Hai trận đầu tiên Euro 2012: Ai sẽ thắng?

 


Hà Tường Cát/Người Việt


 


Ngày Thứ Sáu 8 tháng 6, giải UEFA Euro 2012 khởi đầu với 2 trận đấu: Ba Lan-Hy Lạp và Nga-Czech.









Tiền đạo Ba Lan Robert Lewandowski trong buổi tập dượt trên sân Polonia ở Warsaw, chuẩn bị đá trận khai mạc Euro 2012. (Hình: Janek Skarzynski/AFP/Getty Images)


Theo những nhận định phổ biến thì người ta không chờ đợi một trong bốn đội này sẽ đoạt chức vô địch Âu Châu năm nay, sự chú ý chung đều nhắm tới Ðức, Tây Ban Nha, Hòa Lan, Hy Lạp hay Ý, Bồ Ðào Nha, Pháp, Anh, Thụy Ðiển… Mặc dầu vậy, có những yếu tố để nghĩ là Euro 2012 sẽ đem đến nhiều bất ngờ hào hứng trong ba tuần lễ sắp tới. Vả lại chuyện ấy còn xa, trước mắt hãy xem những gì đang sắp xảy ra.


Ðặc điểm của Bảng A là 4 đội đều tự xem là ngang sức với đối thủ, không có mặc cảm tâm lý khi gặp nhau, vì vậy toàn thể các trận đấu sẽ rất ngang ngửa. Khác với trường hợp Bảng B được coi là một “bảng tử thần”, thua một trận đầu đã có nguy cơ bị loại. Các trận trong bảng A chưa có tính cách quyết liệt như thế và ít nhất mỗi đội phải qua hai trận đấu mới biết là còn bao nhiêu hy vọng lọt vào vòng tứ kết.


 


Trận Ba Lan-Hy Lạp


 


Tất nhiên cả hai đội đều rất muốn đạt thắng lợi trong trận khai mạc. Mỗi đội có những căn cứ riêng để tin tưởng.


Ba Lan chưa bao giờ đoạt một giải lớn và không có thành tích quốc tế đáng kể từ 30 năm nay. Theo nhận định của giới chuyên môn, Ba Lan là đội yếu nhất trong bảng A. Vì là một trong hai nước đứng tổ chức, Ba Lan được miễn vòng đấu loại khu vực và do đó rất khó lượng giá khả năng của đội tuyển trong những trận tranh đấu quốc tế, ngoài một số trận giao hữu không phải là cơ sở để xét đoán trình độ thật.


Niềm tin tưởng của Ba Lan hoàn toàn dựa trên những yếu tố tâm lý, đầu tiên là lợi thế đá trên sân nhà. Trước gần 60,000 khán giả ở sân vận động quốc gia thủ đô Warsaw mà ít nhất hơn phân nửa là ủng hộ viên, đội tuyển Ba Lan có lý do để an tâm với sự cổ vũ nhưng đồng thời cũng chịu áp lực tâm lý về sự chờ mong của khán giả. Ngoài ra Ba Lan cũng có thêm niềm tin là từ trước đến nay gặp Hy Lạp, Ba Lan thắng nhiều hơn thua và chưa bao giờ Hy Lạp thắng họ trên đất Ba Lan.


Dưới sự dìu dắt của huấn luyện viên Franciszek Smuda, đội Ba Lan trong hai năm gần đây có nhiều tiến bộ tốt, giúp hun đúc ý chí tạo được một thành tích nào đó trong giải Euro này, cụ thể là vào tới tứ kết. Huấn luyện viên Smuda tin tưởng khả năng của các cầu thủ trẻ, và đội tuyển Ba Lan có tuổi trung bình 25.13, trẻ đứng hàng thứ nhì, sau Ðức. Trong khi đó thì Hy Lạp là đội già dặn hơn nhiều, tuổi trung bình 27.17.


Có lẽ huấn luyện viên Smuda sẽ xếp đội hình 4-2-3-1, nhưng chắc rằng ông sẽ để đội của mình chơi với chiến thuật phản công nhanh, trông cậy vào sáng tạo đột phá của một vài cá nhân hơn là một đội hình chặt chẽ. Hy vọng chính của ông để có bàn thắng là do sự phối hợp của cặp tiền đạo (9) Robert Lewandowski và tiền vệ (16) Jakuib Blaszczykowski, hai cầu thủ chơi cho câu lạc bộ Ðức Borussia Dortmund. Chỗ yếu của Ba Lan là ở hàng phòng thủ, tuy nhiên thủ môn (1) Wojciech Szczesny chơi cho câu lạc bộ Anh Arsenal là ngôi sao sáng nhất của đội tuyển này.


Hy Lạp tin tưởng họ đã từng một lần đoạt cúp Euro năm 2004, tuy rằng trước và sau kỳ công ấy đội tuyển này chẳng có thành tích quốc tế nào khác.


Lối chơi của Hy Lạp thiên về phòng thủ vững, thể hiện ở vòng đấu loại khu vực, Hy Lạp không thua một trận nào và chỉ để lọt lưới 5 bàn. Hy Lạp khó có thể tái tạo thành tích Euro 2004 nhất là đội này kém về khả năng ghi bàn. Một thành tích khác của Hy Lạp năm 2004 là đã thắng trên sân của đội chủ nhà Bồ Ðào Nha, và vì thế hy vọng thắng Ba Lan ngay trong trận mở màn để con đường đi đến tứ kết sẽ gần hơn. Ngược lại nếu chỉ hòa hay thua, triển vọng của Hy Lạp sẽ giảm sút nhiều với hai trận khó khăn sau đó khi gặp Nga và Czech.


Ðội tuyển Hy Lạp, tính về tuổi trung bình, tương đối già, nhưng có lẽ huấn luyện viên người Bồ Ðào Nha Fernando Santos trông cậy vào kinh nghiệm của các cầu thủ. Sự chọn lựa tiền đạo (9) Nikos Liberopoulos, 36 tuổi, chứng tỏ quan niệm ấy. Thủ môn (1) Kostas Chalkias 38 tuổi là cầu thủ lớn tuổi nhất ở Euro 2012, nhưng có thể chưa nằm trong số ra sân từ phút đầu. Tiền đạo (7) Georgios Samaras là hy vọng ghi bàn của đội. Tiền vệ trung (10) Giorgos Karagounis và hậu vệ (5) Kyriakos Papadopoulos giữ vai trò chính cho thế trận phòng vệ. Bằng chiến thuật an toàn nặng về phòng thủ vững, huấn luyện viên Santos có lẽ sẽ xếp đội hình 4-3-2-1.


Với những hoàn cảnh nói trên, dự đoán Ba Lan có thể thắng hay thủ hòa Hy Lạp với tỷ số 2-1 hay 1-1.


 


Trận Nga-Czech


 


Nga được coi là đội mạnh nhất trong Bảng A nhưng từ trước đến nay đội này thường chơi thất thường, trong khi đó Czech chưa chứng tỏ được là một đội mạnh ở Trung Âu như thời kỳ còn Liên Bang Tiệp Khắc.


Nga chắc chắn sẽ đặt mục tiêu tối thiểu là đi đến bán kết như điều họ đã thực hiện được ở Euro 2004. Thật ra ba trận ở Bảng A không có trận nào được coi là dễ dàng hay khó khăn đối với Nga nhưng để tạo được động năng này, huấn luyện viên Hòa Lan Dick Advocaat sẽ tính toán cho đội của ông thắng ngay từ trận đầu. Ở vòng loại khu vực, Nga đứng đầu nhóm và chỉ thua một trận.


Sự thận trọng của Advocaat ở chỗ ông lựa chọn vào đội tuyển những cầu thủ đã có nhiều kinh nghiệm và vì vậy tuổi trung bình của đội Nga là cao nhất ngang với đội Ireland. Người trẻ nhất (17) Alan Zagoev, 23 tuổi, giữ vị trí tiền vệ hữu và phối hợp với tiền đạo (10) Andrei Arshavin, trung tâm của đội tuyển Nga trong các pha tấn công. Tuy nhiên với chấn thương có thể chưa hoàn toàn bình phục, Zagoev có lẽ chưa ra sân ngay trong trận đầu.


Then chốt trong tuyến phòng thủ ở hai hậu vệ (4) Sergei Ignashevich và (12) Alexey Berezutsky. Thủ môn (1) Igor Akinfeev đã giữ khung thành cho đội tuyển Nga từ năm 2004.


Huấn luyện viên Advocaat thường dùng đội hình 4-3-3 quen thuộc của Hòa Lan với tiền vệ trung (23) Igor Semshov có vai trò tăng cường cho tuyến phòng thủ.


Czech là đội tuyển qua vòng đấu loại khu vực chật vật mới đi đến vòng chung kết Euro 2012 nhưng họ có nhiều may mắn cũng như khi rút thăm chia bảng không lọt vào một bảng quá khó khăn.


Trận khó khăn nhất của Czech là trận đầu tiên gặp Nga và nếu thắng hay thủ hòa, đội này sẽ có triển vọng cao để đi tới vòng tứ kết, mục tiêu tối thiểu đối với họ.


Nhiều cầu thủ Czech đang đá cho các câu lạc bộ Tây Âu cũng như Ðông Âu và đó là một lợi thế về kinh nghiệm giao đấu quốc tế so với Nga. Huấn luyện viên Michal Bilek từng đá trong đội tuyển Tiệp Khắc ở Wold Cup Ý 1990 và cũng đã là huấn luyện viên cho đội U-19 tin tưởng nơi kinh nghiệm của cầu thủ nên ông chỉ chọn một số ít cầu thủ trẻ. Ðội Czech tuổi trung bình 27.26 ở trong số 10 đội Euro 2012 có tuổi trung bình trên 27.


Ngôi sao của đội tuyển Czech là tiền vệ (10) Tomas Rosicky, đã chơi cho nhiều câu lạc bộ Tây Âu trong đó có Arsenal ở Anh, được huấn luyện viên kỳ cựu Arsene Wenger đánh giá là có tầm nhìn và phản ứng nhạy bén đặc biệt. Sau một thời gian dài từ 2008 phải nghỉ vì chấn thương, Rosicky đã trở lại sân bóng, lấy lại phong độ và hiện nay vẫn giữ vai trò then chốt trong thế trận của đội Czech.


Huấn luyện viên Bilek thường dùng đội hình 4-2-3-1, đội hình dung hòa giữa tấn công nhanh và phòng thủ, quen thuộc của các đội Tây Ban Nha, Ðức, Pháp, Ba Lan. Tiền đạo (15) Milan Baros là mũi tấn công hiệu quả và thủ môn 30 tuổi nhiều kinh nghiệm (1) Petr Cech đang chơi cho câu lạc bộ Chelsea, đem lại niềm tin tưởng cho đội tuyển Czech.


Nếu mọi diễn tiến như dự đoán, Nga có thể thắng Czech với tỷ số 3-1 hoặc 3-2.

Congo: 200 lính nổi loạn bị giết

 


 


KINSHASA, Congo (AP) – Một phát ngôn viên chính phủ Congo hôm Thứ Tư cho hay quân đội đã hạ sát khoảng 200 lính tham dự cuộc nổi loạn ở phía Ðông quốc gia này.


Phát ngôn viên Lambert Mende nói rằng trong nỗ lực dẹp loạn, quân đội chính phủ tịch thu được nhiều kho chứa võ khí của lực lượng do tướng khởi loạn Bosco Ntaganda chỉ huy.


Tòa Tội Phạm Quốc Tế (ICC) đã tìm cách bắt giam Ntaganda từ mấy năm nay về tội ác chiến tranh và hiện chưa rõ ông ta đang ở đâu.


Ntaganda từng là một sứ quân với lực lượng võ trang hùng hậu nhưng sau đó tham gia vào hàng ngũ quân chính phủ năm 2009 tiếp theo việc ký kết một thỏa ước hòa bình, mở đường cho ông ta và các binh sĩ dưới quyền được sát nhập vào quân đội chính phủ Congo.


Hồi Tháng Tư vừa qua, Tướng Ntaganda và một số binh sĩ tuyên bố bỏ ngũ. Tuy nhiên, một nhóm nổi dậy hoạt động trong vùng nói rằng Ntaganda không thuộc vào nhóm của họ. (V.Giang)

Xe bom nổ sớm, 5 al-Qaeda Yemen thiệt mạng


SANA’A (AFP) –
Năm phiến quân al-Qaeda thiệt mạng ở vùng Nam Yemen hôm Thứ Ba sau khi chiếc xe bom của họ phát nổ sớm hơn dự định, theo một giới chức địa phương.


“Vụ nổ xảy ra ở Shaqra, thuộc tỉnh Abyan, và làm thiệt mạng năm phiến quân,” theo giới chức này.


Lực lượng chính phủ Yemen mở cuộc phản công toàn diện hôm 12 Tháng Năm để chiếm lại thủ phủ Zinjibar và các thành phố cũng như thị trấn khác từng lọt vào tay al-Qaeda trong năm qua.


Thành phần al-Qaeda thường sử dụng xe bom để tấn công quân đội chính phủ cũng như thành phần dân quân hậu thuẫn chính quyền Sana’a.


Hôm Thứ Hai, một tay nổ bom tự sát đã kích hỏa chiếc xe bom ở một trạm kiểm soát trong tỉnh Abyan, làm thiệt mạng bốn dân quân thân chính quyền. (V.Giang)

Tài xế taxi New York “bắt cóc” khách, 6 tháng tù

 


NEW YORK (AP) – Một tài xế xe tắc xi ở thành phố New York bị truy tố trong vụ giành khách bất hợp pháp tại phi trường Kennedy Airport vừa bị tuyên án sáu tháng tù.



Một quan tòa đã ra phán quyết này sau khi tài xế Bhupinder Singh nhận tội giam giữ người bất hợp pháp hồi tháng qua.


Biện lý quận Quens, ông Richard Brown, nói rằng hai cảnh sát viên khi đang đi tuần nhìn thấy một gia đình gồm bốn người từ Panama bước vào trong một chiếc xe tắc xi đón khách bất hợp pháp ở phi trường hồi Tháng Hai vừa qua.


Họ nhận ra tài xế là người chuyên lừa gạt người ở xa tới thành phố này bằng cách đòi giá thật cao cho mỗi chuyến từ phi trường Kennedy vào khu Manhattan, vốn chỉ vào khoảng $45.


Các cảnh sát viên cho hay khi họ tìm cách thông báo với hành khách về việc này thì người tài xế khóa cửa xe rồi phóng chạy nhưng sau đó gây tai nạn khiến hai người trên xe bị trầy sướt.


Ông Singh bị tuyên án hôm Thứ Hai tuần này. (V.Giang)

Tương tác giữa thi ca và hội họa nơi tài năng Lê Thánh Thư




Du Tử Lê


 


Nhà xuất bản Giấy Vụn, Saigon, trong những ngày qua, đã ấn hành thi phẩm “viết trong bóng tối. Amen” của nhà thơ và, cũng là họa sĩ nổi tiếng Lê Thánh Thư.


Có thể nhiều người quên rằng trước khi trở thành họa sĩ nổi tiếng, có tranh được trưng bày tại nhiều bảo tàng viện quốc tế, họ Lê vốn là một nhà thơ. Chính thi ca là một bệ phóng cao vời huy hoắc, để tác giả “viết trong bóng tối. Amen” (vtbt.A) ném mình vào thế giới hình tượng và, màu sắc.


Từ nền tảng thi ca giàu có của mình, họ Lê đã có được cho tranh của ông những dung lượng thơ mộng, lãng mạn và, luôn cả độ trầm sâu của những game màu, đưa ông tới được những quảng trường hội họa thế giới.


Trong cảm nhận của tôi, sự tương tác giữa thi ca và hội họa nơi tài năng Lê Thánh Thư, là một tương tác hữu cơ máu, thịt. Như sự tương tác bất khả phân giữa nắng, gió đất trời, giữa tài năng và những xúc chạm siêu hình, hư ảo.


Cũng nhờ tương tác có tính máu, thịt kể trên mà, tài hoa Lê Thánh Thư, mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn, như một thân mộc lớn, xuôi thuận thời gian, trổ thêm nhiều cành, nhánh sáng tạo sum suê hoa, trái…


Ngay nhan đề “viết trong bóng tối. Amen” của họ Lê, tôi cho rằng, nó cũng đã là một thực chứng cho những tựu thành, những kết tủa đẹp đẽ, ý nghĩa nằm trong nỗ lực không ngừng đi tới, của tác giả này.


Viết hay vẽ trong “bóng tối” là gì? Nếu không phải là một chỉ rõ, một xác nhận những dòng thơ (hay những sắc màu, đường nét, hình tượng) vốn đi ra từ vô thức hoặc tiềm thức? Tâm lý học nhập môn từng giải thích đại để sinh hoạt ý thức của con người có hai phần. Phần hiện ra rõ trên mặt nước của một dòng sông, là phần ý thức. Phần chìm khuất dưới mặt nước là vô thức hoặc tiềm thức. Nói cách khác, tiềm thức là một thứ “tàng kinh các,” một kho chứa những cảm nghiệm, những thành/bại, buồn/vui, khổ đau hay hoan lạc của con người.


Là người có đôi chút kinh nghiệm trong lãnh vực chữ, nghĩa, tôi thấy có dễ cũng nên đề cập tới sự hiện ra bất ngờ của những con chữ nơi trang viết. Bất ngờ hiểu theo nghĩa không một chút dự báo, những con chữ ở cõi thinh không nào đó, thình lình hiện ra, rớt xuống và, ở lại trong một câu, một khổ thơ. Chúng nằm ngoài chủ tâm kiếm tìm, kiến tạo của tác giả.


Ðó là những con chữ vẫn theo tôi, như được một bàn tay bí nhiệm nào, cầm lấy những ngón tay thi sĩ, để sai khiển thi sĩ viết xuống. Dù cường điệu tới đâu, trước những con chữ bất ngờ, “đắc địa,” mang ánh sáng chói lòa về cho nguyên cả một khổ hay một bài thơ, tôi nghĩ, tác giả cũng không thể xác quyết rằng ông ta đã có ý thức, chủ tâm từ trước rằng, tới câu thơ kia, con chữ đó sẽ xuất hiện ở vị trí ấy!!!


Ở một cấp độ khác, thi ca còn mang lại cho tác giả, cho người đọc những con chữ tuy không mang tính tương thông huyền bí giữa thinh không và con người; nhưng nếu nó có được tính dữ dội thì, những con chữ đó, cũng có khả năng nâng cấp bài thơ. Chúng cũng chứng tỏ được phần nào, mức độ tài hoa của tác giả.


Sự có mặt của những con chữ như thế, (cũng như sự có mặt của một tảng mầu, một đường nét, một hình tượng trong một họa phẩm,) thường tạo những cơn địa chân nhỏ về phương diện mỹ học hoặc tu từ học.


Khả năng gây mê người đọc (người xem tranh) của loại con chữ vừa kể, theo tôi là một tương tác mang tính siêu hình. Tôi nghĩ, khó ai có thể lý giải một cách tường tận, rốt ráo. Cũng như người ta không thể thuật lại một cách minh bạch sự tương quan giữa thần linh và những trang thơ, bức tranh, bản nhạc… của nhiều tác giả nổi danh trong lãnh văn học và nghệ thuật.


Thay vì theo thứ tự, đi từ bài thơ đầu tiên của thi phẩm “vtbt.A,” tôi mở đọc bài cuối. Bài thơ nhan đề “Mọi ngày, ghi…” của Lê Thánh Thư:


“Ngày cả gió


em về


nụ cười phủ bóng đèn


đỏ cái nhìn trai tân


phồn hoa


bần thần


kẻ mộng


ngậm bùa ăn ngải


đêm mê


giấc đàn bà…”


(vtbt.A. trang 128.)


Tôi hiểu, hai chữ “bóng đèn” dẫn tác giả tới tĩnh từ “đỏ” (màu sắc hay cường độ dòng điện.) Tĩnh từ “đỏ” lại gọi, mời tác giả đi qua phần thị lực là “cái nhìn”. Nhưng hai chữ “trai tân,” định danh cho một người thanh niên còn ngây thơ, trong trắng trong vấn đề nữ giới, thì tôi không nghĩ nó đã được chuẩn bị từ trước. Tôi cho nó có mặt tình cờ. Nó bật ra, ở lại cuối câu thơ, như một thú nhận vội-vàng-hân-hoan của một cảm xúc đột biến. Nó nâng, đẩy cả khổ thơ vào không gian bất ngờ, mới mẻ.


Cũng thế, ở bài thơ thứ ba (vẫn tính từ cuối sách, tính ngược lên,) nhan đề “Blue trên cánh đồng”:


“Người đàn ông trở về đứng trên thành cầu


nghe tiếng tù và tan trên cánh đồng nắng hạn


đôi mắt màu tro


ứa ra những hồi niệm nhiều năm mê sảng.


 


Tiếng tù và loang kín mặt sông con


người đàn ông ném đốm lửa chưa tàn


cánh đồng rạn vỡ chân chim


nơi này


cỏ không thể xanh.


 


Nơi đây người thức bên kia sông


bao dáng hình củi mục tưởng trọn đời không thể sống


vẫn hom hem nụ cười góa bụa


vẫn hồn quê thanh khiết sáng cả sân nhà


vẫn thân cò lặn lội qua sông


bàn chân cắm xuống mặt đất nhếch nhác mùa màng


người mắt màu tro


lặng lẽ


tẩm mình trong nhang khói.”


(vtbt.A. trang 125).


Ðó là ba khổ thơ đầu của bài “Blue trên cánh đồng”. Cả ba khổ thơ đều mang tính mô tả cảm nhận, hành động của người đàn ông có “đôi mắt màu tro,” “đứng hát trên cầu,” “nghe tiếng tù và” – Cùng những con đường mà, tiếng tù và vẽ ra, dẫn người đàn ông tới những cảnh vật (thiên nhiên), tới những phần số bấp bênh, bèo bọt (con người)…


Ðó là những bức tranh mà, chúng ta có thể đặt kề bên nhau, thành những “bộ tam,” “bộ tứ” có cùng một tông màu xám, hợp.


Qua gần 20 chục câu thơ, cá nhân tôi, không cảm nhận được một con chữ nào mang tính bất ngờ hiện ra, rớt xuống dọc trên lộ trình vận hành chữ nghĩa của bài thơ. Phải đợi tới khổ thơ thứ tư, khổ thơ chót:


“Tiếng tù và cày xới hoàng hôn


trên cánh đồng tràn ngập mộ chí


đâu đây vẳng tiếng kêu


phải tiếng linh hồn gọi nhau từ làng dưới ngược lên


níu ngày chậm lại


chậm lại tàn hương.”


(vtbt.A. trang 126.)


Khi họ Lê dùng động từ “cày xới,” tuy là một dạng của kỹ thuật nhân cách hóa và, độ nóng của hai chữ “cày xới” chưa tới mức như hai hòn than hồng, có thể làm “phỏng” mắt người đọc – Nhưng, với tôi, tự thân, nó cũng đã có được cho nó, tính dữ dội của con chữ! Khi đi theo ngay sau nó là hai chữ “hoàng hôn”.


Du Tử Lê


(Còn tiếp một kỳ)

Chữ “non nước” trong thơ Tản Ðà

 


 


Viên Linh


 


Các nhà văn nhà thơ thường vô tình hay nhắc đi nhắc lại một số từ ngữ mà họ đã dùng, hay rất vô tình dùng một vài chữ sẽ được gắn liền với họ, không còn gột bỏ được, dù đời không có ác ý. Mai Thảo bị gắn liền với hai chữ “vỡ òa”. Nắng vỡ òa. Thanh Tâm Tuyền được nhắc nhở với mấy chữ “đạn nổ nhịp ba không chết”.










Tản Ðà, hình vẽ vào ngày giỗ thứ 31, tháng 6 năm 1970, Sài Gòn. (Hình: Tài liệu Viên Linh)


Tại Miền Nam có thi sĩ được gọi là thi sĩ “rong rêu,” vì chữ này hiện lên liên tục trong nhiều bài thơ của ông. Có thi sĩ “liên tồn,” ai cũng biết là nhà thơ không vợ Bùi Giáng. Ngược đường xuân thu, Nguyễn Du hay dùng chữ số phận, “phận sao phận bạc như vôi,” Cao Bá Quát văng tục vào mặt lịch sử “Ðù ảo trần gian,” Nguyễn Khuyến quanh quẩn với “ao thu,” “gió thu;” và tháng 6 này, ngày 7 năm 1939, nhà thơ Tản Ðà Nguyễn Khắc Hiếu ra đi, chúng ta hãy nhớ lại xem những chữ ông hay dùng.


Các thi sĩ làm thơ, mỗi người có một thi ngữ riêng, dù người thi sĩ đó không tuyên bố thi ngữ của họ như thế nào. Thi ngữ của một thi sĩ ví như bửu bối của một hiệp khách, có người rành về trường kiếm, có kẻ giỏi về đoản đao, hay nói một cách khác, về hình thái chẳng hạn, có người xuất sắc về lục bát, có kẻ thiện nghệ về thất ngôn. Làm một ngàn bài thơ có khi không phải là thi sĩ giỏi, nếu thơ như máy nước, vặn xuôi thì nước chảy ào ào, vặn ngược thì nước đóng lại ngay, không nhỏ một giọt, tựa như vòi phông-tên được tiện khéo mà thôi. Sau này vòi nước không phải là vặn xuôi hay vặn ngược nữa, mà nhấc lên, ấn xuống, thì có nước nóng, nước lạnh, vặn trái hay phải thì đóng hay mở, đó chỉ là vòi nước tân hình thức, hậu hiện đại, công dụng vẫn là có nước hay không, khiến người ta dơ hay sạch dễ hay khó mà thôi. Trở về với Tản Ðà, thi hào của Văn chương Việt Nam thế kỷ hai mươi, ông hay dùng hai chữ, ngoài thơ và rượu, là chữ ‘non nước’.


Ðây là bài thơ Tản Ðà thích nhất:


 


Non xanh xanh


Nước xanh xanh


Nước non như vẽ bức tranh tình


Non nước tan tành


Giọt lụy chàn [tràn] năm canh!


 


Ðêm năm canh


Lụy năm canh


Nỗi niềm non nước


Ðố ai quên cho đành?


 


Quên sao đành?


Nhớ sao đành?


Trần hoàn xa cách


Bồng lai non nước xanh xanh!


 


Bài này chính thi sĩ ngâm lên sau câu hỏi của nhà biên khảo Trương Tửu Nguyễn Bách Khoa: “Một lần nói chuyện với tiên sinh [Tản Ðà], tôi có hỏi: ‘Thưa cụ, trong các bài thơ cụ đã làm, cụ có thể cho biết cụ thích bài nào nhất?’ Không suy nghĩ, thi sĩ trả lời ngay: ‘Tôi thích nhất bài ca làm trong tập Giấc Mộng Con thứ hai đề Tây Thi hát.’” Rồi tiên sinh ngâm, sảng khoái. (1) [1. Trương Tửu, Uống rượu với Tản Ðà, Ðại Ðồng Thư Xã, Hà Nội, 1939, trang 25.] Tản Ðà mất ngày 7 tháng 6 năm 1939, mà bài viết của Trương Tửu ghi ở dưới “Viết trong tháng Janvier 1939,” nghĩa là viết trước đó 5 tháng. Nhà thơ tên thật là Nguyễn Khắc Hiếu, sinh ngày 19 tháng 5 năm 1889, hưởng dương 50 tuổi.


Trong quãng đời ngắn ngủi ấy, trải qua những ngày tháng phong trần, vào Nam ra Bắc chỉ để làm báo, thơ ông lồng lộng nắng gió, mênh mông núi sông, ngào ngạt mùi vị rau ngải rau tần, và những lúc lắng đọng, người ta nghe ông ngâm thơ về non nước:


 


Dưới bóng trăng tròn, tán lá xanh,


Nhớ chăng? Chăng nhớ? Hỡi cô mình?


Trăm năm ghi nguyện cùng non nước


Nước biếc non xanh một chữ tình!


(Tản Ðà, Lưu tình)


 


Kìa bức dư đồ thử đứng coi


Sông sông núi núi khéo bia cười.


(Vịnh bức dư đồ rách)


 


Mơ màng đâu đó bao dân chúng


Tô điểm nào ai với núi sông!


(Ðêm Tối)


 


Lo nước, thương đời đêm chẳng ngủ


(Tháng ba không mưa)


 


Còn non, còn nước, còn trăng gió


Còn có thơ ca bán phố phường


(Ðề Khối Tình Con thứ nhất)


 


Bôn mặt non sông một mái chèo


(Sông cái, chiếc thuyền nan – đề báo An Nam Tạp Chí số 1)


 


Mặt nước khói tan chìm vía cá


Ðầu non sương phủ dạn thân tùng


(Hủ nho lo mùa đông)


 


Ai rằng Nam Bắc cách đôi nơi


Cũng một non sông một giống nòi


(Thơ tặng Phụ Nữ Tân Văn xuất bản ở Sài gòn)


 


Mặt nước sông Ðà tim róc rách


Ngàn mây non Tản mắt lơ mơ


(Ngày Xuân thơ rượu)


 


Và bài thơ nổi tiếng nhất của Tản Ðà trong nhiều sách Giáo Khoa, là bài


 


Thề non nước


 


Nước non nặng một nhời thề


Nước đi đi mãi không về cùng non


Nhớ nhời “nguyện nước thề non”


Nước đi chưa lại, non còn đứng không


Non cao những ngóng cùng trông


Suối khô dòng lệ chờ mong tháng ngày


 


Trích dẫn từng ấy cũng đủ để thấy rằng lòng Tản Ðà ở với nước non, thơ Tản Ðà sống cùng non nước. Làm thi sĩ như ông, thi ngữ quê hương tự tại bẩm sinh trong dòng máu, thơ ông tự bản chất là thơ của thi bá thi hào dân tộc thế kỷ XX, và mãi mãi. (VL, 6 tháng 6.2012, ngày giỗ thứ 73 của người Núi Tản Sông Ðà.)

Rải truyền đơn chống chế độ, một người bị 5 năm tù

 


PHAN RANG (NV) –Một người bị kết án 5 năm tù và 3 năm quản chế trong một phiên tòa ở thành phố Phan Rang, tỉnh Ninh Thuận vào hôm 6 tháng 6, 2012 vì bị vu cho tội “tuyên truyền chống nhà nước”.









Truyền đơn chống độc tài đảng trị của đảng CSVN dán tại một gốc cây Hà Nội do nhóm “Tuổi Trẻ Yêu Nước” phổ biến ngày Thứ Sáu 10 tháng 2, 2012. (Hình minh họa từ web Hẹn Nhau Sài Gòn 2015)


Thông Tấn Xã Việt Nam (TTXVN) nói rằng, ông Phan Ngọc Tuấn, 53 tuổi, đã bị kết tội trong một phiên tòa ngắn ngủi mà “do bị cáo Tuấn không chịu trả lời, khai nhận hành vi phạm tội của mình nên chủ tọa phiên tòa quyết định không xét hỏi, chuyển qua công bố bản tự khai của bị cáo khi bị cáo bị cơ quan điều tra bắt giữ”. Rồi sau đó đưa ra bản án nặng hơn dù viện kiểm sát (công tố) chỉ đề nghị từ 3 năm tới 3 năm rưỡi tù.


Ông Tuấn bị vu cho là đã “rải truyền đơn bôi nhọ, chống phá chế độ Việt Nam”.


TTXVN nói ông đã đưa các tài liệu, đơn tố cáo chế độ tới thành phố Nha Trang (Khánh Hòa) để photocoppy. Sau đó, “đưa rải truyền đơn khắp địa bàn thành phố Phan Rang-Tháp Chàm (Ninh Thuận), thành phố Sài Gòn và một số nơi ở thành phố Hà Nội ‘với nội dung bôi nhọ, phỉ báng cho rằng chính quyền Việt Nam đàn áp tôn giáo, cô lập con em chế độ cũ.’”


Ông cũng bị cáo buộc là nhận tiền từ một số tổ chức và cá nhân người Việt ở nước ngoài cho công tác đánh phá chế độ.


Ông Tuấn bị bắt ngày 10 tháng 8, 2011. Những tài liệu mà công an thu được, theo TTXVN, là “Các đơn tố cáo, băng rôn, khẩu hiệu, phim ảnh, thơ ca, hò vè chống đối nhà nước Việt Nam được bị cáo Tuấn phát tán, gửi về các cơ quan công quyền trong nước, các cơ quan đại sứ, lãnh sự quán trong và ngoài nước, kể cả cơ quan nhân quyền của Liên Hiệp Quốc nhằm bôi nhọ, chống phá chế độ nhà nước Việt Nam.”


Tháng trước, ngày 4 tháng 5 năm 2012, ông Nguyễn Ngọc Cường, 56 tuổi đã bị kết y án sơ thẩm 7 năm tù ở tỉnh Ðồng Nai cũng về tội rải truyền đơn chống phá chế độ. Con trai ông Cường bị kết án 1 năm rưỡi tù và con dâu bị 1 năm rưỡi tù treo.


Chế độ Hà Nội dùng điều 88 của luật hình sự “tuyên truyền chống nhà nước” để bỏ tù các người bất đồng chính kiến, hoặc kêu gọi nhân quyền, tự do tôn giáo.


Một cộng sự viên của Linh Mục Nguyễn Văn Lý và 4 sinh viên Công Giáo ở Giáo phận Vinh cũng đã bị kết án tù trong tháng 5 vừa qua cũng theo điều 88 vừa kể.









Truyền đơn chống bầu cử Quốc Hội CSVN 22 tháng 5, 2011 dán tại một địa điểm trong thành phố Nha Trang hồi năm ngoái. (Hình minh họa: Internet)


Cùng một ngày chế độ Hà Nội kết án tù 4 sinh viên Công Giáo tại Nghệ An, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ công bố bản phúc trình thường niên về nhân quyền thế giới. Trong đó, tình hình nhân quyền tại Việt Nam được mô tả là khá tồi tệ, từ đàn áp các người sử dụng Internet để phát biểu chính kiến đến các người sắc tộc thiểu số muốn tự do tôn giáo.


Hoa Kỳ, Liên Âu thường xuyên thúc hối Hà Nội trả tự do cho tất cả các người vận động dân chủ, nhân quyền tại Việt Nam nhưng không có bao nhiêu tác dụng.


Ngày 4 tháng 6 năm 2012, tin tức cho hay bộ trưởng quốc phòng và thủ tướng CSVN đã yêu cầu Mỹ bỏ cấm vận bán võ khí sát thương nhưng Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ Leon Panetta cho hay nó còn tùy thuộc vào sự cải thiện nhân quyền và các điều kiện tiến bộ khác. (T.N.)

Hoa Kỳ và Cam Ranh

 


Trần Bình Nam


 


Ông Leon Panetta, bộ trưởng quốc phòng Hoa Kỳ sau khi tham dự Hội nghị Shangri-La tại Singapore với 27 bộ trưởng quốc phòng trên thế giới (1) hôm Chủ Nhật 3 tháng 6, 2012 đã đến viếng căn cứ Cam Ranh mở đầu chuyến công du Việt Nam 3 ngày.



 Ðây là chuyến thăm viếng căn cứ Cam Ranh đầu tiên của một bộ trưởng quốc phòng Hoa Kỳ kể từ khi Hoa Kỳ rút quân ra khỏi căn cứ sau Hiệp Ðịnh Paris 1973.


Công bố chính thức của cuộc công du Việt Nam là để thúc đẩy việc tìm kiếm tung tích của 1,200 binh sĩ Mỹ đã chết trong cuộc chiến Việt Nam nhưng chưa tìm được hài cốt. Và đồng thời thăm chiến hạm Richard E. Byrd, một chiến hạm chuyên chở binh sĩ của Hải quân Hoa Kỳ đang neo để sửa chữa tại Cam Ranh. Chuyên viên sửa tàu của Việt Nam đã được gởi đến giúp chuyên viên Hoa Kỳ trong việc sửa chữa.


Dù được công bố mục đích của chuyến thăm viếng là gì, và các lời tuyên bố rào trược đón sau của Hà Nội cũng như của Hoa Kỳ để làm yên lòng Trung Quốc, sự hiện diện của ông Bộ Trưởng Panetta là một thông điệp không thể nhầm lẫn của Hoa Kỳ đối với Trung Quốc.


Tại Hội nghị Shangri-La ở Singapore ông Panetta đã cảnh giác Trung Quốc rằng nếu Hoa Kỳ đưa sức mạnh quân sự trở lại Tây Thái Bình Dương Hoa Kỳ không có mục đích đe dọa quyền lợi của Trung Quốc. Và ông Panetta thuyết phục Trung Quốc rằng nói chuyện với nhau tốt hơn là cãi vã nhau.


Tại Singapore, ông Panetta không nói gì đến việc ông sắp thăm viếng Cam Ranh, và chỉ nói rằng Trung Quốc đừng ngạc nhiên nếu trong tương lai Hoa Kỳ đưa thêm nhân sự và tàu chiến vào vùng Á Châu Thái Bình Dương. Ông cũng không ngần ngại tiết lộ rằng vào năm 2020, 60% trong số 285 tàu chiến của Hoa Kỳ sẽ hiện diện tại vùng Á Châu Thái Bình Dương và ông cũng cho biết 6 trong số 11 mẫu hạm của Hoa Kỳ cũng sẽ thường trực tại Á Châu. Ông Panetta nói kế hoạch bố trí dài hạn 8 năm trước mắt của Hải quân Hoa Kỳ đã được dự liệu dù ngân sách quốc phòng được cắt giảm.


Căn cứ Cam Ranh là một quân cảng quan trọng, và có thể nói ai quản lý Cam Ranh là người kiểm soát biển Ðông và con đường thông thương huyết mạch từ Ấn Ðộ Dương lên phía Bắc Thái Bình Dương.


Năm 1964 Hải quân Hoa Kỳ bắt đầu nghiên cứu địa hình cảng Cam Ranh chuẩn bị mở rộng cuộc chiến bảo vệ miền Nam Việt Nam ra miền Bắc. Và đầu năm 1965 sau khi Hải quân Hoa Kỳ và Hải quân Việt Nam Cộng Hòa phát hiện và đánh đắm một chiếc tàu trọng tải 100 tấn của Bắc Việt chở vũ khí tiếp tế cho bộ đội cộng sản ở miền Nam tại Vũng Rô (trong vùng Ðèo Cả thuộc tỉnh Phú Yên) Hoa Kỳ quyết định xây dựng Cam Ranh thành một căn cứ Hải Không quân.


Từ năm 1965 đến năm 1973 Cam Ranh là một cứ điểm quan trọng của Hoa Kỳ. Quân đội và tiếp liệu cho toàn cuộc chiến đều ra vào qua cảng Cam Ranh. Sau Hiệp Ðịnh Paris 1973 Hoa Kỳ rút các lực lượng ra khỏi Cam Ranh, và giao lại cho quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Việt Nam Cộng Hòa không có phương tiện duy trì Cam Ranh như một căn cứ và chỉ sử dụng phi trường Cam Ranh một cách giới hạn.


Vào đầu tháng 4, 1975 cảng Cam Ranh còn được sử dụng để tiếp người tị nạn từ miền Trung. Ngày 3 tháng 4, 1975 Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa rút khỏi Cam Ranh.


Sau khi chiếm miền Nam, Hải quân Bắc Việt một phần không có nhu cầu, một phần không có khả năng nên căn cứ Cam Ranh bỏ trống. Năm 1979, sau cuộc chiến biên giới với Trung Quốc, Việt Nam cho Nga thuê Cam Ranh trong 25 năm. Mục đích chính yếu là dùng sự hiện diện của Nga ngăn ngừa một cuộc xâm lăng Việt Nam của Trung Quốc. Nga đã biến cải Cam Ranh thành một căn cứ hải quân lớn ngoài lãnh thổ Nga. Nga cho xây thêm tại Cam Ranh 5 cầu tàu, 2 bãi đưa tàu lên cạn để bảo trì và sửa chữa, xây thêm cơ sở cho tàu ngầm ẩn núp, kho chứa dầu, nhà máy điện, doanh trại và kéo dài phi đạo. Năm 1991 Liên Bang Xô Viết sụp đổ, quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc thay đổi. Giữa năm 2002, Nga rút khỏi Cam Ranh. Sau khi Nga rút đi, Trung Quốc ve vãn Hà Nội để thuê cảng Cam Ranh, nhưng Hà Nội vẫn còn đủ tỉnh táo để không “bán” Cam Ranh cho Trung Quốc dù căn cứ được bỏ trống.


Những năm gần đây Hà Nội cho chuyển phi trường dân sự Nha Trang vào Cam Ranh dùng cho các chuyến bay nội địa. Người ta đoán Hà Nội có ý dân sự hóa hải cảng Cam Ranh, và sau đó quốc tế hóa Cam Ranh để giải tỏa áp lực đòi thuê bao sử dụng của Trung Quốc.


Quyết định đó của Hà Nội là một quyết định có tính chiến lược đúng đắn chừng nào Trung Quốc còn biết tự chế trong việc đòi quyền làm chủ biển Ðông và giành quyền kiểm soát con đường biển quan trọng của thế giới.


Thời gian cho thấy Trung Quốc dường như đặt mục tiêu “trở thành siêu cường” là một nhiệm vụ lịch sử và bước đầu là bung ra biển Ðông, biến biển Ðông thành cái “hồ nhà” của mình để dọn đường đi bốn biển năm châu. Trung Quốc biết rằng sức mạnh của Hoa Kỳ đang đi xuống nhưng còn mạnh hơn mình nhiều và Trung Quốc sẽ chờ đợi: 10 năm, 15 năm, trước khi đọ sức với Hoa Kỳ.


Nhưng với các nước nhỏ trong vùng Trung Quốc không cần chờ đợi. Trung Quốc dùng chính sách o ép bằng kinh tế và chính trị. Riêng với Việt Nam ngoài áp lực kinh tế Trung Quốc còn dùng nợ nần và ơn nghĩa cũ để làm áp lực. Ðối với Trung Quốc, Việt Nam là quốc gia có tiềm năng nhất nên nếu trị được Việt Nam, các nước khác trong khối Asean sẽ phải cúi đầu thuần phục. Cho nên trong những năm qua Trung Quốc đã triển khai một chính sách “lấn ép” Việt Nam trên biển Ðông. Và năm 2011 là năm Trung Quốc làm những hành động bắt nạt Việt Nam lộ liễu nhất.


Giữa năm 2011 chính quyền đảo Hải Nam công bố lệnh ngưng đánh cá trong biển Ðông và gởi hằng trăm tàu hải giám để chặn bắt ngư dân Việt Nam. Ngày 1 tháng 6 Trung Quốc dọa bắn một ngư thuyền Việt Nam gần Trường Sa và ngày 5 tháng 7 nhân viên Hải giám Trung Quốc đánh đập một chủ thuyền khác trước khi dùng vũ lực đuổi ra khỏi vùng biển “cấm” tại Hoàng Sa.


Trung Quốc cũng còn tìm cách ngăn cản việc khai thác dầu khí của Việt Nam trong vùng Ðặc quyền Kinh tế (Exclusive Economic Zone – EEZ). Ngày 26 tháng 5 Trung Quốc cho 3 tàu Hải giám đến lén cắt dây cáp dò tìm dầu khí của tàu Bình Minh 2 của Cục Dầu khí PetroVietnam. Ðây là lần đầu tiên Trung Quốc xâm phạm một cách lộ liễu vùng EEZ của Việt Nam.


Trong hai ngày liên tiếp 29 & 30 tháng 5 trong khi tàu khảo sát Viking II do PetroVietnam thuê tìm dầu khí trong bãi Tư Chính (Vanguard Bank), một tàu hải giám Trung Quốc đến cắt dây kéo dụng cụ tìm dầu. Lực lượng bảo vệ Viking II của Việt Nam đã ngăn cản đuổi tàu hải giám của Trung Quốc đi và hai bên xuýt đụng đô nhau bằng vũ lực. Chưa hết, ngày 9 tháng 6 Trung Quốc lại cho tàu đánh cá đến cắt dây cáp của Viking II. Và cuối tháng 6 một vụ cắt dây cáp khác lại diễn ra chung quanh bãi Tư Chính.


Trước các hành động khiêu khích và lần lướt của Trung Quốc, Việt Nam đã áp dụng đối sách phản ứng nhiều mặt: (1) đối đầu (không dùng vũ khí) trên thực địa, (2) Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng và Chủ Tịch Nước Nguyễn Minh Triết tuyên bố mạnh mẽ Việt Nam sẽ hy sinh tất cả để bảo vệ chủ quyền biển đảo của quốc gia, (3) làm ngơ để nhân dân Hà Nội và Sài gòn biểu tình trong các ngày Chủ Nhật trong suốt 12 tuần từ đầu tháng 6, và sau cùng (4) không quên mặt ngoại giao gởi giới chức cao cấp đi Trung Quốc nói chuyện hơn thiệt.


Nhưng các hành động của Trung Quốc trên biển Ðông không phải là những đụng chạm ngoài ý muốn, mà là các hành động trong chính sách nên các đối sách đáp ứng của Việt Nam không còn thích hợp. Việt Nam cần phải có một chọn lựa khác.


Có nhiều dấu hiệu năm 2012 là năm căng thẳng. Ðầu tháng 3, 2012 Trung Quốc bắt giữ 21 ngư dân Việt Nam và hai thuyền đánh cá trong vùng biển Hoàng Sa (Trung Quốc đã chiếm bằng vũ lực đầu năm 1974) đòi tiền chuộc. Và Việt Nam cũng chỉ có thể phản ứng bằng nước bọt. Giữa tháng 4 Trung Quốc gây hấn với Phi Luật Tân tại bãi cạn Scarborough của Phi, và với lời lẽ “dao to búa lớn” của Trung Quốc người ta chờ đợi những bước lấn tới trong chính sách đã được hoạch định của Trung Quốc. Dường như Trung Quốc muốn khiêu khích để Việt Nam chịu không nổi phải đánh trả và họ có cớ để ra tay đẩy cuộc tranh chấp sang một tầng cao khác có lợi cho họ.


Trong tình hình hiện nay Cam Ranh trở thành một cái chìa khóa giải quyết cuộc tranh chấp biển Ðông. Nếu trong 10 năm qua (từ 2002 khi Nga rút ra khỏi Cam Ranh) Việt Nam đã từ chối mọi ve vãn quốc tế sử dụng cảng Cam Ranh và nhắm quốc tế hóa cảng này là một chính sách khéo léo thì với các chuyển biến càng lúc càng tăng cường độ của Trung Quốc có thể buộc Việt Nam phải có một chọn lựa khác.



Ðồng minh và quan hệ an ninh có văn bản đối với Hoa Kỳ có lẽ còn quá sớm. Nhưng nếu có giao kèo để Hoa Kỳ sử dụng Cam Ranh thì có lẽ cũng là một thế bài giải nước bí của Việt Nam. Trước đây người ta vẫn đặt câu hỏi: Hoa Kỳ có muốn sử dụng lại Cam Ranh hay không. Và không ai có câu trả lời dứt khoát. Chuyến thăm viếng Cam Ranh của Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ Leon Panetta và sự tiếp đón nồng hậu của Việt Nam là một câu trả lời từ hai phía không nhầm lẫn được.


Tín hiệu chuyển đổi chính sách của Hoa Kỳ và Việt Nam sẽ làm Trung Qquốc rà soát và điều chỉnh lại chiến thuật tiến ra biển Ðông của họ. Và lịch trình Hoa Kỳ thuê bao Cam Ranh để làm căn cứ tiếp vận cho Hạm đội 7 còn tùy thuộc vào sự điều chỉnh này.


Có thể còn rất lâu. Nhưng chuyến thăm Cam Ranh của ông Panetta sẽ làm cho tính cách bè bạn giữa Hoa Kỳ và Việt Nam thay đổi, và quan hệ giữa Trung Quốc và Việt Nam sẽ không còn như trước. Nếu giữa Việt Nam và Trung Quốc còn đồng sáng với 16 giữ vàng giả dối thì “mộng” cũng đã khác nhau nhiều.


Trần Bình Nam


[email protected]


www.tranbinhnam.com


 


(1) Hội nghị Tổng trưởng quốc phòng của 27 nước Australia, Brunei, Burma, Cambodia, Canada, France, Germany, India, Indonesia, Japan, Laos, Malaysia, Mongolia, New Zealand, Pakistan, People’s Republic of China, Philippines, Russia, South Korea, Sri Lanka, Singapore, Thailand, East Timor, United Kingdom, United States và Vietnam họp hằng năm tại khách sạn Shangri-La ở Singapore bắt đầu từ năm 2002 do sáng kiến và tổ chức bởi Viện Nghiên Cứu Chiến Lược Quốc Tế (International Institute for Strategic Studies). Do đó hội nghị này có tên là Hội nghị Shangri-La (Shangri-La dialogue).

Lễ hội huy hoàng làm quên đi chút sự thực não nùng

 


Lê Mạnh Hùng


 


Dưới thời Nữ Hoàng Victoria, người Anh tự phụ là mặt trời không bao giờ lặn trên đế quốc Anh vốn trải dài từ Canada đến Úc Ðại Lợi, từ Phi Châu cho tới Ấn Ðộ. Ðế quốc Anh nay đã đi vào lịch sử, nhưng khi nữ hoàng hiện nay, Elizabeth II đi vào năm thứ 60 của triều đại bà, một sự kiện được biết dưới tên “Diamond Jubilee” và cũng là điều xảy ra lần đầu tiên kể từ thời Nữ Hoàng Victoria, thì dân chúng Anh cũng ăn mừng một cách hăng say không kém gì vào năm 1897.


Sự kiện là trời mưa tầm tã trong hai ngày kỷ niệm này cũng không làm cho ai mất vui và những người đi dự được hỏi đều nói một cách khẳng khái “We love the rain”.


Tự nhận là thích bị mưa và lạnh trong lúc đứng đợi ngoài trời có vẻ là quá cường điệu, nhưng quả thật là dân chúng Anh rất yêu mến nữ hoàng và hoàng gia của họ vào lúc này. Các cuộc khảo sát ý kiến thực hiện trước ngày lễ hội cho thấy sự ủng hộ của quần chúng cho vương triều ở một mức cao lịch sử. Trong vòng 40 năm qua, luôn luôn có khoảng 18% dân chúng Anh ủng hộ việc bỏ vương triều để thành lập một nước cộng hòa. Nhưng một cuộc khảo sát của tổ chức Ipsos-Mori nay cho thấy sự ủng hộ thành lập chế độ Cộng Hòa xuống chỉ còn 13%.


Có thể rằng hôn lễ của Hoàng Tử Williams vào năm ngoái và sự xuất hiện của một vài nhân vật hoàng gia trẻ đẹp đã đóng vai trò thúc đẩy sự ủng hộ đối với vương triều. Nhưng từ ngữ xuất hiện nhiều nhất trong vô số những bài văn ca tụng nữ hoàng vào cuối tuần qua là từ ngữ “liên tục” (continuity).


Kinh tế Anh hiện đang ở trong tình trạng tồi tệ, và người ta biết rằng nó có thể còn trở thành tồi tệ hơn. Các nhà chính trị hiện đang hốt hoảng về những chuyện đang xảy ra tại Châu Âu lục địa và một số những hốt hoảng đó đã truyền qua cho quần chúng. Thành ra, vào một thời điểm như hiện nay, vương triều và những nghi thức đi theo nó là một biểu tượng có tính cách trấn an về một sự ổn định đặc biệt vốn đã giúp nước Anh tồn tại giữa biết bao nhiêu biến động xảy ra tại bên kia eo biển ngăn cách nước Anh với lục địa Châu Âu. Gần một ngàn năm liên tục của một vương triều – ngoại trừ một giai đoạn ngắn dưới thời Oliver Cromwell – quả thật là một biểu tượng đáng chú ý về sự liên tục. Cứ tưởng tượng một triều đại ở Việt Nam tồn tại từ thời nhà Lý đến nay thì ta mới hiểu sự bền vững của hoàng gia Anh.


Ngay cả cuộc đời và triều đại của Nữ Hoàng Elizabeth II hiện nay cũng cho thấy nước Anh đã phải trải qua những giai đoạn khó khăn hơn nhiều. Như cuốn phim vừa được giải Oscar, The King’s Speech, cho thấy bà là một cô thiếu nữ trong Thế Chiến Thứ Hai. Bà lên ngôi vào năm 1952 trong giai đoạn nước Anh còn phải “thắt lưng buộc bụng” thực sự với chế độ tem phiếu cung cấp lương thực còn được áp dụng. Buổi lễ hội “Diamond Jubilee” này của bà là một lời nhắc rằng nước Anh đã phải chịu và đã vượt qua những hoàn cảnh khó khăn hơn hiện nay nhiều.


Việc liên hệ vận mệnh của một quân vương với vận mệnh của một đất nước đòi hỏi phải làm một sự cân đối khó khăn. Hoàng gia không thể nào quá xa rời, nhưng cũng không thể nào quá mỵ dân. Một vị nữ hoàng tại một nước dân chủ như nước Anh phải được người dân coi như là có một sự cảm thông với người dân bình thường nhưng không thể bị coi như là một người tầm thường. Ðã có nhiều lúc ngay trong triều đại của Nữ Hoàng hiện nay sự cân đối đó đã thực hiện một cách hơi lệch lạc và hoàng gia chịu một phản ứng ngược lại. Chẳng hạn khi nữ hoàng đã không tỏ ra có cảm tình trong việc quần chúng ào ạt xót thương cái chết của Diana, hoàng tức xứ Wales thì bà đã bị chỉ trích mạnh mẽ là xa rời quần chúng.


Chắc chắn là trong tương lai sẽ có một lúc nào đó hoàng gia sẽ lại phải đi qua một giai đoạn khó khăn mới. Nếu và khi nào người con trai lớn của bà, Hoàng Tử Charles lên ngôi vua, rất có thể tinh thần Cộng Hòa tại Anh sẽ có lại một cuộc phục sinh nho nhỏ. Nhưng những người ủng hộ vương triều cũng không nên thất vọng về triển vọng đó. Vương triều Anh có một lịch sử huy hoàng lâu đời; và nhiều khi chính những vị vua tồi tệ nhất lại được người ta nhớ đến nhiều nhất.


Sự bền vững của vương triều tại Anh là một điều khiến cho những người Anh ủng hộ chế độ Cộng Hòa cực kỳ thất vọng. Họ cho rằng vương triều đã củng cố tất cả những cái gì làm cho nước Anh trì trệ, một cơ cấu giai cấp cứng ngắc, các định chế chính trị lỗi thời và một sự ham chuộng những nghi thức bề ngoài thay vì nội dung bên trong. Nhưng đó là vì những người Cộng Hòa đã lẫn lộn thực tế quyền lực với biểu tượng quyền lực.


Phân chia giai cấp trong xã hội là một hiện tượng phức tạp và có từ lâu đời tại Anh. Và Nữ Hoàng Elizabeth được coi như là con người “quý tộc nhất nước Anh”. Nhưng muốn cải tổ được cơ cấu giai cấp Anh thì cải cách hệ thống giáo dục có tác dụng tốt hơn nhiều so với hủy bỏ vương triều. Sự ủng hộ của dân chúng đối với vương triều không phải chỉ giới hạn trong giới quý tộc mà còn mạnh cả trong giới bình dân. Một người Mác Xít có thể nói đó là vì dân chúng Anh thiếu tinh thần giai cấp, nhưng người ta cũng có thể giải thích rằng đó là vì những người bình dân tại Anh hiểu rằng nữ hoàng không phải là nguyên nhân tạo ra vấn đề của họ.


Ðối với đại đa số người Anh, vương triều là một định chế về căn bản là đáng được họ ủng hộ. Cùng với Thế Vận Hội mà tháng 8 này sẽ được tổ chức tại Luân Ðôn, buổi lễ hội chào mừng năm thứ 60 ngày lên ngôi của Nữ Hoàng Elizabeth II – Diamond Jubilee – đã cho phép đất nước đảo quốc này có một hội lễ ăn mừng, tuy rằng ướt át, trước khi phải quay về với thực tại kinh tế khắc khổ trong những ngày tới.

Trọng tài Tây Ban Nha thổi trận khai mạc


Theo tin từ Liên Ðoàn Bóng Tròn Châu Âu UEFA ngày Thứ Tư vừa qua cho biết trọng tài Carlos Velasco Carballo của Tây Ban Nha sẽ cầm còi chính cho trận khai mạc Euro 2012 giữa đội tuyển chủ nhà Ba Lan và Hy Lạp thuộc bảng A vào ngày 8 Tháng Sáu.









Trọng tài Tây Ban Nha, Carlos Velasco Carballo cầm còi trận chung kết UEFA Europa League giữa FC Porto và SC Braga diễn ra tại Dublin Arena, Dublin, Ireland, ngày 18 Tháng Năm, 20111. (Hình Joern Pollex/Bongarts/Getty Images)


Trận đấu mở màn cho Euro 2012 sẽ diễn ra trên sân vận động National Warsaw tại thủ đô Warsaw, Ba Lan sẽ diễn ra vào lúc 6 giờ chiều giờ địa phương Ba Lan (9 giờ sáng giờ California, Hoa Kỳ) tiếp theo sau buổi lễ khai mạc hoành tráng đem văn hóa và thể thao đến cùng chung với nhau đồng thời là một sự kết hợp giữa di sản và sự đổi mới.


Trận đấu tiếp theo sau đó của bảng A trong cùng ngày là trận đối đầu giữa Cộng Hòa Czech và Nga diễn ra ở Wroclaw, Ba Lan vào lúc 11:45 trưa giờ California, và trọng tài Anh, Howard Webb, từng cầm còi cho trận chung kết World Cup 2010 – sẽ thổi chính trận đấu này.


Cũng trong thông báo này, UEFA cho biết trọng tài người Slovenia, Damir Skomina sẽ cầm còi trận so tài đầu tiên của bảng B giữa Hòa Lan và Ðan Mạch diễn ra vào ngày Thứ Bảy 9 Tháng Sáu ở Kharkiv, Ukraine vào lúc 9 giờ sáng giờ California trong khi trọng tài Stephane Lannoy của Pháp sẽ là ông vua sân cỏ của trận Ðức gặp Bồ Ðào Nha cũng thuộc bảng B diễn ra tại Lviv, Ukraine vào lúc 11:45 giờ California.


Trước trận đấu hai ngày, Liên Ðoàn Bóng Tròn Châu Âu sẽ quyết định trọng tài nào bắt chính và các trọng tài phụ.


Có tất cả 12 trọng tài được chỉ định bắt chính 31 trận đấu VCK Euro 2012. Các trọng tài này sẽ làm việc với 24 trọng tài phụ và 24 trọng tài dự bị.


Ðặc biệt trong giải đấu này Liên Ðoàn Bóng Tròn Châu Âu tiếp tục sử dụng hai trọng tài phụ giám sát lằn vôi khung thành (goal line) – mà liên đoàn đã từng áp dụng cho giải Champions League và UEFA Europa League trước đây. Ðây là lần đầu tiên trong lịch sử giải UEFA European Championship áp dụng phương thức này với sự chấp thuận của Hội Ðồng Quản Trị Liên Ðoàn Bóng Tròn Quốc Tế (International Football Association Board).









Trọng tài người Anh, Howard Webb đưa thẻ vàng trong trận bán kết lượt đi giải UEFA Champions League giữa FC Bayern Munich và Real Madrid diễn ra trên sân Allianz Arena, Munich, Ðức ngày 17 Tháng Tư, 2012. (Hình: Alexandra Beier/Bongarts/Getty Images)


Sau đây là danh sách 12 trọng tài bắt chính các trận đấu:


Cuneyt Cakir (Thổ Nhĩ Kỳ); Jonas Eriksson (Thụy Ðiển); Viktor Kassai (Hungary); Bjorn Kuipers (Hòa Lan); Stéphane Lannoy (Pháp); Pedro Proenca (Bồ Ðào Nha); Nicola Rizzoli (Italy); Damir Skomina (Slovenia); Wolfgang Stark (Ðức); Craig Thomson (Scotland); Carlos Velasco Carballo (Tây Ban Nha); Howard Webb (Anh). (T.D.)

Cristiano Ronaldo: Bồ Ðào Nha hoặc Tây Ban Nha sẽ vô địch

Cầu thủ Cristiano Ronaldo của đội bóng Real Madrid lẫn đội tuyển Bồ Ðào Nha tin tưởng là Tây Ban Nha sẽ có nhiều ưu thế đoạt chức vô địch Euro 2012, nhưng siêu sao này cũng tự tin là đội tuyển Bồ Ðào Nha cũng có nhiều cơ hội giơ cao chiếc cúp vô địch tại Ba Lan và Ukraine dù cho ở vòng loại giải Bồ Ðào Nha phải vượt qua hai trận đấu playoff với Bosnia mới có cơ hội tham dự VCK Euro năm nay.









Tiền đạo Cristiano Ronaldo của đội tuyển Bồ Ðào Nha trong buổi tập dượt ở Opalenica ngày 5 Tháng Sáu, 2012. (Hình: Francisco Leong/AFP/Getty Images)


Tiền đạo Real Madrid thừa nhận chiếc cúp vô địch Châu Âu lần này nhiều phần trăm nhất rơi vào tay đương kim vô địch Tây Ban Nha mặc dù hiện nay đội tuyển này thiếu vắng một vài cầu thủ trụ cột vì chấn thương như David Villa vì theo Ronaldo, huấn luyện viên Vicente del Bosque có thừa các cầu thủ tài năng để bảo vệ thành công chức vô địch.


Ronaldo tuyên bố: “Nếu tôi có cả vali tiền, tôi sẽ đánh cá cược cho Bồ Ðào Nha và Tây Ban Nha. Tôi không muốn là một kẻ nói nhăng nói cuội. Tôi rất hy vọng, sau Bồ Ðào Nha, tôi đánh cá cho Tây Ban Nha. Tây Ban Nha là ứng cứ viên sáng giá nhất cho chức vô địch Euro 2012. Họ là một trong những đội mạnh nhất và có cơ hội rất lớn có mặt ở trận chung kết.”


“Tuy Carles Puyol và David Villa không có mặt trong danh sách đội tuyển nhưng những cầu thủ khác thay thế họ sẽ chói sáng trên sân cỏ bởi vì Tây Ban Nha có rất nhiều cầu thủ mạnh và tài năng. Huấn luyện viên Vicente del Bosque thừa cầu thủ tài năng mà có thể thành lập đến hai đội tuyển thi đấu cho chức vô địch.”


Tây Ban Nha nằm trong bảng C cùng với Ý, Ireland và Croatia sẽ có trận đấu đầu tiên gặp Ý vào ngày 10 Tháng Sáu. Các giới chuyên môn lẫn cá cược đều cho rằng Tây Ban Nha chắc chắn lọt vào vòng trong. Ðội còn lại sẽ là cuộc chạy đua giữa Ý, Ireland và Croatia.


Trong khi đó Bồ Ðào Nha sẽ khó khăn rất nhiều khi nằm trong bảng tử thần với các đội sừng sỏ Ðức, Hòa Lan và Dan Mạch. Loại trừ Ðan Mạch, Bồ Ðào Nha muốn tiến sâu vào giải buộc phải loại bỏ một trong hai đội nhiều hy vọng vô địch lần này là Ðức và Hòa Lan.


Trên sân cỏ có nhiều bất ngờ xảy ra, mọi dự đoán đều có thể bị đảo ngược và hiện tại chỉ còn là chờ xem… (T.D.)

Từ Liên Âu đến đồng Euro

 


LTS: Thời sự dồn dập hàng ngày trên cả địa cầu có thể giúp chúng ta biết được là chuyện gì đang xảy ra trên thế giới. Tuy nhiên, nhiều khi chúng ta không hiểu được vì sao lại xảy ra một biến cố như vậy, và hậu quả sau này sẽ ra sao… Cũng vì lý do ấy, nhật báo Người Việt mở thêm một tiết mục và lưu trữ trên trang mạng Người Việt Online để quý độc giả tham khảo. Ðó là mục “Hồ Sơ Người-Việt”, xuất hiện Thứ Năm mỗi tuần, với nội dung trình bày khung cảnh khách quan của một vấn đề và, nếu có thể, một số dự báo về tương lai hầu độc giả khỏi ngỡ ngàng khi sự biến xảy ra. Xin trân trọng giới thiệu cùng quý độc giả…


 


 


 


Hùng Tâm/Người Việt


 


Từ năm 2009 đến nay, tin tức hàng tuần rồi hàng ngày từ Âu Châu khiến dư luận phải quan tâm đến tình hình của lục địa này.


Âu Châu là nơi xuất phát ra các quy ước sinh hoạt phổ biến, từ luật lệ thời La Mã đến tôn giáo thời Trung Cổ, hay cách mạng về kiến thức và nghệ thuật thời Phục Hưng vào thế kỷ 16, về chính trị thời Minh Triết vào thế kỷ 17, về khoa học kỹ thuật từ thế kỷ 19.









Một đồng “coin” Euro với lá cờ Tây Ban Nha trên nền. (Hình: PHILIPPE HUGUEN/AFP/GettyImages)


Âu Châu cũng là nơi xuất hiện các đế quốc đã chinh phục và chi phối thế giới sau kỷ nguyên Cristobal Columbus mà xưa kia chúng ta dịch là Kha Luân Bố. Rất nhiều địa danh của thế giới đã mang tên Âu Châu, từ Nam Mỹ đến Hoa Kỳ hay cả Viễn Ðông. Philippines là một thí dụ Á Châu vì xứ này từng là thuộc địa của đế quốc Tây Ban Nha và quốc hiệu là từ vua Philippe II. Sau cùng, Âu Châu cũng là nơi xuất phát hai trận đại chiến thế giới vào các năm 1914-1919 rồi 1939-1945.


Ngày nay, Âu Châu quy tụ một dân số hơn 500 triệu của 27 quốc gia trong một tổ chức thống nhất là Liên Hiệp Âu Châu, có thể gọi tắt là Liên Âu. Bên trong có 17 quốc gia đang sử dụng chung đồng Euro với ký hiệu là ú.


Vì tin hàng ngày về nguy cơ khủng hoảng Âu Châu có thể làm khối Euro tan vỡ hoặc gây sứt mẻ cho cả cơ chế Liên Âu, Hồ Sơ Người-Việt sẽ tìm hiểu chuyện này.


 


Liên Âu là Liên Bang hay Bang Liên?


 


Về pháp lý, Liên Âu là một thể chế chính trị “confederation” chứ chưa là một “federation” như Hoa Kỳ hay Cộng Hòa Liên Bang Ðức. Về từ ngữ để diễn tả hay phiên dịch cách gọi hai thể chế này thì người ta phân vân. Các từ Hán-Việt gọi “confederation” là “bang liên” và “federation là… “liên bang”. Từ điển Ðào Duy Anh thì không phân biệt, gọi chung là liên bang. Nhiều từ điển ở trong nước thì không nói đến hai thể chế khác biệt và có khi dịch “confederation” thành liên minh hoặc liên đoàn của các tổ chức bên trong một lãnh thổ.


Về đại lược, “federation” hay thể chế liên bang là khi một tập thể chấp nhận hòa nhập chủ quyền quốc gia vào một cơ chế duy nhất và cao nhất, có quyền lực được quy định bởi một Hiến pháp Liên bang, với Hành pháp, Lập pháp và Tư pháp thống nhất cho toàn quốc. “Confederation” là một chế độ liên kết thấp hơn vì các quốc gia chỉ nhượng lại một phần quyền hạn cho cơ chế thống nhất trong một số lãnh vực nhất định chứ vẫn giữ nguyên chủ quyền quốc gia ở bên trong. Dù văn kiện quy định thể thức này có thể được gọi là Hiến pháp, nó không có tính chất toàn diện và khả năng cưỡng hành như một bản Hiến pháp Liên bang.


Cũng xin nhắc lại là ban đầu, Hoa Kỳ dự tính thành lập thể chế “confederation” với các tiểu bang chỉ nhượng một phần quyền lực cho cấp liên bang. Sau Nội Chiến 1861-1865, khi các tiểu bang miền Nam muốn ly khai và giữ lại chế độ “confederation” – vì vậy họ có tên là “Confederates” – bị đánh bại thì nước Mỹ theo hẳn chế độ liên bang như chủ trương của các tiểu bang miền Bắc.


Chuyện lịch sử này của Hoa Kỳ không lạc đề vì giả dụ như nếu có một số quốc gia Âu Châu đòi tách riêng, hoặc không chấp hành những quy định của cơ chế Âu Châu, thì liệu quân đội của các cường quốc như Ðức, Anh, Pháp có được phái tới để áp dụng kỷ luật chung hay không? Dĩ nhiên là không. Âu Châu đã từng bị chinh chiến quá nhiều từ những yêu cầu thống hợp đó.


Chúng ta xin tạm để qua một bên chi tiết pháp lý để nói về Liên Âu và vấn đề Euro. Diễn tiến hình thành Liên Âu có thể phần nào giải thích các vấn đề này.


 


Tiến trình thống nhất tiền tệ


 


Sau Ðại Chiến II, các nước Âu Châu đều muốn tránh chiến tranh. Họ tìm cách hợp tác từ kinh tế trở đi với ước mong là quyền lợi kinh tế gắn bó giữa các thành viên sẽ giúp cho hòa bình.


Bước đầu là Cộng Ðồng Than Thép giữa 6 nước sáng lập là Pháp, Ðức, Ý và tập thể Benelux (gồm 3 nước Bỉ, Hòa Lan và Luxemburg) rồi Thị Trường Chung Âu Châu EEC và sau cùng là Cộng Ðồng Âu Châu mở rộng hơn để quy tụ 12 nước, kể cả Anh và các nước Bắc Âu cùng các nước miền Nam đã ra khỏi chế độ độc tài (Tây Ban Nha, Bồ Ðào Nha và Hy Lạp).


Sự hợp tác có một phần thành công trong mục tiêu duy trì hòa bình, nhưng chính yếu thì nhờ sự bảo vệ của Hoa Kỳ qua Minh Ước Phòng Thủ Bắc Ðại Tây Dương NATO trong thời Chiến Tranh Lạnh. Khi Chiến Tranh Lạnh kết thúc và Liên Bang Xô Viết tan rã năm 1991, các nước Âu Châu càng đẩy mạnh chế độ hợp tác kinh tế lên một cấp cao hơn về chính trị.


Chúng ta nên chú ý đến nỗ lực đó vì cũng là nguyên nhân của chuyện thời nay khi Liên Âu tròn 20 tuổi.


Ðầu năm 1992, các nước Âu Châu đạt một hiệp ước tại thành phố Maastricht của Hòa Lan – gọi là Thỏa ước Maastricht – để chuyển từ Cộng Ðồng 12 nước Âu Châu qua cơ chế rộng lớn hơn, đó là Liên Hiệp Âu Châu ngày nay, có 27 nước hội viên. Thỏa ước đó nhắm vào việc thống nhất tiền tệ đã manh nha từ năm 1979, với chỉ tiêu là hoàn thành vào năm 1999, rồi tiến dần đến thống nhất chính trị về hai lãnh vực chính là đối ngoại và an ninh.


Ngày nay, việc thống nhất tiền tệ đang trở thành vấn đề.


Về nỗ lực thống nhất tiền tệ từ năm 1979. Thời đó các nước Âu Châu lập ra quy ước hối đoái – trao đổi đồng bạc của từng nước với nhau – là ERM Exchange Rate Mechanism, theo đó hối suất giao dịch các đồng bạc nằm trong một biên độ nhất định quanh một đơn vị tổng hợp là đồng ECU (European Currency Unit). Các quốc gia có thể tự nguyện (chứ không bắt buộc) gia nhập hệ thống ERM để ổn định hối suất, tránh giao động quá đáng và tiến dần đến đồng tiền chung.


Thỏa ước Maastricht vạch lộ trình cho đồng tiền chung đó, trong hệ thống tiền tệ Âu Châu thống nhất, gọi là EMU (European Monetary Union) với kỳ hạn là năm 1999 để chuyển đồng ECU ra đồng Euro theo hối suất một ăn một. Muốn được vào khối EMU và dùng đồng Euro, các thành viên Liên Âu phải đạt bốn “tiêu chuẩn đồng quy” sau khi cam kết gia nhập hệ thống hối đoái ERM vạch ra từ năm 1979.


Ðáng chú ý là các nước đều lần lượt phải gia nhập, nhưng nếu muốn gia nhập thì phải đạt một số điều kiện qua những chánh sách kinh tế tài chánh áp dụng ở bên trong.


 


Tiêu chuẩn đồng quy


 


Từ nguyên thủy, người ta thật tình muốn các nước chấp hành một số điều kiện để cơ cấu kinh tế sẽ cùng đạt một số tiêu chuẩn. Gọi là “đồng quy” vì cùng tiến tới một điểm là công chi thu và chánh sách tiền tệ phải đi vào quy chế chung.


Thí dụ như không bị bội chi ngân sách quá 3% Tổng sản lượng, gánh công trái (nợ của khu vực công quyền) không quá 60% Tổng sản lượng, có mức lạm phát hoặc lãi suất nhất định chứ không quá cao. Các nước tham dự có kỳ hạn là 1999 để hoàn tất việc này và qua năm 2001 thì không dùng đồng nội tệ nữa. Quốc gia nào mà đạt tiêu chuẩn thì mới được gia nhập. Hy Lạp chỉ vào khối Euro từ năm 2001 và Estonia là nước mới nhất, dùng Euro từ đầu năm 2011.


Ngay từ năm 1992, 15 nước thành viên mới (cộng với 12 nước nguyên thủy) phải cam kết gia nhập khối Euro, vậy mà trong tiến trình phê chuẩn Thỏa ước Maastricht, Anh và Ðan Mạch lại khéo cài vào một điều khoản là họ có quyền không gia nhập.


Thế rồi, một vụ khủng hoảng hối đoái Âu Châu lại bùng nổ vào các năm 1992-1993 khiến nhiều nước phải bước ra và biên độ giao dịch của ERM phải mở rộng đến độ vô nghĩa. Năm 1999 chế độ ERM này mới được tái lập, gọi là ERM Hai (ERMII).


Bây giờ, 20 năm sau Thỏa ước Maastricht và 10 năm sau đồng Euro, người ta gặp khủng hoảng. Ðây không là chuyện lạ nếu mình biết chuyện xưa. Cũng thế, nếu quý độc giả có thấy hồ sơ này quá phức tạp thì chẳng nên ngạc nhiên vì thật ra nó rắc rối thật.


 


Diễn tiến xé rào


 


Xin nhắc lại ở đây những biến cố dẫn tới hiện tượng bất thường nằm bên ngoài quy trình thống nhất tuần tự này.


Tháng 2 1992 thì Thỏa ước Maastricht ra đời, tháng 9 thì hệ thống ERM bị khủng hoảng, ba nước phải phá giá đồng bạc là Ý, Anh và Tây Ban Nha. Biên độ ERM mở rộng vì khoảng cách quá lớn giữa hối suất đồng bạc của các nước.


Năm 1997, Ðức đề nghị quy chế ổn định và tăng trưởng gọi là “Stability and Growth Pact” SGP theo đó thành viên nào mà bị khiếm hụt ngân sách (bội chi, chi nhiều hơn thu) quá 3% thì bị phạt. Quyết định ấy rất quan trọng như chúng ta sẽ thấy sau này.


Ðầu năm 1999, chỉ có 11 nước đạt tiêu chuẩn và dùng chung đồng Euro, đó là Áo, Bỉ, Phần Lan (Finland), Pháp, Ðức, Ái Nhĩ Lan (Ireland), Ý, Luxembourg, Hòa Lan, Bồ Ðào Nha và Tây Ban Nha. Ðấy là lúc quy chế ERMII được áp dụng. Hy Lạp được vào từ năm 2001, sau này người ta mới biết là nhờ khai gian sổ sách kế toán quốc gia để coi như đạt tiêu chuẩn.


Tức là xứ này xé rào để được vào khối Euro. Cuối năm 2003, có hai nước lại xé rào nữa, nhưng theo hướng ngược lại. Ðó là Ðức và Pháp cùng thông báo rằng họ không đạt tiêu chuẩn bội chi dưới 3%. Hai năm sau, các nước nới rộng tiêu chuẩn SGP này, chấp nhận mức bội chi cao hơn.


Cùng với vụ khủng hoảng 1992-1993 và quy chế ERMII, chi tiết về việc nới rộng tiêu chuẩn SGP vào năm 2005, sau khi hai cường quốc kinh tế hàng đầu của khối Euro là Ðức và Pháp đều phạm kỷ luật, đã cho thấy hệ thống tiền tệ này có tinh thần duy ý chí, voluntarist, mà không đi sát thực tế nên cứ phải điều chỉnh. Dầu vậy, người ta vẫn tiếp tục, từ 2007 đến 2009, bốn nước khác vào khối Euro, là Slovenia, Cyprus, Malta và Slovakia. Vị chi là 16 nước (Estonia là nước sau cùng, thứ 17, gia nhập giữa cơn khủng hoảng từ đầu năm 2011).


Cũng do tính chất bất toàn đó của hệ thống Euro, khủng hoảng mới bùng nổ và các giải pháp cứu nguy đều không hiệu quả.


 


Châm tiền cứu nguy


 


Biến cố ghi dấu vụ khủng hoảng là tháng 10 năm 2009, khi chính quyền Hy Lạp thông báo bị bội chi nặng hơn những gì đã được báo cáo trước đấy.


Hai tháng sau, Liên Âu kết án những “bất thường trầm trọng” của Hy Lạp và cho biết là năm 2009 xứ này thật sự bị bội chi đến 12.7% Tổng sản lượng (gấp bốn tiêu chuẩn). Tháng 4 năm 2010 thì Liên Âu điều chỉnh lại mức bội chi 12.7% đó thành 13.6%, còn tệ hơn những gì đã tính. Ái Nhĩ Lan bị bội chi 14.3%.


Lập tức, tháng 5 2010, Liên Âu và Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF) tung ra 110 tỷ Euro (143 tỷ Mỹ kim tính theo hối suất 1.30) để cứu nguy Hy Lạp và còn lập quỹ dự phòng 440 tỷ Euro để ổn định tài chánh Âu Châu. Ngân Hàng Trung Ương Âu Châu (ECB) lập chương trình mua trái phiếu (Security Market Program) của Hy Lạp, Ái Nhĩ Lan và Bồ Ðào Nha trong chín tháng kế tiếp để lãi suất khỏi tăng và thị trường khỏi hốt hoảng.


Sau đó, tháng 11 2010 thì Liên Âu cùng IMF châm 85 tỷ Euro cứu Ái Nhĩ Lan. Tháng 5, 2011 châm thêm 78 tỷ Euro cứu Bồ Ðào Nha, tháng 7 thì đòi các ngân hàng tư nhân Âu Châu chấp nhận bị mất 50% số tiền cho vay (gọi là bị gọt tóc) khi mua trái phiếu của Hy Lạp. Tháng 11 thì chính phủ Hy Lạp đổ.


Trong ba tháng sau đấy, Liên Âu cùng IMF tới tấp thương lượng với các nước để kiểm soát bội chi với kết quả là một hiệp ước về ngân sách được 25 nước đồng ý (trừ Anh và Cộng Hòa Tiệp) và một gói cấp cứu Hy Lạp trị giá 130 tỷ Euro.


Ngày nay, khi một số quốc gia kể cả Hy Lạp lại phủ nhận kỷ luật ngân sách và nói đến nhu cầu đạt mức tăng trưởng cao hơn, chứ không thể giảm chi nữa, chúng ta thấy tái diễn chuyện cũ.


Kết luận ở đây là Âu Châu đặt ra luật lệ mà không thể tôn trọng và mỗi khi bế tắc thì lại xé rào và đổi mục tiêu qua hướng khác. Cho nên mỗi giải pháp cấp cứu, kể cả đề nghị mới nhất của nhóm G-7, sẽ báo hiệu nhiều khó khăn mới. Euro bị khủng hoảng là như vậy.

Vàng Ðen (Kỳ 120)


“Vàng Ðen” là tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Dũng Tiến, được xây dựng trên những tư liệu cùng huyền thoại liên quan tới vùng “Tam Giác Vàng,” một trong những nguồn sản xuất và cung cấp thuốc phiện (“vàng đen”) lớn nhất thế giới. Ngoài việc viết văn, tác giả Nguyễn Dũng Tiến cũng là một trong những người Việt Nam đầu tiên có công gầy dựng vườn cây ăn trái cho người Việt ở xứ người. Ông hiện là chủ nhân vườn cây LA Mimosa Nursery, 6270 East Allston Street, Los Angeles, CA 90022-4546. Tel: (323) 722-4543. Ðược sự cho phép của tác giả, Người Việt hân hạnh giới thiệu tiểu thuyết “Vàng Ðen” trên mục truyện dài của Nhật Báo Người Việt cũng như Người Việt Online.


 


Kỳ 120


 


Bóng những người khiêng cáng xiêu vẹo trong bóng đêm đã làm Phong nát lòng. Số phận của hai người thân đang nằm trong tay những người lạ. Ðiểm bám víu duy nhất còn lại, Khun Sa.


Phong Sương đã gào thét, nhất định không chịu rời Phong, vì cô nàng cho rằng, còn đang phải kể tiếp những dở dang bí mật trong đời cô nàng, khi cả hai chờ đợi bác sĩ cạnh đống lửa hồng. Phong phải trấn an cô nàng bằng mọi lẽ. Bí mật của cô nàng đã giải tỏa cho Phong hoàn toàn những thắc mắc đọc được trong hồ sơ của đơn vị, về vấn đề luyến ái của cô nàng.


Bập bùng ánh lửa hồng, Phong ngồi yên không dám cử động vì Phong Sương đang dựa đầu trên vai. Cô nàng đã phải rên rỉ những khi phải cử động.


“Chiều qua, anh có biết em muốn nói chuyện bí mật gì không?”


“Không.”


“Em có… em có liên hệ với một người đàn bà…”


“…”


“Anh không hiểu à?”


“Không.”


“Thì em đã có qua lại với một người đàn bà lúc trước kia.”


“Trước kia?”


“Sau khi em ly dị chồng em được vài năm.”


Dựa đầu trên vai Phong, từ đó cô nàng lan man kể cái bí mật ấy.


Ly dị chồng hơn một năm, Phong Sương mới cảm thấy cái trống vắng của người đàn bà ở một mình. Cảm thấy cần một sự ve vuốt của bàn tay đàn ông. Hơn cả sự cần, Phong Sương biết chắc mình thèm một người đàn ông, bởi vì qua hình ảnh khiêu dâm nhan nhản thấy hằng ngày trong truyền hình Mỹ, Phong Sương không còn chịu đựng nổi.


Cuộc sống vật chất tương đối phủ phê, giờ làm việc thoải mái, không trói buộc tạo cho Phong Sương những khoảng trống ghê gớm cần khỏa lấp. Lấp đầy nó bằng hình ảnh tưởng tượng mãi cũng chán, cuối cùng Phong Sương đã phải dùng những hình ảnh tưởng tượng ấy để tự giải quyết những ẩn ức cho chính mình. Những lần dùng hình ảnh tưởng tượng đó để tự giải quyết, Phong Sương cảm thấy mệt kinh khủng. Như vậy chắc không phải con đường hay.


Phong Sương bắt đầu la cà nơi những quán rượu của Mỹ hằng đêm, đá dăm ba câu chuyện, chuếnh choáng vài ly cho lấp bớt những hố sâu của khoảng trống.


Một ngày nào đó, Phong Sương không nhớ rõ, chỉ biết mình kết bạn với một người nữ da trắng trong một quán rượu, gật đầu nhờ người đó đưa về trong một lúc ngà ngà, váng vất. Người đó đã đưa Phong Sương vào tận trong nhà, dìu vào phòng ngủ, thay quần áo ngủ cho Phong Sương như một người mẹ giỗ giấc cho con.


Chuyện sẽ chấm dứt ngay đó nếu bàn tay người nữ da trắng ấy không mơn trớn đôi vú săn cứng nhựa sống của Phong Sương. Cảm giác bị va chạm ấy thật kỳ lạ, lúc đầu Phong Sương đã co rúm người lại vì khó chịu khi bàn tay của một người đồng phái ve vuốt trên ngực mình, lại ve vuốt chỗ nhậy cảm nhất. Nhưng sau đó, cảm giác ấy biến thành khá thú vị, từ đó cuộc đồng tình đã kéo dài cho đến ngày rời khỏi Mỹ.


“Anh có cười em không?”


“Anh hiểu em.”


Nhõng nhẹo, Phong Sương hỏi lại:


“Ơ kìa, em hỏi anh có cười em không, anh lại trả lời vòng vo đâu thế?”


“Không, anh không cười em.”


“Anh mà cười em, em xấu hổ chết đi được.”


“Tại sao lại ly dị chồng em?”


“Em cũng chẳng hiểu nữa, em chỉ biết cả hai đứa đều không thể nào chịu đựng được nhau nữa, sau khi định cư tại Mỹ được một vài năm.”


“Sao em lại có thể chẳng hiểu chính chuyện đời của em?”


“Vậy mới kỳ. Trước kia, ở bên Lào, chúng em đâu có như thế. Sang đến Mỹ, chồng em mới đổi tính, làu nhàu, hoạnh họe em suốt ngày, trong khi em cũng phải đi làm tám tiếng một ngày, phờ cả người.”


“Ðời sống mới, môi trường mới làm em và chồng em bị khủng khoảng?”


“Em không biết, nhưng đôi khi em cũng dữ lắm.”


“Dữ cỡ nào?”


“Có lần em đổ ụp cả tô phở lên đầu chồng em.”


“…”


“Thật đấy. Nghĩ lại em thấy buồn cười. Nhưng thôi, chuyện cũng đã qua rồi. Có lẽ lúc mới sang Mỹ, cả hai phải đầu tắt, mặt tối để hội nhập và kiếm sống nên không có thời giờ để cảm thông cho nhau. Chồng em, chắc lúc đó bị tự ái đàn ông dằn vặt vì không thể bảo bọc được người vợ, nên đâm ra biến chứng.”


“Thành ra em mới dữ như vậy.”


“Hì, hì, chỉ là phản ứng đến từ cái biến chứng ấy thôi. Còn với cưng, đời nào em dám làm như vậy. Cưng chỉ tát một cái thôi, em cũng đã xỉu rồi.”


Cô nàng nhắc khéo lại cái tát tối hôm nào ở nhà cô Lụa.


“Anh xin lỗi em, nhưng em có những phản ứng thật rùng rợn.”


“Em thích được anh tát em.”


“…”


“Cưng à, em thích vậy đó. Cưng có thấy con gà trống đạp mái bao giờ chưa? Cưng cũng vậy đó, mỗi lần cưng gần em, em thích, thích, thích là. Cưng cũng dầy vò em như con gà trống dầy vò con gà mái vậy.”


“…”


“Em thích cưng phải quăng quật em, xé áo quần của em. Cưng phải tát em, phải hành hạ em…”


“…”


“Cưng có biết không. Em khám phá ra sau lần cưng tát em, mỗi lần cưng gần em, em đến thật lâu, lâu, lâu, thật nhiều…”


Phong chưng hửng, cô nàng này quả có những cái quái đản. Cơn hứng chí làm cô nàng hơi lớn giọng, Phong phải vội vã rù rì để cô nàng thay đổi đề tài. Bí mật như một ẩn ức, Phong Sương dường như quên cả đau khi được thố lộ cùng Phong tất cả những gì thầm kín, trong lúc chờ đợi bác sĩ.

Thắp cây hương nhớ Võ Đình, ngày giỗ năm thứ ba

 



 




Hương thơm một nén bay nghi ngút


Chuông đồng ba tiếng gióng thênh thang


( Võ Đình )








Chiều đi bộ ngồi lại trên tảng đá trắng


ven rừng sau nhà nhớ anh Võ Đình và


chị Lai Hồng năm nào ghé thăm đã ngồi đó


mùa thu ngập lá phong vàng, anh rất thích


những cụm hoa mẫu đơn nở lớn năm nào


vào đầu mùa xuân cũng hỏi nụ lên chưa




Chiều nay 31 tháng 5 anh mất, đã ba năm


phone thăm chị Lai Hồng vừa từ Seattle


ghé qua Cali, nhờ chị thắp thêm cho cây hương


5 giờ sẽ cúng anh chị nói, nhớ tiếng chuông đồng


thanh vang xa anh gióng trước bàn thờ ôn mệ


căn nhà vườn ở West Palm Beach, Florida


cánh cửa là một bức tranh chim về tổ


cánh chim hồng trên rừng tùng bách và dải mây


như vệt lụa, nhớ mấy câu thơ Huy Cận anh hay ngâm :


Lớp lớp mây cao đùn núi bạc


Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa


Lòng quê dờn dợn vời con nước


Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà




Chiều đi bộ ngồi lại trên tảng đá trắng


nghe chị Lai Hồng kể anh nói sẽ tặng


một món quà đặc biệt ngày sinh nhật chị


6 tháng 6 ai ngờ chính ngày ấy làm lễ


phát tang anh, thân như chớp sáng có


rồi không như câu thơ của Vạn Hạnh


anh dịch trong Hương Thiền, và anh đã


về anh đã tới như chị Lai Hồng thầm gọi …




Chiều nay cuối tháng năm anh có về không


có về dưới cội mai già căn nhà xưa trong Thành Nội


hay căn nhà trên Thạch Lũng – Stonevale, Burkittsville


tôi còn nghe âm vang trong hồn tôi tiếng chuông đồng ngân


hay giọng nói anh trầm rất Huế, tôi luôn nhớ con diều giấy


nằm yên lặng trên bờ cát mịn, bờ biển vắng buổi chiều


trong tranh anh. Anh bỏ đi đâu không về với cánh diều nữa




Tôi nhìn thấy màu trời xanh mênh mông chiều nay


nhờ chị Lai Hồng thắp thêm cây hương để nhớ anh …




Virginia, 31 May 2012


Đinh Cường


 

Thương nhớ Giuse Trần Trường Chinh Randy (1975-2012)

 


 




Cát Bụi


Thân em là hạt bụi nho nhỏ


Trong vũ trụ cát bụi bao la.


Được Thiên Chúa đoái tâm an bày


Thành hình hài bé nhỏ xinh xinh.


Chín tháng mười ngày trong bụng Mẹ.


Chào đời năm 75 lịch sử tối đen.


Cha tù đày, Mẹ lao đao vất vả.


Lớn lên trong chế độ dốt nát nhớp nhơ,


Nhưng vẫn không lay động được lòng em


Thành nhân trong tình yêu thương Cha Mẹ


Cố gắng học hành đạt sinh viên Luật


Rồi bỗng dưng, có đột biến


Giữa năm 95, ánh sáng tự do công lý


Đưa em cùng Cha Mẹ


Đi tới bến bờ tự do dân chủ


Tròn 20 tuổi, ngưỡng cửa tương lai của cuộc đời,


Vất vả gian nan trong cuộc sống mới.


Thay thế hai anh, chăm lo Cha Mẹ,


Quan tâm giúp đỡ đến mọi người,


Hiếu nghĩa vẹn toàn quên đi bản thân.


Vạn lần lo toan, chưa lần thanh thản,


Vạn lần vất vả, chưa có ngày nghỉ ngơi,


Vạn lần sầu khổ, chưa lần vui,


Trên hai vai em gánh nặng gia đình,


Mệt mỏi rã rời thân xác buông xuôi.


Rồi một ngày kia bỏ đi tất cả,


Quên hết ưu phiền yên trong giấc ngủ.


Một giấc ngủ bình an và mãi mãi.


Có còn đâu đam mê kiếp người,


Bon chen giữa dòng đời phù phiếm phồn hoa.


Xin trả em về cho cát bụi! Ôi! Cát bụi mịt mù


Ôi! Em ôi! Em thương yêu ôi!


Xa rồi! Xa rồi!


Nghìn trùng xa cách em thương,


CHÚA dẫn em về để anh ở lại,


Xin hẹn gặp nhau ở thiên đàng nhé Chinh


Thương tiếc em. Em Chinh của Anh


Trường Giang




 


Tâm tình của Đại Gia Đình họ Trần với cháu Chinh




Tiếng động cơ chạm vào phi đạo của chiếc Boing 747 chậm dần rồi ngưng hẳn, nét mặt con ánh lên một niềm vui và hy vọng trên con đường đi tìm đất hứa, bỏ lại sau lưng một vùng trời kỷ niệm và những ngày tối tăm.


Đến được xứ Mỹ khi tuổi đời con xấp xỉ đôi mươi, mặc cho gian nan trước mặt, lúc nào con cũng vui vẻ bước đi. Mỗi ngày dù nắng, dù mưa, trên đầu đội helmet, làm bạn cùng chiếc xe đạp, con hăng hái đến trường để gầy dựng tương lai, trong lúc bạn bè cùng lứa tuổi đã được hưởng đầy đủ tiện nghi trong đời sống.


Thời gian dần trôi. Rồi ngày vui đã đến, thành quả của nhiều năm học tập chuyên cần, con tốt nghiệp đại học trong niềm vui của cha mẹ, họ hàng.


Bước chân vào đời, ngoài những lúc tranh đấu cho đời sống để mưu sinh, con không quên giúp đỡ những người trong cơn hoạn nạn, gặp hoàn cảnh khó khăn.


Nghỉ hè của con là những chuyến đi về VN để giúp đỡ đồng hương nghèo khó, trong khu phố Thanh Đa, nơi con có rất nhiều kỷ niệm lúc ấu thơ.


Ước vọng của con gắn liền với tuổi trẻ, con đã ghi danh để tham dự Đại Hội Giới Trẻ Kỳ 4 của năm 2012, nhưng con đã vội vả ra đi.


Những dự định con lo cho cha mẹ lúc tuổi về già có được cuộc sống an lành sung túc, con chưa hoàn tất, lá vàng chưa rụng, lá xanh con đã nỡ lìa cành.


Một tác phẩm chưa hoàn thành


Một cuộc hành trình đang chờ mức đến, nói sao cho vừa với những ấp ủ chưa thành của con


Hôm nay ngoài trời nắng ấm nhưng trong tâm khảm mọi người thương mến con dường như có một nỗi niềm tắc nghẹn, buốt giá.


Mọi việc Chúa đã an bày, sinh có hạn tử bất kỳ


Chúc con được thanh thản trên đường đi theo ánh sáng của Chúa, tạm biệt con, hẹn gặp lại một ngày trên nước Chúa.


 


 

Tình Hè

Báo Người Việt tới Đông Bắc Mỹ








Trần Đông Đức


Chủ bút Tuần báo Người Việt Đông Bắc (*)





Tôi thực sự xúc động vì cầm một ấn bản báo chí quá đẹp đẽ trên tay do mình đứng tên chủ bút và người bạn, ‘không rành tiếng Việt lắm’, anh Lê Kỳ Quốc làm chủ nhiệm.










Một độc giả  của báo Người Việt Đông Bắc


Đây là những bước đi lớn mà nhiều cơ quan truyền thông Việt Ngữ ở Hoa Kỳ đang ra sức thực hiện.


Người Việt được xem là tờ nhật báo tiếng Việt lớn nhất ngoài nước Việt Nam, có bản doanh đặt tại Little Saigon và dựa vào độc giả đông đúc ở vùng này làm cơ sở phát triển trong hơn ba mươi năm qua.


Việc Người Việt gần đây đã liên tiếp cho ra các ấn bản tuần báo tại nơi có đông đảo đồng hương là vùng Bắc California và những nơi khác có cộng đồng người Việt tương đối thưa thớt là các tiểu bang Viễn Tây (Utah), Trung Tây (Minnesota) Hoa Kỳ, đã tạo nên làn gió mới trong làng báo chí Việt Nam hải ngoại.


Chủ nhiệm tuần báo Người Việt Đông Bắc, ông Lê Kỳ Quốc lại là người hoàn toàn lớn lên ở Mỹ nhưng lại có niềm khát khao làm chủ một tờ báo tiếng Việt coi như là thành tích trong cuộc sống.


Ông Lê Kỳ Quốc nói và viết tiếng Anh giỏi hơn tiếng Việt và từng là một quân nhân trong binh chủng Hải quân Hoa Kỳ, thấm nhuần văn hóa phổ thông của Mỹ.


Lần này, Người Việt đến Đông Bắc, vốn là nơi có cộng đồng người Việt Nam tương đối đông đúc lại có những hoạt động văn hóa rất đa dạng do các tiểu bang ở vùng này thường rất nhỏ tạo nên những màu sắc riêng biệt khác hẳn với những tiểu bang to lớn ở phía Tây.


Cùng lúc, báo chí Việt Ngữ ở những nơi ngoài California và Texas vẫn phát triển theo mô hình nhỏ, không có ký giả thường trực, không có tiêu chuẩn bản quyền và chủ yếu lấy tinh thần phụng sự cộng đồng làm phương châm hoạt động.


Các cộng đồng địa phương Hoa Kỳ thực sự là khát tin tức thời sự về “hơi thở của cuộc sống trước mắt” hơn là những chuyện xa xôi kiểu “thương thương nhớ nhớ” mà các đài truyền hình trong nước thường tìm cách đưa sang với dụng ý tuyên truyền.


Vì thế, khi nhìn vào mô hình này, có người bi quan cho rằng báo chí Việt Ngữ ở hải ngoại đã đến lúc thoái trào vì tính không chuyên nghiệp của nó. Nhiều chủ báo chỉ cần lên Internet tải bài xuống là in được báo giấy.










Chủ nhiệm tuần báo Người Việt, ông Lê Kỳ Quốc sinh trưởng tại Hoa Kỳ (Hình: Trần Đông Đức)


Hiệu ứng SBTN?


Thế rồi, câu chuyện đài truyền hình SBTN đã phủ sóng trên 50 tiểu bang Hoa Kỳ và Canada qua hệ thống phát hình của Mỹ thu được lợi nhuận quảng cáo tốt khiến các cơ sở truyền thông ở Little Sài Gòn thấy rõ tầng lớp độc giả mới ngoài tầm mắt trong mỗi ngày.


SBTN có những chương trình dẫn dắt người già, chăm sóc sức khỏe cộng đồng, thông báo các thông tin thuộc chính quyền sở tại, quảng cáo những sản phẩm gần gũi với đời sống tại Hoa Kỳ do đó SBTN trở thành một sản phẩm truyền thông thành công nhất hiện nay.


Qua đợt SBTN huy động khán giả của mình ký vào thỉnh nguyện thư gởi Tổng thống Obama trên toàn nước Mỹ, những người nhạy cảm thời sự đã thấy rõ sức mạnh thật sự khi họ nắm được truyền thông và có nhóm ủng hộ viên trung thành từ khắp các tiểu bang.


Ở một thời điểm tình cờ, báo Người Việt đã phát triển các ấn bản vào đúng dịp SBTN huy động khán giả.


Ông Đinh Quang Anh Thái, người phụ trách các ấn bản tuần báo đưa ra phương hướng phát triển tờ báo tại các tiểu bang Hoa Kỳ và đang đưa Người Việt vượt biên giới sang Canada.


Thật khó mà nắm bắt được vấn đề một cách dứt khoát. Tuy nhiên, ở một góc cạnh nào đó, đây là một sản phẩm như hàng hóa, phải có quảng bá thương hiệu mới tạo được giá trị thị trường.


Điều thú vị ở thành phố Philadelphia nơi tôi sinh sống là sự hiện diện của cộng đồng người Việt gốc Hoa và gốc Khmer tương đối đông đúc, tương đương với nhóm người Việt dân tộc Kinh.


Hai nhóm này đều có ngôn ngữ nói viết ngoài tiếng Việt và có một lựa chọn khác ngoài căn cước Việt Nam – đó là Trung Quốc và Campuchia, nếu họ muốn như thế.


Nhưng tiếng Việt đã trở thành phương tiện cho người gốc Hoa không biết chữ tượng hình để nắm bắt thông tin về các dịch vụ công cộng.


Đối với người gốc Khmer, tiếng Việt trở thành phương tiện chuyển tải lại các mảng văn hóa phổ thông.


Đó còn chưa nói đến mặt hành chánh, tiếng Việt là ngôn ngữ lớn trong cộng đồng sắc dân. Các tài liệu như thi bằng lái xe, hoặc tài liệu hướng dẫn thi quốc tịch đều có văn bản soạn bằng tiếng Việt.


Những năm về trước, người Việt gốc Khmer còn không có ưu thế ngôn ngữ để chuyển tải các luồng văn hóa phim ảnh ở Á Châu như phim ảnh Hồng Kông sang tiếng Khmer.


Các cơ sở thương mại đều dùng tiếng Việt như là ngôn ngữ phổ biến do một số nghề nghiệp đặc thù như ngành làm móng tay và một số loại dịch vụ nhà hàng, tiệm phở.










Báo Người Việt có tham vọng bán rộng ra các tiểu bang khác (Hình: Trần Đông Đức)


Một thực tế là số tờ báo tiếng Việt trong vùng có tôn chỉ và màu sắc chính trị rõ ràng thì do các nhân sĩ người Việt nắm. Riêng các tờ báo mang tính thương mại có in ấn bằng song ngữ Hoa Việt thì do người gốc Hoa nắm. Trong vùng lại có tờ báo tiếng Việt tương đối đẹp mắt nhất lại do một người gốc Khmer làm chủ.


Rõ ràng, những tờ báo tương đối thành công về doanh nghiệp thì thường do các chủ báo không cần tinh thâm Việt Ngữ và mang nặng tâm tư bảo tồn tiếng Việt như tâm trạng một số nhà làm văn hóa trong cộng đồng.


Đứng ở vị trí bảo tồn văn hóa thì điều này thật đáng quý vì qua sự xuất hiện của tuần báo Người Việt, rõ ràng tiếng Việt vẫn được lưu truyền.


Nhưng thực chất hơn thì đây chính là một sự cạnh tranh xã hội báo hiệu tiếng Việt vẫn còn sức sống.


(*) Bài cũng được đăng trên www.bbcvietnamese.com


http://www.bbc.co.uk/vietnamese/culture_social/2012/06/120606_nguoi_viet_newspaper.shtml

Lá Thư Chủ Bút, báo Người Việt Đông Bắc

 


Lá Thư Chủ Bút


Lần đầu tiên, tờ báo Người Việt đã đến Philadelphia qua ấn bản vùng Đông Bắc. Chúng tôi, những người trong nhóm chủ trương đều đến nhà in để đón những tờ báo mới còn thơm mùi mực sau những ngày lo lắng như là một thành quả và trên hết như là một tặng phẩm cho mình.










Chủ bút Trần Đông Đức


Tờ báo thật là trang nhã và đúng quy cách. Sự hài lòng và mỹ mãn hiện lên trong từng ánh mắt.


Chúng tôi không dám tự hào nhiều về góc cạnh đóng góp của từng cá nhân. Người Việt Đông Bắc chính là sự kết hợp giữa sự chuyên nghiệp, nền tảng trí tuệ và công sức lao động của nhiều người, đặc biệt là ban biên tập và ban kỹ thuật layout của công ty báo Người Việt từ California có khi phải thức khuya dậy sớm để chăm chút từng câu chữ, từng lỗi kỹ thuật dù chi li nhất. Cầm ấn bản đầu tiên trong tay, tôi xin gởi lời cám ơn quý đồng nghiệp đã hết lòng giúp chúng tôi trong những bước ban đầu.


Khi tờ báo xuống thủ đô Washington ra mắt với nhóm thân hữu, cô Nam Anh, phát ngôn viên của đài radio VNDC nhìn thấy đã trầm trồ thốt lên: “Quá đẹp!”. Những người thấy qua tờ báo này đều đồng ý rằng nó đẹp như một tờ báo Mỹ. Thật vậy, từ màu sắc đến cách phân phối bài vở đều hiện rõ sự hợp lý và khoa học.


Thật là hạnh phúc biết bao khi lời khen ngợi dành cho tờ báo này tuyệt đối không phải là hành động tự tán thưởng lấy mình!


Chủ nhiệm Lê Kỳ Quốc và tôi đều có khát khao điều hành một tờ báo trong cộng đồng. Bạn Quốc cũng là người theo nghiệp hải quân (nay đã xuất ngũ vì bị thương), có kỷ luật cuộc sống khắt khe hơn những người thích cầm bút như tôi. Thế là nay cầm trên tay tờ báo Người Việt do sự hợp tác giữa hai người có chút “văn phong cá tính” và “giang hồ khí khái” chính ra là một định mệnh.


Cũng nói thêm về phương thức điều hành của ấn bản Đông Bắc, Người Việt cung cấp bài vở, bản quyền và trademark cho chúng tôi ở địa phương tự quản lý. Hai bên thương lượng một số nhận thức chung về mặt nội dung và hình thức. Bài vở đều gởi về California lên khung để bảo đảm tiêu chuẩn tốt nhất về diện mạo và mỹ thuật của tờ báo.


Đứng bên bờ dòng sông Delaware của thành phố Philadelphia có thể thấy ngay bên kia là thành phố Camden của tiểu bang New Jersey. “Song Thành Cố Sư” ở vùng này khác hẳn khái niệm Twin City của Minnesota. Tiểu bang New Jersey cũng nơi đã đón tiếp bao dòng người Việt Nam trong những ngày đầu đến Mỹ. Văn hóa cộng đồng của New Jersey thường gộp chung với phụ cận Phildalephia.


Thực thế, căn cước cộng đồng Việt Nam vùng Đông Bắc có đặc điểm dựa vào các đơn vị địa lý và hành chánh của từng tiểu bang để tạo tiếng nói với giới chức công quyền. Do đó truyền thông Việt Ngữ cần phải tồn tại như là một một nhịp cầu nối kết, huy động tinh thần phát triển và hội nhập xã hội. Báo chí Việt Ngữ còn là phương tiện thông thương trong kinh tế cộng đồng Việt Nam.


Một tờ báo mới cho toàn vùng Đông Bắc dùng cơ sở sẵn có của công ty Người Việt đang mở ra nhiều vận hội mới.


Như chuyến xe đã lăn bánh. Vận mệnh đã gắn chặt vào nhau trên quãng đường phía trước. Chữ nghĩa và văn chương trên làng báo chí Việt Ngữ vùng Đông Bắc Hoa Kỳ từ nay sẽ như một rừng hoa khoe hương sắc mới. Lý tưởng cuộc sống quanh đây vốn đã tung tăng như muôn vàn cánh bướm nay càng lung linh trước cơn gió lạ từ California.


Người Việt Đông Bắc sẽ miêu tả bức tranh này qua những ngày tháng sắp tới.


Trần Đông Đức

Tín hiệu tích cực nhất về mối quan hệ Mỹ-Việt

 



Về “Mỹ chuẩn bị bán võ khí cho Việt Nam?” báo Người Việt ngày 2 tháng 6


Tôi rất vui khi có những tín hiệu tích cực nhất về mối quan hệ Mỹ-Việt. Từ kẻ thù thành bạn, từ bạn đến đối tác chiến lược về kinh tế, văn hóa, và bây giờ về quân sự ; có nghĩa là: Mỹ đang gia tăng hợp tác toàn diện với Việt Nam. Quá khứ khép lại rồi! Hình ảnh của Mỹ tại Việt Nam đã và đang khác với hình ảnh máy bay B- 52 giội bom ở Hà Nội cách đây trên 40 năm. Thời gian trôi quá nhanh, một và có lẽ gần 2 thế hệ trẻ Việt Nam đã và đang tiếp tục sự nghiệp của cha, anh đi trước trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước. Thật vô cùng cám ơn nước Mỹ đã có cái nhìn chiến lược đối với Việt Nam và nhân dân Việt Nam trong việc “Khép lại quá khứ, nhìn về tương lai”. Cám ơn nhân dân Hoa Kỳ đã có suy nghĩ: “Chúng ta không có ai là kẻ thù truyền kiếp, và cũng không phân biệt ai là bạn tri kỷ suốt đời.”


Phan Lac Dong Quan

Sự thật phũ phàng

 

Về “Nguyễn Phú Trọng không đọc sách,” báo Người Việt ngày 1 tháng 6


Người Việt Nam ở Mỹ cũng không khá gì về đọc sách! Sự thật phũ phàng là số người Việt Nam thích đọc sách rất ít. Ði học chỉ để kiếm việc làm. Sau đó thì đa số không đọc gì cả!!!


Son Nguyen, Ph.D.

Tin mới cập nhật