt Tòa Thị Chính trong suốt thời gian khủng hoảng kinh tế.


Charles McNeely, cựu giám đốc quản trị thành phố và là người đã bất thần xin từ chức hồi Tháng Năm, nói: “Suốt hai năm liên tiếp tôi bảo với hội đồng rằng, nếu điều này vẫn cứ tiếp tục như thế, thì chúng ta sẽ bị phá sản. Tôi bị chỉ trích vì dám nêu ra chữ ‘phá sản’”. Ông McNeely tiếp: “Một nơi sặc mùi chính trị như thế quả khó mà nói chuyện phải trái được.” Nay, ông không ngạc nhiên khi hội đồng đang trực diện với ngân sách thiếu hụt đến $45.8 triệu và đi đến quyết định khai phá sản.


Văn phòng cảnh sát quận San Bernadino hôm 13 Tháng Bảy cho hay, họ đang phối hợp với cảnh sát thành phố và văn phòng biện lý để điều tra, việc có thể có vi phạm hình sự hay không trong chính quyền San Bernadino. Ðược biết cuộc điều tra khởi sự theo yêu cầu của giới chức thành phố cách đây vài tháng.


Luật sư thành phố James Penman cho biết, hồi đầu tuần này, Hội Ðồng Thành Phố có trưng các tài liệu bị xem là ngụy tạo, trong đó nói rằng thành phố đã bị thâm thủng ngân sách 13 năm trong 16 năm qua. Ðồng thời ông nêu chứng cớ về sự quản lý ngân sách tồi tệ.


Chưa dừng ở đó, San Bernadino có mức thất nghiệp lên đến 15% so với 10.9% của tiểu bang. Ðồng thời, hơn 40% cư dân nhận sự trợ cấp công cộng dưới hình thức này hay hình thức khác. Không có thêm việc làm hay sự tăng giá trị của bất động sản, thật khó lòng có chỗ thu lợi nhuận về cho ngân sách thành phố.


Tăng chi phí cho hưu bổng của công chức là một trong những tác nhân dẫn đến thảm họa ngân sách. Ở San Bernadino, trách nhiệm của thành phố đối với hệ thống hưu bổng của nhân viên tăng từ $1 triệu trong năm tài khóa 2006-07, lên đến gần gấp đôi cho ngân sách năm nay. Trong ba năm, những chi phí này dự trù ngốn hết 15% của ngân quỹ chung.


 


Tương lai của các thành phố khác trong tiểu bang


 


Theo báo cáo của Viện Nghiên Cứu Chính Sách Kinh Tế trường Ðại Học Stanford, chi tiêu cho tiền hưu tăng trung bình 11.4% mỗi năm ở các thành phố lớn và quận hạt của tiểu bang, trong thời gian từ 1999 đến 2010, nhanh gấp đôi chi tiêu vào lãnh vực như an toàn công cộng, dịch vụ xã hội, giải trí, sức khỏe và vệ sinh.


Joe Nation, giáo sư kinh tế trường Stanford và cũng là đồng tác giả của bản báo cáo, nói rằng, đối với một số thành phố, vỡ nợ là điều không thể tránh được ngoại trừ họ phải hy sinh, cắt lương bổng và tiền hưu của công chức thật nhiều. Ông nhận định: “Theo tôi đây mới là đầu chóp tảng băng của vấn đề. 10 năm trước đây, Stockton từng chi ra cho tiền hưu từ $12 triệu đến $13 triệu. Ðến năm 2010, con số đó là $30 triệu… rồi sẽ thành gấp đôi trong 5 năm tới, ngoại trừ họ phải có sự thay đổi.”


Michael Coleman, nhà cố vấn đường lối ngân sách cho Liên Hội Các Ðô Thị của California, nhận xét: “Có vẻ trong tương lai sẽ có thêm nhiều thành phố khai phá sản nữa nhưng điều đó khó mà biết được, vì nhiều thành phố gặp khó khăn đang tìm cách gỡ rối để thoát ra. Một số sẽ không đi theo con đường khai phá sản, nhưng họ có thể sẽ tự giải tán. Có nghĩa là không còn hiện hữu nữa.”


Nhiều nhà chuyên môn nhận định, không rõ rồi đây Stockton sẽ ra sao hay cả tiểu bang cũng sẽ bị ảnh hưởng như thế nào. Nhiều thành phố khác vốn gặp khó khăn với vấn đề nhà đất và khủng hoảng ngân sách, đang điều đình với nghiệp đoàn nhân viên yêu cầu nhượng bộ và đang quan sát xem, liệu sự khai phá sản của một thành phố tự trị chứng tỏ là một phương thuốc chữa lành tốt hay là một liều độc dược.


Vallejo từng khai phá sản bốn năm trước đây. Thị trưởng thành phố này là Osby Davis cho biết, sự chọn lựa con đường khai phá sản đầy đau đớn để hồi phục. Phải chăng việc làm này thực sự xứng đáng.


Vallejo với 112,000 dân đã phải dẹp bớt hai trạm cứu hỏa và hiện nay mới sửa chữa được 10% số đường sá bị hư hại. Lực lượng cứu hỏa và cảnh sát chỉ còn phân nửa so với trước đây, số người còn lại nay phải làm việc như điên. Ðồng thời, thành phố phải tốn hết $10 triệu cho chi phí pháp lý.


Lời khuyên của Thị Trưởng Davis đối với những thành phố đang đứng trước bờ vực phá sản như thế nào? Ðó là chớ nên. Ông nói:


“Mọi người trong thành phố đều phải chịu thiệt thòi ghê gớm. Ngoài ra, thành phố vĩnh viễn mang tì vết là thành phố từng bị phá sản. Ðến nước đó thì làm sao quí vị có thể gỡ bỏ được cái tai tiếng ấy để trở thành một đô thị ước mơ, khiến người ta đến đây sinh sống?”


____


Liên lạc tác giả: [email protected]

Học sinh Mỹ nói “chương trình học quá dễ”

 


Lê Tâm


 


HOA KỲ (NV) – Hàng triệu học sinh Mỹ cho hay việc học quá dễ dàng, chẳng có gì là thử thách, theo kết quả một cuộc phân tích các dữ kiện do chính phủ Mỹ thu thập. Bản báo cáo này có thể gây ra một cuộc tranh luận mới về tiêu chuẩn học hành và liệu rằng một chương trình học tập đang mới khởi sự trên toàn quốc có thay đổi được gì không.


Kết quả cuộc phân tích của trung tâm có tên Center for American Progress tại Washington, chuyên cổ võ các “tư tưởng cấp tiến”, xem xét các bảng thăm dò ý kiến trong ba năm sau về chương trình có tên National Assessment of Educational Progress, thấy rằng tới 37% học sinh lớp 4 nói các bài tập về toán của các em là “thường khi” hay “luôn luôn” quá dễ dàng; khoảng 57% học sinh lớp 8 nói các bài kiểm về sử “thường khi” hay “luôn luôn” quá dễ dàng; 39% học sinh lớp 12 nói ít khi nào phải viết về những gì được thày cô ấn định phải đọc.


Ulrich Boser, một giới chức cao cấp tại trung tâm và cũng là đồng tác giả bản báo cáo, nói rằng các dữ kiện này ngược hẳn lại những điều mà người ta cho rằng trường học Mỹ là nơi áp suất cao đối với học sinh. Và tuy rằng cũng có thể có trường hợp này trong các thành phần học thật khá, ông Boser nói rằng đa số học sinh Mỹ không phải học gì nhiều.


Robert Pondiscio ở tổ chức Core Knowledge Foundation, một tổ chức thiện nguyện tại Virginia có mục tiêu thúc đẩy nâng cao trình độ học vấn ở Mỹ, cho rằng việc học sinh ở trường về nhà đeo theo túi đựng sách nặng tới 70 pounds chẳng phải là điều thường thấy.


Các dữ kiện này cũng cho rằng học sinh không được thúc đẩy về mặt học hành: Chỉ có một trong năm học sinh lớp 5 đọc hơn 20 trang sách một ngày, dù là ở trường hay làm bài ở nhà. Phần lớn cho biết phải đọc ít hơn vậy rất nhiều.


“Chúng ta có thể nói rằng các trẻ có khả năng vươn lên hơn nữa về mặt học vấn đã không được thúc đẩy tới mức,” Boser cho hay.


Gladis Kersaint, một giáo sư toán tại đại học University of South Florida và cũng là thành viên của Hội Ðồng Giáo Sư Toán Toàn Quốc, cho hay bà không ngạc nhiên vì kết quả phân tích này. “Tôi nghĩ chúng ta đánh giá học sinh quá thấp,” bà nói.


Nỗ lực thúc đẩy có tiêu chuẩn cao hơn-và sự mong muốn đáp ứng các tiêu chuẩn này từ phía học sinh-“cho thấy học sinh sẵn sàng đón nhận thêm thử thách trong lãnh vực toán,” bà nói. “Hy vọng rằng đây sẽ là một động lực thúc đẩy các nhà giáo thấy rằng chúng ta đang đi đúng hướng.”

Vài câu hỏi với Nhật Báo Người Việt

 


LTS: Ngày 13 Tháng Bảy, 2012, trong buổi gặp gỡ giữa đại diện nhật báo Người Việt và đại diện các hội đoàn, cơ quan truyền thông Việt ngữ, ông Ðặng Ðình Dũng trong giới cử tọa đã gởi cho Người Việt một văn bản gồm 5 câu hỏi, yêu cầu được trả lời trên mặt báo. Ðại diện Người Việt đã nhận, đồng ý sẽ trả lời các câu hỏi ấy. Dưới đây là nguyên văn các câu hỏi cùng phần trả lời của Người Việt. Cám ơn ông Ðặng Ðình Dũng đã quan tâm và dành thời gian cho vấn đề này.


***


Câu hỏi: Khi duyệt thư độc giả để chọn đăng, có phải chăng báo Người Việt đã không từng biết về tội ác Mậu Thân, Ðại Lộ Kinh Hoàng do Việt Cộng gây ra, về thảm trạng trong các trại tù trả thù giả danh “cải tạo,” về nửa triệu người Việt đã bỏ mình khi vượt biên, thà chết không chấp nhận chế độ Cộng Sản, không chấp nhận Việt Cộng, về đấu tố cải cách ruộng đất mà bao người bị cướp của bị mất mạng, về dân oan bị cướp đất trắng trợn?


Nếu trả lời “Không Từng Biết” thì báo người Việt không xứng đáng tư cách là một tổ chức truyền thông chuyên nghiệp thoát thai từ cộng đồng người Việt tỵ nạn Cộng Sản, mà chỉ là đầu cơ tin tức vì tư lợi bè nhóm sống bám và phá hoại cộng đồng người Việt hải ngoại tỵ nạn Cộng Sản. Xin được biết trả lời chính thức từ báo Người Việt.


Người Việt: Tất cả những tội ác Cộng Sản mà quý vị nêu trong câu hỏi đã từng được đề cập nhiều lần, dưới nhiều hình thức khác nhau, ở nhiều thời điểm khác nhau, trên các trang mục khác nhau trên Nhật Báo Người Việt cũng như các ấn bản trực thuộc công ty Người Việt trong hơn 30 năm qua.


Xin đơn cử một vài ví dụ. Tháng Tư, 2010, Nhật báo Người Việt cử hai phóng viên Ngọc Lan và Ðinh Quang Anh Thái trở về các trại tị nạn của người Việt Nam tại Indonesia, viết một loạt phóng sự trong suốt một tháng, ghi lại các ký ức, trình bày lại nỗi niềm của người tị nạn cộng sản, những người đã đổi cái chết để lấy tự do.


Trước đó, vào năm 2005, Người Việt cũng đã là một trong những cơ quan truyền thông đầu tiên đưa tin tức cùng nhiều bài bình luận lên tiếng chỉ trích mạnh mẽ hành động của Hà Nội áp lực các nước sở tại đập phá bia tưởng niệm thuyền nhân tại Pulau Bidong (Malaysia) và Pulau Galang (Indonesia). Trong loạt nội dung ấy, phần bình luận của tác giả Ngô Nhân Dụng, với bài viết “Những Người Ðã Chết Là Có Thật” chỉ trích gay gắt hành động vô luân, vô đạo đức của chính quyền Hà Nội. Bài viết ấy chính là quan điểm chính thức của Người Việt trong vấn đề này.


Năm 2009, Người Việt đã cử phóng viên Hà Giang sang Ðức Quốc, viết một loạt phóng sự nhân ngày thế giới kỷ niệm 20 năm đập bỏ “Bức Tường Ô Nhục” Berlin, góp phần chấm dứt chế độ Cộng Sản tại Ðông Âu. Loạt bài của Người Việt sau đó được tổng hợp trong một ấn bản đặc biệt gởi tặng độc giả của tờ báo.


Trên đây chỉ là những ví dụ đơn cử về một số sự kiện lớn mà Người Việt từng thực hiện. Theo dõi thường xuyên nội dung tờ báo, quý độc giả có thể nhận thấy, quan điểm không chấp nhận Cộng Sản đã luôn được thể hiện một cách rạch ròi, liên tục và kiên định kể từ khi tờ báo được khai sinh năm 1978 cho đến nay.


Câu hỏi: Tại sao đăng trọn vẹn bài viết của Sơn Hào, đầy đủ cả tựa đề “Lời lẽ bóp méo sự thật của Nguyễn Gia Kiểng” với đầy đủ cả 3 phần: Mở bài giới thiệu vấn đề, thân bài lý giải biện chứng, kết luận chụp mũ ông Nguyễn Gia Kiểng là âm mưu lật đổ nhà nước Việt Nam; trong khi 6 thư độc giả khác chỉ được trích đăng từ 3 đến tối đa 9 dòng báo?


Người Việt: Phần lớn, nếu không muốn nói tất cả, thư độc giả đều được đăng nguyên văn, không cắt xén. Các thư độc giả đăng cùng ngày với lá thư của Sơn Hào đã được đăng nguyên văn.


Câu hỏi: Văn phong trong bài “Lời lẽ bóp méo sự thật của Nguyễn Gia Kiểng” thể hiện trọn vẹn ngôn ngữ luận điệu tuyên truyền của Việt Cộng, đúng sách lược trấn áp bất đồng chính kiến của CSVN mà bất cứ người Việt tỵ nạn Cộng Sản nào cũng biết, tòa soạn báo Người Việt lại không nhận ra ư?


Người Việt: Như đã trình bày trong buổi gặp gỡ đại diện cộng đồng, hội đoàn, truyền thông vào ngày 13 Tháng Bảy tại Nhật Báo Người Việt, sự xuất hiện của lá thư độc giả trên mặt báo là lỗi lầm lớn của sự phán đoán không đúng đắn. Người cho đăng lá thư ấy nghĩ rằng “thời buổi này còn có kẻ bênh vực cộng sản ngu dốt như vậy thì phải cho thế giới thấy”. Tuy nhiên, đăng riêng lá thư ấy mà không đi kèm với bài viết mà lá thư chỉ trích (bài của tác giả Nguyễn Gia Kiểng, tựa đề “Vết Thương Ngày 30 Tháng Tư,” đăng trên trang Diễn Ðàn Người Việt ngày 17 Tháng Tư) cùng lời giải thích, khiến độc giả ngộ nhận và phẫn nộ. Như đã trình bày trong cuộc gặp gỡ, Chủ Bút của tờ báo đã nhận khuyết điểm, sẽ “rút kinh nghiệm, và sẽ cẩn trọng trong cả cách thức trình bày nội dung, để mọi điều đều nằm trong một ngữ cảnh trọn vẹn”.


Câu hỏi: Bài “Vết thương ngày 30 tháng 4” được đăng ngày 16 tháng 4, 2012, vậy mà đến 3 tháng sau đã không còn tính thời sự nữa thì báo người Việt lại cho đăng “phản ánh từ độc giả”. Vậy là có tính toán. Tôi cho rằng, vì có chủ ý tiếp tay, tuyên truyền cho CSVN nhưng sợ phản ứng mạnh mẽ từ cộng đồng người Việt nên phải né “Tháng Tư Ðen”. Ðưa thông tin không còn tính thời sự là điều tối kỵ của người làm truyền thông chuyên nghiệp. Báo Người Việt trả lời sao về điểm này?


Người Việt: Người Việt có ấn bản in và phiên bản trên Internet. Phần lớn thư độc giả Người Việt đến từ phiên bản online www.nguoi-viet.com. Vì là ấn bản online, độc giả có thể dễ dàng tìm đọc các bài viết cũ, và từ đó trả lời trực tiếp bằng cách bấm vào link “độc giả góp ý” ngay dưới mỗi bài. Hàng ngày, Ban Biên Tập tổng hợp các thư độc giả trong ngày hôm trước, rồi cho đăng vào báo ngày hôm sau. Thư Ðộc Giả Sơn Hào được gởi vào Tòa Soạn qua phiên bản Người Việt Online ngày 6 Tháng Bảy, chứ không phải Tòa Soạn đã nhận trước đó rồi đợi đến hôm nay mới đăng. Tuy nhiên, chúng tôi ghi nhận ý kiến xác đáng của quý vị, rằng “đưa thông tin không còn tính thời sự là điều tối kỵ của người làm truyền thông chuyên nghiệp”.


Câu hỏi: Lời công bố nơi góc phải – trên trang Diễn Ðàn ghi rằng “Các bài viết đăng tải trên phụ trang Diễn Ðàn Người Việt không nhất thiết phản ảnh quan điểm của Nhật Báo Người Việt, mà chỉ là quan điểm riêng của từng tác giả,” có thực đó là phương châm hành động của báo Người Việt? Có thực là báo người Việt tôn trọng tự do ngôn luận, tôn trọng bất đồng quan điểm? Báo Người Việt có dám cam kết sẽ đăng tải vô điều kiện mọi ý kiến độc giả dù rằng đó là ý kiến đả kích báo Người Việt, vạch ra những sai trái bất xứng của báo Người Việt? Nếu báo Người Việt lưỡng lự trả lời YES thì đó chỉ là những lời lừa dối độc giả như CSVN dối trá với dân chúng. Xin báo Người Việt cho câu trả lời chính thức.


Những điểm trên là rõ ràng, tôi có đề nghị: Yêu cầu báo Người Việt trả lời cụ thể trên mặt báo và nếu báo Người Việt chọn đồng hành với cộng đồng người Việt tỵ nạn Cộng Sản thì xin bạch hóa cá nhân Sơn Hào là ai.


Ước mong báo Người Việt sẽ vẫn xứng đáng là nơi để cộng đồng người Việt hải ngoại tị nạn Cộng Sản tin tưởng gửi quảng cáo, theo dõi tin tức cùng các bài bình luận hướng dẫn dư luận trong công cuộc đấu tranh cho một nước Việt Nam có tự do nhân quyền và độc lập thực sự.


Người Việt: Nếu theo dõi thường xuyên mục Thư Ðộc Giả trên báo Người Việt, độc giả có thể nhận thấy mục này đã đăng rất nhiều ý kiến chỉ trích tờ báo và cả cá nhân các phóng viên, biên tập viên, từ cách hành văn, cách chọn chữ, cách chọn bài, cho đến hình ảnh. Nhật Báo Người Việt đã là người đồng hành cùng cộng đồng trong hơn 30 năm qua. Nếu không học hỏi từ sự chỉ trích chính đáng của bạn đọc, tờ báo không thể cải thiện, không thể tồn tại và phát triển.


Về câu hỏi Sơn Hào là ai, xin được trả lời ngay: Chúng tôi không hề biết ông/bà ta là ai, ngoài sự kiện là ông/bà ta là một độc giả gởi ý kiến vào Tòa Soạn, ký tên là “Sơn Hào”. Cũng xin được nói rõ, hàng ngày, ngoài hàng chục ngàn độc giả báo in, phiên bản Người Việt Online còn có khoảng 50 đến 60 ngàn độc giả trên khắp thế giới. Ðộc giả gởi thư vào Tòa Soạn có quyền không nêu danh tánh; Tòa Soạn không thể kiểm chứng danh tánh của độc giả mình.

Bà Võ Thị Lành

Pháp kỷ niệm Ngày Phá Ngục Bastille

 


PARIS, Pháp – Binh sĩ Pháp tham gia duyệt binh trong ngày lễ Bastille Day, Ngày Phá Ngục Bastille.


 



Ðây là đại lễ của nước Pháp, diễn ra vào 14 Tháng Bảy hàng năm, từ 1789 đến nay, để kỷ niệm ngày đám đông phá nhà tù Bastille, và ngày này trở thành biểu tượng của cuộc Cách Mạng Pháp. (Hình: Antoine Antoniol/Getty Images)

Biểu tình ở Phương Tây không dễ áp dụng cho Trung Quốc, Việt Nam

 


Về “Biểu tình, phản kháng và lật đổ,” báo Người Việt ngày 11 tháng 7


Những điều ông nêu ra trên nguyên tắc biểu tình chỉ có giá trị ở các nước Tây phương không dễ dàng áp dụng ở TQ hay VN. Ở TQ và VN cơ cấu tổ chức chính quyền giống y chang nhau, không để sơ hở cho các cuộc biểu tình phản kháng.


Ở các nước khác quân đội là của quốc gia nhưng ở TQ và VN quân đội là của đảng cộng sản. Tất cả sĩ quan các cấp, hạ sĩ quan thậm chí binh sĩ đều là đảng viên, mà hễ là đảng viên chỉ phục vụ cho quyền lợi của đảng mà thôi. Nếu công an không đủ khả năng bảo vệ, họ dùng lực lượng quân sự để đè bẹp, điển hình là vụ Thiên An Môn.


Vụ Thiên An Môn xảy ra, thế giới có lên án TQ chiếu lệ, sau đó các nhà tư bản phương Tây cùng với Nhật và Nam Hàn ồ ạt tranh nhau đổ tiền của vào đầu tư ở TQ, kẻo chậm tay sẽ mất phần. Chỉ trong vòng 20 năm TQ trở thành cường quốc kinh tế chỉ tạm thời xếp sau Mỹ, chờ một thời gian ngắn sẽ qua mặt Mỹ. Mô hình chính trị kiểu TQ có hiệu quả cho nên trong thời gian ngắn đã đưa đất nước TQ trở nên giàu có. VN đã theo con đường của TQ cho nên sắp lọt vào tay TQ. Dân chúng thì bất mãn nhưng đảng tỉnh bơ.


Kimhoangnguyen

Tin Luot

 


Việt Nam


 



  • Hà Nội: Một em trai 15 tuổi, dắt đứa em 1 tuổi đi xem thả diều, bị sập ống cống đang sửa mà không đậy nắp. Bé 1 tuổi qua đời.

 



  • Ba người dân Văn Giang, trong đó có 1 cụ ông 73 tuổi, bị côn đồ tấn công phải vào bệnh viện.

 



  • Một vụ cháy rừng lớn xảy ra tại Hòa Khánh Bắc, Liên Chiểu, Ðà Nẵng lúc khuya ngày 14 Tháng Bảy, và có thể lan rộng hơn.

 


Cộng đồng/Ðịa phương


 



  • Thiện nguyện viên từ Hải Quân Mỹ, công ty Boeing và cư dân cộng đồng giúp dọn dẹp 1 tấn rác trên diện tích 5 mẫu đất ven biển tại Trạm Vũ Khí Hải Quân Seal Beach.

 



  • Hai vụ đâm người trọng thương xảy ra trong cùng một đêm, tại cùng một thành phố, La Habra. Người ta tin là có liên quan đến băng đảng.

 



  • Trong 22 ngày, kết thúc vào 26 Tháng Sáu, 4 trong số 83 zip code tại quận Cam có số lượng nhà bán tăng đến 100% hoặc cao hơn.

 


Hoa Kỳ


 



  • Cảnh sát tư pháp Mỹ bắt được Vincent Legrend Walters, một trong 15 kẻ đào tị bị truy nã gắt gao nhất, tại một khu resort ở Cancun, Mexico.

 



  • Yahoo tuyên bố đã sửa được lỗi khiến 450 ngàn email và mật khẩu bị lộ và bị đăng công khai lên Internet.

 



  • Một nha sĩ Colorado bị rút bằng hành nghề vì sử dụng xi ranh và kim chích cũ, khiến hàng ngàn bệnh nhân có thể bị lây HIV và viêm gan.

 



  • Một phụ nữ Colorado tản cư vì trận cháy rừng ở địa phương đã bất cẩn tạo nên một vụ cháy lớn ở Idaho, thiêu rụi mọi tài sản của cô.

 



  • Russell Wasendorf Sr., môi giới đầu tư tại Iowa, thú nhận trong bản văn tuyệt mệnh là làm ăn gian dối 20 năm qua, do business khó khăn và bản ngã lớn. Tự tử không thành.

 



  • ƯCV Mitt Romney nhất định không tiết lộ nhiều hơn 2 năm hồ sơ thuế; yêu cầu Tổng Thống Obama xin lỗi vì lời lẽ tranh cử là “lừa dối”.

 


Thế giới


 



  • Một vụ nổ bom tự sát tại một đám cưới ở miền Bắc Afghanistan khiến 21 người chết, 40 bị thương.

 



  • Thân mẫu người thanh niên Tunisia tự thiêu, dẫn đến cuộc cách mạng Hoa Lài, bị bắt vì xô xát với nhân viên tòa án.

 



  • Kinh tế Trung Quốc tăng trưởng chậm nhất trong 3 năm, còn 7.6%, khiến thế giới lo lắng.

 



  • Nhà thầu lo về an ninh Thế Vận Hội London có thể lỗ $77 triệu vì không tuyển dụng đủ nhân viên an ninh. Olympic London sẽ bắt đầu trong vài ngày tới.

 



  • Nghiên cứu: Thuốc chống rụng tóc có thể làm giảm khả năng sinh lý.

 



  •  Ðại diện Liên Hiệp Quốc tìm thấy vết máu, nhà bị đốt và đạn pháo tại làng Tremseh, Syria, mặc dầu không thể chắc là 220 người đã bị quân chính phủ thảm sát.

 



  • Một người lướt sóng Australia tử nạn ở vùng biển miền Tây nước này vì bị cá mập tấn công.

Ngôi nhà ước mơ

 


Lừng Vũ


 


Ngày còn học đại học, hành trang mỗi cuối tuần về nhà là những cuốn truyện tranh mua ở hiệu sách cũ cho đứa cháu. Ðôi khi là mấy cuốn tạp chí cũ hay những tờ báo mình đã đọc, xếp lại, nay mang về cho chị gái. Lúc ấy mình chỉ mơ ước làm sao có tiền để có thể mua được những cuốn truyện tranh, những cuốn sách và những tờ báo tử tế.



Hình: Dân Huỳnh/Người Việt


 Khi nhận được tháng lương đầu tiên, việc đầu tiên là thực hiện cái mơ ước nhỏ nhoi ấy. Sắm cho Bố Mẹ một cái đầu video, lắp đặt cho Bố Mẹ cái điện thoại, sửa lại cái mái nhà. Số tiền còn lại mình dành tặng các anh chị và các cháu mua sắm đồ. Lúc ấy thấy vui lắm. Vậy là từ nay mình đã có thể lo cho gia đình. Việc tiếp theo, mình muốn Bố Mẹ không tham gia công việc đồng áng nữa. Nay mình đã đi làm, Bố Mẹ không còn phải lo gì nữa. Lúc đầu các cụ vẫn tiếc ruộng đất nên vẫn còn giữ một ít, tuy nhiên thuê người làm. Sau khi mình đi làm hơn năm thì Bố Mẹ nghỉ hưu thực sự. Lúc ấy mình gửi hẳn lương vào tài khoản của Bố ở nhà. Tiền lương của mình cụ toàn quyền quyết định. Mỗi lần ra vào mình có xin thêm một ít. Ở Kỳ Sơn, có muốn tiêu tiền cũng đành chịu nên tiền lương của mình gần như còn nguyên vẹn.


Sau gần 2 năm, mình đoán chắc cũng đã có được một khoản tiền kha khá. Tháng 12 năm 2003, khi trở lại Hà Nội làm việc, mình xin một koản nhỏ để mua cái xe máy, cái máy tính và một số đồ đạc cho căn phòng mới thuê. Tiền còn lại Bố vẫn gửi tiết kiệm. Ước mơ sẽ gom góp thêm để xây cho Bố Mẹ một ngôi nhà ở chính mảnh đất mà anh em mình đã được sinh ra và lớn lên, mảnh đất mà Bố Mẹ đã mấy chục năm gắn bó. Nhiều lúc cũng có ý định đi làm vài năm nữa rồi mua nhà thành phố, rồi đưa các cụ lên ở với mình. Nhưng xem ra chẳng có đâu tốt hơn cho các cụ như ở quê đặc biệt mảnh đất ấy giờ đây còn có người thân đang nằm lại. Ngôi nhà đồng thời còn là chỗ cho cả nhà sum họp nhân ngày nghỉ, ngày lễ hay giỗ chạp.


Ý định xây nhà cũng là vì mình quá hiểu Bố. Từ bao năm nay Bố đã ao ước có một ngôi nhà đàng hoàng. Cụ không muốn mình bị thua kém những người trong làng, trong xóm. Ở nông thôn nhiều khi người ta quá coi trọng việc phô trương sự giàu có về vật chất. Và điều ấy đã tác động và thật sự là một trong những điều khiến Bố luôn dằn vặt. Bố thường than thở về sự vất vả nuôi 6 đứa con đi học, lớn lên, ra ở riêng. Cuối cùng còn trơ lại mình với ngôi nhà đã nát. Tuổi thì đã già, không thể làm gì được nữa. Nhìn sang những nhà hàng xóm, con cái họ chẳng học hành gì thì họ lại không vất vả, lại được ở trong những ngôi nhà khang trang. Những gì Bố phàn nàn nhiều lúc làm mình khổ tâm vô cùng. Các anh chị thì vừa tốt nghiệp ra trường, đồng lương nhà nước cũng chỉ đủ sống. Mình đang đi học, cần sự trợ giúp từ gia đình. Bố làm vậy khiến mình tự thấy như một kẻ có tội. Bố cũng chính là một nguyên nhân khiến suy nghĩ của mình già đi rất nhiều.


Nhiều khi, những lời Bố trách móc con cái làm tất cả mọi người trong gia đình đều khổ tâm. Có những lúc mình vừa tủi thân vừa giận Bố. So với những đứa bạn thì mình thấy mình thiếu thốn sự quan tâm và vất vả hơn chúng nó rất nhiều. Mình luôn cố gắng mà chưa bao giờ Bố Mẹ khen hay động viên gì cả. Tuy nhiên, mình hiểu và thông cảm vì sao Bố lại có những suy nghĩ như vậy. Cuộc sống vất vả đã khiến cụ trở lên cáu gắt và khó tính. Hãy tưởng tượng, không người thân, không họ hàng, ông nội mất khi Bố mới 5 tuổi, bà nội mất khi Bố có người con đầu lòng chưa đầy một năm, họ hàng của Bố ở xa, người thân của mẹ cũng ở rất xa. Ngoài đồng lương giáo viên ít ỏi, Bố cũng phải tham gia đồng ruộng, phải chăn bò, phải nuôi lợn. Dáng vẻ của Bố đã luôn toát lên một sự vất vả, lận đận. Nhớ lại ngày xưa, cứ bước chân ra khỏi lớp học, cụ bỏ dép ra xách ở tay, bước phăng phăng trên đồng trên ruộng, về nhà lại cơm nước cho cả nhà nếu mẹ chưa đi làm về hay các con Bố chưa đi học về. Các cụ đã phải rất tiết kiệm và giỏi kế hoạch trong chi tiêu để luôn giữ cho gia đình ở mức đủ ăn. Các cụ buộc phải phấn đấu và tự lực cánh sinh vì không thể bấu víu vào ai giữa mảnh đất không một người ruột thịt ấy.


Giữa năm 2004 mình muốn Bố Mẹ làm nhà. Tuy nhiên anh trai lúc đó cũng làm nhà nên Bố Mẹ hoãn lại. Ðến cuối tháng 8 khi mình đã cầm chắc trong tay 2 cái học bổng đi học. Mình thật sự muốn nhìn thấy các cụ sống trong căn nhà mới trước khi mình ra đi. Chỉ có như thế mình mới yên tâm. Thế là cấp tốc làm nhà. Ngoài trợ giúp về tiền, mình chẳng giúp được gì vì lúc ấy vừa đi làm vừa chuẩn bị thi GRE và TOEFL. Các cụ thuê người phá nhà, làm lại nhà mới. Tiếc tiền lên các cụ tự tay lọ mọ làm biết bao nhiêu việc, dọn gạch cũ đổ đi, làm nền nhà, làm sân, các cụ chẳng thuê người làm mà tự làm hết. Sau hơn một tháng về thăm nhà, nhìn thấy các cụ vất vả, gầy xọp đi mà lo kinh khủng. Mình chỉ sợ sau khi làm xong nhà mới, các cụ lăn ra ốm thì nguy. Thế là phải dặn anh chị cuối tuần cố thu xếp về nhà giúp các cụ.



Hình: Dân Huỳnh/Người Việt


Mấy ngày cuối cùng của năm 2004, vừa còn 10 ngày trước khi mình lên đường, Bố Mẹ làm cơm lên nhà mới đồng thời cũng mừng con đi học. Vì quyết định đi học quá đột ngột, mình chỉ nghỉ việc được 1 tuần ở nhà với các cụ. Tranh thủ mấy ngày ấy mua sắm được một số thứ cho nhà mới. Chưa hoàn toàn yên tâm vì ngôi nhà chưa thật sự hoàn thành theo ý. Còn 2 tháng lương cuối cùng, dặn cơ quan gửi về quê cho Bố Mẹ đề phòng có việc phát sinh. Cầm trong tay một ngàn đô còn sót lại trong tài khoản, mình ra đi và lại bắt đầu từ con số không ngày nào. Nhưng sao khi ấy mình thấy vui và mãn nguyện đến vậy.


Sau 2 năm về lại, ngôi nhà vẫn y màu sơn mới ngày nào, cây cối bây giờ đã vươn cao vào tận sân. Bố Mẹ khỏe hơn, vui hơn. Ðồng lương và cuộc sống của các anh chị cũng khá hơn. Ngôi nhà tràn ngập tiếng cười trẻ thơ mỗi cuối tuần và mình tạm yên tâm đi tiếp…

“Chơi ảnh tốn tiền, tốn thời gian, nhưng vui”

 


Khai mạc triển lãm tranh của hội nhiếp ảnh PSCVN


 


 


 


WESTMINSTER (NV) – Lễ trao giải và triển lãm ảnh thường niên của hội nhiếp ảnh PSCVN được tổ chức tại hội trường nhật báo Người Việt vào sáng Thứ Bảy diễn ra trong không khí vui nhộn, thân tình và đầy hình ảnh nghệ thuật.










Khách thưởng lãm những bức ảnh nghệ thuật của hội nhiếp ảnh PSCVN được trưng bày tại hội trường nhật báo Người Việt. (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)


Bác Sĩ Nguyễn Văn Ban, hội trưởng hội nhiếp ảnh PSCVN, cho biết, “Cuộc thi ảnh năm nay có 44 tác giả với hơn 300 bức ảnh gửi dự thi, trong đó có 10 phụ nữ. Ðiều đặc biệt là phân nửa số giải thưởng lại về tay các chị em phụ nữ.”


Ðể tránh những điều tiếng không hay, ban tổ chức cuộc thi ảnh của PSCVN mời ban giám khảo gồm ba nhiếp ảnh gia tên tuổi, người Mỹ, chọn ra những bức hình xứng đáng để trao giải.


Tác giả Brandon Phạm (Florida) là người đoạt giải thưởng ở tất cả các thể loại thi, từ monochrome, creative, nature đến color. Ông cũng là người được nhận giải “Best of the Show” của năm 2012.


Trong cuộc thi này, huy chương vàng được trao cho cô Thanh Thủy Nguyễn (thể loại Sáng Tạo), Helen Cao (thể loại Màu Sắc), Jimmy Nguyễn (thể loại Ðen Trắng) và Brandon Phạm (thể loại Thiên Nhiên).


Ngoài ra, ở mỗi thể loại, ban giám khảo còn trao tặng thêm một giải bạc, một giải đồng và 4 khuyến khích.


Có mặt tại buổi triển lãm, nhiếp ảnh gia Dương Xuân Phương, đồng sáng lập viên Hội Ảnh Nghệ Thuật Việt Nam tại Sài Gòn từ năm 1968, cố vấn Hội Ảnh Nghệ Thuật Việt Nam tại Mỹ, nêu nhận xét, “Thoạt xem qua thì thấy có một số ảnh mà giám khảo làm việc khá chính xác nhưng mà có một số thì hình như chưa thuyết phục được người xem, như nhiều ảnh có nét mới lạ, độc đáo thì chưa được đánh giá cao, trong lúc có những bức ảnh rất bình thường, như tấm ảnh chụp hoa sen chưa ra được màu sen, hay chưa toát lên được ý nghĩa của hoa sen cũng được chọn trao giải.”


Tuy nhiên, nhiếp ảnh gia kỳ cựu này cũng cho rằng, “Bất cứ sự bình chọn nào cũng chỉ mang tính tương đối thôi” và nhìn chung thì “ảnh triển lãm đẹp”.


Cô Duyên Duyên Trịnh, hội viên của PSCVN, người được giới thiệu là “gương mặt đang lên”, lần đầu gửi 4 ảnh tham dự cuộc thi, cô đoạt được một huy chương đồng cho thể loại Sáng Tạo và 2 giải khuyến khích cũng ở thể loại này.


Chia sẻ về niềm vui nhiếp ảnh, cô Duyên Duyên cho biết, “Hồi xưa không biết chụp hình, muốn đi học để biết sử dụng máy hình thôi. Nhưng khi đi học thấy người ta thi đua, so tài nhiều quá nên ‘nổi máu lên’ nên cố gắng trau dồi.”


“Học chụp hình tốn tiền lắm, tốn tiền mua máy, mua ống kính, tốn thời gian đi rình chụp những con vật mình thích. Nhưng bù lại là vui chứ không vui, không thích thì không làm được đâu. Ði chụp hình biết luôn tánh tình của các loại động vật, nên thấy hay lắm.” Cô Duyên Duyên nói thêm.


Bên cạnh đó, việc “đi săn ảnh” với Duyên Duyên cũng “giống như đi tập thể dục vậy. Cứ đi có hình chụp thì tốt, không thì cũng giống như đi ‘excecise.’”


Cũng cùng suy nghĩ như Duyên Duyên Trịnh là cô Lệ Chi Bùi, tác giả của một bức ảnh được giải khuyến khích cho thể loại Thiên Nhiên.


“Học nhiếp ảnh thời gian cũng tốn, tiền bạc cũng tốn, nhưng quan trọng là phải thích thì mới được.” Cô Lệ Chi nói.


Bức hình chụp cảnh một ruộng lúa mạch ở Spokane, Washington của tác giả này được nhiều người đánh giá là “mới lạ” so với nhiều bức hình mang tính truyền thống, lặp đi lặp lại được triển lãm tại đây.


Lý do đến với nghệ thuật nhiếp ảnh, theo cô Lệ Chi là vì “Tôi đi học vẽ, mỗi lần vẽ đi kiếm đề tài thì lại phải đi lục tìm báo chí, nên khi tham dự lớp học nhiếp ảnh này thì lại bị cuốn hút, bỏ vẽ đi theo nhiếp ảnh luôn.”


Niềm vui người phụ nữ này tìm được từ việc chụp hình là “được đi nhiều nơi, chụp được nhiều phong cảnh từ trong đến ngoài nước, nên thích lắm”.


Ngoài việc trao giải và triển lãm ảnh nghệ thuật, lúc 2 giờ chiều Thứ Bảy, hội nhiếp ảnh PSCVN còn tổ chức cuộc hội luận và giới thiệu nhu liệu “Photoshop CS6,” phiên bản mới nhất đang thịnh hành trên thị trường hiện nay. Ngày Chủ Nhật, lúc 2 giờ chiều có chương trình văn nghệ hát karaoke.


PSCVN sinh hoạt hơn 15 năm qua, được Sở Thuế IRS cấp giấp phép hoạt động như là một tổ chức bất vụ lợi phục vụ công chúng. Hội đã tổ chức nhiều lớp học nhiếp ảnh và photoshop miễn phí dành cho những ai yêu thích nhiếp ảnh.


PSCVN đi tiên phong trong việc hướng dẫn nhiếp ảnh số (digital) trong cộng đồng Việt tại Orange County. Sau hơn thập niên hoạt động, hội có hơn 1,000 hội viên, trong số này có gần một nửa sinh sống tại Nam California, phần còn lại sinh sống tại nhiều tiểu bang Hoa Kỳ, Âu Châu và Úc, một số không nhỏ sống ở Việt Nam. Mỗi năm, hội tổ chức bốn cuộc triển lãm tại Orange County.









Các tác giả đoạt giải huy chương vàng (từ trái): Thủy Nguyễn (thể loại Sáng Tạo), Jimmy Nguyễn (Ðen Trắng) và Helen Cao (Màu Sắc). (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)


Bác Sĩ Nguyễn Văn Ban, hội trưởng hội nhiếp ảnh PSCVN, nói thêm, “Có nhiều học viên của PSCVN rất giỏi, sau khi học xong có thể ra ngoài mở studio riêng đi chụp hình đám cưới, kiếm sống bằng nghề nhiếp ảnh, bên cạnh những người đến với nghệ thuật nhiếp ảnh vì vui chơi nhiều hơn chứ không nghĩ đến chuyện làm ăn.”


“Trong suốt mười mấy năm qua, hội PSCVN chúng tôi cảm thấy rất vui vì có dịp truyền đạt được nghệ thuật nhiếp ảnh cho mọi người.” Bác Sĩ Ban kết luận.


Triển lãm ảnh nghệ thuật của hội nhiếp ảnh PSCVN tại hội trường nhật báo Người Việt mở cửa đến 5 giờ chiều Chủ Nhật, 15 tháng 7. (N.L.)

Tin mới cập nhật