Nữ sinh Hà Nội kinh hoàng vì ‘dịch’ rạch lưng


HÀ NỘI (NV) –
Sau trò xối cả xô nước xuống đầu người đi đường, một kẻ lạ mặt vừa tung “chiêu” mới: Từ đàng sau dùng dao rạch lưng các cô gái cỡi xe đạp, kể cả đi bộ trên phố Hà Nội.










Ðường hẻm nhỏ, nơi hung thủ chạy thoát thân sau khi rạch lưng các nữ sinh viên từ đàng sau. (Hình: VietNamNet)


Chiêu khủng bố mới này đang gây xôn xao dư luận và khiến nhiều thiếu nữ nay không dám đi một mình trên đường phố, nhất là vào buổi sáng sớm vắng vẻ.


Theo VietNamNet, hung thủ kỳ lạ này nhắm vào giới nữ sinh Hà Nội để tấn công. Y hành động từ đàng sau, dùng một vật bén “khía” một đường dài vào lưng áo của nạn nhân, sau đó chạy biến vào ngõ ngách Hà Nội. Hầu hết các nạn nhân không kịp nhìn thấy mặt mũi của y.


VietNamNet còn cho biết có ít nhất 4 vụ xảy ra tại phường Mai Dịch, quận Cầu Giấy, Hà Nội.


Một nữ sinh viên năm thứ nhất trường đại học thương mại Hà Nội tên T.L. bị vết đâm chém sâu trúng màng phổi đang được cấp cứu tại bệnh viện.


Một số nữ sinh khác cho biết đang trên đường đi học vào sáng sớm thình lình thấy có người từ phía sau lao tới rồi đột nhiên chạm vào lưng mình.


Một cô kể, lúc đầu tưởng bị một kẻ “dê xồm” nào đó giở trò sàm sỡ, trêu chọc. Nhưng không lâu sau, cô thấy đau nhói ở lưng và thấy có vết máu chảy dài, mới biết mình vừa bị rạch rách áo thấu đến da.


Cô T.L. cũng cho biết chỉ thoáng thấy hung thủ là một gã thanh niên cao khoảng 1.7m chạy bộ lẫn vào một ngõ hẻm.


Trong khi đó theo báo Người Lao Ðộng, nguồn tin này được công an phường Mai Dịch xác nhận sáng ngày 27 tháng 4. Trưởng công an phường cho biết đã nhận được thư tố cáo của hai nữ sinh viên. Ngoài cô N.T.L. 20 tuổi, sinh viên trường đại học Thương Mại, người thứ hai là cô V.T.M. 19 tuổi, sinh viên trường Ðại Học Thương Mại-Du Lịch Hà Nội.


Người ta đoán có thể hung thủ đã sử dụng một vũ khí tự chế rất sắc nhọn làm cô N.T.L. bị thương trầm trọng.


Vào đầu thập niên 1980 cũng xảy ra liên tiếp nhiều vụ một thanh niên tấn công hàng chục phụ nữ từ đàng sau tại huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An trong đó có một nạn nhân bị thiệt mạng. Vụ tấn công hàng loạt này chỉ chấm dứt sau khi hung thủ bị bắt. (P.L.)

Cháy tiệm vàng bị khóa, 4 người chết


VĨNH LONG (NV) –
Từ nỗi sợ bị cướp đột nhập giết chết, nay các tiệm vàng lâm vào cơn hoảng loạn khác: lo bị chết cháy vì khóa cửa nhà quá chặt lúc hỏa hoạn xảy ra.



Cảnh tiệm vàng bị cháy rụi. (Hình: VNExpress)


Nỗi lo này đã biến thành sự thật tại tiệm vàng Huỳnh Vân ở khu chợ Trung An thuộc huyện Cờ Ðỏ, thành phố Cần Thơ. Cả gia đình của ông chủ tiệm vàng gồm ông Phan Ngô Huỳnh 41 tuổi cùng vợ và hai con đều bị chết thiêu.


Theo VNExpress, hỏa hoạn xảy ra khoảng 2 giờ sáng ngày 27 tháng 4. Người chủ sạp bán rau cải trông thấy ánh lửa đầu tiên lập tức tri hô cầu cứu. Hàng trăm người dân chung quanh chạy đến tiếp cứu: kẻ dùng vòi nước xịt vào cửa, kẻ kéo ống nhựa phun nước lên mái nhà để dập tắt ngọn lửa.


Mất hơn nửa tiếng đồng hồ, người ta mới chận đứng được ngọn lửa. Tuy nhiên, phải mất trên 10 phút sau đó nữa thì một nhóm thanh niên lực lưỡng mới phá được cánh cửa cuốn bên ngoài, rồi phá luôn lớp cửa sắt bên trong.


Căn gác gỗ của tiệm vàng đã bị cháy rụi thành than, bị sập đổ hoàn toàn. Ðây là nơi trú ngụ của cả gia đình ông chủ tiệm vàng mỗi ngày.


Người ta tìm thấy thi thể của ông chủ tiệm vàng ở ngạch cửa và thi thể vợ của ông là bà Nguyễn Tuyết Vân 37 tuổi còn ôm chặt hai đứa con là Phan Kim Ngân 16 tuổi và Phan Thành Ðạt.


Chính quyền địa phương cho biết tổn thất vụ cháy tiệm vàng Huỳnh Vân lên tới khoảng 400 triệu đồng, tương đương 20,000 đôla. Người ta tìm thấy trong két sắt không bị lửa cháy còn nguyên vẹn số tiền mặt lên tới 1 tỉ đồng, tương đương 50,000 đôla và 100 lượng vàng.


Báo Người Lao Ðộng dẫn lời thân mẫu của ông Huỳnh kể rằng ông này chưa kịp xây lại nhà nên hai vợ chồng và hai đứa con cùng trú ngụ trên căn gác gỗ.


Dư luận còn cho rằng cả nhà ông chủ tiệm vàng bị chết cháy quá nhanh không chỉ vì ngủ trên gác gỗ mà vì cửa khóa quá chặt, không ai chạy được ra ngoài khi hỏa hoạn xảy ra. (PL)

Vụ Văn Giang và những vòng tròn oái oăm của lịch sử


Song Chi/Người Việt


 


Vụ cưỡng chế đất ở đầm Cống Rộc, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng với sự nổi dậy của người cựu bộ đội-kỹ sư nông nghiệp-nông dân Ðoàn Văn Vươn và em trai là Ðoàn Văn Quý làm rúng động dư luận chưa kịp lắng xuống thì vụ Văn Giang đã nổ ra.










Cả ngàn công an, cảnh sát cơ động vây kín những người dân chống cưỡng chế đất ở Văn Giang trong ngày 24 tháng 4, 2012. (Hình: Internet)


Khác với vụ Tiên Lãng, vụ cưỡng chế đất ở xã Văn Quan, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên vào ngày 24 tháng 4, 2012 đã kết thúc với “thắng lợi tưng bừng” thuộc về phe nhà nước. Bao gồm giới tư bản đỏ và các quan tham cấu kết với tư bản nước ngoài, chỉ đạo cho quan chức địa phương, hàng ngàn công an, cảnh sát cơ động, dân phòng, côn đồ… thực hiện.


Và phe thua trận là những người nông dân nghèo khổ đã vùng lên trong nỗi tuyệt vọng để cố giữ được miếng đất, nồi cơm của họ.


So với Tiên Lãng và nhiều vụ cưỡng chế đất khác, vụ Văn Giang có quy mô lớn từ cả lực lượng cưỡng chế lẫn bị cưỡng chế, theo dư luận, khoảng hai ngàn nông dân đã chống lại hơn ba ngàn cảnh sát cơ động, dân phòng các loại. Mức độ thô bạo cũng hơn nhiều, với lựu đạn cay, súng nổ, dùi cui quật, rồi những cảnh người dân bị đánh đập dã man…


Tiếng la khóc cứ như thời chiến tranh bạo loạn hay thời cải cách ruộng đất.


Lịch sử Việt Nam kể từ khi đảng cộng sản ra đời đã luôn luôn đi theo một con đường vòng rất oái oăm, cứ như một trò chơi tai ác của tạo hóa.


Hơn bảy thập niên trước, hàng triệu triệu người nông dân VN đã nghe theo lời tuyên truyền đường mật của những người cộng sản, dùng bạo lực cách mạng để lật đổ nhà nước phong kiến, tay sai của thực dân. Với niềm tin sẽ xây dựng một chính quyền “của dân, do dân, vì dân,” một nhà nước với lý tưởng xã hội chủ nghĩa không có giàu nghèo, công bằng cho tất cả mọi người.


Thực tế cái chính quyền ấy, cái xã hội ấy như thế nào sau năm 1954 ở miền Bắc và sau 30 tháng 4, 1975 trên cả nước, cho đến nay mọi người đều quá rõ.


Nhưng oái oăm là cái đảng và nhà nước cộng sản ấy nay đang quay lại dùng “bạo lực cách mạng” với chính những người nông dân, lực lượng chủ yếu góp phần giành được giang sơn ngày hôm nay cho họ.


Ðảng và nhà nước cộng sản đang thực hiện ngược lại những gì họ đã xúi bẩy người nông dân trước kia: đứng lên giành lại ruộng đất từ tay tầng lớp bị gọi là địa chủ nhà giàu, còn bây giờ thì họ đang cướp lại đất từ tay nông dân để giao cho bọn nhà giàu tư bản đỏ thời nay.


Dân tộc VN đã bị đảng cộng sản dẫn đi một con đường vòng rất xa tốn hao hơn bảy mươi năm, trải qua hai cuộc chiến tranh trong đó có một cuộc chiến huynh đệ tương tàn đầy đau đớn. Lại thêm hai cuộc chiến nữa với các “đảng cộng sản anh em” Cam Bốt và Trung Hoa để cuối cùng trở lại điểm xuất phát còn tệ hơn lúc đầu.


Tức là thay một nhà nước phong kiến lệ thuộc vào thực dân bên ngoài bằng một chế độ về nhiều mặt không khác gì nhà nước phong kiến nhưng là vua tập thể và độc tài, độc ác hơn, đối phó với dân và với dư luận quốc tế ranh ma thủ đoạn hơn gấp nhiều lần. Mặt khác, lại vẫn lệ thuộc vào nước khác, nhưng ở một mức độ nặng nề hơn, nguy hiểm hơn.


Riêng với tầng lớp nông dân, chỉ bằng cụm từ “đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do nhà nước quản lý” nhưng thực chất việc không công nhận quyền tư hữu ruộng đất là cái lý do để nhà nước muốn thu hồi, cướp lại đất từ tay người nông dân lúc nào là thu hồi, muốn đền bù bao nhiêu là đền bù.


Nhìn vào hầu hết những cuộc cưỡng chế đất đai từ trước đến nay, ai cũng có thể thấy người nông dân bị o ép như thế nào, và cái nhà nước này thực sự đang của ai do ai vì ai.


Khi nào còn tiếp tục không công nhận quyền tư hữu đất đai thì những vụ kiện cáo, biểu tình, cuối cùng là cưỡng chế thô bạo như ở Tiên Lãng, Văn Giang sẽ còn tiếp tục diễn ra dài dài. Mâu thuẫn giữa nông dân với chính quyền cứ thế âm ỉ, lòng tin của người dân với chính quyền tiếp tục bị xói mòn trong khi bộ mặt của nhà nước VN với thế giới tiếp tục lem luốc vì những vụ cưỡng chế đầy bạo lực với chính người dân của mình.


Và điều đó hoàn toàn bất lợi cho chính cái nhà nước này, trong bối cảnh họ còn đang phải đối phó với đủ thứ nguy cơ từ cái họa bành trướng từ phương Bắc cho đến phong trào dân chủ trên thế giới.


Bên cạnh đó, nhiều nhà báo, giới chuyên môn cũng đã phân tích đến những khía cạnh nguy hại của việc thu hồi đất nông nghiệp cho những dự án xây dựng nhà máy công nghiệp, khu du lịch thương mại hay sân golf…


Là tự làm mất đi cái thế mạnh của VN – một quốc gia lẽ ra hoàn toàn có thể phát triển bền vững bằng nông-ngư nghiệp. Vừa nuôi được dân vừa xuất khẩu kiếm ngoại tệ trong bối cảnh thế giới thường xuyên khan hiếm, khủng hoảng lương thực chỗ này chỗ khác.


Giới chuyên môn cũng cảnh báo về hiện tượng đất nông nghiệp nói chung và đất trồng lúa nói riêng đang bị sụt giảm. Một phần vì những tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu, mặt khác, do hiện tượng lấy đất nông nghiệp chuyển sang phi nông nghiệp dưới nhiều hình thức khác nhau.


Từ ông Bộ Trưởng Cao Ðức Phát cho đến ông Thứ Trưởng Bùi Bá Bổng của Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn trong những phiên họp Quốc Hội cũng như khi trả lời báo chí đều nhấn mạnh đến nguy cơ sụt giảm đất trồng lúa. Cũng như việc làm sao cố gắng giữ được 3.8 triệu ha đất trồng lúa cho nông dân.


Một con số quá khiêm tốn nếu so với Thái Lan, cũng là một quốc gia xuất khẩu gạo mạnh, dân số chỉ có khoảng hai phần ba VN nhưng lại giữ được 10 triệu ha đất lúa. Còn VN, với cái kiểu luật rừng từ trên xuống dưới cộng với lòng tham vô đáy của các quan chức và giới tư bản đỏ chỉ biết quyền lợi của mình như lâu nay thì chuyện giữ 3.8 triệu ha cũng đã là khó.


(Theo bài “Thứ trưởng Bộ NN-PTNT Bùi Bá Bổng: Xây dựng những ‘cánh đồng mẫu lớn,’” báo SGGP; “Bộ trưởng Bộ NN-PTNT: Quyết giữ 3.8 triệu ha diện tích đất trồng lúa,” Diễn đàn Doanh nghiệp).


Trong khi đó thì những vụ cưỡng chế đất cho những dự án phi nông nghiệp vẫn tiếp tục diễn ra, mà vụ Văn Giang là ví dụ nóng hổi. Tức là không chỉ coi nhẹ quyền lợi của hàng triệu nông dân mà cả lợi ích quốc gia lâu dài để phục vụ cho quyền lợi của các phe nhóm có tiền và có quyền.


Lịch sử VN từ ngày có đảng và nhà nước cộng sản VN là những sai lầm nối tiếp sai lầm, gắn liền với những cụm từ gợi lên những ký ức kinh hoàng. Từ “cải cách ruộng đất,” “nhân văn giai phẩm,” vụ án xét lại, thuyền nhân, cải tạo tư sản, cải tạo công thương nghiệp, v.v… và bây giờ là “cưỡng chế, giải phóng mặt bằng”!


Mỗi sự sai lầm như vậy đều gây ra tai ương ngay tức thì cho hàng vạn hàng triệu con người, và di họa tính bằng nhiều thập niên cho xã hội, đất nước.


Những vụ cưỡng chế sẽ khiến hàng ngàn nông dân mất đất, phải bỏ làng ra đi nhập vào đội quân đông đảo không nhà cửa không nghề nghiệp ổn định ở các thành phố lớn. Từ đó đừng hỏi tại sao những vấn nạn xã hội như cướp giật, móc túi, gái điếm, nạn buôn người, giết người… ngày càng tăng.


Hoặc đừng hỏi tại sao một lúc nào đó VN đang từ một quốc gia xuất khẩu gạo thuộc hàng nhất nhì thế giới lại bị rơi vào tình trạng khủng hoảng lương thực, phải đi nhập khẩu thêm gạo hoặc các sản phẩm nông nghiệp. Hoặc trong một vụ cưỡng chế nào đó, chỉ cần có người chết là mọi chuyện có thể trở thành không kiểm soát được. Một chế độ có thể sụp đổ nhanh chóng nhiều khi chỉ từ một cuộc bạo động bộc phát do phẫn uất.


Nhưng thói thường một nhà nước độc tài cầm quyền quá lâu thường trở nên quá tự tin vào sức mạnh và tuổi thọ của chế độ, nên ngày càng khinh suất trong cách ứng xử với nhân dân, với công luận, cộng thêm thói tham lam vô độ ngày càng muốn vơ vét nhiều hơn… sẽ không thể biết dừng lại đúng lúc.


Từ xưa đến nay, cái chết của mọi chế độ độc tài nói chung và các nhà nước do đảng cộng sản lãnh đạo nói riêng thường chỉ do chính họ tự đào hố chôn mình mà thôi!

Lịch Sinh Hoạt Cộng Ðồng Bắc Cali


Tháng 4, 2012


 


– Lễ Giỗ Quân Cán Chính VNCH: Ngày Thứ Bảy, 28 tháng 4 năm 2012, kính mời quý đồng hương đến tham dự Lễ Giỗ Quân Cán Chính VNCH lần thứ 37 ngày Quốc Hận 30/4 do Khu Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị tổ chức tại trụ sở mới số 111 E. Gish Road San Jose, CA 95112. Liên lạc: (408) 289-9170.


– Chiều Văn Nghệ “Việt Nam Tôi Ðâu”: Tưởng Niệm Quốc Hận 30/4/1975 do Biệt Ðoàn Văn Nghệ Lam Sơn đảm trách, thời gian từ 1g đến 4g chiều Thứ Bảy, ngày 28 tháng 4 năm 2012, tại địa chỉ 70 West Hedding St. San Jose, CA 95110 (tiền đình Quận Hạt Santa Clara). Parking miễn phí.


– Lễ Tưởng Niệm Quốc Hận 30/4: do Cộng Ðồng Việt Nam Bắc Cali đảm trách sẽ được tổ chức tại tiền đình quận hạt Santa Clara, tại địa chỉ 70 West Hedding St. San Jose, thời gian từ 11g sáng đến 3g chiều ngày Chủ Nhật, 29 tháng 4 năm 2012.


 


Tháng 5, 2012


 


– Chùa Giác Minh – Thông Bạch Phật Ðản 2556: Nhân dịp Ðản Sinh năm thứ 2556 của Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni, chùa Giác Minh sẽ long trọng cử hành Ðại lễ Phật Ðản vào ngày 6 tháng 5, năm 2012 (tức ngày 16 tháng 4 Âm lịch) để truy niệm công đức và báo ân ngài đã vì nhân loại, chúng sinh mà thị hiện xuống trần theo chương trình hành lễ dưới đây:


10g sáng: thuyết pháp – 11g sáng: Khóa lễ Kính Mừng Khánh Ðản – 12g: Cúng ngọ và thọ trai – 1g chiều: Lễ Truyền Thọ Tam Quy – 2g: Cúng thị thực chúng sinh.


Trân trọng kính mời quý cụ, quý đồng bào, đạo hữu Phật tử tới dự lễ đế báo ân Ðức Phật và cầu nguyện cho am dương được lợi lạc. Ðịa chỉ: 763 Donohoe St. East Polo Alto, CA 94303.


– Tu Viện Kim Sơn: Nhân dịp Ðản Sinh năm thứ 2556 của Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni, tu viện Kim Sơn sẽ tổ chức trọng thể mừng Lễ Phật Ðản vào hai ngày Thứ Bảy, 12 tháng 5, 2012 và Chủ Nhật, 13 tháng 5, 2012. Ðịa chỉ tu viện Kim Sơn: 574 Summit Rd. Watsonville, CA 95076.


– Dạ Tiệc Liên Trường: Dạ tiệc Liên Trường 2012 sẽ được tổ chức vào Thứ Bảy, 12 tháng 5, 2012, tại TA Restaurant, 90 S. Abel St. Milpitas, CA 95035. Từ 5g30 chiều đến 11g khuya. Xin mời quý vị cựu giáo sư học sinh và gia đình liên lạc với đại diện trường mình để ghi danh tham dự. Các Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh: Chu Văn An, Trưng Vương, Gia Long, Hồ Ngọc Cẩn, Lê Văn Duyệt, Ngô Quyền, Nguyễn Huệ, Petrus Ký, Phan Thanh Giản, Ðoàn Thị Ðiểm, Quốc Học-Ðồng Khánh, Quốc Gia Nghĩa Tử, Trần Quốc Tuấn, Võ Trường Toàn và Vũng Tàu trân trọng kính mời. Ban tổ chức: Bạch Yến (LVD) 408-513-4534, Nguyễn Mạnh Dần (HNC) 408-623-5626, Mai Hương (LVD) 510-205-2264.


– Buổi Văn Nghệ Chủ Ðề Hát Cho Quê Hương Ngục Tù: Do nghệ sĩ Ðan Hùng phụ trách từ 10g sáng đến 3g chiều tại Khu Hội Tù Nhân Chính Trị Bắc Cali, 775 N. 10th St. #116, San Jose, CA 95112, ngày Chủ Nhật, 15 tháng 5 năm 2012.


– Pride Tiếng Việt: Khóa học PRIDE tiếng Việt, miễn phí, dành cho phụ huynh nuôi dạy con em, đặc biệt con nuôi, con bảo dưỡng, với hướng dẫn viên Trần Hiếu và Trần Bình Thérèsa, do West Valley College và Sở Xã Hội tổ chức trong 4 Chúa Nhật, 15, 22, 29 tháng 4 và 6 tháng 5, 2012 từ 9g sáng đến 3g30 chiều, tại Family Resource Center, 591 N. King Road, San Jose. Giữ trẻ miễn phí trong giờ học. Ðể biết thêm chi tiết, xin liên lạc bà Nguyễn Thị Hoa (408) 472-1068.


 


Tháng 6, 2012


 


– Hội Từ Bi Phụng Sự San Jose – Hội Từ Bi Phụng Sự San Jose sẽ tổ chức Lễ Mạn Ðà La Như Ý và Quán Âm Sám vào hai ngày: 9 và 10 tháng 6 (nhằm Thứ Bảy & Chủ Nhật từ 9g sáng đến 6g chiều) tại Fair Ground, 344 Tully Rd. San Jose. Mỗi ngày sẽ có 2 chuyến xe đưa đón quý đạo hữu tại Lion Plaza (cạnh cà phê Starbucks), từ 7g-8g30 sáng. Về lại Lion Plaza lúc 6g và 7g chiều. Tham dự và dùng cơm trưa miễn phí. Muốn biết thêm chi tiết, xin vào trang nhà tại www. css-sanjose.org hoặc liên lạc Hội Từ Bi Phụng Sự số (408) 320-9299; (408) 489-4525.


– Hội Ngộ Cựu Tù Nhân Chính Trị: Kính mời quý anh chị cựu tù nhân chính trị (1975-1992) gia đình và thân hữu về tham dự ngày hội ngộ 10 tháng 6 năm 2012 tại Little Saigon, Quận Cam, Nam Cali. Năm nay, Ban Ðiều Hợp gồm các anh đã từng bị giam giữ trong các trại giam của cộng sản tại bốn phân trại Tân Lập Vĩnh Phú, Hà Tây, Ba Sao Nam Hà và Hàm Tân Z-30D (từ 1975- 1992) đã quyết định hợp nhất để cùng tổ chức chung.


Ban Tổ Chức xin cám ơn và trân trọng mời quý bạn cùng gia đình và thân hữu.


Liên lạc: Nguyễn Hồng Thái (562) 277-7716, Nguyễn Văn Lợi (714) 251-4922, Võ Thiệu (714) 487-4610, Phan Tấn Ngưu (714) 230-9602, Trần Tiễn San (714) 839-9601, Lê Hữu Minh (714) 639-3012, Trần Vệ (310) 800-5202.


– Họp Mặt Hội Cựu Giáo Sinh Sư Phạm Qui Nhơn – Hội Cựu Giáo Sinh Sư Phạm Qui Nhơn, Bắc Cali, họp mặt Kỷ Niệm 50 Năm Ngày Thành Lập Trường Sư Phạm Qui Nhơn tại nhà hàng Mỹ Tho, 1071 E. Capitol Expwy, San Jose, CA 95121 và Chủ Nhật, ngày 10 tháng 6, 2012 từ 10g30 sáng đến 4g chiều. Trân trọng kính mời quý thầy, cô, quý bạn đồng môn, quý thân hữu ghi danh tham dự. Mọi chi tiết xin vui lòng liên lạc:


Chị Kim Liên: (408) 998 9677, Chị Phan Liên: (408) 266 8941, Chị Quỳnh Hoa: (408) 362 9287, Anh Nguyễn Bình: (408) 578 2843.


– Hội Quán Phật Giáo Hòa Hảo Bắc Cali: Ngoài những sinh hoạt về tôn giáo, chúng tôi nhận làm đồ chay các loại như mắm, bì, gỏi chay cũng như các thức ăn chay. Hớt tóc và hướng dẫn sử dụng computer căn bản miễn phí vào cuối tuần. Ðịa chỉ: 1955 Quimby Rd. #1847. Ðiện thoại nhắn tin (408) 504-9848; điện thoại di động (408) 306-3034.


– Học bổng thường niên của Hội Y Sĩ Việt Nam Bắc California: Học bổng thường niên lần thứ 17, năm 2012 của Hội Y Sĩ Việt Nam Bắc California đã bắt đầu nhận đơn và hạn chót là ngày 14 tháng 4, 2012. Năm nay hội sẽ cấp 10 học bổng. Muốn biết thêm chi tiết, xin vào website: www.vpanc.com


– Chương trình TV hàng tuần “Ask the Doctor”: Bắt đầu từ tháng 8, năm 2010, Hội Y Sĩ Việt Nam Bắc California đã hợp tác với Việt Today TV để đem đến khán giả vùng Vịnh (Bay Area) một chương trình Y Học Thường Thức, được gọi là “Ask the Doctor.” Chương trình này được phát trên TV channel 26.5 KTSF vào mỗi tối Thứ Năm, lúc 7g30 tối, và Thứ Sáu, lúc 2g30 chiều. Khán giả cũng có thể coi trên cable TV channels 174, 94 và 381.


– Chương trình phát thanh Nuôi Dạy Trẻ Vui Mạnh: Mỗi Chủ Nhật từ 8g đến 8g30 tối, trên làn sóng 1500AM, nhằm quảng bá những thông tin hữu ích cho sự phát triển lành mạnh của trẻ con Việt Nam trong 5 năm đầu đời. Chương trình do ICAN thực hiện, với sự cộng tác của Hội Quán Cửu Long và nhiều chuyên gia người Mỹ gốc Việt, và sự bảo trợ của cơ quan FIRST 5 Santa Clara County.


– Gia Ðình Phật Tử Chánh Tâm thuộc thành phố Hayward hiện đang sinh hoạt hàng tuần vào mỗi Chủ Nhật, từ 1g chiều đến 5g chiều, tại 25350 Cypress Ave., #2/B, Hayward, CA 94544. Học tập về Phật pháp, văn nghệ, hoạt động thanh niên và Việt ngữ. Dành cho các em từ 6 tuổi trở lên. Xin liên lạc điện thoại (510) 303-7515. Email: [email protected] hoặc ghé thăm trang nhà tại www.chanhtam.org


Các tổ chức thiện nguyện, tôn giáo, văn nghệ, hội đoàn, cơ quan, đoàn thể, tư nhân, có những tin tức liên quan đến Lịch Sinh Hoạt Cộng Ðồng Bắc Cali, cần được phổ biến trên báo Người Việt San Jose, xin liên lạc email: [email protected]

Tin Ngắn Song Thành


Ngày Quốc Hận


Ngày Quốc Hận 2012 sẽ được Hội Cựu Chiến Sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa tại Minnesota tổ chức vào lúc 11giờ 30 dến 15 giờ30 ngày Thứ Bảy, 28 tháng 4 năm 2012 tại nhà hàng Hoa Biển, 1105 University Avenue, St. Paul MN 55104.


Ðể biết thêm chi tiết, xin liên lạc với ông Ngô Trọng Phục, chủ tịch Hội CCSQLVNCH/MN qua số điện thoại 952-457-0365.


 


Ðọc truyện bằng tiếng Việt


Giờ đọc truyện bằng tiếng Việt trong tháng 4 dành cho trẻ em từ 2 tuổi trở lên. Chương trình gồm đọc sách, kể truyện, học vần điệu và nghe nhạc bằng tiếng Việt.


Thời gian: 11AM các ngày 7, 21 và 28 tháng 4, 2012


Ðịa điểm: Augsburg Park Library, 7100 Nicollet Avenue, MPLS, MN 55423


Liên lạc: Trần Phước 612-543-6200


 


Sinh Trong Cuộc Chiến


Thảo luận “Sinh Trong Cuộc Chiến” (Born Into War) của tác giả Connie Fortin.


Một cuốn sách nới về câu chuyện của Trọng Nguyễn.


Thời gian: 2PM, 21 tháng 4, 2012


Ðịa điểm: Augsburg Park Library, 7100 Nicollet Avenue, MPLS, MN 55423


Liên lạc: Trần Phước 612-543-6200


 


Ủy ban yểm trợ phim tài liệu Việt Nam


Sau phần thuyết trình của GS Nguyễn Ngọc Bích và trình chiếu đoạn phim Tết Mậu Thân, một trong 13 chương của phim tài liệu do nhóm VN Film Club thực hiện. Các khán giả trong buổi thuyết trình vào ngày Thứ Sáu, 20 tháng 3, 2012 rất cảm động và muốn được tiếp tay.


Những người sau đây tạm thời đứng ra vận động để thành lập Uỷ Ban Yểm Trợ:


Phạm Văn Vy, Trần Phước, Bùi Ngọc Tuấn, Phan Thanh Tâm, Dương Quang Ngự, Phạm Văn Yến, Nguyễn Minh Phan và Huỳnh Sĩ Nghị.


Quý vị có ý định tham gia vào ủy ban hoặc cần thêm chi tiết, xin liên lạc Huỳnh Sĩ Nghị 651-224-6570 hoặc email: [email protected]


 


Live show “Mẹ và Em Tôi”


Ðây sẽ là lần đầu tiên những tài năng khuyến tật ở Việt Nam và Mỹ trình diễn chung với các ca sĩ tài danh hải ngoại để vinh danh người mẹ Việt Nam và các em.


Thời gian: 2PM, Chủ Nhật, ngày 13 tháng 5, 2012


Ðịa điểm: Kennedy High School, 9701 Nicollet Ave., S. Bloomington, MN 55420


Liên lạc: Susan Liên 651-428-1648


 


Trại Lên Ðường


Hội Văn Hóa Khoa Học Việt Nam (văn phòng chính ở Houston, TX và chi nhánh MN) sẽ tổ chức Trại Lên Ðường lần thứ 15 với tên là “Phát triển Kỹ năng Lãnh đạo Thanh niên” tại Camp Courage, Maple Lake, Minnesota. Thời gian từ 6:00 chiều Thứ Sáu, ngày 25 đến 2:00 chiều thứ Hai, ngày 28 tháng 5, 2012.


Chương trình được tham dự của nhiều diễ giả nổi tiếng như ông Nguyễn Ðạt cựu cầu thủ football, Dallas Cowboys; Bác Sĩ Mylene Trần Huỳnh, đại tá Không Quân Hoa Kỳ v.v…


Muốn ghi danh hoặc cần thêm chi tiết, xin liên lạc với Ban Tổ Chức 281-933-8118, www.lenduongcamp.org hoặc www.vcsa.org


 


Ðại Hội Tổng Hội Sinh Viên Bắc Mỹ


Tổng Hội Sinh Viên Bắc Mỹ (The Union of North American Vienamese Student Association) sẽ tổ chức đại hội lần thứ 9 vào các ngày 26-29 tháng 7 năm 2012, tại University Hotel Minneapolis, MN.


Ðược biết Tổng Hội Sinh Viên Bắc Mỹ gồm hàng trăm hội sinh viên Việt Nam ở Mỹ và Gia nã đại nhằm giúp phát triển sinh hoạt sinh viên để phục vụ cộng đồng.


Ðại hội tập trung vão các chương trình huấn luyện lãnh đạo, thảo luận với các diễn giả và tìm hiểu những vấn đề của tuổi trẻ.


Muốn tìm hiểu hoặc ghi danh tham dự, xin liên lạc Jacklin Nguyễn 651-829-9326, [email protected], http:/www.unavsa.org

Ông Nói, Bà Nói!

 


Ông Nói, Bà Nói!


 


“Nếu người ấy muốn chia tay, giữ hay không giữ?”


 
































Thông, 45, Fremont:


Taị sao phải giữ? Người đàn bà như thế là không chung thủy, giữ lại chỉ nhức đầu thôi!



 


Linh, 49, Milpitas:


Nếu vì một hình bóng khác thì cho đi luôn, đây là về cá tính nhiều hơn là sa ngã. Ðàn ông có 5, 7 lá gan, đâu biết lá nào là dành cho mình. Thật ra họ chỉ thương họ thôi thì giữ làm gì, cho họ đi rồi họ sẽƯ biết đá biết vàng nhưng lúc đó đã muộn màng!


 



 


Hùng, 32, San Jose:


Ai cũng có lúc yếu đuối, nhưng nếu mình cho họ thấy mình yêu thương thật lòng thì họ sẽ không bao giờ đi đâu cả. Nếu họ vẫn cứ muốn đi thì giữ làm sao được!


 



 


Mai Trần, 27, San Jose:


Nếu thương rồi thật khó mà chia tay, sẽ làm mọi cách để giữ kể cả quên bản thân mình. Phải chìu chuộng nhiều hơn, nếu cần gọi đối phương để “confront” cho biết “who is the Boss?”!!


 



 


Hằng Lê, 67 San Jose:


Tôi thì cho đi luôn! Ðàn ông có đi cũng về lại, chẳng qua họ chỉ ham vui nhất thời nhưng đã đi thì cho đi luôn, không phải muốn gì cũng được. Làm cha làm mẹ không thể làm mà không suy nghĩ đến hậu quả.


 



 


Nam, 49, San Francisco:


Nếu người ta không còn yêu thương mình nữa thì giữ làm gì? Chén nước đổ rồi làm sao hốt được? Có giữ được thân xác nhưng chắc gì giữ được tâm hồn! Ðàn bà đã thay lòng đổi dạ thì khó giữ vì vấn đề là ở trái tim của họ chứ không phải nơi thể xác.


 


 



 


Hồ Nguyễn, 59, Fremont:


Dĩ nhiên là có. Các bà sao đặt nặng vấn đề, chúng tôi chỉ vui chơi thôi, làm sao bỏ gia đình con cái được? Từ ngàn xưa ông bà đã lấy nhiều vợ nhưng có sao đâu? Còn các bà mà muốn đi thì không thể chấp nhận được, đàn bà phải trung trinh không được lăng nhăng.


 


 


 


Huệ, 38, San Jose:


Giữ làm gì, trên đời này đâu thiếu người đẹp, quan trọng là tánh tình chung thủy. Nếu đã quen người khác có nghĩa là không yêu mình trọn vẹn, thà chia tay để không tốn thời giờ cả hai.


 



 


Liên, 53, San Jose:


Ðàn ông có lăng nhăng cũng chỉ ham vui nhất thời. Tình cảm họ thật ra yếu đuối hơn phụ nữ, dễ bị quyến rũ bởi những điều mới lạ, có đi cũng về lại, còn người phụ nữ, khi muốn chia tay là dứt khoát vì người phụ nữ vốn dĩ chịu đựng và tha thứ, khi họ “enough is enough” thì chỉ có “trời mới cứu nổi”! Theo tôi, cả hai trường hợp, “có ai giữ người đi bao giờ”!!


 


 

Lá thư Chủ nhiệm


Với kỹ thuật điện tử tân tiến của xã hội Hoa Kỳ cộng với sự thông minh, năng động của giới trẻ Việt Nam, đã tạo ra một môi trường đặc biệt trong lãnh vực truyền thông đại chúng của các em.


 Từ lớp học trò trung học, đến sinh viên đại học cũng như thành phần chuyên gia trẻ mới bước chân vào đời, đâu đâu cũng dùng điên thoại di động, máy điện toán có chức năng cao. Tin tức truyền thanh, truyền hình, phim ảnh, âm nhạc dễ dàng thu nhận nhanh chóng tức thời cho họ. Do đó ngôn ngữ các em thích dùng là phim ảnh, viết gửi, nhận điện thư thay vì đọc sách, viết thư theo lối người lớn thường làm.


Ðể tạo sự cảm thông, hay truyền đạt tư tưởng đến với họ, giới phụ huynh hay người lớn nên cố gắng học hỏi kỹ năng cần thiết. Chúng ta những người lớn cần làm quen với những phương tiện kỹ thuật hiện đại của diện thoại và điện toán. Ngược lại giới trẻ cũng cần quay về với các quy ước giao tế thông thường. Có như thế thì sự liên lạc giữa đôi bên sẽ có nhiều hiệu quả.


Câu lạc bộ phim tài liệu Việt Nam (Viet Nam Documentary Film Club) đang nghiên cứu thực hiện một loạt phim tài liệu Việt Nam cho mọi giới kể cả giới trẻ qua các phương tiện truyền thông đặc biệt nêu trên.


Chúng tôi mong rằng giới trẻ sẽ tiếp tục tân dụng kỹ thuật tân tiến cho phương tiện chuyển đạt và thu nhận truyền thông. Nhưng cũng sẽ chậm bớt khi liên hệ với người có tuổi. Ngược lại thành phần lớn tuổi cũng sẽ không quản ngại với kỹ thuật tối tân khi dùng liên lạc với các con em.


Trân trọng,


Huỳnh Sĩ Nghị


Chủ nhiệm

Lần đầu tiên lá cờ Vàng ba sọc đỏ đã có thật trên đỉnh ngọn núi Everest, năm 2004


Gửi gió cho mây ngàn…


 


Ngọc Bội


 


Dường như, có những bức cảnh chụp nói lên cả ngàn lời, có khi còn được cho là một kỳ tích, có một, không hai, hay là một bức ảnh lịch sử, v.v…


Tôi không khỏi ngạc nhiên, hết sức kỳ thú, và ngưỡng mộ, khi được nhìn thấy lá cờ Vàng, ba sọc đỏ của Việt Nam Cộng Hòa, do nhà thám hiểm leo núi chuyên nghiệp Craig Van Hoy, và các thể tháo gia trẻ tuổi người Mỹ, năm 2004 đã dựng lên lần đầu tiên trên đỉnh ngọn núi danh tiếng Everest, cao chót vót vào bậc nhất của thế giới. Tôi tự hỏi, làm sao có thể thực hiện được một kỳ công, một giấc mơ đẹp như thế? Ðạo diễn, hay tác giả đích thực của bức ảnh trên, phải chăng từ cõi tâm, đã có niềm tự hào, ý chí dấn thân và hướng thượng, luôn có những tiếng gọi đến với chân, thiện, mỹ?


Có biết bao người đã dấn thân, bước tới theo mệnh nước, cho sự trường tồn bốn ngàn năm văn hiến! Những lời kêu gọi như kim chỉ nam, còn hằn sâu trong tâm hồn của một thời tuổi trẻ: “Nếu chúng ta có sinh ra để ngồi yên một chỗ, thì em hãy đi, đi đã. Nếu chưa đi một vài dặm nắng, chưa có quyền ngồi nghỉ dưới bóng một cây già râm mát.” (Một nhà văn tiền chiến?)


Câu nói đã phản ảnh từ dân tộc tính, từ hồn nước?


“Hồn nước, cái ý thức truyền thống, khi tiềm tàng, khi biểu lộ, từ cá nhân thông với núi sông vũ trụ, một dòng bất tuyệt, nối quá khứ với hiện tại và tương lai, đây là dân tộc tính, và dân tộc tính ấy có thật. Những chiến công mãnh liệt, những biểu hiện cụ thể phản chiếu vào tâm hồn, để rồi lại phóng ra những chiến tích phi thường của tất cả các anh hùng dân tộc.” (GS Nguyễn Ðăng Thục)


Tác giả thực hiện bức ảnh này, được biết chính là họa sĩ Hố, Huỳnh Lương Vinh, mà tôi quen biết từ những năm đầu tỵ nạn trên đất Mỹ, kể từ sau 30 Tháng Tư, 1975. Anh lớn lên và trưởng thành trên phần đất mới, Portland, Oregon. Anh thuộc thế hệ một rưỡi, thế hệ trẻ đang dấn thân hôm nay, tiếp nối những bậc cha anh, đã hy sinh, đấu tranh hào hùng cho tự do, dân chủ và nhân quyền của đất nước. Năm 1984, anh tốt nghiệp kiến trúc sư tại đại học danh tiếng (hàng thứ ba ngành kiến trúc) của Hoa Kỳ, University of Oregon. Ðã có những đóng góp cho các sinh hoạt văn hóa, hội họa trong cộng đồng và nhất là môn biếm họa sâu sắc!


Nhìn lá cờ Vàng ba sọc đỏ của Việt Nam Cộng Hòa ngự trên ngọn Everest, trong lòng tôi không khỏi nhớ lại những chiến thắng vinh quang trong quân sử Việt Nam Cộng Hòa, với cờ bay trên cổ thành Quảng Trị được chiếm lại v.v… Hãy tin tưởng vào lẽ tất thắng của chính nghĩa quốc gia dân tộc, ngày chiến thắng sau cùng, giành lại quê hương Việt Nam của chúng ta chắc chắn sẽ đến. Hãy cùng nhau siết chặt tay nắm, giữ lá cờ Vàng ba sọc đỏ của hồn thiêng sông núi. Chúng ta sẽ cùng cất cao tiếng hát quốc ca VNCH và các bản hùng sử ca với Phong Trào Hưng Ca trong ngày hạnh ngộ trên quê hương: “Cờ Bay Trên Thành Phố thân yêu” của Cục Chính Huấn QLVNCH năm nào:


 


Cờ bay, cờ bay oai hùng trên thành phố thân yêu


Vừa chiếm lại, đêm qua bằng máu.


Cờ bay, cờ bay tung trời ta về với quê hương


Từng ngóng đợi quân ta tiến về!


Ta ôm nhau mắt lệ nghẹn ngào quỳ hôn đất thân yêu


“Việt Nam” ơi, chào quê hương giải phóng.


Sạch bóng thù, đồng hân hoan, quân dân vui,


Vang câu hát tự do…


 


Tôi không là gì cả, xin gọi tác giả của bức ảnh trên bằng em, vì hậu sinh khả úy. Và vì lúc tuổi hoa niên của tôi, em còn bé quá. Họa sĩ Hố, Huỳnh Lương Vinh, và thế hệ trẻ hôm nay, tôi còn nợ các em một lời Cám Ơn!

Khi đồng minh tháo chạy (7)


Công cụ của quyền hành


 


Hiểu rõ nhu cầu của Nixon cần có thành quả ngoại giao, Kissinger lại có trong tay một cơ hội bằng vàng: Ðó là quyền điều khiển toàn bộ nhân viên làm việc cho “Hội Ðồng An Ninh Quốc Gia” (National Security Council – NSC).


Ông liền đưa ra một đề nghị để Nixon cho phép ông sửa đổi nó lại theo ý ông (18). NSC được thành lập từ 1947 để giúp tổng thống điều hợp các vấn đề liên quan tới an ninh quốc gia. Về thực chất nó rất lỏng lẻo. Tôi còn nhớ từ khi du học ở Mỹ, dù là dưới thời Eisenhower, Kennedy hay Johnson, mỗi khi truyền hình chiếu những biến cố ngoại giao quan trọng vào phần tin buổi chiều thì đều thấy ngoại trưởng hoặc tổng trưởng quốc phòng lên trình bày. Bây giờ được Nixon ủng hộ, Kissinger sắp xếp lại để nó trở thành một công cụ tập trung quyền hành.


Guồng máy NSC được sửa lại thì giống như cái máy sàng lọc, mọi hồ sơ phải qua đây thì mới tới được bàn giấy tổng thống. Ba cơ quan ngoại giao, quốc phòng, CIA có trách nhiệm phải nộp cho NSC các đề nghị về những giải pháp được cân nhắc kỹ lưỡng. Dựa theo đó, nhân viên làm việc tại NSC phải trình bày cho tổng thống những lựa chọn và hậu quả về mỗi giải pháp và cho từng vấn đề.


Sự sắp xếp lại NSC cho phép Kissinger đóng hai vai trò: Một là người điều hợp, tập trung các phân tích, đề nghị của các bộ về lãnh vực an ninh; hai là làm cố vấn cho tổng thống về ngoại giao. Là người điều hợp, ông có quyền sàng lọc, thâu tóm các đề nghị. Quyền sàng lọc là quyền vô cùng quan trọng. Những điểm gì mình không thích hay không đồng ý thì có thể làm nhẹ đi, giảm tầm quan trọng của nó xuống, hay chỉ nói phớt qua thôi.


Ảnh hưởng của cố vấn cũng lợi hại. Có nửa ly rượu: Nói đầy nửa ly cũng đúng hay vơi nửa ly cũng đúng, kiểu nào cũng được. Miễn là gần kề tổng thống. Bộ Ngoại Giao đã hết sức bất mãn, cho rằng Kissinger đã độc quyền hóa lãnh vực ngoại giao, nắm trọn vẹn quyền hạn đến nỗi một bộ lớn với 12 ngàn nhân viên, mà chỉ còn vai trò sắp xếp giấy tờ, hồ sơ. Nghị sĩ Stuart Symington còn bàn thêm rằng “Kissinger đã thực sự là ngoại trưởng, trừ cái tên đó thôi” (18).


 


Tài nghệ ông phụ tá


 


Ngoài tài ba về chính trị, ông Kissinger lại có tài hùng biện, rất khéo chơi chữ để nói quanh co. Chúng tôi còn nhớ có đọc một bài báo (mà không nhớ xuất xứ từ đâu) nói về điểm này và cho là Kissinger có nghệ thuật “làm sao không nói sự thực mà lại không là nói dối” (“how not to tell the truth without really lying”). Ông H.R. Haldeman, đổng lý văn phòng cho Tổng Thống Nixon kể lại một câu chuyện khôi hài về tài của Kissinger. Hồi tháng 12, 1972, chính Kissinger là người đề nghị Nixon cho ném bom Bắc Việt vì ông đã tuyên bố ‘hòa bình đang trong tầm tay’ (peace is at hand) hai tháng trước đấy, mà bây giờ theo như ông nói, Hà Nội đã bội ước. Thế mà làm sao nhà báo James Reston lại viết trên tờ New York Times trái ngược lại. “Không thấy Kissinger nói gì công khai về vụ thả bom Bắc Việt cả, một hành động mà không hồ nghi gì là chính ông ta đã phản đối.” Nixon phẫn nộ, chỉ thị Haldeman ‘tìm hiểu xem Henry làm cái trò gì vậy’ (‘find out what the hell Henry’s doing’).


Khi Haldeman hỏi, Kissinger đã chối phắt là ông đã chẳng nói với “bất cứ ai” về vụ thả bom. Ông quả quyết: “Tôi không cho ông Reston cuộc phỏng vấn nào cả. Sau đó Haldeman cho điều tra kỹ lưỡng và thấy rõ ràng là Kissinger đã nói chuyện với Reston. Quay lại cật vấn ông ta, Haldeman hỏi: “Ông nói với chúng tôi là ông đã không cho Reston cuộc phỏng vấn nào cả, thế mà thực sự ông đã nói hết với ông này!”


“Ðúng, nhưng đó chỉ là qua điện thoại,” Kissinger trả lời. Haldeman bình luận:


“Vâng, chỉ qua điện thoại thôi (chứ đâu có gặp mà phỏng vấn).”


“Bất cứ học giả nào muốn xem nhà ngoại giao Henry giỏi đến thế nào thì nên phỏng vấn tất cả những người đã làm việc với ông ta tại Tòa Bạch Ốc” (19).


Cứ xem cách ông chơi chữ trong các văn bản, cách đối đáp, biện luận, từ những cuộc thương thuyết tới hồi ký hay họp báo, ta cũng thấy rõ cái tài năng này. Sau đây là vài thí dụ. Như sẽ thuật lại trong Chương 11, về cuộc họp báo của Kissinger sau Hiệp Ðịnh Paris:


Hỏi: Có nghị định thư nào (protocols) đã được thỏa thuận (với Miền Nam) không?


Ðáp: Không có sự thông cảm (understanding) bí mật nào hết.


Ðúng, Kissinger chỉ chối đi là không có sự thông cảm, hiểu ngầm nào chứ đâu có chối là không có nghị định thư?


Câu chuyện khác. Có lần Tổng Trưởng Quốc Phòng Melvin Laird (người điều khiển chương trình “Việt Nam Hóa” thời Nixon) khi được chúng tôi hỏi về chuyện ông không biết gì đến những mật thư của Tổng Thống Nixon gửi Tổng Thống Thiệu, ông Laird trả lời: “Có lần tôi hỏi ông Kissinger tại sao không đưa cho tôi xem mấy lá thư đó, thì ông ta trả lời ‘Ồ, đó chỉ là một vụ qua lại giữa Tướng Haig và TT Thiệu’”. Tướng Haig có lui tới Dinh Ðộc Lập để trao đổi qua lại với ông Thiệu, nhưng thực ra ông chỉ là người đưa những bức thư do Kissinger thảo cho Nixon mà thôi. Tới đây tôi nhớ tới câu chuyện tiếu lâm mà ta đều đã nghe lúc còn nhỏ, về cậu bé láu lỉnh. Có cậu học trò ‘đánh rắm’ trong lớp học. Thày đồ hỏi:


“Chi kêu đó bay?”


“Lạy thày cóc kêu/”


“Cóc kêu sao thối?”


“Lạy thày cóc chết/”


“Cóc chết sao kêu?”


“Lạy thày hai con.”


Một biệt tài khác của Kissinger có tính cách quyến rũ: Ðó là luôn luôn nói với đối tác của mình trong các cuộc thương thuyết rằng chỉ mình ông mới là người đứng về phía họ. Tổng Thống Thiệu cũng như Ngoại Trưởng Trần Văn Lắm thường hay nói chuyện về điểm này. Ở Paris, theo Ðại Sứ Phạm Ðăng Lâm, Kissinger lúc nào cũng muốn chứng tỏ ông là người ủng hộ VNCH mạnh nhất trong chính phủ Nixon. Ký giả Matti Golan trong cuốn “The Secret Conversations of Henry Kissinger” (Những đối thoại bí mật của Henry Kissinger) còn bình luận rất rõ về đặc tính quyến rũ này của Kissinger trong những cuộc thương thuyết với Do Thái và các nước trong khối Ả Rập. Ông luôn nói với lãnh đạo Do Thái rằng chỉ có ông mới là đồng minh, là bạn của họ ở Washington (20).


 


Ðơn thương độc mã


 


Khi ra tranh cử, Nixon hứa là sẽ giải quyết chiến tranh Việt Nam trong danh dự. Kissinger biết bản tính của ông Nixon cũng rất là thực tế ‘realpolitik’, đặt nặng quyền lợi chứ không phải là luân lý, ý thức hệ, hay đạo đức. Bởi vậy ông bám chặt vào đó để thuyết phục Nixon cho ông làm sao thì làm, miễn có kết quả là được. Nixon đồng ý. Và trên thực tế đã trao toàn quyền giải quyết chiến tranh Việt Nam cho ông.


Trong cuốn sách nổi tiếng ‘A World Restored’ (Một Thế Giới Ðược Phục Hồi), một tập nghiên cứu về Metternich lúc còn ở Harvard, Kissinger có viết: “Chính khách phải hành động như thể là trực giác của mình đã là kinh nghiệm, như thể là khát vọng của mình đã là chân lý rồi” (21). Metternich là một Hoàng tử người Áo, đã cùng với Lord Castlereagh (Ngoại Trưởng Anh) giúp sắp xếp lại trật tự ở Âu Châu (Hội Nghị Vienna 1814-1815) sau khi Napoleon bại trận ở Nga vào mùa đông 1812. Hai người này, đã không ngần ngại dùng mọi đòn phép và làm mọi việc trong vòng bí mật để tới được mục đích.


Tôi nghĩ lập luận như thế này thì không ổn. Trong thời hiện đại, nếu những chính trị gia của các cường quốc, nắm quyền hành trong tay, mà lại quá tự kiêu, làm mọi việc trong vòng bí mật, và nghĩ rằng “những khát vọng của mình đã là chân lý rồi” thì thật là nguy hiểm cho thế giới!


Ðơn thương độc mã là bản tính của Kissinger và ông rất tự hào về điểm đó. Trong một cuộc phỏng vấn với nữ ký giả người Ý, bà Oriana Fallaci, ông giải thích rằng sở dĩ ông có sức mạnh là nhờ ở lối hành động một mình:


“Ðiểm chính là lúc nào tôi cũng hành động một mình. Người Mỹ thích cái đó vô cùng. Người Mỹ thích hình ảnh một gã chăn bò dẫn đầu một toán di dân, một mình trên lưng ngựa, đi đầu, thủng thẳng tiến vào một tỉnh lỵ, một thị xã; chỉ mình với ngựa thôi, không có gì khác. Có thể là không có cả súng nữa, là vì gã ta không cần bắn. Gã chỉ hành động bằng cách là ở đúng chỗ, vào đúng lúc, thế thôi. Nói gọn hơn, gã là một cao bồi (Western)” (22).


Chắc ông muốn nói tới cuốn phim “High Noon”, có chú cao bồi cỡi ngựa, lững thững đi một mình vào giữa phố mà ai cũng phải sợ. Giờ đây, ông muốn một mình một ngựa để đưa Hoa Kỳ ra khỏi Việt Nam. Chướng ngại vật đối với ông là Bộ Ngoại Giao. Vì vậy, không biết ông thuyết phục thế nào mà Nixon đã gạt phắt Ngoại Trưởng William Rogers ra ngoài.


Trong cuốn hồi ký “Những Năm Biến Ðộng” (Years of Upheaval), Kissinger viết: “Tổng Thống Nixon đòi hỏi là tất cả những sáng kiến ngoại giao quan trọng đều phải phát xuất từ Tòa Bạch Ốc; ông ta đã loại trừ Bộ Ngoại Giao và Ngoại Trưởng William P. Rogers ra khỏi những quyết định chủ chốt một cách liên tục và đôi khi còn có tính cách hạ nhục” (23).


Ðẩy được Bộ Ngoại Giao ra là hết bị vướng víu về bàn cãi, bất đồng ý kiến, thủ tục rườm rà, quan liêu. Từ đó, Kissinger mới có thể sắp xếp mọi chuyện. Ðây là một cung cách thật lạ lùng! Nó rất “un-American”, không Mỹ chút nào. Ở trong một xã hội dân chủ, tính chất “minh bạch” (transparency) là điều cần thiết. Cái gì không trong sáng thì không thể kéo dài được lâu, không có tính cách bền vững (sustainability). Ngoài ra, chính sách hay lập trường đều đòi hỏi phải có ‘consensus’, sự đồng thuận của số đông. Muốn vậy, phải ngồi lại bàn bạc. Ba cái đầu phải to hơn một cái. Từ quản trị một công ty tới một hiệp hội, một nhà thờ, một trường tiểu học, bao giờ cũng có nhiều mít tinh để bàn cãi, bỏ phiếu, lấy quyết định. Làm sao mà một chuyện đại sự quốc gia, có tới bốn tổng thống Mỹ dính vào mà Kissinger lại đòi giải quyết một mình? Ấy thế mà Nixon đã khoán trắng miền Nam cho ông. Ông Jun Tsunoda, cố vấn cho Bộ Ngoại Giao Nhật cũng đã phải phàn nàn:


“Công tác ngoại giao trong một thế giới phức tạp như ngày nay là một công việc quá lớn lao để giao cho một người tự mình hành động” (24).


Ba tháng sau khi nhậm chức, Tổng Thống Nixon cho Kissinger sang Moscow tranh thủ sự giúp đỡ của Nga Xô để lập thêm một ngả thương thuyết riêng biệt, tách rời khỏi Hòa Ðàm Paris. Kissinger gặp Ngoại Trưởng Nga Gromyko và trao cho ông ta một thông điệp (25):


“TT (Nixon) sẵn sàng thăm dò những con đường khác ngoài khung cảnh đàm phán hiện tại. Ðiều đáng mong muốn là những người thương thuyết phía Hoa Kỳ và Bắc Việt có thể gặp nhau tách biệt ra khỏi khuôn khổ hòa đàm Paris để bàn về những nguyên tắc tổng quát cho một giải pháp.”


“Nếu những người thương thuyết đặc biệt của hai bên Hoa Kỳ và Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa có thể đi tới một hiệp định trên nguyên tắc, thì vấn đề đàm phán cuối cùng về kỹ thuật sẽ được trao lại cho hòa đàm Paris.” Ký tắt RN (Richard Nixon)


Dĩ nhiên là Gromyko vui lòng giúp, và Kissinger đã thành công trong việc lập ra một hòa đàm sau hậu trường, do chính ông điều khiển.


Ngày 23 tháng Bảy 1969, nhân dịp phi thuyền Apollo của Mỹ vừa thành công lên cung trăng và sắp đáp xuống Thái Bình Dương, Tổng Thống Nixon bay sang Guam để mừng và bắt đầu chuyến công du Á Châu gồm Phi Luật Tân, Indonesia, Thái Lan, Nam Việt Nam, India, Pakistan, Romania, và Anh Quốc. Nixon thuật lại: “Chuyến đi đã cho một cơ hội hoàn toàn ngụy trang cho Kissinger gặp gỡ với phía Bắc Việt. Kissinger được sắp xếp cho đi Paris bề ngoài là để trình bày cho quan chức Pháp kết quả chuyến đi của tôi, nhưng đang khi ở đó ông ta sẽ gặp ông Xuân Thủy” (26). Ông Xuân Thủy là đại diện của Bắc Việt tại Hòa đàm Paris.


Ðược biết về chuyến đi này, Tổng Thống Thiệu có mời Nixon ghé thăm Sàigòn để làm một cử chỉ ủng hộ Việt Nam Cộng Hòa. Dường như để đền đáp công ơn của ông Thiệu trong kỳ bầu cử, Tổng Thống Nixon đã quyết định vào giờ chót là sẽ viếng thăm Dinh Ðộc Lập với Kissinger tháp tùng.


Trong phiên họp làm việc, “Ông Nixon chỉ nói tới những khó khăn trong nước mà ông đang gặp phải,” ông Thiệu kể lại. “Ông yêu cầu tôi tiếp tay và nói: ‘Hãy giúp chúng tôi để chúng tôi giúp các ông” và tôi đáp: “Chúng tôi sẽ giúp ông để ông giúp chúng tôi.” Tuy nhiên, Nixon vẫn khẳng định lại lập trường rút quân trên căn bản song phương: Cả quân đội Hoa Kỳ lẫn quân đội Bắc Việt đều rút, và lịch trình rút quân còn tùy vào khả năng tự vệ cũng như mức độ viện trợ quân sự và kinh tế cho Miền Nam.


Sau khi nâng ly xâm banh chúc tụng cho Việt Nam Cộng Hòa, các động cơ trực thăng bắt đầu nổ, cánh quạt quay ầm ầm mỗi lúc một nhanh, như để khẳng định lại một lần nữa sức mạnh và sự hiện diện của Hoa Kỳ tại Miền Nam. Ông Thiệu tiễn đưa Tổng Thống Nixon và ông Kissinger ra bãi phi cơ đậu ở sân cỏ trước Dinh Ðộc Lập. Mỉm một nụ cười, ông giơ tay vẫy chào tạm biệt lúc chiếc trực thăng của Tổng Thống Hoa Kỳ bốc thẳng bay nhanh về hướng Bắc, lướt qua những mái nhà đỏ của thành phố. Ngày hôm đó, 30 tháng Bảy 1969, Nixon đã không hề tiết lộ cho ông Thiệu biết rằng ngay sau lúc từ biệt, Kissinger đã trực chỉ qua Paris gặp gỡ phái đoàn Bắc Việt.


Và từ giờ phút đó cho tới 10 giờ sáng ngày 30 tháng Tư 1975, tức là trong gần hai phần ba thời gian của Ðệ Nhị Cộng Hòa, Kissinger đã một mình thao túng chính sách Hoa Kỳ về Việt Nam. Trong cương vị đó, ông đã có những hành động gian dối với đồng minh, dấu giếm Quốc Hội và nhân dân Hoa Kỳ, như được chứng minh trong cuốn sách này. Gần đây (năm 2001), một nhà báo, ông Christopher Hitchens, đã viết cuốn sách tựa đề “Xét xử Henry Kissinger” (The Trial of Henry Kissinger) đem ra đầy đủ bằng chứng dựa trên những tài liệu mới được giải mật, về những sự lạm dụng quyền hành, và những hành động thiếu lương tâm mà Kissinger đã hành xử đối với các nước đồng minh, ngoài các nước Ðông Dương, còn có Chile, Bangladesh, Santiago, Nicosia và East Timor (27).


(Còn tiếp)

Lời kêu gọi khẩn thiết

 


HỘI CAO NIÊN DIÊN HỒNG VÙNG ÐÔNG VỊNH BẮC CALIFORNIA HOA KỲ


Số 128 International Blvd., Oakland, CA 94606 – ÐT: (510) 533-9980


 


LỜI KÊU GỌI KHẨN THIẾT BẰNG TRÁI TIM VÀ KHỐI ÓC


NHÂN VÀO THÁNG TƯ ÐEN 2012


 


Kính gửi toàn thể đồng hương Việt Nam tỵ nạn cộng sản trên toàn thế giới,


Kính thưa toàn thể quý đồng hương,


Chúng tôi gồm những vị cao niên từ 60 đến trên 90 tuổi hiện cư ngụ trong Vùng Ðông Vịnh San Francisco (East Bay San Francisco USA) Hoa Kỳ, sinh hoạt tự túc trong một hội nhỏ bé với danh xưng là Hội Cao Niên Diên Hồng liên tục từ hơn 14 năm qua đã tích cực đóng góp vật chất và tinh thần vào công cuộc đấu tranh chung của cả dân tộc nhằm giải thể chế độ Việt Cộng tàn ác phi nhân đã và đang đưa dân tộc Việt Nam vào cảnh nô lệ mất nước vào tay bọn tàu cộng!!!


Kính thưa toàn thể quý đồng hương,


Hôm nay nhân vào Tháng Tư Ðen 2012, Chúng tôi với con tim tràn đầy lòng yêu thương tổ quốc, dân tộc, gia đình, người thân còn ở Việt Nam, với khối óc hoàn toàn minh mẫn để biết phân biệt phải trái, thiện ác, bạn thù và nhất là không còn nước mắt để khóc cho tù đày, tủi nhục, bất công, thống khổ của gần 90 triệu con dân Việt trong nước, xin gửi lời kêu gọi khẩn thiết sau đây đến từng cá nhân, từng gia đình, từng tổ chức, từng hội đoàn, từng đoàn thể, từng đảng phái, từng tôn giáo cùng cộng đồng Việt trên khắp thế giới:


1. Xét rằng Cộng Sản Việt Nam (Dân Việt gọi là Việt Cộng = VC) sau 37 năm dùng bạo lực cưỡng chiếm Miền Nam vào 30 tháng 4. 1975 và cai trị đất nước thống nhất bằng bạo lực và dối trá đồng thời cam tâm làm thái thú khiếp nhược cho Tàu Cộng đã và đang đưa dân tộc Việt vào cảnh nô lệ mất nước mà ai ai cũng thấy cũng biết.


2. Xét rằng từ 37 năm qua, toàn dân tộc Việt trong và ngoài nước bằng mọi khả năng và chấp nhận hy sinh không ngừng nghĩ đấu tranh trực diện với VC trong nước và vận động quốc tế và thế giới tự do nhằm đem lại dân chủ-tự do và toàn vẹn lãnh thổ cho tổ quốc Việt Nam.


3. Xét rằng thời gian 37 năm Việt Cộng thống trị đất nước là quá dài, quá đủ và quá sức chịu đựng và hy sinh của cả dân tộc từ trong nước trải qua khủng bố, tù đày, chết chóc, biểu tình, khiếu kiện, dân oan và cả tự thiêu vì đàn áp tôn giáo. Từ hải ngoại vô vàn tuyên ngôn, tuyên cáo, biểu tình, vận động chính trị và mới đây là gần 150 ngàn người Việt Tỵ Nạn CS ở Hoa Kỳ ký Thỉnh Nguyện Thư gây chấn động chính giới Hoa Kỳ nhưng vẫn không đem lại kết quả mong muốn cho dân tộc Việt!!!


Vì các điểm nêu trên, Hội Cao Niên Diên Hồng gửi lời kêu gọi khẩn thiết sau đây:


 


LỜI KÊU GỌI KHẨN THIẾT


 


Nhân vào Tháng Tư Ðen 2012, hơn 3 triệu Người Việt Tỵ Nạn VC dù cư ngụ nơi nào trên thế giới, mỗi người, mỗi gia đình, mỗi tổ chức quyết tâm từ Tháng Tư Ðen năm nay trở đi:


1. Quyết tâm không bước lên máy bay đi về VN dù bất cứ lý do nào.


2. Quyết tâm không gửi dù 1 dollar về VN dù bất cứ lý do nào khi còn VC!!!


Mỗi người tỵ nạn VC quyết tâm thực hiện được lời kêu gọi khẩn thiết này, chúng ta không còn phải dãi nắng dầm mưa chịu đựng giá rét trong các cuộc biểu tình để đả đảo VC nữa!!! Chúng ta không còn cần kêu gọi sự giúp đỡ của thế giới tự do, không còn cần Thỉnh Nguyện các chính phủ dân chủ, không còn cần vận động các tổ chức và các dân tộc yêu chuộng công lý và hòa bình giúp dân tộc ta có dân chủ, tự do!!!


Chúng tôi tin tưởng và mọi người dân Việt yêu nước tin tưởng với hành động dứt khoát và quyết tâm này của hơn 3 triệu con dân Việt trên thế giới sẽ sớm chấm dứt chế độ VC trong thời gian ngắn nhất mà không cần thế giới tự do can thiệp!!! Chấm dứt chế độ VC sớm ngày nào Dân Tộc Việt chúng ta tiết kiệm được máu xương, đau khổ, tù đày, tủi nhục trước đại họa mất nước!!!


Rất mong lời kêu gọi khẩn thiết này được tích cực hưởng ứng và chấp nhận với kế hoạch bàn thảo và thực hiện hữu hiệu trong từng đơn vị gia đình, từng tổ chức, hội đoàn, đoàn thể và cộng đồng!!!


Kính mong các cơ quan truyền thông, báo chí, truyền thanh truyền hình, diễn đàn trang mạng, trang tin điện tử giúp phổ biến mạnh mẽ đến cộng đồng khắp nơi. Xin chân thành cám ơn.


Kính chúc mỗi người quyết tâm có hành động đơn giản nhưng góp phần cứu nước cứu dân tộc nhanh chóng!!!


Kính chúc an vui, an lành và thịnh vượng toàn thể đồng hương.


Oakland, Bắc California Hoa Kỳ, ngày 14 tháng 4 năm 2012


Thay mặt toàn thể các cụ Hội Cao Niên Diên Hồng


 


Ban Ðiều Hành


Hội Trưởng – Ông Trần Kiêm Thiều


Hội Phó Ngoại Vụ – LS Trần Minh Nhựt


Hội Phó Nội Vụ – Bà Nguyễn Thị Mai Hương

Vụ giết người rồi tự sát tại Gould Center ở San Jose

 


 


SAN JOSE – Khoảng 9 giờ 30 sáng ngày Thứ Bảy, 14 tháng 4, một thanh niên người Việt, lái chiếc xe BMW mầu xám, ngừng xe trong khu thương mại Gould Center, góc McLaughlin và East Capitol Expressway. Nơi đây có nhiều cửa hàng thương mại của người Á Châu.









Quang cảnh nơi nạn nhân bị bắn. (Hình: Bảo Liên/Người Việt San Jose)


Người thanh niên đi đến đây để gặp một người phụ nữ Việt. Vừa gặp mặt là anh ta đưa súng bắn thẳng vào đầu cô ta; sau đó, anh quay súng tự sát. Sự việc xảy ra rất nhanh, trong lúc đứa bé gái 17 tháng con chung của hai người vẫn còn ngồi trong chiếc ghế dành cho trẻ em, ở bên trong chiếc xe BMW. Vụ giết người rồi quay súng tự sát gây xúc động lớn trong cộng đồng người Việt ở San Jose. Không ai biết rõ nguyên nhân gây ra thảm kịch, cũng như tin tức về nạn nhân của vụ giết người đau thương này. Bà Nghị Viên Madison Nguyễn cho biết hiện nay nhà chức trách và thành viên của cộng đồng quan tâm chính vào việc tìm ra thân nhân của gia đình để gửi gấm việc chăm lo cho cháu bé.


Cảnh sát San Jose tạm thời giao cháu bé cho cơ quan bảo vệ trẻ em quận hạt Santa Clara, và mở cuộc điều tra xác nhận danh tính của hai nạn nhân. Theo cuộc điều tra của cảnh sát San Jose, nạn nhân là cô Emmanuel Nguyễn, 39 tuổi, thường được gọi là “Emma.” Tên Việt của cô là Nguyễn Phương Trân. Người thanh niên bắn chết cô Emma Nguyễn tên là Nguyễn Quốc Trung 32 tuổi, cư dân ở San Jose, người tình cũ của cô Emma. Anh Trung từng là nhân viên của công ty IBM. Anh Trung và cô Emma có với nhau một đứa con chung hiện do cô Emma được quyền nuôi. Cô đang cư ngụ ở Nam California, thỉnh thoảng đem con về San Jose cho anh Trung được thăm. Hai người đang có xích mích về việc giành quyền giữ đứa con. Cô Emma lo ngại những tai tiếng về nợ nần của cô khiến cô có thể bị mất đi quyền giữ con, và phải trao đứa bé lại cho anh Trung.


Một người bạn thân của anh Trung là anh Ðinh Tuấn, 37 tuổi, nói rằng anh biết anh Trung từ nhiều năm nay. Anh ta là một người rất tử tế. Anh sanh trưởng ở Việt Nam, đến Nam Dương một thời gian trước khi định cư ở Mỹ và làm việc cho hãng IBM. Anh Tuấn mới trông thấy anh Trung mang đứa con về nhà ít hôm nay. Trông hai cha con có vẻ “rất bình thường.” Anh không ngờ chuyện xảy ra đau thương đến như vậy.


Thân nhân của cô Emma Nguyễn ở San Jose và New Jersey cho biết họ rất xúc động, và còn bàng hoàng trước cái chết của cô con gái, nên không muốn đưa ra lời bình luận.


Bạn thân của cô Emma Nguyễn tiết lộ rằng cô Nguyễn Phương Trân trước đây từng là một phụ nữ rất thành công trong kinh doanh. Cô là chủ nhân một hộp đêm nổi tiếng trong giới trẻ ở Sunnyvale tên là The Abyss. Cô Lisa Jimenez, quản lý quán rượu trong hộp đêm nói rằng việc kinh doanh của hộp đêm rất thành công trong thời gian từ năm 2005 đến 2009. Nguồn thu nhập về doanh nghiệp của hộp đêm khiến cho cô Emma trở thành một triệu phú trẻ tuổi, thành công về mọi mặt. Cô Lisa nói: “Emma là một phụ nữ can trường, cứng cỏi nhất mà tôi từng biết. Tôi hết sức kinh ngạc khi cô bị người yêu cũ bắn chết. Tôi đã gặp anh ta, và đi ăn tối với hai người nhiều lần. Trông anh ấy có vẻ là người đàng hoàng tử tế. Không hiểu nguyên nhân nào đã thúc đẩy anh làm chuyện kinh hồn như vậy.”


Anh Micheal Nguyễn, một bạn thân khác của cô Emma Nguyễn ở hộp đêm The Abyss cho biết: “Tôi không hề nghe cô tỏ ý lo ngại về tính mạng của mình. Thật ra, tôi không nghe nói một điều gì xấu về anh Trung cả. Không hiểu vì sao lại xảy ra chuyện đau thương như vậy.”


Anh Michael Nguyễn tiết lộ rằng cô Emma Nguyễn từng thuê một căn phòng ở San Jose để ở. Nhưng gần đây cô dọn xuống Westminster. Cô lên San Jose để đem đứa con gái cho anh Trung được gặp con như thông lệ gọi là “baby exchange.”


Cô Emma Nguyễn từ tiểu bang New Jersey sang lập nghiệp ở San Jose từ năm 2004. Qua năm sau, cô mở hộp đêm The Abyss. Việc kinh doanh thành công vượt bực, khiến cô rất tự hào và mãn nguyện. Cô từng khoe với nhà báo rằng: “Tôi là một trong những phụ nữ Á Châu thành công nhất ở đây. Tôi đến Mỹ vào năm 14 tuổi, và bây giờ tôi trở thành một triệu phú.” Lúc bấy giờ tiền vào như nước. Năm 2005, cô bỏ tiền ra mua một căn nhà rộng 4.300 square feet trong khu Evergreen với giá $1.5 triệu đô la.


Nhưng sau đó, nhiều chuyện không may đã xảy đến cho cô Emma Nguyễn. Ðầu tiên là việc mất giấy phép bán rượu xảy ra vào năm 2009. Kế đến là việc cô bị thành phố rút giấy phép hoạt động của hộp đêm The Abyss vì những vụ đánh lộn, gây gổ thường xảy ra. Mất nguồn thu nhập chính từ hộp đêm, cô Emma không đủ sức trả tiền nhà. Cô phải chia căn nhà rộng ra làm nhiều phòng cho thuê. Ða số những người ở “share” chung trong căn nhà lớn đó là những người thất nghiệp, hay tật nguyền. Trong lúc đó, cô Emma bị ngân hàng xiết nợ lấy lại nhà.


Trong lúc điên đầu vì nợ nần, anh Nguyễn Trung lại dùng lý do này để xin tòa án phụ trách Luật Gia Ðình giành lại quyền giữ đứa con chung của hai người. Vì thế, xung đột giữa đôi vợ chồng đã ly dị càng trở nên cay đắng.


Luật Sư Warren Nguyễn là một luật sư chuyên về địa ốc tiết lộ rằng: “Cô ấy đang tìm đủ mọi cách để đổi nợ và cứu vãn tình thế. Vụ xin sửa nợ của cô sắp được đưa ra tòa để nghe điều trần thì xảy ra vụ án mạng này.”


(Nguyễn Minh Tâm tóm lược theo San Jose Mercury 20/4/2012)

Từ Bàn Viết Houston – Tuyển Tập 2


Trăng Vàng


 


Chính Trị-Tôn Giáo-Khoa Học


Việt Nguyên


 


Việt Nguyên là một nhà báo cộng tác với tờ văn nghệ bán nguyệt san Ngày Nay và cột mục “Từ Bàn Viết Houston.” Ông là cây bút đa năng vì các đề tài ông viết đa dạng, ra ngoài giới hạn của những vấn đề thuần túy văn nghệ. Với bút viết thẳng thắn, phân tích trực diện với những đề tài nóng bỏng (vấn đề liên quan đến tôn giáo) gây tranh cãi nhiều trong dư luận, ông không quan tâm tới những phản ứng tiêu cực chắc chắn sẽ xảy ra, mà xem như là trách nhiệm bổn phận của người làm báo cần có để truyền thông đến độc giả.


Trăng Vàng xin được giới thiệu tuyển tập 2, Từ Bàn Viết Houston, với ba đề tài chính: Chính trị, Tôn Giáo, Khoa Học của tác giả Việt Nguyên. Sách có nhan đề: Từ Bàn Viết Houston – Tuyển tập 2 – Chính Trị-Tôn Giáo-Khoa Học Việt Nguyên.


Sách dày 340 trang, in khổ giấy vừa cầm tay.


Những bài viết đã được tuyển chọn trong 140 bài được đăng trong tờ văn nghệ bán nguyệt san Ngày Nay.


Ấn phí 20 Mỹ kim


Muốn mua sách hoặc biết thêm chi tiết liên hệ với:


Nhà xuất bản Người Việt: 714-892-9414

Oracle đối mặt với Eric Schmidt của Google về Java

 


Theo Brandon Bailey/Mercury News
Thẩm Vân dịch


SAN FRANCISCO Chủ tịch Google, ông Eric Schmidt, đã ra làm chứng trong phiên tòa liên bang vào hôm Thứ Ba, và cho biết mặc dù Google đã không đạt được một thỏa thuận với Sun Microsystems, nhưng giám đốc điều hành của Sun Microsystems không bao giờ phàn nàn hay phản đối khi Google sử dụng các bộ phận của hệ thống lập trình Java của Sun để tạo ra các nền tảng di động Android phổ biến.








Eric Schmidt, bên phải, giám đốc điều hành Google trong 10 năm trước khi đảm nhiệm vai trò chủ tịch điều hành năm ngoái, được phác họa tại tòa khi được hỏi bởi Luật Sư Robert Van Nest của Google khi Thẩm Phán William Alsup quan sát trong một phiên tòa về bằng sáng chế liên quan đến Java tại San Francisco vào ngày 24 tháng 4, 2012. Oracle kiện Google vào tháng 8 năm 2010, nói rằng hệ điều hành di động Android của Google vi phạm bản quyền và bằng sáng chế của các ngôn ngữ lập trình Java. (Reuters/Vicki Behringer (Stringer))


Phiên tòa xử vụ Oracle kiện Google diễn ra tại Tòa Liên Bang Hoa Kỳ, Building Phillip Burton, San Francisco, đã bước sang tuần thứ hai với những tranh luận về tác quyền của các giao diện lập trình ứng dụng Java.


Schmidt nói với các thành viên bồi thẩm đoàn trong phiên tòa của một vụ kiện hàng tỷ đô la Mỹ trong đó phần mềm khổng lồ Oracle đã cáo buộc Google vi phạm bản quyền Java mà Oracle đã mua lại từ Sun trong năm 2010 rằng, thay vì cáo buộc, giám đốc Ðiều Hành Sun, ông Jonathan Schwartz, đã chúc mừng và hoan nghênh Android khi nó được tung ra sử dụng vào năm 2007:


Ông Schmidt, giám đốc điều hành lâu năm tại Sun Microsystems khi Java được phát triển trong những năm 1990 trước khi ông trở thành giám đốc điều hành của Google, cho biết: “Tôi rất thoải mái vì những gì chúng tôi làm đều rất đúng luật” và phù hợp với những đòi buộc của Sun.


Schmidt đã lấn sân các luật sư của phía Oracle ba giờ đồng hồ trong vai trò nhân chứng vào hôm Thứ Ba vừa qua mặc dù ông thừa nhận rằng không có liên doanh thương mại nào khác đã sử dụng giao diện lập trình ứng dụng Java mà không có giấy phép của Sun hoặc của Oracle. Ông cũng cho biết đã không nhớ việc tham dự một buổi thuyết trình vào năm 2005, mà qua đó một giám đốc điều hành của Google cho biết Google cần phải đàm phán về một thỏa thuận cấp phép với Sun.


Trong khi lặp lại những tuyên bố trước đây của người đồng sáng lập và cũng là giám đốc điều hành hiện tại của Google, Larry Page, ông Schmidt dường như thoải mái hơn rất nhiều trong phòng xử án, đã đưa ra những câu trả lời vừa trực tiếp và vừa chi tiết hơn ông Page đã làm hồi cuối tuần vừa qua.


Tại Thung Lũng Silicon, vụ kiện quan trọng này đang được nhiều người quan sát kỹ lưỡng vì trong tương lai, nó có thể ảnh hưởng đến việc sử dụng cả hệ lập trình đang được sử dụng rộng rãi Java lẫn hệ điều hành di động hàng đầu thế giới, Android.


Cả hai bên đã đồng ý rằng Google được quyền sử dụng miễn phí ngôn ngữ lập trình Java khi xây dựng hệ điều hành Android, vì chính ngôn ngữ này cũng đã thuộc trong phạm vi công cộng. Tuy nhiên, Oracle cáo buộc Google đã sử dụng các công cụ lập trình khác mà Java đang giữ độc quyền, trong khi Google lập luận rằng họ chỉ sử dụng các yếu tố liên quan đến ngôn ngữ không được luật bản quyền hoặc luật bằng sáng chế bảo vệ.


Schmidt, người cho rằng đã giám sát sự phát triển của Java khi còn làm giám đốc công nghệ của Sun, đã nhớ lại sự ra mắt của hệ thống lập trình tiên phong này “gần giống như một phong trào tôn giáo.” Ông cho biết, để Java được chấp nhận, Sun đã đưa ra các điều khoản mà qua đó sẽ đơn giản hóa khi các nhà phát triển phần mềm khác sử dụng nó. Sun đòi hỏi các nhà phát triển cần xin giấy phép nếu họ muốn sử dụng nhãn hiệu Java và được chứng nhận là tương thích với Java. Nhưng Schmidt cho rằng điều rõ ràng là các nhà phát triển có thể sử dụng ngôn ngữ Java để tạo ra các chương trình riêng của họ, như Google đã làm, miễn là không sao chép các chương trình độc quyền của Sun. Ông nói: “Bạn có thể sử dụng Java theo giấy phép hoặc bạn có thể làm ra phiên bản của riêng bạn và không gọi nó là Java.”


Theo Schmidt, thoạt đầu Google đã cố gắng thương lượng giấy phép với Sun vì họ muốn sử dụng nhãn hiệu Java và một số các chương trình độc quyền của Sun. Nhưng dù cho quan hệ cấp cao giữa Schmidt, Schwartz và chủ tịch Sun là Scott McNealy – người được ông Schmidt mô tả như là một cố vấn và bạn tốt – Schmidt cho biết các cuộc đàm phán đã bất thành bởi vì Sun không đồng ý kế hoạch phát hành Android của Google dưới giấy phép nguồn mở của mình.


Ông Schmidt nói: “Ở cấp độ cao nhất, vấn đề chính là kiểm soát” và thêm rằng Google đã chuẩn bị để trả cho Sun $30 triệu đến $50 triệu để được cấp giấy phép.


Android được cho là có giá trị hơn nhiều so với Google, và một số nhà phân tích đã định mức con số có thể lên đến hàng tỷ. Hôm Thứ Ba, ông Schmidt thừa nhận rằng Android tăng tiến việc sử dụng công cụ tìm kiếm trên Internet của Google, và đã đem lại doanh thu quảng cáo. Ông không đưa ra chi tiết cụ thể, nhưng nhiều chi tiết về tài chính có thể sẽ được tiết lộ trong giai đoạn sau của phiên tòa.


Schmidt làm chứng rằng Sun biết Google đã sử dụng ngôn ngữ lập trình Java và các giao diện lập trình ứng dụng liên quan vì Google đã phát hành đoạn mã đó ra công khai. Nhưng mặc dù thường xuyên liên lạc với nhau, Schmidt cho biết ông chưa bao giờ nghe một khiếu nại từ Schwartz, cũng là một giám đốc điều hành khác của Sun.


Trong lời khai trước đó được đọc cho bồi thẩm đoàn, Schmidt nói rằng: “Theo tôi, vào thời điểm việc quản lý của Sun còn dễ dãi, những gì chúng tôi thực hiện đều miễn phí và không vi phạm bất kỳ tài sản trí tuệ nào của Sun.”


Theo đòi hỏi của Luật Sư David Boies đại diện phía Oracle, ông Schmidt đã không thể trích dẫn một cuộc trò chuyện cụ thể nào, mà qua đó ông Schwartz đã bày tỏ sự ưng thuận. Tuy nhiên, luật sư phía Google đã trích dẫn một bài đăng trên blog, qua đó ông Schwartz đã ca ngợi Google và cho biết việc phát hành Android “như đeo thêm một tập hợp các tên lửa khác” vào cộng đồng Java.

Nghi can đã bị bắt sau khi bắt một phụ nữ mang thai làm con tin

 


 


Theo Chris De Benedetti – The Daily Review


HAYWARDCảnh sát cho biết một nghi can có thủ dao đã bắt giữ một phụ nữ mang thai làm con tin hôm sáng Thứ Ba, 24 tháng 4, 2012 bên trong ngân hàng Wells Fargo sau khi âm mưu cướp ngân hàng bất thành và sau đó đã nhanh chóng đầu hàng cảnh sát. Tin cho hay không có ai bị thương.









Các nhân viên cảnh sát tại hiện trường (Hình: Aric Crabb/Staff)


Thiếu Úy Cảnh Sát Roger Keener cho biết người đàn ông đã đưa ra một lời nhắn viết tay cho nhân viên giao dịch ngân hàng vào lúc 11g30 sáng tại ngân hàng Wells Fargo ở số 1172 đường A, gần đường Second, và ra lệnh cho mọi người nằm úp mặt xuống đất. Sau đó ông la lớn cho mọi người biết rằng ông sẽ cho nổ tung ngân hàng này.


Keener cho biết các nhân viên giao dịch đã cố nhấn nút báo động ngầm, một vài khách hàng đã vụt chạy ra ngoài và đã gọi 911.


Hai thám tử cảnh sát chìm đang công tác trong khu vực về một vụ không liên hệ, đã đến và nhìn vào ngân hàng thấy khách hàng cùng nhân viên đang nằm úp mặt xuống đất.


Cảnh sát nói họ cũng thấy nghi can đang chỉa con dao vào một phụ nữ mang thai đang bị bắt làm con tin. Các thám tử chìm đã đi vào bên trong ngân hàng với súng cầm tay và ra lệnh cho nghi can thả người phụ nữ, nhưng ông ta đã từ chối.


Theo một người cũng ở bên trong ngân hàng yêu cầu được giấu tên cho hay người phụ nữ mang thai đã nói với nghi can, “Tôi đang có baby, tôi đang có baby.”


Keener cho biết thêm một lúc sau, các thám tử đã thuyết phục được nghi can thả người đàn bà đang mang bầu ra và sau đó ông đã đầu hàng.


Cảnh sát cho biết ông đã bị bắt về tội nghi cướp có vũ trang và tấn công với vũ khí nguy hiểm. Ðến chiều Thứ Ba, các quan chức vẫn chưa cho biết tên tuổi của nghi can vì căn cước của ông ta chưa được xác nhận qua xét nghiệm dấu tay.


Ðội Y Tế Chữa Cháy Hayward đã khám bệnh cho người đàn bà mang thai và cho biết bà không bị thương tích gì và đã cho về nhà ngay sau đó.


Trong khi nghi can bị còng tay và ngồi phía sau xe cảnh sát, một con chó chuyên truy tìm chất nổ thuộc Ðội Cảnh Sát Alameda đã được dẫn vào bên trong ngân hàng để tìm xem có chất nố còn cất giấu đâu đó không, nhưng chú chó đã không tìm thấy gì.


Ngân hàng đã đóng cửa hầu như suốt ngày khi các nhân viên điều tra phỏng vấn 20 nhân viên ngân hàng trong khuôn viên bãi đậu xe bên đường Russell và đường A, những con đường đã bị đóng khi vụ việc xảy ra.


 

Dịch vụ xã hội cho người tị nạn



Mai Hoàng


 


Trong công tác phục vụ xã hội, Cơ Quan Xã Hội Việt Nam Minnesota đã cung ứng nhiều dịch vụ xã hội cho đồng hương Việt Nam rất hữu hiệu.



Quang cảnh bàn tiệc


Tuy nhiên một tổ chức lâu đời hơn với damh xưng là South East Asian Refufee Community Home (Search) cũng góp phần không nhỏ cho lãnh vực này không riêng gì cho Người Việt mà còn cả các sắc dân tị nạn khác. Ðặc biệt thành phần sáng lập và điều hành của cơ quan đa số là gốc người Việt Nam. Trong bữa tiệc cám ơn những lãnh đạo về hưu của SEARCH vào ngày Thứ Sáu, 20 tháng 4, 2012 tại nhà hàng Hoa Biển thuộc thành phố St. Paul.


Cơ quan này đã thể hiện sự gắn bó giữa Hội Ðồng Quản Trị, các sáng lập viên và những người hưu trí.


Cơ quan xã hội SEARCH đang cung cấp những chương trình thuộc công ăn việc làm (Emploment services), dạy điện toán (Computer Literacy), dạy người giữ trẻ (Child Care Provider Training Program) và chương trình hướng dẫn thanh thiếu niên (Youth Intervention Sevices).


Qua phần giới thiệu ông Huỳnh Sĩ Nghị trong tư cách chủ tịch (Chair of the Board of Directors) đã cám ơn các sáng lập viên, hội đồng quản trị và những vị trong ban điều hành. Ông cho rằng những người sáng lập có tấm lòng, nhưng những nhân vật lèo lái đã đóng góp khả năng vào sự trướng tồn của tổ chức. Nhân dịp hội ngộ đặc biệt này ông đã bày tỏ sự căm ơn đến bà Laura Wittstock, out going Chair; ông Yanat Chhith, out going President và Luật Sư Trần Kim Hoàng, founder and former President.


Ngoài sự cám ơn, nhiều ý kiến xây dựng cũng được nêu ra để bày tỏ các yếu tố nhằm duy trì và phát huy hoạt động của SEARCH. Ông Kouthong Vixayvong, acting President, thì “quyết tâm nới rộng tầm hoạt động bằng cách huy động nhân viên tích cực tối đa” và “thành lập nhiều chương mới cũng như thuyết phục các cơ quan tài trợ ủng hộ các chương trình của SEARCH.” Luật Sư Trần Kim Hoàng cũng hứa “giúp thiện nguyện trong việc phác họa chương trình và tìm ngân quỹ.”


Ðược biết SEARCH được thành lập vào năm 1992 do các ông Nguyễn Ðình Trí (Cựu Chủ tịch Cộng Ðồng Việt Nam MN), Trần Kim Hoàng (Luật sư – Nguyễn Trần Law Firm), Huỳnh Sĩ Nghị (Chủ nhiệm/Chủ bút Tuần báo Asian American Press), Yanat Chhith (Chủ tịch Cộng đồng Miên) và bà Irene Long (Nhân viên Hã hội – Big Brothers/Big Sisters).


Hiện tại cơ quan có 3 người Việt Nam trong Hội Ðồng Quản Trị (Board of Dirctors): Ông Phạm Văn Yến – Trưởng ủy ban Ðiều hành (Chair of Management Team), ông Phan Thanh Tâm – Trưởng ủy ban Thông tin Báo chí (Chair of Media relation Commmittee) và ông Huỳnh Sĩ Nghị – Chủ tịch Hội đồng Quản trị (Chairman of the Board of Directors). Ngoài ra còn có ông Phạm Văn Vy trong Hội đồng Cố vấn và Luật Sư Trần Kim Hoàng trong chức vụ cố vấn chuyên môn (Consultant).


Mọi người tìm thấy bữa tiệc trong bầu không khí gia đình, thông cảm và đồng thời thưởng thức bữa cơm theo lối gia đình đúng hương vị Việt Nam.

Lễ Hội Hoa Anh Ðào tại San Francisco, Bắc Cali

 


Trung Cang/Người Việt San Jose


SAN FRANCISCOHàng năm, cộng đồng người Mỹ gốc Nhật tại San Francisco cũng như nhiều thành phố khác tại Mỹ đều tổ chức Lễ Hội Hoa Anh Ðào. Ðây là một trong những lễ hội lớn của cộng đồng người Á Châu tại Mỹ nói chung và tại Bắc Cali nói riêng. Năm nay, đánh dấu lần thứ 45 Lễ Hội Hoa Anh Ðào được tổ chức tại San Francisco, ngoài cộng đồng người Mỹ gốc Nhật tại Bắc California, một số đoàn thể tại Nhật cũng đã được phái đến để kết hợp tổ chức trong các ngày 14, 15, 21 và 22 Tháng Tư trước tòa thị sảnh San Francisco. Theo lịch trình, cuộc thi hoa hậu được tổ chức trong các ngày 14 và 15 Tháng Tư, và cuộc diễn hành qui mô được tổ chức vào ngày 22 Tháng Tư năm 2012.









Ðoàn xe hoa các hoa hậu Nhật Bản. (Hình: Ducte Le/Người Việt San Jose)


Sáng Chúa Nhật, 22 Tháng Tư, 2012 vừa qua, buổi lễ đã bắt đầu vào lúc 11g sáng tại Tòa Thị Sảnh và cuộc diễn hành tiếp diễn sau đó vào lúc 1g chiều với sự tham dự của nhiều đoàn xe hoa mang đủ sắc màu rực rỡ, đủ loại âm thanh náo nhiệt của đàn banjo shamisen, đội sáo trúc Shakuhachi, đội biểu diễn trống Taiko; ngoài ra, còn có màn biểu diễn võ thuật của các môn phái Judo, Aikido, Karate và Kendo. Ðoàn xe hoa của phái đoàn Hoa Hậu Nhật được tháp tùng bởi những phụ nữ xinh đẹp trong những bộ Kimonos truyền thống qua những điệu múa đặc trưng nét văn hóa độc đáo của xứ phù tang… đã tăng thêm vẻ tưng bừng của ngày lễ, được diễn hành qua các khu phố dọc theo đường Polk, đường Post rồi hướng thẳng đến Japan Town trong một ngày nắng đẹp tại thành phố San Francisco.







Phái đoàn các hoa hậu Mỹ gốc Nhật đến từ các thành phố trên nước Mỹ. (Hình: Ducte Le/Người Việt San Jose)


Lễ Hội Hoa Anh Ðào năm nay còn đánh dấu kỷ niệm 100 năm Ngày Hội Hoa Anh Ðào Quốc Gia (National Cherry Blossom Festival) tại Washington D.C. và cũng tưởng nhớ đến một năm biến cố sóng thần và động đấu Tsunami tại Nhật.


Theo ban tổ chức cho biết, buổi lễ được sự tài trợ của các công ty Toyota, Best Buy Japan Airlines, Union Bank, Grants Arts, Bia Sapporo, Xfinity, hãng truyền hình NBC Bay Area, Asahi Ryokuken, Kaiser Permanente, Otsuka, Citibank, Siêu thị Safeway, Verizon v.v… cùng nhiều công ty khác nữa. Ước tính có khoảng 15,000 người đã đến tham dự.

Lò bánh mì Pháp


Ala Francaise


 


Mai Hoàng


 


Bánh mì là một loại thức ăn thông dụng cho người Việt Nam dù trong nước hay ở hải ngoại. Do đó nhu cầu sản xuất bánh mì rất cần thiết.


Chẳng những cho người Việt Nam mà cho nhiều sắc dân khác kể cả người Mỹ. Dựa theo nhu cầu anh Nguyễn Minh Phan và gia đình đã thành lập và điều hành cơ sở Ala Francaise suốt 27 năm qua.


Hiện tại lò bánh mì cung cấp hàng sỉ cho các chợ, các tiệm bánh, các nhà hàng ở Song Thành Minneapolis/St. Paul và phụ cận. Ðược biết lò bánh mì Ala Francaise thành lập vào tháng 6 năm 1985 tại góc đường Lexington và University. Ðể nới rộng và phát triển thương vụ, chủ nhân đã tậu mãi một cơ sở quy mô trên đường University St. Paul vào tháng 8 năm 1995.


Ðược hỏi về thương vụ anh Phan cho biết: “Mọi việc đều tốt. Giúp được một số công ăn việc làm cho bà con, đồng hương, và nhất là gia đình được có lợi nhuận tương đối khả quan.” Mùi vị của bánh mì Ala Francaise cũng không thua gì bánh mì Bưu Ðiện trước 1975.


Ðịa điểm: Ala Francaise


823 University Avenue W.


St. Paul, MN 55104


651-291-2661

Canh Chua Cá

 


Bảo Liên thực hiện


 


(Cho 4 phần ăn – Thời gian thực hiện khoảng 1 giờ)


 


Nguyên liệu:


– 1 con cá Bông Lau chừng 3 lbs. có đầu hay đầu cá salmon/sturgeon (tùy ý thích).


– Ðậu bắp 20 cái


– 2 trái cà chua chín


– 1/2 lb giá sống


– 2 cây bạc hà


– 1/2 trái khóm tươi


– 1 cup nước khóm (hiệu Dole bán trong chợ)


– 6, 7 củ tỏi


– Bột me


– 1 bó ngò om


– 3 tép hành lá


– 1 trái ớt


– 3/4 cup dầu Olive


– 1 lon chicken broth (tùy thích)


 









Hình: Bảo Liên/Người Việt San Jose


Cách làm:


*Ướp cá:


– Cá làm sạch với muối, nếu còn nhớt thì rửa lần nữa với giấm, cạo cho thật sạch nhớt, rửa lại, lau khô để một bên.


– Ðập giập đầu hành lá, xắt nhỏ cho vào tô lớn với 1 muỗng canh nước mắm + 1/2 muỗng canh bột nấm + 1/2 muỗng cà phê tiêu + 1 muỗng canh đường, cho cá đã làm sạch vào, trộn đều ướp, bọc giấy kiếng và để vào tủ lạnh chừng 1 tiếng.


– Rửa thật sạch các loại rau, cắt theo chỉ dẫn sau đây và để qua 1 bên:


Bạc hà tước vỏ, xắt lát xéo dày độ 5cm.


Giá rửa sạch.


Thơm chẻ làm đôi, cắt miếng nhỏ theo chiều ngang.









Hình: Bảo Liên/Người Việt San Jose


Ðậu bắp cắt đầu đuôi, để nguyên trái.


– Tỏi đập giập, bầm nhuyễn.


– Cho 3/4 cup dầu Olive vào chảo. Chờ nóng chừng 1′, cho tỏi bằm vào phi cho thơm, khi tỏi vừa ngả sang màu vàng thì nhắc xuống, tỏi sẽ tiếp tục nấu và trở nên vàng đều và giòn, để qua một bên. Sẽ dùng cả dầu lẫn tỏi cho công thức này.


– Hành lá và ngò om xắt nhỏ, để qua một bên.


– Ớt xắt lát, để qua một bên.









Hình: Bảo Liên/Người Việt San Jose


*Nấu canh:


– Cho 1 lít nước vào nồi, sau khi nước sôi, cho vào 1/4 cup bột me + 1/4 cup nước mắm + 1 muỗng cà phê bột nêm nấm + 1/4 cup đường (đong đường cho đầy) + 1 cup nước khóm. Nêm lại cho vừa miệng, gia giảm tùy thích.


– Khi nước sôi, thả cá vào đun (bỏ phần nước mắm ướp cá vì sẽ làm tanh nồi nước).


– Cá vừa sôi lên, vớt bọt cho thật sạch xong cho đậu bắp + bạc hà vào ngay.


– Ðể nồi canh sôi chừng 2′, cho cà chua và giá vào chừng 1′ xong nhắc xuống.


Trình bày:


– Múc cá và các loại rau vào tô lớn, cho hỗn hợp hành và rau om, ớt và dầu tỏi phi thơm vào trên mặt. Nhớ cho chút tiêu vào cho thơm.


Ðem ra dùng ngay với cơm trắng hay bún và nước mắm nhỉ. Món này thường dùng kèm với cá kho tộ.









Chú thích: Không nên cho nhiều nước khi nấu vì rau cải sẽ ra nước khi nấu, cá chín rất nhanh cho nên khoảng thời gian nấu chừng 15′ là xong. Rau, giá đừng nấu lâu, để giòn mới ngon; dùng khóm tươi sẽ ngon hơn nhiều. Canh chua phải thật chua, ngọt và đậm đà mới đúng khẩu vị, đừng ngại khi nêm đường nhiều. Lượng nước mắm có thể giảm ít hơn 3/4 vì cá chấm với nước mắm nhỉ sẽ làm độ mặn tăng lên. Nếu dùng chicken broth thì gia giảm cân lượng nêm cho vừa miệng vì chicken broth đã có muối.

Cờ Vàng trên đỉnh Everest, nơi cao nhất thế giới


Bùi Quốc Hùng


 


Ngày 17 tháng 5 năm 2004, trưởng đoàn leo núi Craig Van Hoy, 46 tuổi và các đoàn viên, từ phía Nam, đã đặt chân lên nóc nhà thế giới: Ðỉnh núi Everest, trên dãy Hi Mã Lạp Sơn.


Ngay lập tức, anh Craig đã cùng người đồng hành giương ra một tấm vải nhựa có in Cờ Vàng Việt Nam nổi bật trên nền bạt ngàn tuyết trắng, xác nhận sự chinh phục đỉnh cao nhất của Everest.


Hơn nửa thế kỷ trước đó, ngày 29 tháng 5, 1953, Sir Edmund Hillary, New Jealand và Tenzing Norgay, một người dân Nepal thuộc bộ tộc Sherpa, trở thành hai người đàn ông đầu tiên chinh phục đỉnh Núi Everest, cũng từ sườn phía Nam, nơi được mệnh danh là không thể trèo lên được “unclimbable.”


Dưới đây là câu chuyện đầy cảm xúc trong sự việc gởi gấm ý nguyện tôn vinh một lá cờ thân yêu của hàng triệu người Việt Nam ở hải ngoại trên đỉnh cao Everest nổi tiếng thế giới.


Chàng trai trẻ Huỳnh Lương Vinh, cư dân thành phố Hoa Hồng, Portland, Oregon, giã từ Sàigòn ngày 27 tháng 4, 1975, cùng đại gia đình đến Hoa Kỳ năm 17 tuổi. Năm 1979 Vinh được bầu chọn là học sinh ưu tú ngành kỹ nghệ họa của liên trường trung học, hằng năm Sở Học Chánh bang Oregon, Nha Ðiện Lực (Portland General Electric) và Bộ Thủy Lợi đập nước Boneville Dam bảo trợ và cấp bằng. Trước đây thường là các học sinh bản xứ người Mỹ được chọn đều là xuất thân từ trường kỹ thuật Benson Industry. Nhưng năm đó lại lọt vào tay một người Việt Nam. Sau đó Vinh được trường University of Oregon nhận thẳng vào phân khoa kiến trúc và anh đã ra trường kiến trúc vào năm 1984 và làm việc tại Portland, Oregon. Chính tại nơi đây, Huỳnh L. Vinh có dịp quen biết anh Craig V. Hoy, sinh quán tại Tacoma, Washington, nhưng hiện nay anh là cư dân Portland, Oregon. Anh lập gia đình với một thiếu nữ Lào, tên Malaysone; anh chị có hai cháu bé: cháu trai Josiah, 6 tuổi, và cháu gái Bethany, 4 tuổi. Các cháu rất ngoan; tính tình và cách sinh hoạt của các cháu thì đặc trưng như những trẻ em được hướng dẫn và giáo dục của các gia đình Á Châu thuần túy.


Anh Craig V. Hoy làm việc cho Sở Giáo Dục Vancouver, Washington. Ngoài 3 tháng làm việc cho Sở Giáo Dục, 9 tháng còn lại, Anh dành toàn thời gian cho việc huấn luyện và hướng dẫn cho từng nhóm hoặc từng cá nhân cũng có ý ưa thích phiêu lưu, mạo hiểm như anh. Họ là những người yêu thích môn thể thao leo núi đến từ khắp nơi trên thế giới, đều mong ước chinh phục ngọn núi cao nhất thế giới Everest.


Núi Everest được đặt theo tên của Sir George Everest (1790-1866), giám định viên trưởng người Anh của Ấn Ðộ. Người Tibet gọi núi Everest là Chomolungma, người Nepal gọi là núi Sagarmatha, cao 29,035 feet (5.5 miles= 8.9 km), trên mực nước biển, trên biên giới Tibet và Nepal, phía Bắc Ấn.


Nhiều năm trước đây, anh Craig thường lui tới vùng núi này, tự nghiên cứu và học đàm thoại với dân bản xứ. Người dân Nepal ở đây thường sử dụng 3 ngôn ngữ khác nhau. Họ nói được tiếng Anh, tiếng Cherpe của người Tibet láng giềng và tiếng Nepal của người địa phương. Về thực phẩm, dân bản xứ có món khoai lang chiên giống như các tiệm hamburger của Mỹ, ăn cơm cà-ry kiểu Ấn và món thịt bò hầm. Ðó là các món ăn thuần túy, họ ăn hàng ngày như người Việt Nam ăn cơm vậy.


Năm 1987, anh Craig hướng dẫn một nhóm 8 người đi từ bang Arkansas, và năm 1991, Anh trở lại vùng này với 9 người Mỹ, 2 Tân Tây Lan và 1 người Úc. Trong những lần đó, đoàn của Craig chỉ leo qua những rặng núi thấp hơn về phía Bắc của núi Everest.


Trong tình thân quen, Huỳnh Vinh hiểu được ý chí kiên định của người bạn, Craig sẽ quyết tâm chinh phục đỉnh cao nhất của ngọn Everest, từ sườn phía Nam, nơi mà từ trước tới nay rất ít người thực hiện được. Theo Craig, chuyến leo núi lần này sẽ đầy kỳ thú và mạo hiểm nhất. Do đó, anh chuẩn bị thật chu đáo. Ðoàn của anh gồm 1 người Ðài Loan, 4 người Mỹ đến từ các tiểu bang khác nhau và 5 người thổ dân. Chuyến đi này cũng được các đài truyền hình NBC, Discovery Channel và Universal Picture theo dõi tường thuật trong suốt cuộc hành trình. Trong thời gian hai tháng tại đây, Craig huấn luyện và hướng dẫn cho các thành viên trong đoàn về những kỹ thuật, động tác và cách xử trí mà đoàn sẽ phải đương đầu trong những ngày sắp tới.


Vào lúc Craig chuẩn bị cho chuyến đi leo núi của anh, Chiến Dịch Cờ Vàng khởi đi từ tiểu bang Virginia vào đầu năm 2003, đã như một vết dầu loang trên cùng khắp các tiểu bang, quận hạt và các thành phố Hoa Kỳ. Huỳnh Vinh chợt có một ý tưởng tuyệt vời, đó là đem tâm nguyện của anh ấp ủ về lá cờ Vàng, biểu tượng cao quý về Tự Do, Dân Chủ và là di sản của người Việt ở hải ngoại, trở thành hiện thực tung bay trên đỉnh núi Everest một khi đoàn thám hiểm của người bạn Craig thành công. Huỳnh Vinh đem tâm nguyện của mình nói với Craig, và Craig đã hân hoan nhận lời. Craig thích thú nói: “Tôi sẽ trân trọng đem lá cờ mang ý nghĩa tranh đấu cho Tự Do này lên tới đỉnh Everest và sẽ chụp cho anh một tấm ảnh, chắc chắn đây là lần đầu tiên trong lịch sử, anh hãy hãnh diện.” Craig cũng có nhiều hiểu biết và rất kính trọng Ðức Ðạt Lai Lạt Ma, nhà lãnh đạo tinh thần của người Tibet. Hiện ngài đang lưu vong ở Ấn Ðộ để tranh đấu giành tự do cho xứ sở Tibet của ngài.


Cuộc hành trình bắt đầu từ trạm đầu tiên, lên tới đỉnh Everest phải mất hết ít nhất 6 ngày. Craig kể rằng, trời tờ mờ sáng, đoàn của anh lên đường, đất trại với cao độ là 17,600 feet. Nhiệt độ vào lúc này xuống tới 5 độ Faraheit. Ðể tranh thủ thời gian, trong suốt 17 giờ, anh chỉ ăn một thỏi chocolat và uống 1 lít nước lọc.


Từ chân núi lên đến đỉnh phải dựng lều trại nghỉ ngơi qua đêm, ít nhất là 4 lần. Ðến trạm thứ nhì coi như leo đã được nửa đường. Trang phục quần áo, như các phi hành gia không gian, trang bị nhiều loại dây leo núi khác nhau, giầy có móc sắt, búa, gậy, mặt nạ, bình dưỡng khí và 50 chiếc thang nhôm. Khi gặp đoạn nứt lớn của các hố sâu, các thang này sẽ được cột nối tiếp các đầu thang lại với nhau để đoàn băng qua dễ dàng hơn.


Tháng 5 là mùa mưa lũ tại những khu rừng già hoặc những khu đồi núi vùng Á Châu, nhưng may mắn thay, ngày hôm đó trời trong, khí hậu tương đối tốt, không có mưa lớn hoặc có bão tuyết như các năm trước. Ðoàn của Craig vẫn tiếp tục leo cao lên, cao hơn nữa. Thật xa, chân trời như một dải lụa màu xám bạc, trước mặt là những rặng núi nhấp nhô, mờ ảo. Cũng vào giờ này, bên dưới, dân làng đang yên giấc ngủ say như cùng hòa nhịp thở nhẹ của Craig qua ống dẫn khí mà anh đang đeo.


Ðến đúng ngày thứ 6 (17 tháng 5, 2004), Craig và đoàn leo núi đã đặt chân lên đỉnh cao nhất của núi Everest, nơi còn được gọi là “Nóc Nhà Thế Giới.”


Trong giây phút thành công này, anh Criag V. Hoy nghĩ đến vợ, con anh tại Portland, Oregon. Anh nghĩ đến những người thổ dân ở đây đã cùng anh chia sẻ bao tháng ngày và nhất là vị cao tăng Phật Giáo đã theo truyền thống làm lễ ban phước lành cho anh mỗi lần anh leo núi tại đây. Và đặc biệt, anh nghĩ đến một người bạn mà theo anh biết, lúc nào cũng mong ngóng, trông đợi ngày anh thành công trở về với hình ảnh Cờ Vàng rực rỡ trên đỉnh cao chót vót của Núi Tuyết Everest hùng tráng.


Ngay lập tức, trưởng đoàn leo núi Craig lấy từ trong túi đeo lưng ra một tấm vải nhựa có lá cờ Vàng Ba Sọc Ðỏ cùng một người đồng hành giương ra trong ánh tuyết sáng trắng trên nền trời bao la trong xanh. “Vinh ơi… tấm ảnh này tôi chụp riêng tặng cho anh và những người Việt Nam Tự Do ở hải ngoại đó!”


Chỉ hai ngày sau khi thành công cuộc chinh phục đỉnh Everest, khi vẫn còn đang cheo leo trên đường trở về của đoàn leo núi, ngày 19 tháng 5, 2006, Nghị Ciên Andy Quách ở thủ đô của Người Việt tỵ nạn đã thành công trong nghị quyết cấm cửa các phái đoàn CSVN đến Little Sàigòn. Hai sự thắng lợi ở hai phương trời cách biệt, xa hàng ngàn vạn dặm nhưng thực sự có ý nghĩa vô cùng đối với những người Việt yêu chuộng dân chủ, tự do và đặc biệt là một niềm hạnh phúc đối với người tuổi trẻ Huỳnh L. Vinh của thành phố Hoa Hồng Portland, Oregon.


(Bùi Quốc Hùng-VBMN, viết theo Huỳnh Lương Vinh và tài liệu từ The World Book Encyclopedia – M Volume 13, World Book, Inc.)

Nhà văn Dương Thu Hương: ‘Chế độ cộng sản là chế độ man rợ và phi nhân’

 


 


Ðinh Quang Anh Thái


 


LTS: Nhà văn Dương Thu Hương đã có lần công khai bầy tỏ rằng, Tháng Tư năm 1975, bà đã ngồi trên lề đường của Sàigòn ôm mặt khóc vì khám phá ra rằng, chế độ chiến thắng cuộc chiến chẳng qua chỉ là một thể chế man rợ. Từ đó, bà chọn cho mình một hướng đi riêng, là đấu tranh cho một nước Việt Nam tự do dân chủ.


Nhà văn Dương Thu Hương, nổi tiếng không những về những tác phẩm như “Thiên Ðường Mù,” “Bên Kia Bờ Ảo Vọng,” “Khải Hoàn Môn,” mà còn do thái độ can đảm và thẳng thắn phê bình giới lãnh đạo Hà Nội. Bà từng bị chế độ giam giữ gần một năm. Hiện nay, bà Dương Thu Hương sống đơn độc tại Paris và hầu như không giao du với ai.


Nhân đánh dấu 26 năm ngày 30 Tháng Tư 1975 và cũng là dịp Ðảng Cộng Sản Việt Nam khai mạc Ðại Hội 9, nhà văn Dương Thu Hương dành cho Little Saigon Radio cuộc phỏng vấn đặc biệt và do biên tập viên Ðinh Quang Anh Thái (ÐQAT) thực hiện.


Tuy bài phỏng vấn đã cũ, nhưng vẫn có giá trị trong thời điểm hiện nay. Tuần báo Người Việt San Jose xin đăng lại nguyên văn sau đây.








Nhà văn Dương Thu Hương nói chuyện với giới cầm bút Hoa Kỳ tại New York năm 2007 (Hình: Ðinh Quát)


ÐQAT: Ðảng Cộng Sản Việt Nam sẽ chính thức khai mạc Ðại Hội 9 vào ngày 19 Tháng Tư (2001) này tại Hà Nội, là một người sống ngay tại thủ đô và là người luôn trăn trở đối với tình hình của đất nước, bà có nhận xét gì về đại hội này?


Dương Thu Hương: Nếu bảo rằng nhận xét thì tôi không dám nhận xét, bởi vì mấy năm nay tôi không theo dõi sinh hoạt của đảng Cộng Sản, mà tôi cũng không đọc báo. Nói chung, hoạt động của đảng Cộng Sản thì nó rất nhàm chán nên tôi không theo dõi. Nhiều người cũng thờ ơ nhưng người ta không dám nói như tôi (cười…). Tính tôi vốn dĩ nghĩ gì nói nấy nên thành thật thưa với quý đài là tôi không chú ý tới đại hội của họ. Nhưng mà tôi biết có một số người chú tâm tới những cuộc đấu đá giữa những phe phái trong đảng Cộng Sản, xem là kẻ nào ngã ngựa, kẻ nào thì lên ngựa… đại khái như thế.


ÐQAT: Lý do nào khiến cho một người như bà, một người đã có thời hết mực tận tụy với đảng Cộng Sản Việt Nam và tự nhận là “thuộc thế hệ xẻ Trường Sơn đánh Mỹ,” để rồi bây giờ hoàn toàn không chú ý tới sinh hoạt của đảng Cộng Sản, mặc dù bà đang sinh sống ngay tại lòng của thủ đô Hà Nội?


Dương Thu Hương: Chuyện này thì ông Thái lầm đấy. Thứ nhất là chưa bao giờ tôi tận tụy với đảng Cộng Sản. Tôi vào chiến trường năm 1968 là vì lòng yêu nước truyền thống. Lúc ấy đó tôi tưởng rằng đó là cuộc chiến tranh chống xâm lược của Mỹ đối với Việt Nam. Cho nên giống như cha ông chúng ta, hễ quân Minh, quân Thanh đến là đánh thế thôi. Khi vào trong Nam, năm 1969, họ có nhã ý kết nạp tôi vào đảng, nhưng tôi đã thẳng thắn trả lời với chi bộ Văn Hóa Quảng Bình nơi tôi phục vụ là “cái chi bộ này đảng viên đàn ông còn có người tư cách khả dĩ, chứ còn đảng viên đàn bà thì toàn những đồ ăn mày ăn nhặt, toàn những con đĩ thì tôi vào làm gì cho nó bẩn người tôi ra.” Cho nên tôi không vào đảng. Ðến năm 1977, khi tôi chuyển vào Xưởng Phim Giải Phóng, thì chính những anh em ngoài đảng cứ tha thiết nói tôi phải vào đảng để đấu tranh cho mọi người. Vì thế tôi vào đảng với tinh thần rất thực dụng. Lúc bấy giờ, tất cả lương bổng, tất cả những chuyến đi nước ngoài béo bở, có thể buôn bán kiếm tiền để đạt một cái thiên đường vật chất nhỏ bé nào đó, tất tật những bổng lộc ấy đều tùy thuộc vào các chi bộ quyết định, vì vậy, anh em ngoài đảng bảo tôi vào để đấu tranh với họ chống lại những tệ nhũng lạm, cửa quyền, đút lót xẩy ra trong đảng. Và tôi vào và đã làm được việc ấy. Tính tôi có lẽ vì không tham và thẳng thắn nên thứ trưởng, bộ trưởng, gặp thằng nào tôi chửi thằng ấy nên họ phải im thôi. Huống hồ các cấp lãnh đạo đối với tôi (cười) thì tôi thấy cái gót chân Achille của họ có tới bẩy, tám, chín gót cơ, bản thân họ mềm yếu có lẽ vì họ có nhiều dục vọng quá.


Tôi nói lại với ông Thái rằng tôi vào đảng không vì tận tụy với đảng, mà lúc đấy tôi thấy đảng thối lắm rồi và tôi vào để làm những việc cụ thể là đấu tranh cho anh em, là những người thấp cổ bé họng. Khi tôi bộc lộ một cách rõ ràng quan điểm của tôi chống lại cái nhà nước độc quyền và đấu tranh cho một chế độ dân chủ, một chế độ đa đảng, một chế độ nhất thiết phải có đối trọng thì lúc bấy giờ tôi có làm một bản kiểm điểm mà tôi nghĩ là nó thành công, vì tôi đứng trong đảng, như người ta nói trong chăn mới biết chăn có rận, cho nên với tính cách đảng viên, tôi nói được quan điểm của mình và tôi đã làm được việc đó.


ÐQAT: Mặc dù bà nói rằng không hề chú tâm đến các hoạt động của đảng Cộng Sản Việt Nam, tuy nhiên, chúng tôi nhớ không lầm thì trong một bài viết của bà cách đây khoảng 10 năm, bà phát biểu rằng không có gương mặt nào của Bộ Chính Trị Ðảng Cộng Sản Việt Nam tiêu biểu cho nguyện vọng của dân tộc, vậy thì bà nhận định ra sao nếu như trong Ðại Hội 9 này, ông Nông Ðức Mạnh sẽ lên thay ông Lê Khả Phiêu trong chức vụ tổng bí thư đảng?


Dương Thu Hương: Những nhân vật mà ông vừa đề cập đến, tôi chưa hề trực tiếp gặp họ, tôi chỉ nhìn ảnh của họ, mà cũng hãn hữu thôi tôi mới ném một cái nhìn vào ảnh của họ. Theo tôi, giữa những cái mặt của những người đó, thì cái mặt của Nông Ðức Mạnh còn có vẻ là sáng sủa hơn. Ðôi khi tôi thấy ông ta có cái nhìn buồn rầu, có lẽ vì ông ta thấy nước non thối tha quá, và đảng của ông ta thối tha quá. Có lẽ cái nhìn buồn rầu ấy chứng tỏ người ta còn một chút lương tâm, chứ nó không phải là những bộ mặt nham nhở, lúc nào cũng nhăn nhở cười hềnh hệch, xin lỗi phải nói lời của các cụ ngày xưa là “xằng xằng như… cái gì phải nước sôi ấy.” Tóm lại, những người do đảng cử ra đại đa số là họ tự bầu cho nhau, nhân dân không bầu họ. Cho nên cái mặt của họ trông tăm tối lắm, ăn nói thì nham nhở, ngu độn, nói chung là câu nọ chửi bố câu kia, chẳng ra cái thể thống gì cả. Nó ngớ ngẩn đến mức độ tất cả những người dân Việt Nam, dù người mù chữ đi nữa cũng xấu hổ vì vua chúa sao mà tối tăm ngu dốt đến thế. Tôi cũng chẳng biết ông Nông Ðức Mạnh có lên cầm quyền được không nhưng vấn đề là ngay cả trường hợp ông Nông Ðức Mạnh nắm quyền đi chăng nữa thì cơ chế này vẫn cứ phải thay đổi. Không một cá nhân nào có thể tử tế được. Vấn đề phải có cơ chế để buộc con người phải tử tế. Trước sau tôi vẫn nghĩ phải có một chế độ để cho dân chúng được quyền bầu lên những người đại biểu của mình. Có nhứ thế thì bản thân những người đại biểu ấy khi họ được bầu, họ cũng có cái sự tự tin của họ. Bởi vì họ được đảm bảo bởi lá phiếu của người dân, do đó, mặt họ dù có xấu xí chăng nữa thì ánh sáng của lòng tự tin cũng làm họ khá hơn. Ngoài ra, trí tuệ của 80 triệu dân cũng không ngu dốt gì mà lại đi bầu cho những khuôn mặt tối tăm quá, hoặc những kẻ ngu dốt quá. Cho nên, đất nước Việt Nam muốn tiến bộ thì phải xóa bỏ chế độ độc đảng và người dân phải có quyền bầu cử thực sự. Lúc ấy giờ thì tôi mới có thì giờ nhìn lại những khuôn mặt lãnh đạo, chứ bây giờ thì tôi không có thì giờ nhìn mặt những người lãnh đạo hiện nay.


ÐQAT: Bà là người mang nhiều trăn trở về tình trạng tụt hậu hiện nay của đất nước và con người Việt Nam, theo nhận định của bà, làm sao để có được một bước đột phá nhằm đưa đất nước đến một cơ chế dân chủ tự do như ước vọng chung của mọi người, khi mà giới lãnh đạo tại Hà Nội lúc nào cũng khăng khăng là Việt Nam phải nhất quyết tiến lên Xã Hội Chủ Nghĩa, phải đeo đuổi chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh?


Dương Thu Hương: Tất cả những lời lẽ của giới lãnh đạo vừa ngu xuẩn vừa dối trá. Bản thân họ biết sự dối trá đó. Tất cả những kẻ mở mồm nói Xã Hội Chủ Nghĩa thì con cái chúng nó đều buôn bán, đều làm mọi cách tận thu, tận dụng, ăn cắp thật là nhiều tiền và trở thành những thằng tư bản. Chúng nó phát huy tối đa khả năng ăn cắp, ăn cướp, biến tất cả tiền tài, của cải của nhân dân trở thành vốn liếng riêng của chúng nó, hoặc là gởi tiền ra nước ngoài để sau này bỏ trốn, hoặc là nếu tình hình còn thuận tiện thì chúng nó sẽ ở lại trong nước để giữ một vốn liếng to lớn trực tiếp lấy từ xương máu của dân chúng. Như thế có nghĩa là không biết bao thế hệ nữa của con cháu chúng tôi, nhất là con cháu của hơn 60 triệu nông dân, phải trả nợ cho hành động nhũng lạm của bọn chúng. Còn về Xã Hội Chủ Nghĩa thì những người nào không ngu lắm thì họ cũng đều biết rằng chủ nghĩa này chỉ là câu nói đầu lưỡi. Tại sao giới lãnh đạo đảng nói thế? Họ nói thế vì họ dựa vào sự hèn hạ, sự hèn nhát của dân chúng. Dân chúng sợ hãi họ vì bản thân của chế độ này là chế độ dựa trên nòng súng theo đúng nguyên tắc của Lênin, cho nên người dân vì sợ hãi mà phải hèn nhát cúi đầu, cho dù dân chúng biết rằng, cả người nói và người nghe đều biết những điều ấy là những điều giả dối. Người nói thì trơ tráo vô liêm sỉ, còn người nghe thì vì sợ hãi nên đành nuốt nước bọt thôi. Tôi nghĩ rằng ai cũng biết, toàn thành phố Hà Nội này người ta biết từng con cái đám lãnh đạo, con “thằng” Phan Văn Khải thì thế nào, con rể “thằng” Ðỗ Mười thì như thế nào.v.v … dân chúng người ta biết từng chi tiết một. Tóm lại, không có gì đáng bàn về cái thứ Chủ Nghĩa Xã Hội, tất cả chỉ là trò lừa bịp của danh từ và sự lừa bịp này còn tồn tại vì nó dựa trên hai vế. Vế thứ nhất, kẻ cầm quyền thì dùng sức mạnh và bạo lực đàn áp dân chúng, còn vế thứ hai là dân chúng cam phận, hèn nhát vì sợ bạo lực và vì tinh thần nô lệ nó đã tẩm nhiễm quá lâu rồi.


ÐQAT: Hình ảnh đất nước và con người Việt Nam như bà vừa phát biểu ảm đảm và u tối quá. Bản thân bà, bà có tin tưởng vào tương lai của Việt Nam không?


Dương Thu Hương: Nếu không có một chút niềm tin nào thì chẳng ai sống nổi. Theo tôi, dân tộc ta là dân tộc nhỏ, nên năng động hơn những nước lớn như nước Tầu. Nhưng mà tôi không biết dân tộc ta đã hết vận số tận cùng dưới đáy chưa. Còn những năm vừa qua thì quá tăm tối. Cứ nhìn mặt những người lãnh đạo thì cũng đủ thấy nhục nhã và đau đớn như thế nào cho 80 triệu dân. Tôi không phải là nhà tiên tri nên tôi không biết bao giờ thì cuộc hạnh ngộ với tương lai mới đến với dân tộc chúng ta. Nếu chúng ta có sự thay đổi thì tôi cho rằng vì là dân tộc nhỏ nên chúng ta sẽ thoát khỏi quá khứ một cách gọn nhẹ hơn. Ðó là điều hy vọng của tôi cho tương lai.


ÐQAT: Khi cuộc chiến Việt Nam chấm dứt ngày 30 Tháng Tư năm 1975, lúc đó bà ở đâu, đang làm gì và có cảm tưởng gì?


Dương Thu Hương: Lúc đó tôi ở Quảng Bình, và một vài tuần sau đó thì tôi tìm cách vượt qua cầu Hiền Lương để vào Sàigòn với mục đích thăm những người thân và tìm hiểu xem người dân miền Nam sống như thế nào. Trong suốt một tuần lễ đi đường, tâm trạng của tôi là cả một mớ hỗn độn. Bởi vì một khi thông tin có quá nhiều thì nó trở thành hiện tượng bị nhiễu trắng. Còn về cảm tưởng khi nghe chiến tranh chấm dứt thì khó nói vắn tắt lắm, nhất là cuộc chiến quá dài. Nhưng khi tham dự cuộc chiến chống Mỹ, tôi nghĩ rằng đây là cuộc chiến chống xâm lược, tôi đã từ bỏ cuộc sống ở hậu phương mà tôi cho là hèn hạ, hoặc đi ra nước ngoài là hèn hạ, để rồi tôi dấn thân vào chốn chông gai như thế. Nhưng mà sau khi vào Sàigòn, thì tôi biết rằng một cuộc chiến tranh khác lại nẩy nở trong tôi. Tôi nghĩ là cuộc chiến tranh trong lòng tôi nó lâu dài và khốc liệt hơn, vì lúc bấy giờ, khi người khác vui sướng nhất thì tôi hiểu rằng tôi hoàn toàn lầm lạc. Theo tôi, cái mô hình xã hội của cái miền đất bại trận mới chính là mô hình của nền văn minh, và chúng tôi là người trong đội ngũ chiến thắng thì thực ra chúng tôi đã chiến đấu cho một mô hình xã hội man rợ. Và điều đó khiến tôi hết sức cay đắng. Tất nhiên ngay lúc ấy cảm tưởng nó còn mù mờ, nhưng sau này, càng ngày thì sự hồ nghi của tôi nó càng rõ rệt hơn, cho nên tôi phải nói thật là trong ngày 30 tháng Tư, cái khoảnh khắc vui sướng như mọi người qua đi rất nhanh, nhưng đối với tôi thì trong nội tâm đã xẩy ra một chiến mới và nó đã kéo dài mãi cho đến 10 năm sau đó thì nó mới biến chuyển hoàn toàn và khiến tôi trở thành một người “dissident” quyết liệt như vậy.


ÐQAT: Tâm trạng của bà có phổ biến trong hàng ngũ những người chiến thắng không ạ?


Dương Thu Hương: Tôi chắc là nếu tâm lý của tôi mà phổ biến quá trong hàng ngũ đó thì chế độ này đã bị lật đổ từ lâu rồi. Vì họ cũng nhìn rõ như tôi thì không thể tồn tại mãi cái chính quyền dựa trên nòng súng như thế này được. Tôi không khinh bỉ con người đâu, có điều là con người ta nói chung, thường an phận và có lẽ bản chất con người bao giờ cũng nương theo phe mạnh, bản chất con người bao giờ cũng tìm những lý lẽ để bào chữa cho mình để được sống còn. Cho nên không phải là ít người đã nhìn ra cái khía cạnh phi lý của cuộc chiến tranh, không phải là ít người đã khám phá ra chế độ cộng sản là chế độ man rợ và phi nhân đâu, nhưng nói chung con người là hèn yếu, gió chiều nào che chiều ấy. Cho nên để nói ra miệng thì cũng khó, nhất là người Việt Nam hay nghĩ vụng, nghĩ lén, chứ bảo họ nghĩ thẳng thắn thì cũng khó.


ÐQAT: Bà đã viết một bài tựa đề là Tiếng Vỗ Cánh Của Bầy Quạ Ðen, nhận định rằng các “nhà Việt Nam học” thường băn khoăn trước một nghịch lý là tại sao một dân tộc dũng cảm biết bao trong chiến tranh như dân tộc Việt Nam mà lại tỏ ra hèn mọn như thế trong cuộc sống thời bình. Bà có lý giải được hiện tượng này không?


Dương Thu Hương: Ðiều thứ nhất, cuộc chiến tranh vừa rồi nó quá khốc liệt, người chết quá nhiều, chết vì bom đạn, vì đói ăn, chết vì căn bệnh tâm thần .. v.v.. Khi nó quá khốc liệt thì nó như một cái lò làm cho nhiều thế hệ tan chẩy trong đó. Con người là hữu hạn, cuộc đời là hữu hạn và sức lực của con người cũng hữu hạn, lòng can đảm của con người cũng hữu hạn. Tóm lại, con người là một thực thể rất dễ dao động, vì thế khi đã ra khỏi lò lửa chiến tranh thì rất dễ nẩy sinh ra tâm lý dầu sao thì sống vẫn hơn chết. Người Việt Nam mình, nghĩa là cả tôi lẫn cả ông Thái nữa, dũng cảm bao nhiêu trong chiến tranh thì hèn nhất bấy nhiêu khi hòa bình, đó cũng là tâm lý dễ hiểu. Là vì họ đã khổ đau, họ đã lội qua địa ngục rồi nên thà họ cam chịu sự thống trị của một chính quyền hà khắc để còn được tồn tại, còn ăn được miếng cơm với nước mắm hơn là chết. Người Việt Nam dễ hài lòng, và vẫn chưa ý thức được quyền sống, chưa ý thức về nhân phẩm, chúng ta không thể đòi hỏi những người quá nghèo khổ có ý thức được về quyền tự do, một thứ quyền xa xỉ mà phải ở cấp độ nào đó người ta mới yêu được tự do, còn khi người ta đói quá thì người ta chỉ cần một bát cơm chan nước mắm cua hoặc một tý muối ớt, một tý mỡ ngoáy vào cơm là đủ qua ngày rồi. Người Việt Nam trong suốt cuộc chiến tranh đã sống cùng khổ như thế cho nên là khi đã lội qua địa ngục thì phải rất lâu người ta mới phục hồi lại cuộc sống bình thường như là các dân tộc khác. Ðấy là mặt tâm lý.


Ðiều thứ hai, đất nước chúng ta chịu chiến tranh liên miên nên nó sản sinh ra hai loại tâm lý con người. Tâm lý của lớp tướng và tâm lý của lớp quân sĩ. Chiến tranh dạy cho con người ta tâm lý tuân lệnh. Thái độ tuân lệnh là một gông cùm đào tạo ra phẩm chất nô lệ. Cho nên sau khi hòa bình, lập tức người lính rất ngoan cường trong chiến tranh đã trở thành những công dân hèn nhát. Họ chưa có khái niệm về quyền công dân, chưa có tri thức để làm một công dân như công dân của các nước tự do.


Ðiều thứ ba là thói quen tuân lệnh, tuân lệnh và tuân lệnh đã tẩm nhiễm vào tâm hồn họ rồi cho nên họ chỉ trở thành những người lính trong thời bình, nghĩa là những kẻ hèn, chỉ biết cúi đầu tuân lệnh mà thôi. Những người lính này sẽ lại ra lệnh cho con cái của họ, hoặc những kẻ yếu thế hơn họ. Nói cách khác, tâm lý đó là, hoặc là làm sếp của những người bên dưới, hoặc là làm con ở, đầy tớ cho những thằng bên trên. Một dân tộc mà mang cái tâm lý song trùng đó thì rất là khó trở thành một dân tộc có tự do dân chủ, bởi vì muốn có tự do dân chủ thì xã hội phải hình thành được những người công dân tự do, biết quyền của mình, biết mình được được hưởng những gì và như thế họ phải có ý thức về quyền công dân đã. Và lúc đó họ mới khao khát làm công dân.


ÐQAT: Trong một bài viết khác của bà tựa đề là Tự Do Ảo Khoảng Sinh Tồn Của Ngòi Bút, bà thiết tha cho rằng không có khát vọng nào phải trả giá đau đớn cho bằng khát vọng tự do, cũng như không có thách thức nào khắc nghiệt hơn là tự do. Bà có lạc quan về tương lai tự do của dân tộc mình không?


Dương Thu Hương: Tôi cũng không dám lạc quan lắm. Bởi vì dân tộc ta gần 90% là dân cầy, cho nên không thể đòi hỏi những người nông dân một sớm một chiều có ý thức về quyền công dân được. Tất cả mọi việc đều phải cần thời gian. Những người nông dân chỉ đòi hỏi một lãnh chúa, một minh chúa thôi. Còn muốn dân chủ thì cần có tri thức về xã hội, về quyền sống của con người và tri thức về quyền công dân. Chúng ta phải tập, phải chờ đợi. Tất nhiên tôi cũng không đến nỗi tuyệt vọng. Tôi nghĩ bây giờ với phương tiện của văn minh tràn vào Việt Nam, dù muốn hay không muốn thì cộng sản không thể giữ được cái chế độ ngu dân tuyệt đối như trước nữa. Bây giờ đã có TV, có radio, bây giờ nhân dân người ta đã nghe đài của các ông, đài VOA, đài RFI, RFA .v.v.. cũng nhiều rồi, không đến nỗi người ta bị chọc mù mắt, bị bịt tai như ngày xưa đâu. Thành ra người dân cũng tỉnh ra, nhưng cũng cần phải có thời gian, không thể đốt cháy giai đoạn được.


ÐQAT: Câu chót xin phỏng vấn bà Dương Thu Hương; mỗi năm, cứ đến dịp 30 tháng Tư, nhà nước Hà Nội lại tổ chức những lễ hội kỷ niệm biến cố lịch sử này, tâm trạng của bà về những ngày này như thế nào, và ngày 30 Tháng Tư liệu còn mang ý nghĩa nào trong lòng bà hay không ạ?


Dương Thu Hương: Ngày 30 Tháng Tư là một ngày mà tôi nhìn thấy sự trớ trêu của số phận đất nước Việt Nam. Ngày 30 tháng Tư là một kỷ niệm nặng nhọc và buồn phiền. Tôi nghĩ rằng sau này lịch sử sẽ nhìn lại ngày 30 Tháng Tư là một ngày đau khổ và cuộc chiến tranh bấy giờ là một cuộc chiến tranh tồi tệ nhất của người dân Việt Nam. Những người Việt Nam có lương tri, dù là chống cộng hay dù là cộng sản, sau này họ chết đi, họ cũng nên lội qua vạc dầu một lần để hiểu thế nào là chân lý.


ÐQAT: Cám ơn bà đã trả lời phỏng vấn của chúng tôi.

Tin mới cập nhật