Lục bình trên bến sông xa


(Viết hộ Ben)


 


* Trang Ðài Glassey-Trầnguyễn


 


Lục bình trôi


trôi vô hướng


trôi vất vưởng


giữa trần ai.


Lục bình yêu


duyên cay đắng


lục bình thắm


tình mồ côi.


Lục bình trôi


qua cam lộ


hồi cố phủ


rũ hồng trần.


 


Người bạn của tôi yêu lục bình. Tôi không biết rõ lắm vì lý do nào. Anh chỉ bảo với tôi, rằng lục bình có số phận lênh đênh. Có lẽ anh thấy đời sống nhân sinh cũng bềnh bồng như lục bình chăng? Bài thơ tam tự tứ cú này, tôi viết cho bạn tôi.



Cô giáo và bầy trẻ. (Hình: Benjamin Vũ)


Có những mảnh đời lục bình theo nghĩa đen của nó, và cả nghĩa bóng nữa. Khi người bạn, mà tôi mạn phép gọi là “LB” ở đây, kể với tôi về đồng hương Việt Nam trôi dạt trên xứ Chùa Tháp, anh muốn tôi giúp ghi lại chuyến đi của anh – qua những dữ liệu lưu trữ bằng phương tiện điện tử: hình ảnh kỹ thuật số và âm thanh MP3.


Trên đại dương của mạng điện toán toàn cầu, nổi trôi là những mẩu thông tin đa tuyến đa năng. Tôi chợt nghĩ, giữa biển thông tin đó, câu chuyện của người Việt ở Cambốt rồi sẽ như lục bình, về đâu? Sẽ có bao nhiêu người để tâm chú ý đến cảnh đời sông nước bôn ba?


Nhưng điều đó không làm LB ngại. Anh chỉ biết một điều thật chắc chắn: phải kể về đồng hương của mình ở Cambốt, và anh đã kể cho tôi nghe, với một tình thương thật chan đầy và gần gũi:


LB quý nhất là ở chỗ các em nhỏ, tuy không quen biết gì mình, nhưng thấy người lớn là khoanh tay cúi đầu chào rất ngoan ngoãn. Thương lắm!


 


Bé gái bán bánh rán gói lá lục bình


 


Cuộc đời của các gia đình Việt Nam trên đất nước láng giềng không chỉ đong đầy khó khăn, mà chứa chan nếp sống của người bình dân đất Việt. Giữa những lênh đênh bất định của cuộc sống Biển Hồ, hoa đời và hoa người vẫn nở, dù không kiêu sa như hồng nhung trong vườn thượng uyển hay mượt mà như ngọc lan trong khuê lầu. Nhưng hoa lục bình nở, tự nhiên và đầy sức sống, cho dù có bị sóng đẩy hay gió vùi.


Cô giáo Tuyết Mai sống nơi xứ người đã năm năm. Trước đây, cô sống ở Cần Thơ khi ba mẹ đi làm ăn ở Biển Hồ. Sau khi tốt nghiệp trung học, gia đình gặp khó khăn, nên cô theo cha mẹ đi tha hương cầu thực và phải gián đoạn việc học. Ở vùng Biển Hồ, cô là cô giáo trường “thuyền” vì lớp học nằm trên một chiếc thuyền con. “Tuy bà con Việt Nam mình ở đây rất đông, nhưng giáo viên thì không có,” Tuyết Mai thuật lại. Cô giáo thì ít, nhưng hay bị đuổi vì theo lời cô, Ban Chi Hội (BCH) làm việc rất phức tạp. BCH do người Việt tổ chức. Có khi một năm, đổi giáo viên đến ba lần, đưa đến tình trạng các em không học hành đến nơi đến chốn được.


Tuyết Mai đã dạy đến đợt hai ở vùng này. Vì cô giáo đi dạy thiện nguyện, nên phụ huynh thỉnh thoảng mang cơm đến cho cô ăn trưa, hay tặng cô giáo một ít thức ăn gạo muối. Có ba lớp học, tổng số 159 em. Lớp buổi sáng có 55 em, tuy số học sinh hiện diện cũng thất thường. Buổi chiều, thì rất đông học sinh. Tuy nhiên, tùy lúc phụ huynh có thể đưa con em đi học nếu không đi đánh cá, nên việc học rất thất thường. Vì thương học trò nghèo, cô giáo Tuyết Mai cố gắng cầm cự để tiếp tục dạy dỗ cho các em. Cái gì đã thôi thúc cô kiên quyết với công việc lao công vô lộc này? Có phải cái tình quê vẫn còn lai láng ấy? Có phải một tình yêu dành cho trẻ thơ không bị mai một bởi cảnh khó khăn? Có phải tấm tình kiên trung với những thế hệ tương lai đang đâm chồi nẩy lộc mà không được một mảnh đất tốt để vươn lên?


Cô giáo Tuyết Mai hay đối chiếu đời sống ở Biển Hồ và ở miền Nam của quê hương cô. Ðiều đó cho thấy, kim chỉ nam trong đời sống của người Việt ở nơi này vẫn gắn liền với quê nhà trong tâm thức và cách sống của họ. Tôi nghĩ, cái sức mạnh của tình quê hương ấy đã thôi thúc LB, khi trở lại Hoa Kỳ, muốn gióng lên tiếng trống để loan báo về hoàn cảnh của đồng bào Việt Nam ở Cambốt, và để đi tìm những tấm lòng Nghiêu Thuấn cứu đời.


 


Ðời Lục Bình


 


Ở Mỹ, đôi khi các bậc phụ huynh phải vất vả năn nỉ con em chịu khó học hành, làm bài tập về nhà, hoặc phải hối lộ con mình em để các cháu chịu khó đi học đàn, học vẽ. Ở Biển Hồ, mỗi lớp học là một canh bạc – vì không có gì bảo đảm cho các em rằng ngày mai, cô giáo sẽ đứng lớp, và học trò có thuyền để quá giang ra lớp. Có nhiều em, như cô bé áo vàng, thèm được đi học, nhưng mẹ nói phải theo mẹ đi bán kiếm cơm. Bâng khuâng giữa chợ đời, bước chân em quày quả trở lại mái trường đơn sơ trên chiếc thuyền độc mộc, chỉ để thấp thỏm ghé mắt vào một thế giới mà tuy chỉ cách vài bước chân, lại quá đỗi xa vời. Trong ánh mắt ấy, vẫn long lanh một sức sống mãnh liệt và một ước mơ chưa chịu phôi pha.


Một hình ảnh khác xoáy vào tâm tư tôi, là hình ảnh cô bé bán bánh rán gói lá lục bình trên một con thuyền. Cô bé ấy mong manh như một chiếc lá lục bình, ngỡ ngàng giữa cảnh đìu hiu của một ngày chợ thưa, không cười không nói. Những cái bánh rán vàng ươm mật đường thốt nốt ấy, xem chừng hớn hở hơn cả cô bé bán hàng bất đắc dĩ kia. Tôi chợt nhớ câu thơ trong bài “Sở Kiến Hành” của đại thi hào Nguyễn Du, “Trông mặt trời vàng úa.” Trên thuyền, là một mặt trời chưa rạng ban mai mà đã úa vàng. Tôi xót xa khi nghĩ rằng, có thể chính mình cũng ở trong thế giới mâm cao cổ đầy của Trạm Tây Hà, khi cô bé bán bánh rán kia vẫn lưu lạc trong trời đêm lạnh cóng của Sở Kiến Hành. Tôi có xứng đáng chưa với những gì mình nhận được trong cuộc đời này? Và liệu tôi có dám làm người vô can khi chứng kiến cảnh sống nhục nhằn đứt khúc của tuổi thơ Việt Nam bên vệ đường thế giới?


Những anh Năm, anh Bảy, những cô Tám, cô Ba, và những em bé khác nữa, đang đi chài sâu lưới bẩm trên những Biển Hồ lưu vong. Những mầm non Việt Nam đang tìm đất để bén rễ cho một cuộc đời vô định. Họ đi bủa lưới ở những nơi mà thiên nhiên đã cạn kiệt, cả ngày chỉ tìm được một mẩu cá con. Họ đi giăng câu ở bờ sông nước cạn, đi mò ốc ở bãi kênh cùn. Họ đổi cái quần quật hằng để lấy chút cơm chút cháo, và đôi khi, để đổi lấy cái nợ không cách gì thoát khỏi của kiếp lầm than.


Giữa nền kinh tế thị trường của thời đại hoàn cầu hóa, nhân mạng nằm trong một mối rối: nhân mạng phải vật lộn với lợi nhuận và cạnh tranh với độc quyền kinh tế. Thực trạng của con dân Việt vẫn phải rời bỏ quê hương đi tìm miếng cơm manh áo ở khắp cùng bờ cõi địa cầu là một điều cần cho mỗi con người mang dòng máu Việt Nam phải lưu tâm. Chúng ta không chỉ sống trong một quốc gia đơn độc, hay thuộc về một vùng đất quê hương đơn thuần nào đó. Chúng ta trở nên gia đình Việt Nam trong đại gia đình thế giới. Chỗ đứng của mỗi người Việt Nam là một phần của chỗ đứng của dân tộc Việt Nam trên diễn đàn thế giới. Nhân phẩm của mỗi người Việt Nam là nhân phẩm của giống nòi Lạc Hồng trong nhân sinh quan toàn cầu. Ðúng thế, những em bé xa lạ kia thật ra không hề xa lạ, vì các em là máu mủ của mỗi chúng ta, là hiện thân của một nhân diện và tâm thức dân tộc cho dù chúng ta có chọn đứng chung với các em hay không.


Em muốn đi học, nhưng phải theo mẹ đi bán kiếm sống.


Tạ ơn LB đã nhờ tôi viết bài này, mà qua đó, tôi trải nghiệm một chuyến đi bằng trái tim và tâm hồn. Tôi nói với LB rằng tuy viết hộ anh, nhưng thật ra, là viết hộ những đồng hương sống đời vất vưởng ở quê người. Cảnh đời ở Biển Hồ cũng có nhiều điểm tương tự với hoàn cảnh sống của người Việt ở Ba Lan. “Nhưng dù sao, đó cũng là Châu Âu, vẫn đỡ hơn,” LB bảo. Có lẽ trên bề mặt, thì vậy. Nhưng nếu chúng ta nhìn vào thực trạng của đời sống hằng ngày của người Việt ở hai nơi này, cái khác nhau không nhiều lắm, “Không phải đâu, LB ạ. Mình nghèo, mà đi ăn nhờ ở đậu ở xứ giàu như Mỹ, thì còn có cơ may đổi đời. Còn ở Ba Lan, mình nghèo, đến ở một xứ cũng mạt, thì khổ muôn trùng.” Ngoài ra, nhiều người Việt đi mưu sinh ở Ba Lan lại không có giấy tờ tùy thân, và họ cùng chung số phận khốn đốn với những người vô quốc gia ở khắp nơi trên thế giới.


Cho nên tuy tôi chưa đến xứ Chùa Tháp,chưa lênh đênh trên Biển Hồ để cảm nhận trực tiếp cái bấp bênh của đời sống thiếu trước hụt sau,nhưng qua những đối diện với đời sống đồng bào ở Sân Vận Ðộng tại Ba Lan,tôi hiểu được cái điêu đứng và thăm thẳm của một đời sống không có tương lai, không có lối về.


Cái khổ của nhân sinh, lấy gì mà đo được? Rất mong rằng, qua cam lộ, những đóa lục bình sẽ hồi cố phủ, và tìm cho mình một niềm quê sau những thăng trầm đời thường. Cái khổ của người Việt ở mọi miền thế giới, ở mọi miền đất nước, là cái khổ chung của dân tộc. “Máu chảy ruột mềm.” Nhìn cảnh khó khăn vất vưởng của đồng bào, mỗi người Việt xa xứ thấm thía hơn mối tương quan của mình với những khúc ruột mà Mẹ Âu Cơ đã mang nặng đẻ đau. Ðể mỗi một mối chạnh lòng sẽ dẫn đến một nghĩa cử tương trợ, mỗi tấm tình quê hương sẽ là nhịp cầu để bắt sang con sông Cơ Hàn, đưa đồng bào Việt Nam về một đời sống xứng đáng hơn với bao cố gắng và sự chân thành của họ.


[TÐG-TN]


* Trang Ðài Glassey-Trầnguyễn


(Nguồn: [email protected])

Ðỏ Trời Hoa Gạo Tháng 3


* L.L


 


“…Ngày Tháng Ba còn chút hanh vương lại


Má em hồng hoa gạo rực hương xưa…”



Có một màu hoa thắp lửa, sắc đỏ rực rỡ đến tận cùng, mãnh liệt như dòng máu con tim. Nồng nàn như tình yêu ở nơi Em. Ðỏ trời hoa gạo tháng ba. Từng chiếc lồng đèn rực rỡ tiễn mùa Xuân xa… xa dần. Tôi yêu màu hoa ấy như yêu những gì mộc mạc của quê hương thân yêu mà tôi đã bỏ lại… Như yêu má hồng Em một thuở đến trường. Những khúc nhạc, những vần thơ như nghiêng nghiêng trong mùa Nhớ.


(Nguồn: [email protected])

Lui Binh Hành


* Trần Văn Sơn


(Tặng 2 vị tiểu đoàn trưởng của tôi: Lê Phi Ô & Lê Hùng)


 


Lui binh lui binh hề lui binh


tướng giỏi nghiến răng nén bất bình


chiến trận bao năm chưa chiến bại


một ngày buông súng quỉ thần kinh


 


Dìm súng đêm đen đồi Bảo Ðại


quân đi ngậm thẻ nuốt hờn căm


Hoài Ðức pháo rơi như đậu vãi


về đâu quốc lộ 1 mù tăm


 


Băng rừng vượt chốt mở đường máu


tiểu đoàn ba trăm còn ba mươi


bi đông cạn nước tay lựu đạn


máu trộn mồ hôi lẫn xác người


 


Sông núi rùng mình Biển Lạc khóc


ba lô nón sắt vững lòng dân


hình vợ thẻ bài đeo trước ngực


Lăng Quăng cầu gãy lính chồn chân


 


La Ngà, Gia Huynh địch vây khổn


Tánh Linh tràn ngập bầy kên kên


quan nghinh đầu súng lính đoạn hậu


sống chết trời cho súng nổ rền


 


Vợ trẻ chờ chồng con chờ cha


giặc ruồng thôn xóm nát tan nhà


Võ Xu, Chính Ðức rồi Võ Ðắt


về đâu La Gi xa thật xa


 


Người lính can trường vuốt mắt bạn


cắn nát môi nuốt lệ rưng rưng


hỡi ơi chiến trận anh hùng tận


vùi thây đánh dấu gốc bằng lăng


 


Ðêm sao Bắc Ðẩu soi mắt thần


mỗi bước chân mìn bẫy giăng ngầm


Suối Kiết, Láng Gòn, Tân Long bến


hải đội đâu mà biển lặng câm


 


Tiểu đoàn ba trăm còn ba mươi


mất tích thương vong lính tả tơi


tận nhân lực anh hùng mạt vận


xuôi đời theo vận nước nổi trôi


 


Lui binh lui binh hề lui binh


tướng giỏi nghiến răng nén bất bình


trăm trận ra quân trăm trận thắng


tháng tư bẻ súng đất trời kinh.


 


(Ðường Trúc Thư Trang, tháng 3, 2012)

Tháng Tư Nắng

 


* Tưởng Dung


 


Ðêm thật sâu


và nỗi buồn rất lạ.


như buổi chiều


góc phố tình cờ qua


Chỗ ngồi quen,


Starbucks nắng nhạt nhòa


Cà phê đắng


hay tình yêu hóa đắng?


 


Tháng Tư rớt


trên vai em hờ hững


Gió mùa về


rời rạc tiếng phong linh


Căn phòng xưa


em về soi bóng mình


Tim lạnh ngắt


hay tình xưa quay quắt?


 


Tháng Tư nắng,


lòng buồn như giấy trắng.


Trải ngoài hiên


phơi trần trụi ưu phiền


Chân qua thềm


không còn bước hồn nhiên


Ngày sắp tắt


có nghe đời héo hắt?


 


Tháng Tư hết,


tháng Tư nào đã chết?


Hạnh phúc tàn,


sầu thắp nến đi hoang


Không còn ai


Ðêm, bóng tối rất dài.


Ngày, nắng rũ


xóa tình ta đã cũ?


Tháng 4, 2009


(Nguồn: [email protected])

Chung Nhớ Một Ngày

 


* Nguyễn Hải Hà


 


Người lính cũ từ khi bại trận


Màu cờ xưa chưa nhạt đáy thâm tâm


Ngày tan tác, bao phen đời lận đận


Chúng mình sống nửa kiếp người chung:


 


Chung cười, chung khóc, chung luân lạc


Chung cảnh điêu linh bốn hướng trời


Xin hãy về đây ngày quốc hận


Cùng nhau ôn lại những trang đời


 


Cùng tưởng nhớ anh hùng yêu giống Việt


Trải bao thời gục ngã giữa quê hương


Dòng máu đỏ hòa cùng mạch đất


Và âm thầm tô thắm nước non


 


Cùng giận lũ gian manh xuẩn động


Bắt dân lành chịu mãi ách nô vong


Miền Nam đó quá mười xuân giải phóng


Vẫn máu xương sông núi chập chùng


 


“Ðường Kách Mệnh” (1) đưa người về khổ ải


Thiếu tự do, cơm áo, sống nhọc nhằn


Mác, Lê (2), bốn mắt lầm chân lý


Thế giới muôn năm chẳng đại đồng


 


Thời sẽ chuyển, trăm nghìn tia lửa hận


Gây cháy rừng, thiêu sạch bọn hung tàn


Lòng thắm lại, ngày giang san đổi mới


Ướt mặt cười, người thoát ách nô vong…


 


(1) Ðường Kách Mệnh: tác phẩm của Hồ Chí Minh.


(2) Karl Marx, Nikolai hoặc Vladimir Ilyich Lenin.

Xuân nay bên ngõ trúc vàng


Giao Yên


 


Mai nở thoáng nhìn sực hay Tết đến


Nay ngắm cho tường cảnh mới tinh xuân


Nắng quê vẫn gượng đùa phiên gió mới


Hoa lạnh lùng – Bịn rịn lá sương ngân


Rụt rè nét trẻ măng cành lộc trĩu


Rón rén cành nhấn phím rắc bâng khuâng


Ngõ tiết trực trúc vàng giương mắt ngóng


Tận phương trời chim hộc thấu cho chăng?


Lòng trổ sóng đùa dâng miền biển lớn


Rộn ràng xuân thiên hạ đã rần rần


Và Bến Trữ tháng ngày con nước vọng:


Hòn ngọc đem về lại với ngọc chân.


(San Diego, CA.)

Xuân ghi nhớ Hè

 


Giao Yên


 


Kìa xuân trên những cánh xuân phùng


Ghi nhớ hè bôn tẩu tứ tung


Liều đến bờ xa cho dễ thở


May còn ngoảnh lại rõi trùng trùng…


Nhận nơi đất khách làm quê kiểng


Ơn chốn dung thân thệ chí trung


Mà nẻo cố hương lòng vẫn nặng


Muốn về thăm – Nghĩ lại nên dừng…


Xuân kiếp lưu vong xuân thấm lạnh


Lạc loài trôi dạt nuốt rưng rưng


Nhớ ôi! Cố xứ đầy thân hữu


Chúc phúc, khà men thoáng ấm xuân.

Góc vườn đón Xuân

 


Giao Yên


 


Chúc phúc nghe hoài – nghe lại nữa


Tết trong vườn cũ ngắm mai xinh


Gió lay lá ngọc làn xuân mịn


Ta trải trang mây ngọn bút trình


Tâm sự đem pha hàng chữ mót


Men lòng ủ thấm giấc phù sinh


Hỏi cây đời buổi trời thay tiết


Lành được bao u nhọt quải mình?

Tóc rụng vào Xuân

 


Giao Yên


 


Ừ! Nay quá biết đời vui lắm


Tóc rụng vào xuân trắng tiết xanh


Cạn chén hong hơ niềm trổ mã


Chạnh lòng dùng giục trống cầm canh


Tháng năm sao để tiêu hao mộng!?


Bè bạn chỉ còn lơ láo thân


Rướn cổ nhìn trời quê muốn hỏi


Ðổ ngông từng bữa rất ngon lành.

Tháng 4 nhìn lại: Quận Dĩ An, những ngày cuối


CH Nguyễn Minh Châu


 


Ngày 30 tháng 4 năm 1975 là ngày tang tóc mà những người miền Nam không ai có thể quên được sau mấy mươi năm phải chịu đựng cuộc chiếu điêu tàn đầy mồ hôi, nước mắt và xương máu. Cộng sản miền Bắc đã vi phạm Hiệp Ðịnh Paris cưỡng chiếm miền Nam để cai trị với chế độ độc tài sắt máu.


Trong bài viết nầy tôi xin kể lại tâm trạng não nề vào những ngày cuối cùng của các chiến sĩ âm thầm trong bóng tối vì ít được ai để ý tới họ. Ðấy là những chiến sĩ Ðịa Phương Quân, Nghĩa Quân, các viên chức xã ấp cũng như lực lượng CSQG, cán bộ XDNT, và các chiến sĩ Nhân Dân Tự Vệ đã anh dũng ở lại cố thủ quận Dĩ An tới giờ phút cuối cùng.


Tôi xin ghi ơn những người đã tận tình giúp nước và cộng tác với tôi trong nhiều năm qua và xin thành kính tưởng niệm những người đã hy sinh vì tổ quốc.


“Họ là những anh hùng không tên tuổi


Sống âm thầm trong bóng tối mênh mông


Không bao giờ được hưởng ánh vinh quang


Nhưng can đảm và tận tình giúp nước”


 


* Trở về mái nhà xưa – Cuộc bàn giao gấp rút và đơn giản vì tình hình đất nước đang trong cảnh dầu sôi lửa bỏng


 


Sau khi rời TÐ3 Sói Biển, tôi được biệt phái qua ngành Hành Chánh, tôi làm việc tại quận Dĩ An đươc gần 7 năm, về Ðức Hòa hơn 1 năm rồi trở về lại quận Dĩ An đúng một tháng trước ngày miền Nam bị thất thủ.


Buổi lễ bàn giao rất đơn giản, không kèn không trống, được tổ chức tại sân cờ của Bộ Chỉ Huy Chi Khu. Chủ tọa lễ bàn giao là Ðại Tá Lưu Yễm và một viên chức trên tỉnh Biên Hòa cùng xuống tham dự với ông. Tại quận thì có thiếu tá chi khu phó, ông phó quận trưởng hành chánh, các xã trưởng, các phân chi khu trưởng, các sĩ quan trưởng ban của chi khu, các trưởng ban trong văn phòng hành chánh quận, chi cảnh sát và cán boÒ XDNT quận tham dự.


Tôi cũng xin nói thêm là tôi đã làm việc với ba vị tỉnh trưởng của Biên Hòa gồm có Trung Tá Nguyễn Văn Hai gốc Nhảy Dù mới về thay thế cố Ðại Tá Mã Sanh Nhơn cũng gốc Nhảy Dù đã được bổ nhiệm làm tỉnh trưởng Hậu Nghĩa kiêm trung đoàn trưởng của Sư Ðoàn 25 Bộ Binh. Kế đó là Ðại Tá Lâm Quang Chính, cựu trung đoàn trưởng của Sư Ðoàn 18 và sau cùng là cố Ðại Tá Lưu Yểm về từ Tỉnh Phước Long. Tôi chỉ gặp ông Lưu Yểm có hai lần khi trở về đây làm việc dưới quyền ông. Các vị nầy đều có rất nhiều kinh nghiệm chiến trường nên được tư lịnh Quân Ðoàn III đề nghị làm tỉnh trưởng để bảo toàn an ninh lãnh thổ trong tỉnh.


Hiện nay tại thành phố San Jose có vài cựu sĩ quan trưởng ban của chi khu, vài vị xã trưởng và phân chi khu trưởng như Thiếu Úy Nguyễn Văn Gắn, v.v… và Cảnh Sát Quốc Gia đã từng làm việc với tôi rất lâu năm đã qua diện H.O.


Tại Mỹ, tôi cũng đã gặp lại vài anh em của quận Ðức Hòa như Trung Úy Lê Xuân Sang, Trưởng phòng Nhân Dân Tự Vệ của quận, Ðại Úy Cao Thanh Vân, trưởng Ban 3 của Chi Khu Ðức Hòa, và Trung Úy Lên, phân chi khu trưởng, v.v…


Chúng tôi cũng rất vui mừng được gặp lại nhiều đồng bào quận nhà và các chiến sĩ trong những lần Ðại hội Ðồng hương Dĩ An tại Nam Cali. Tôi xin có lời cám ơn ông Ngụy Ðược, hội trưởng, Ban Cố Vấn và Ban Chấp Hành đã bỏ nhiều công sức để tổ chức những cuộc gặp gỡ thân tình cho người đồng hương. Tình đồng hương và tình đồng đội vẫn còn tốt đẹp. Tôi cũng lấy làm hãnh diện là các gia đình của đồng bào di tản trước hay qua sau đều được ổn định và có cuộc sống sung túc.


Ông quận trưởng bàn giao chức vụ lại cho tôi khi trở về Dĩ An lần thứ hai là Trung Tá Nguyễn Thế Thứ, người mà tôi đã bàn giao chức vụ quận trưởng Dĩ An cho ông ta hơn một năm trước đây để tôi đi nhận chức quận trưởng Ðức Hòa, Hậu Nghĩa.


Lúc nầy tinh thần tôi bị giao động nhiều vì tình hình đất nước hết sức căng thẳng và tôi cảm thấy vui buồn lẫn lộn. Tôi cảm thấy vui là được gặp lại cảnh cũ, người xưa mà tôi đã làm việc tại đây gần bảy năm. Tôi cảm thấy buồn là vì tôi phải rời bỏ quận Ðức Hòa mà tôi cũng yêu mến và ngược lại họ cũng luyến tiếc sự ra đi của tôi, mặc dù tôi chỉ làm việc tại đây chỉ hơn một năm. Tôi phải từ giã vị tỉnh trưởng Hậu Nghĩa là Ðại Tá Tôn Thất Soạn cũng là cựu chiến đoàn trưởng TQLC của tôi trước kia.


Bàn giao chức vụ xong là tôi bắt tay vào việc ngay vì tôi đã nắm vững tình hình lãnh thổ của quận Dĩ An từ lâu rồi. Tất cả mọi đơn vị của chi khu ráo riết đặt kế hoạch phòng thủ chống chiến xa địch. Căn cứ phòng thủ của Bộ Chỉ Huy Chi Khu là căn cứ cũ của lực lượng Ðại Hàn rất kiên cố, hơn nữa sau Hiệp Ðịnh Paris đầu năm 1973, các đơn vị Ðồng Minh trước khi rút đi đã để lại cho chúng tôi rất nhiều vũ khí đạn dược và gần 100 cây M72 chống chiến xa, do Ðại Úy Thành, trưởng Ban 4 Chi Khu, ngoại giao xin giữ lại, nên anh em chúng tôi cũng yên tâm. Trước ngày 30 tháng 4, 1975, Ðại Úy Thành có nhắc nhở và đề nghị tôi cho phân phối hết đồ quân tiếp vụ cho trại gia binh, tôi đã chấp nhận ý kiến sáng suốt nầy, nếu chúng tôi bị bao vây cũng có lương thực cầm cự được một thời gian. Anh em Nghĩa Quân được may mắn là nhân viên của Tiểu Khu Biên Hòa đã xuống quận phát lương trước đó vài ngày. Ðại Úy Thành đã vượt biên sau khi đi tù và gia đình ông nay đang sống tại San Jose.


 


* Một quyết định khó khăn


 


Tôi phải ở lại đến giờ phút cuối cùng với anh em chiến sĩ và đồng bào. Tình hình tại quận còn rất yên tịnh, chưa có việc gì xảy ra. Chúng tôi chưa bị quân cộng sản tấn công và pháo kích, nhưng một số chiến sĩ cũng nao núng vì nghe tin chỗ nầy di tản chiến thuật chỗ kia rút quân, người thì mang gia đình xuống tàu kẻ xuống ghe đánh cá ra khơi, và một số người đã được phi cơ Mỹ cho di tản từ phi trường TSN trước đó mấy tuần. Ông bà ngoại mấy cháu của chúng tôi sợ nguy hiểm đến tánh mạng của mấy cháu nhỏ, nên mang hết về Saigon cho tôi rảnh tay lo nhiệm vụ. Vợ tôi thì nhứt quyết ở lại căn cứ để yểm trợ tinh thần tôi, nên anh em chiến sĩ và đồng bào còn thấy sự hiện diện của vợ chồng chúng tôi cũng bớt hoang mang và lo lắng.


Một điều nữa làm cho tôi đắn đo không thể bỏ quận được là vì trong 7 năm tôi được sát cánh làm việc ngày đêm với anh em Ðịa Phương Quân, Nghĩa Quân, viên chức quận xã ấp, Cán bộ XDNT và lực lượng CSQG làm việc trong tình thương mến đậm đà. Các cơ quan và đơn vị hết lòng làm tròn trọng trách nên nhiều năm qua tình hình Dĩ An rất yên tịnh, dân chúng sống thanh bình làm ăn phát đạt. Quân được dân thương mến và khắng khít thật là tình dân với quân như cá với nước. Khi tôi được cấp trên đổi về lại quận cũ, anh em chiến sĩ vui mừng như gặp lại người anh cả đã vắng mặt đi xa mới về, và đồng bào cũng vui vẻ đón nhận tôi như một đứa con biệt ly nay trở về quê cũ, nên tôi xem quận Dĩ An như có mối tình thiêng liêng gắn liền với đời tôi. Tôi hết lòng cám ơn những chiến sĩ và viên chức, lực lượng CSQG và cả lực lượng Nhân Dân Tự Vệ đã hăng say cộng tác với tôi trong nhiều năm. Tôi xin nghiêng mình trước những anh linh của những người trong quận Dĩ An đã hy sinh vì nhiệm vụ với tổ quốc.


Ðến nay, tôi vẫn còn nhớ mãi Nghĩa Quân Nguyễn Văn Giữ, người cận vệ can đảm đã theo tôi suốt bao nhiêu năm. Vì lúc ấy tôi đi đứng phải chống gậy nên ông đã giúp, đỡ đần tôi trong những lần nhảy trực thăng hay leo đồi lội suối trong các cuộc hành quân, ông luôn bên cạnh để bảo vệ tôi. Ông đã chết trong trại cải tạo năm 1979 vì bạo bịnh mà không có thuốc chữa. Thỉnh thoảng chúng tôi có gởi quà về gia đình để đền đáp công ơn ông đã giúp tôi suốt thời gian tôi làm việc tại Dĩ An.


Trong đời binh nghiệp của tôi có ba chiến sĩ cận vệ và luôn luôn sát cánh bên tôi trong các trận mạc nay đã ra người thiên cổ. Ngoài Nghĩa Quân Nguyễn Văn Giữ tôi vẫn còn nhớ và không quên ơn cố Trung Sĩ Nguyễn Văn Liễn, trước khi ông tử trận ở quận Bồng Sơn, tỉnh Bình Ðịnh ông là hạ sĩ thuộc toán Biệt Kích của tôi, lúc tôi còn là tiểu đoàn phó Tiểu Ðoàn 3 TQLC. Ông nầy đã tận tình lo cho tôi lúc bị tôi bị thương nặng nằm bịnh viện Huế và Ðà Nẵng. Còn một chiến sĩ nữa cũng luôn luôn sát cánh cánh bên tôi ngoài chiến trường là Hạ Sĩ I Nhứt Hồ, nhân viên truyền tin của tôi đã bị tử trận ở Vùng I Chiến thuật. Tôi luôn thành kính tưởng niệm và ghi ơn ba chiến sĩ nầy đã giúp tôi rất nhiều.


 


*Ðêm chờ sáng và cũng là đêm cuối cùng chấm dứt đời binh nghiệp của tôi đúng 21 năm


 


Tất cả các chiến sĩ Ðịa Phương Quân, Nghĩa Quân và viên chức quận, xã, ấp và CBXDNT cũng như CSQG trong quận đều tuân lệnh thượng cấp quyết ở lại cố thủ. Nhưng đến đêm 29 rạng 30 tháng 4, chúng tôi bị bỏ rơi chới với vì mất liên lạc với Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu tỉnh Biên Hòa và không biết phải nhận lệnh nơi đâu. Ðông Tây Nam Bắc chẳng còn ai yểm trợ, trong khi đó chúng tôi được tin tình báo là một trung đoàn Cộng Sản BV cùng chiến xa T54 đã di chuyển từ hướng Tân Uyên tới rừng Cò Mi phía Bắc quận Dĩ An rồi dừng lại đấy. Chiều hôm đó, tôi phải nhờ Pháo binh của căn cứ TQLC bắn chận mấy trăm quả 105 và 155 ly. Vị chỉ huy căn cứ Sóng Thần giúp tôi lúc đó là Trung Tá Ân và cũng là Chi Huy Trưởng TTHL/TQLC. Vị sĩ quan trực tiếp chỉ huy các pháo đội TQLC bắn yểm trợ là Ðại Úy Minh TQLC, hiện ông Minh đang sống cùng gia đình tại San Jose.


Chúng tôi tiến thối lưỡng nan, thôi đành phải liều quyết tử thủ tới đâu hay đến đó, đành phó mặc số phận cho Trời định.


Thật là một đêm hãi hùng, hồi hộp, tất cả từ quan tới lính với súng chống chiến xa, súng đại liên và súng cá nhân cầm tay, thức sáng đêm chờ địch nơi phòng tuyến. Tiếng súng pháo binh và đại bác của chiến xa ta và địch nổ vang dội từ hướng Hậu Nghĩa và căn cứ Sư Ðoàn 25 BB tại Củ Chi. Nhìn những ánh sáng hỏa châu chiếu chập chờn nơi cuối trời ở phương Tây, phương Ðông và phương Bắc, và nhìn về hướng Saigon thấy ánh đèn phi cơ trực thăng lên xuống, chúng tôi đoán là Mỹ đang tiếp tục bốc người của họ di tản, anh em chúng tôi rất não lòng không biết vận mạng quận Dĩ An nói riêng và vận mạng miền Nam sẽ ra sao? Mong chờ đến sáng rồi sẽ tính. Nhưng vào gần sáng toán quân thám thính ở tiền đồn gọi máy báo về Bộ Chỉ Huy Chi Khu là chiến xa địch đã đổi hướng bọc xa lộ vòng đai từ hướng Lái Thiêu trực chỉ Saigon.


 


* Giã từ vũ khí trong sự uất hận và tủi nhục


 


Quân lịnh buông súng rã hàng


Xé tan đời lính, vạn người khổ đau !


(Trích bài thơ Ðêm cuối cùng của Tuyết Lan)


Sáng hôm sau lúc 10 giờ, tiếng nói Ðại Tướng Dương văn Minh loan báo trên đài phát thanh Saigon ra lệnh tất cả các đơn vị buông súng đầu hàng. Cái tin sét đánh làm cho mọi người từ quan tới lính, cả trại gia binh và dân chúng đều bàng hoàng rơi lệ. Tôi liền dùng máy truyền tin thông báo cho các chiến sĩ và viên chức quận, xã, ấp hủy diệt tất cả tài liệu, hãy rời đơn vị và nhiệm sở với những lời chúc lành cùng họ và gia đình, và nói vài câu giã từ trong nghẹn ngào uất hận, không cầm được nước mắt.


Sau đó, vợ chồng chúng tôi và một số anh em chiến sĩ có gia đình tại Thủ Ðô rời căn cứ di chuyển về Saigon, vì chậm trễ sẽ rất nguy hại khi bọn Việt Cộng địa phương vào chiếm căn cứ. Nhưng sau đó chúng tôi được tin là đến chiều hôm đó bọn VC mới dám vào Chi Khu.


Toán di tản của chúng tôi gồm có một xe Jeep, trên xe có tôi, vợ tôi một tài xế và hai cận vệ, Thiếu Úy Tâm, BCH Chi Khu, và Ðại Úy Vân, giang đoàn trưởng Giang Cảnh sông Ðồng Nai, tỉnh Biên Hòa. Ðại Úy Vân là em vợ của tôi vì thương chị nên ở lại với chúng tôi trong đêm cuối cùng. Trưa ngày 29 tháng 4, 1975, theo lịnh của Bộ Chỉ Huy Giang Cảnh, Ðại Úy Vân cho tất cả tàu của đại đội giang cảnh về căn cứ ở Nhà Bè nhưng ông ở lại với chúng tôi từ chiều ngày ấy. Nếu ông muốn ra khơi để gặp Ðệ Thất Hạm Ðội thì quá dễ dàng. Theo sau xe Jeep của tôi còn có một chiếc xe GMC và một chiếc Dodge 4x 4 chở các anh em của Bộ Chỉ Huy Chi Khu đi theo.


Mới ngày nào khi ra khu phố quận hay vào xã ấp gặp gỡ đồng bào, anh em chúng tôi lấy làm hãnh diện với dân chúng vì công cuộc bình định lãnh thổ được tốt đẹp. Nhờ những sự hy sinh anh dũng của các chiến sĩ Ðịa Phương Quân, Nghĩa Quân và công lao nhọc nhằn của các viên chức xã ấp, Cán bộ XDNT và lực lượng CSQG, nên đồng bào Quận Dĩ An được vui hưởng cảnh thanh bình trong nhiều năm qua.


Nhưng sáng hôm nay, khi chúng tôi đi ngang qua khu phố chợ Dĩ An, đông đảo dân chúng ngậm ngùi đứng nhìn chúng tôi đi qua, tôi cảm thấy xấu hổ mà muốn độn thổ vì nay mình là lính bại trận. Thoáng nhìn nét mặt u buồn của đồng bào tôi biết là họ đang âm thầm, lặng lẽ tiễn đưa và từ giã chúng tôi ra đi trong sự nghẹn ngào và thương tiếc! Anh em chiến sĩ chúng tôi buồn lắm vì phải bỏ họ lại trong tình thương và nỗi nhớ!


Ra đến ngã ba Cây Lơn và Quốc lộ số 1, toán BCH chúng tôi tháp tùng đoàn quân di tản của các đơn vị thuộc SÐ18BB, các đơn vị thuộc căn cứ Long Bình gồm có Công Binh, Pháo Binh, v.v… kẻ đi xe người đi bộ lũ lượt đi về hướng Gia Ðịnh để về Saigon. Ðến gần cầu Gò Dưa, xe Jeep của tôi bị vài tên du kích trong làng bắn một quả B40 nhưng không trúng và rơi nằm ngay giữa đường lộ trước đầu xe. Chú tài xế tránh quả đạn và phóng ga chạy nhanh cho ra khỏi tầm mắt mấy thằng du kích nầy. Thật buồn! và bực tức, tôi chửi thầm: Ðồ khốn kiếp! Trước đây một ngày chúng bây thấy bóng dáng anh em chiến sĩ chúng tao là chúng bây chạy chết cha! Bây giờ theo lịnh cấp trên chúng tao đã buông súng mà chúng bây hành động hèn hạ như thế. Nếu xe Jeep bị trúng một trái B40 thôi thì chắc chắn tôi và vợ tôi với vài anh em bị tiêu mạng.


Trên đường di tản từ Quốc lộ số 1 về Saigon, tới Gia Ðịnh chúng tôi gặp thấy nhiều xác chết của những người chiến sĩ Dù và BÐQ nằm rải rác đó đây lẫn lộn cả những thây của dân chúng có cả phụ nữ và trẻ con. Quang cảnh thật là vô cùng thê thảm. Khi về đến Chợ Lớn chúng tôi vẫn còn nghe lác đác những tiếng súng nổ ở hướng ngã tư Bảy Hiền của các anh em chiến sĩ Nhảy Dù có lẽ tức mình rồi bắn chỉ thiên như có vẻ không bằng lòng tuân lịnh đầu hàng.


Khi về tới nhà cha mẹ vợ tôi gần hãng Beer ở Chợ Lớn, chúng tôi từ giã các chiến sĩ của Bộ Chỉ Huy Chi Khu Quận Dĩ An để ai về nhà nấy. Các anh em khóc sụt sùi và hứa hẹn hôm nào sẽ trở lại thăm chúng tôi. Nhưng tôi tự nói trong lòng: Than ôi! Nước đã mất rồi, biết ngày mai sẽ ra sao???


Ngày 30 tháng 4, 1975 đã chấm dứt đời binh nghiệp của tôi đúng 21 năm, vì ngày nhập ngũ của tôi cũng vào tháng 4 năm 1954.


Vợ tôi đã chứng kiến những sự việc đã xảy ra tại quận Dĩ-An vào những ngày cuối cùng và thấy những thảm cảnh trên đoạn đường di tản về Saigon nên viết vài dòng thơ như những lời than thở khi nhớ đến ngày 30 tháng 4 năm 1975 không bao giờ quên.

Danh sách ân nhân gửi tiền đến hội



Hội H.O. Cứu Trợ TPB&QP/VNCH


(Disabled Veterans and Widows Relief Association)


A Non-Profit Corporation – No. 3141107 EIN: 26-4499492


P.O. Box 25554, Santa Ana, CA 92799


Phone: (714) 539-3545, (714) 371-7967


Email: [email protected]; [email protected]


Website: http://www.camonanhtb.com


Chi phiếu xin đề: Hội H.O. Cứu Trợ TPB&QPVNCH


 


Hải ngoại không quên tình chiến sĩ


Ðồng hương nhớ mãi nghĩa thương binh


 


Danh sách ân nhân gửi tiền đến hội:


(Tính đến ngày 1 tháng 4, 2012)


 


L.H.H. và gia đình c/o Hải Yến T.


Nguyễn, Garden Grove, CA $390


Trần Tiến San, Westminster, CA $1,000 (Tiền phúng điếu của thân mẫu là bà quả phụ


Trần Ðiền nhũ danh Jeanne d’Arc Hà Thị Việt Nga)


Ðồng bào tại Dayton & vùng phụ cận (Vietnamese Association of Greater Dayton), OH $1,100 (c/o Binh V. Ðinh, Kettering, OH)


Phương Mai, Reading, PA $100


Tony Nguyễn, Westminster, CA $100


Vũ Lê (gồm Vũ M. Lê $20, Hiền Ngọc $20, Vị ầm danh $100), Oklahoma City, OK $140


Linh Trương, Stanton, CA $50


Tuan A. Phan, Highland, CA $50


Thuan Ly (99 Discount Variety), Tucson, AZ $10


Sương Võ, Farmers Branch, TX $50


Nguyễn Hữu Hạnh, Seattle, WA $30 (kèm hồ sơ TPB TrU Vương Văn Chưa Sq:140.470)


Cháu Minh (gia đình CSQG/KS) c/o O. Phan Tấn Ngưu, Westminster, CA $100


Châu Hồ, San Antonio, TX $100


Ngọc Hải Võ, Canada, $100


 


Danh sách mạnh thường quân ủng hộ ÐNH “Cám Ơn Anh” Kỳ V:


 


Phạm V. Ðức, Loma Linda, CA $40


Bùi Richard, Jr., Corona, CA $300


Lâm S. Hùng, San Antonio, TX $25


Rotha Sơn CSQG, $40


Hoa Thịnh Ðôn, San Jose, CA $100


Georgia, Lilburn, GA $100


Hương Cà Mau, Fountain Valley, CA $200


Báo Tiếng Việt, San Diego, CA $200


Trần Quang Lâm, CSQG, $50


Quả phụ Nguyễn Kim Tiến, Irvine, CA $100


Cô Trần Thị Huy Lễ, Westminster, CA $100


Lê Văn Huyến, Des Moines, IA $100


Tây Ðô Lâm Tài Thanh, $100


Bang, Hawthorne, CA $200


Pháo Thủ Hùng, $100


Con, $280


Lạt Ma Khá Lạt, Bedford, TX $50


Lê Công Truyền, $50


Phạm Văn Tình, $55


Nguyễn Hiến, $20


Sói Biên Chánh, Westminster, CA $50


BÐQ Nguyễn Văn Ðại, Westminster, CA $40


LM Nguyễn Hải Khánh, $100


Nhanh, Judy Ma & Binh, $400


Phạm N. Kim, Winchester, CA $200


ÔB. Trần Quang Tuyến, Santa Ana, CA $100


Cựu TT Trần Thiện Khiêm, Westminster, CA $200


Chơn, Westminster, CA $100


Khắc Bình, Westminster, CA $100


Bà Nguyễn Thị Ngàn, Tustin, CA $100


Cô Nguyễn Caryn, Tustin, CA $300


ÔB. Pettis, Brookfield, WI $100


Bà Lê Thị Ưu, $100


ÔB. Nguyễn Văn Bút, Fairlaw, NJ $200


Nguyễn Thị Kim Loan, Burmingham, AL $100


ÔB. Vũ Mindy, Westminster, CA $100


Châu Viên & Nguyệt, Garden Grove, CA $200


Vị ẩn danh, $400


ÔB. Vũ Văn Chương, Irvine, CA, $2,000


Trần Kim Hạnh, Columbus, IN $100


Hồng Thiện Sơn, Winnetka, CA $300


Tôn Nữ Như Xuân, San Jose, CA $100


ÔB. Trương Can, Houston, TX $200


ÔB. Tô Văn Tiệp, Santa Ana, CA $160


Ô. Nguyễn Khắc Ðại, Garden Grove, CA $100


HS Phụng, Rosemead, CA $100


Toán GE Arizona, Gilbert, AZ $132


Bà Lương Kim Khánh, Arlington, VA $50


Bà Lee P. Vivian, Litchfield, VA $50


Bà Lương Thị Cúc, Gilbert, AZ $50


 


Danh sách TPB/VNCH đã được giúp đỡ:


 


Hoàng Duy Bẫy, Saigon, HS CLQ Sq:107.590. Cụt chân trái.


Nguyễn Văn Trò, Saigon, HS Nhảy Dù Sq:004.624. Cụt chân trái.


Nguyễn Văn Lẹ, Saigon, B2 TQLC Sq:170.540. Cụt chân phải.


Lưu Văn Nhâm, Saigon, NDTV. Cụt tay phải.


Trần Quang Hiền, Saigon, B1 Nhảy Dù Sq:119.329. Cụt tay phải.


Lý Trung Trực, Saigon, B2 CLQ Sq:145.300. Cụt chân trái.


Nguyễn Hữu Trung, Saigon, CLQ Sq:106.606. Liệt toàn thân. Bị thương ở cột sống.


Phạm Văn Chính, Saigon, ChU CLQ Sq:160.198. Cụt chân trái. Gãy chân phải.


Nguyễn Văn Chính, Saigon, B2 CLQ Sq:100.895. Gãy tay trái.


Hồ Văn Lợi, Saigon, B2 CLQ Sq:129.403. Bị thương ở bụng.


Phạm Văn Hân, Saigon, HS1 CLQ Sq:304.973. Cụt chân trái.


Nguyễn Văn Lảng, Saigon, TS1 TQLC Sq:700.407. Bị thương ở đầu.


Nguyễn Tuấn Ðức, Saigon, B2 CLQ Sq:510522. Cụt chân trái.


Nguyễn Phan Vân, Saigon, ChU CLQ Sq:112.309. Cụt chân phải.


Võ Thành Long, Saigon, B2 CLQ Sq:112.283. Cụt chân trái.


Ðỗ Văn Việt, Saigon, TS Nhảy Dù Sq:802.199. Cụt chân trái. Bị thương ở chân phải.


Phạm Văn Bình, Saigon, HS1 Nhảy Dù Sq:123.947. Cụt chân trái.


Nguyễn Văn Tâm, Saigon, HS Nhảy Dù Sq:200.485. Bị thương ở sọ.


Trương Văn Hoàng, Saigon, TS BÐQ Sq:127.893. Cụt tay phải.


Lê Khắc Tuấn, Saigon, TU KQ Sq:601.432. Cụt bàn chân phải.


Võ Văn Xuân, Saigon, NQ Sq:304.027. Cụt chân phải. Gãy chân trái.


Trần Văn Phôi, Saigon, B1 ÐPQ Sq:359.048. Cụt chân trái.


Kim Anh, Saigon, HS1 Thiết Giáp Sq:118.783. Cụt chân trái.


Trương Văn Tiền, Saigon, B2 Cụt chân phải.


Tạ Văn Ðực, Saigon, B2 CLQ Sq:117.253. Gãy chân trái.


Nguyễn Văn Kính, Saigon, B1 Nhảy Dù Sq:129.588. Cụt tay phải.


Ðào Ngọc Khanh, Saigon, B2 TQLC Sq:130.988. Cụt chân phải.


Phạm Văn Hiến, Saigon, B1 CLQ Sq:138.645. Cụt chân phải.


Nguyễn Tích, Saigon, B1 CLQ Sq:200.245. Cụt chân trái.


Nguyễn Văn Ánh, Saigon, B1 TQLC Sq:122.552. Cụt chân trái.


Hồ Văn Quí, Saigon, TU CLQ Sq:818.020. Cụt chân phải.


Lê Văn Ðẹp. Saigon, B1 Nhảy Dù Sq:108.512. Cụt chân trái. Gãy chân phải.


Lê Phước Tân, Saigon, ÐU CLQ Sq:154.606. Cụt chân phải.


Lê Văn Hồng, Saigon, HS CLQ Sq:803.682. Cụt chân trái.


Nguyễn Văn Lựa, Saigon, HS CLQ Sq:803.682. Cụt chân trái.


Thái Văn Ðậu, Saigon, CLQ Sq:152.568. Cụt chân phải.


Phạm Văn Quá, Saigon, HS Nhảy Dù Sq:157.661. Bịnh phổi.


Hoàng Ðình Hiệp, Saigon, TU CLQ Sq:600.919. Gãy chân trái.


Nguyễn Thanh Hùng, Saigon, B1 BÐQ Sq:106.359. Bị thương ở mặt. Mù mắt trái.


Trần Văn Hiền, Saigon, B1 CLQ Sq:128.206. Mù mắt trái.


Nguyễn Văn Minh, Saigon, B2 CLQ Sq:142.310. Cụt chân phải.


Trần Văn Lai, Saigon, B1 CLQ Sq:191.913. Cụt chân trái. Cụt 1 ngón tay trái.


Nguyễn Văn Trí, Saigon, B2 CLQ Sq:120.489. Gãy tay trái.


Lý Văn Châu, Saigon, B2 BÐQ Sq:123.754. Cụt chân trái.


Hồ Văn Bảy, Bình Dương, NQ Sq:371.953. Cụt chân trái.


Huỳnh Văn Phụng, Kiên Giang, B2 CLQ Sq:509.539. Cụt chân phải.


Thạch Siếp, Vĩnh Long, NQ Sq:479.070. Cụt chân phải.


Phạm Văn Mừng, Vĩnh Long, NQ Sq:823.819. Bị thương ở đùi phải.


Ðỗ Văn Chính, Tây Ninh, Sq:167.17?. Bị thương ở hông.


Lê Văn Diệu, Tây Ninh, Sq:110.416. MDVV 40%.


Ngô Hữu Minh, Tây Ninh, Sq:102461. Liệt thanh quản.


Lê Văn Ðực, Tây Ninh, Sq:030.461. Cụt chân phải.


 


Danh sách QP/VNCH đã được giúp đỡ:


 


Trần Thị Ba, Saigon, Quả phụ Cố B1 Võ Hữu Ngọc. Tử trận năm 1973.


Phạm Thị Gần, Saigon, Quả phụ Cố TS Nguyễn Văn Tài. Tử trận năm 1969.


Phạm Thị Chừ, Bến Tre, Quả phụ Cố HS1 ÐPQ Nguyễn Văn Hồ. Tử trận năm 1969.


Nguyễn Thị Sẩm, Ðồng Nai, Quả phụ Cố CSQG Nguyễn Văn Môn. Tử trận năm 1967.


Ðặng Thị Vân, Long An, Mẹ của Cố NQ Phạm Văn Hoa. Tử trận năm 1969.


Trần Thị Dành, Long An, Quả phụ Cố NQ Nguyễn Văn Bả. Tử trận năm 19??


Huỳnh Thị Ý, Long An, Quả phụ Cố NQ Võ Văn Phu. Tử trận năm 1973.


Huỳnh Thị Mai, Kiên Giang, Quả phụ Cố B2 ÐPQ NguyễnVăn Giỏi. Tử trận năm 19??


Trần Thị Danh, Saigon, Mẹ của Cố HS HQ Trần Văn Dương. Tử trận năm 1968.


Hoàng Thị Phúc, Saigon, Quả phụ Cố TS Nguyễn Xuân Ái. Tử trận năm 1968.


Nguyễn Thị Lang, Vũng Tàu, Quả phụ Cố TS CLQ Trần Văn Khương, Tử trận năm 1971.


Vũ Thị Hoa, An Giang, Quả phụ Cố B1 CLQ Trần Văn Ðạo. Tử trận năm 1968.


Trần Thị Hai, Vĩnh Long, Quả phụ Cố B1 ÐPQ Trần Văn Ân. Tử trận năm 1972.


Nguyễn Thị Ðương, Saigon, Quả phụ Cố NQ Giang Thanh Ðồng. Tử trận năm 1965.


Nguyễn Thị Làng, Ðồng Tháp, Quả phụ Cố HS1 CLQ Nguyễn Văn Bình. Tử trận năm 1969.


Hồ Thị Xôm, Ðồng Tháp, Quả phụ Cố NQ Nguyễn Văn Châu. Tử trận năm 1970.


Ðỗ Thị Chuyên, Ðồng Nai, Quả phụ Cố B2 TQLC Nguyễn Văn Khoái. Tử trận năm 1963.


Huỳnh Thị Ly, Saigon, Quả phụ Cố HS Huỳnh Hữu Ba. Mất năm 1971.


Nguyễn Thị Tư, Ðồng Tháp, Quả phụ Cố HS1 CLQ Lê Văn Long. Tử trận năm 1972.


Lê Thị Kim Tư, Bình Thuận, Quả phụ Cố TS Búi Quang Miêu. Mất năm 19 71.


Lê Thị Hai, Kiên Giang, Quả phụ Cố HS1 CLQ Lê Văn Anh. Mất năm 19 71.


Lương Thị Tuyết, Cần Thơ, Quả phụ Cố B1 Nguyễn Văn Tư. Tử trận năm 1968.


Huỳnh Thị Bối, Khánh Hòa, Mẹ của Cố HS Lê Cầm Tử trận năm 1968.


Phạm Thị Ngọc, Saigon, Tổ phụ Cố Nguyễn Văn Quí. Tử trận năm 1972.


Nguyễn Thị Lương, Saigon, Quả phụ Cố TS Phạm Kim Sinh. Tử trận năm 1972.


Nguyễn Thị Minh Hương (Nhàn), Bà Rịa, Quả phụ Cố TS Nguyễn Hữu Thỉ. Tử trận năm 1973.


Lâm Thị Riệt, Ðồng Nai, Quả phụ Cố NQ Nguyễn Văn Hai. Tử trận năm 1968.


Nguyễn Thị Ngọc Anh, Ðồng Nai, Con Cố Xã trưởng Nguyễn Văn Hùng. Tử trận năm 19??


Trương Thị Xuân, Quảng Ngãi, Quả phụ Cố Trần Phước. Tử trận năm 19??


La Thị Kim Hên, Tây Ninh, Quả phụ Cố Biệt Kích Huỳnh Anh Kiệt. Tử trận năm 1964.


Bùi Thị Ngọc Hạnh, Ðồng Nai, Quả phụ Cố Huỳnh Văn Mai. Tử trận năm 1974.


Phan Thị Thanh, Tây Ninh, Quả phụ Cố Biệt Kích Lê Văn Cảnh. Tử trận năm 1968.


Lê Thị Ðôi, Tây Ninh, Quả phụ Cố Biệt Kích Nguyễn Văn Tần. Tử trận năm 1964.


Phan Thị Viễn, Bà Rịa, Quả phụ Cố NQ Võ Văn Sáu. Tử trận năm 19??


Nguyễn Thị Trang, Long An, Quả phụ Cố B1 Nguyễn Văn Sam. Tử trận năm 1975.


Trần Thị Lợi, Ðồng Nai, Quả phụ Cố HS1 Nguyễn Văn Bích. Tử trận năm 1971.


Trương Thị Thanh, Saigon, Quả phụ Cố HS Nguyễn Văn Hợi. Tử trận năm 1965.


Nguyễn Thị Dần, Khánh Hòa, Quả phụ Cố NQ Nguyễn Văn Lai. Tử trận năm 1967.


Nguyễn Thị Ba, Khánh Hòa, Tổ phụ Cố B2 TQLC Nguyễn Sang. Mất tích năm 19 73.


Bùi Thị Mát, Tây Ninh, Quả phụ Cố CSQG Nguyễn Văn Hạo. Tử trận năm 1970.


Nguyễn Thị Bon, Long An, Quả phụ Cố B2 Nguyễn Văn Tông. Tử trận năm 1972.


Phạm Thị Mết, An Giang, Quả phụ Cố ThS Lê Văn Bảy. Tử trận năm 1969.


Nguyễn Thị Cảnh, Tây Ninh, Quả phụ Cố HS1 Võ Văn Thành. Tử trận năm 1974.


Lê Thị Lẹ, Tây Ninh, Quả phụ Cố NguyễnVăn Tư. Tử trận năm 1968.

MAKINO JAPANESE RESTAURANT

Bảo hiểm xe giá rẻ tại Orange County sẽ giảm

 


Phỏng vấn bộ trưởng bảo hiểm California


 


Ðỗ Dzũng/Người Việt (thực hiện)


 





LTS.
Nhân dịp ghé Orange County, ông Dave Jones, bộ trưởng Bộ Bảo Hiểm California, dành cho nhật báo Người Việt cuộc phỏng vấn liên quan đến bảo hiểm xe giá rẻ. Bộ Trưởng Dave Jones từng là dân biểu tiểu bang từ năm 2004 đến năm 2010. Sau đó, ông đắc cử chức bộ trưởng với nhiệm kỳ 4 năm, từ 2010 đến 2014. Một trong những nhiệm vụ của Bộ Bảo Hiểm California (California Department of Insurance-CDI) là bảo đảm người mua bảo hiểm được bảo vệ, thị trường bảo hiểm ổn định, luật bảo hiểm được tôn trọng, công khai và công bằng.




 


Ðỗ Dzũng (NV): Xin ông cho biết có gì mới liên quan đến bảo hiểm xe trong những ngày tới.


Bộ Trưởng Dave Jones: Ðiều trước tiên tôi xin nói là bắt đầu từ 15 Tháng Năm, bảo hiểm xe giá rẻ tại Orange County sẽ giảm. Hiện nay, bảo hiểm xe giá rẻ tại Orange County là $358/năm. Sau ngày 15 Tháng Năm, nó sẽ được giảm xuống còn $340/năm.







Bộ Trưởng Dave Jones trả lời phỏng vấn nhật báo Người Việt. (Hình: Linh Nguyễn/Người Việt)


NV: Vì sao có sự giảm giá như vậy?


Bộ Trưởng Dave Jones: Mỗi năm, chúng tôi đều điều chỉnh lại giá bảo hiểm dựa trên số tai nạn giao thông xảy ra tại mỗi quận hạt. Orange County là một quận hạt có diện tích nhỏ, nhưng lại có đông người. Vì thế, giá bảo hiểm xe tại đây khá cao so với hầu hết các quận hạt khác. Tuy nhiên, trong năm qua, số tai nạn giao thông ở đây có giảm. Vì vậy, trong quyền hạn luật cho phép, chúng tôi điều chỉnh giá bảo hiểm cho phù hợp.


NV: Những ai có đủ tiêu chuẩn mua bảo hiểm giá rẻ?


Bộ Trưởng Dave Jones: Phải đủ 19 tuổi, đang lái xe với ít nhất 3 năm kinh nghiệm. Có hồ sơ lái xe tốt và chiếc xe đang lái có trị giá thị trường không quá $20,000. Có thu nhập theo mức hiện nay là $27,075/năm cho gia đình một người, $36,425/năm cho gia đình hai người, $45,775/năm cho gia đình 3 người, và $55,125/năm cho gia đình 4 người. Nếu muốn biết thêm về tiêu chuẩn thu nhập, quý vị có thể vào trang nhà www.mylowcostauto.com/qualifications.php để tìm hiểu.


NV: Làm sao mua bảo hiểm giá rẻ, nếu đủ tiêu chuẩn?


Bộ Trưởng Dave Jones: Có hai cách. Thứ nhất, gọi điện thoại trực tiếp cho chúng tôi, tại số miễn phí 1-866-602-8861, từ 8 giờ sáng đến 4 giờ chiều (giờ California). Nếu quý vị muốn nói tiếng Việt, chúng tôi sẽ có người thông dịch ngay tại chỗ. Chúng tôi sẽ cho quý vị biết công ty bảo hiểm nào thuộc hệ thống bán bảo hiểm xe giá rẻ và được chúng tôi chấp thuận. Rồi quý vị mua.


Thứ hai, quý vị có thể vào trang nhà www.mylowcostauto.com để tìm hiểu và mua bảo hiểm giá rẻ theo quy định, nếu đủ tiêu chuẩn.


NV: Có cách nào nhanh hơn để mua bảo hiểm giá rẻ không?


Bộ Trưởng Dave Jones: Sử dụng “smart phone.” Quý vị có thể dùng điện thoại “text” chữ “low cost” cho số “65374.” Sau đó, quý vị sẽ được “text” lại hỏi số “zip code.” Sau khi quý vị “text” số “zip code” lại, quý vị sẽ được “text” lại tên của công ty môi giới bán bảo hiểm xe giá rẻ. Nên nhớ, đây là công ty nằm trong chương trình được Bộ Bảo Hiểm California chấp thuận.


NV: Ngoài vụ “texting,” có gì mới liên quan đến bảo hiểm xe ở California không?


Bộ Trưởng Dave Jones: Giấy chứng nhận có mua bảo hiểm xe. Sau khi thi đậu lái xe, quý vị phải mua bảo hiểm xe trước khi được cấp bằng lái. Trước đây, phải mất hai tuần công ty bảo hiểm mới cấp giấy chứng nhận mua bảo hiểm. Bây giờ, qua đề nghị thay đổi của chúng tôi, quý vị có thể nhận giấy chứng nhận tạm thời đã mua bảo hiểm, để lấy bằng lái ngay. Ðiều này có nghĩa là quý vị không phải chờ hai tuần như trước đây nữa.


NV: Câu hỏi sau đây có vẻ không cần thiết lắm. Nhưng xin ông nhắc lại, tại sao người lái xe ở California phải mua bảo hiểm xe vậy?


Bộ Trưởng Dave Jones: Ðây là luật, bắt đầu được áp dụng từ năm 1996, bắt buộc mọi người lái xe phải mua bảo hiểm xe. Chúng tôi là cơ quan áp dụng luật.


NV: Nếu không mua bảo hiểm xe thì sao?


Bộ Trưởng Dave Jones: Nếu không mua bảo hiểm, khi bị bắt, quý vị có thể bị treo bằng lái, treo giấy đăng bộ xe (có nghĩa là xe đó không được lưu thông), xe bị kéo và bị phạt tối thiểu là $800. Thử nghĩ xem, cái giá phải trả khi không mua bảo hiểm xe, $800, cộng với tiền kéo xe, trên $1,000 như chơi, chưa kể những phiền phức khác.


NV: Nhưng thưa ông, cảnh sát đâu có chặn người đang lái xe để hỏi giấy bảo hiểm?


Bộ Trưởng Dave Jones: Ðúng là như vậy, nhưng trong thời gian qua, các cơ quan công lực ngày càng tổ chức nhiều vụ chặn xe để kiểm tra bằng lái hoặc lái xe có uống rượu (DUI). Khi đó, họ có thể hỏi giấy bảo hiểm. Như vậy, không cần quý vị vi phạm luật giao thông hoặc bị tai nạn mới bị chặn và hỏi giấy bảo hiểm. Tốt hơn hết là nên mua bảo hiểm xe để tránh những phiền phức khác có thể lớn hơn, ví dụ như vừa bị phạt $800 vừa bị bồi thường, ảnh hưởng đến tài sản khác của mình.


NV: Một số trường hợp mua bảo hiểm tại California, nhưng khi bị tai nạn mới biết công ty bảo hiểm đó không thuộc tiểu bang này, và mức bồi thường của họ có thể khác. Ông giải thích sao trường hợp này?


Bộ Trưởng Dave Jones: Bất cứ công ty nào ngoài tiểu bang California mà muốn bán bảo hiểm tại đây đều phải được chúng tôi đồng ý và phải theo luật tiểu bang. Có thể có trường hợp như sau: quý vị sống ở tiểu bang đó, rồi mua bảo hiểm ở đó. Khi chuyển về sống ở California, có thể chính sách bồi thường không giống như ở tiểu bang cũ. Trong trường hợp này, trước khi chuyển về sống ở California, quý vị nên báo cho công ty bảo hiểm biết, để họ điều chỉnh, nếu có sự khác biệt. Trong bất cứ trường hợp nào, nếu có thắc mắc, quý vị có thể gọi cho số điện thoại “hotline” tại số 1-800-927-4357 để được giúp đỡ.


NV: Xin cảm ơn ông trả lời phỏng vấn.

Người mua thị trấn Buford muốn làm ‘showroom’ hàng Việt

 


SÀI GÒN (NV) Ông Phạm Ðình Nguyên, người bỏ ra $900,000 mua “thị trấn một người” Buford ở tiểu bang Wyoming tiết lộ với báo Tuổi Trẻ ở Sài Gòn rằng ông sẽ biến thị trấn này thành “showroom” giới thiệu hàng Việt Nam.










Ông Nguyên (phải) chủ nhân mới của thị trấn Buford. (Hình: Báo Tuổi Trẻ)


Ông Nguyên được báo Tuổi Trẻ trích lời nói: “Tôi chỉ xem Buford như là một phần của nước Mỹ, một thị trường lớn và nhiều tiềm năng cho hàng Việt Nam. Buford có thể sẽ là một showroom giới thiệu những sản phẩm, thương hiệu Việt Nam, cùng với những mặt hàng hiện đang bán trong cửa hàng 200m2 này!”


Ông Phạm Ðình Nguyên hiện là tổng giám đốc Công ty Dịch vụ Phân phối Tổng hợp Quốc tế.


Theo báo Tuổi Trẻ, “Trước đó ông Phạm Ðình Nguyên đã có bảy năm kinh nghiệm làm việc tại Coca-Cola Việt Nam với các vị trí khác nhau trong bộ phận phát triển kinh doanh và tiếp thị thương mại. Sau đó chuyển sang làm cho Nokia Việt Nam trong hai năm trước khi giữ vị trí phó tổng giám đốc phụ trách phát triển kinh doanh Công ty Cổ phần Hàng gia dụng Quốc tế. Gần đây nhất, ông Nguyên giữ vị trí giám đốc toàn quốc kênh hiện đại cho Tập đoàn Kinh Ðô.”


Ông Nguyên kể với báo Tuổi Trẻ về buổi đấu giá hồi tuần trước rằng, “Khởi điểm với $100,000. Giá sau đó bắt đầu được nâng lên $150,000, $200.000, rồi $250,000… Ðến mức giá $600,000, nhiều người tham gia đã bỏ cuộc. Khi giá nâng lên 750,000, chỉ còn ông Nguyên và một người đấu giá online (thông qua điện thoại di động). Lúc này, cuộc đấu tay đôi căng thẳng với từng bước giá $10,000-$15,000, do ai cũng muốn được sở hữu Buford, thị trấn lâu đời thứ hai tại bang Wyoming.”


Vẫn theo lời ông Nguyên thuật lại, “Người đấu giá online chỉ bỏ cuộc khi giá được nâng lên $900,000.”


Ông Nguyên còn cho biết theo quy định, trong 30 ngày kể từ ngày đấu giá nếu người thắng cuộc không thanh toán phần còn lại của số tiền thì sẽ mất khoản tiền đặt cọc 10%. “Vì vậy, sẽ không có chuyện đấu giá ‘chơi cho vui’ hoặc lấy tiếng như ở VN xong ‘bỏ của chạy lấy người,’” ông Nguyên nói với báo Tuổi Trẻ.


Báo Tuổi Trẻ trích dẫn tài liệu đấu giá do Williams & Williams cung cấp cho ông Nguyên cho hay, “lợi nhuận đem lại cho ông Don Sammons trong năm 2011 là 150,000 USD, chủ yếu đến từ cửa hàng tiện lợi, trạm xăng, tiền thuê trạm điện thoại và tiền đặt các hộp thư bưu điện của chính phủ.” (KN)

Trung Quốc bắt đầu cho du lịch đến Hoàng Sa

 


BẮC KINH (NV) Bắc Kinh tiếp tục ra sức đe dọa Việt Nam và Philippines trong cuộc tranh chấp chủ quyền quần đảo Trường Sa đồng thời cổ võ cho chương trình du lịch đến quần đảo Hoàng Sa.









Một góc quần đảo Hoàng Sa. (Hình: Xinhua.net)


Tân Hoa Xã của Trung Quốc loan tin, công ty vận tải biển Hải Hiệp đưa tàu du lịch Coconut Princess thực hiện tuyến du lịch đường biển từ Tam Á, tỉnh Hải Nam, đến đảo Ðá Bắc thuộc quần đảo Hoàng Sa vào tối 6 tháng 4, 2012.


Phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Việt Nam, ông Lương Thanh Nghị, hôm 9 tháng 4 lên tiếng phản đối “Trung Quốc ngay lập tức phải ngừng các chuyến du lịch đến Hoàng Sa, chấp hành nghiêm chỉnh Nguyên Tắc Ứng Xử Trên và không có thêm hành động làm phức tạp tình hình ở Biển Ðông.”


Ông Lương Thanh Nghị nói thêm, “hoạt động nói trên của Trung Quốc là bất hợp pháp và vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam.”


Ngày 7 tháng 4, 2012, tờ Hoàn Cầu Thời Báo của Trung Quốc nói rằng chương trình tổ chức du lịch tới quần đảo Hoàng Sa “giúp củng cố chủ quyền lãnh thổ.”


Tuần trước, một số báo ở Trung Quốc đã thuật lời của viên chức tỉnh đảo Hải Nam xác nhận chương trình đưa du khách từ cảng Tam Á hay cảng Hải Khẩu (trên đảo Hải Nam) tới quần đảo Hoàng Sa.


“Bất cứ sự phát triển du lịch nào của Trung Quốc đến Tây Sa (Hoàng Sa của Việt Nam) cũng sẽ bị phản ứng mạnh mẽ của các nước trong vùng. Nhưng điều đó cũng không gây trở ngại gì cho các nỗ lực (tổ chức du lịch) của Trung Quốc.” Hoàn Cầu Thời Báo viết.


“Phát triển du lịch Tây Sa (Hoàng Sa) có thể là sự đột phá đối với Trung Quốc để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Trung Quốc nên khẳng định lập trường của mình qua những hành động như vậy. Thế giới phải làm quen dần với những hành động hợp pháp của Trung Quốc.”


Trung Quốc đã cướp quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam từ năm 1974 sau một trận hải chiến với Hải Quân VNCH.


Từ giữa tuần trước đến nay, Hoàn Cầu Thời Báo (con đẻ của Nhân Dân Nhật Báo, Bắc Kinh) liên tiếp có các bài bình luận, phân tích liên quan đến khu vực Biển Ðông (mà họ gọi là Nam hải). Các bài viết đó đả kích từ Ấn Ðộ, Philippines đến Việt Nam.


Ðả kích Ấn Ðộ, ngày 9 tháng 4, 2012, vì Ấn tuyên bố không lùi bước trước các đe dọa của Bắc Kinh đối với kế hoạch của công ty ONGC hợp tác với Petro Vietnam dò tìm dầu khí. Ngoại Trưởng Ấn Ðộ S.M. Krishna tuyên bố mấy ngày trước là Biển Ðông là tài sản chung của thế giới, công phải của riêng nước Trung Quốc.


Ðả kích Philippines, ngày 8 tháng 4, 2012, vì Philippines đưa ra kế hoạch, với sự hậu thuẫn của Việt Nam, các nước ASEAN xây dựng một bộ quy tắc ứng xử để tránh xung đột với nhau vì tranh chấp biển Ðông trước khi thảo luận với Bắc Kinh.


Ngày 6 tháng 4, 2012, Hoàn Cầu Thời Báo lớn tiếng nói đừng tưởng các nước khác liên kết với nhau bao vây mà có thể cô lập được Trung Quốc.


“Những nước nhỏ như Philippines đang cầm đầu gây sóng gió, Trung Quốc nên dạy cho chúng một bài học. Có nhiều cách khả thi để làm như thế kể cả việc dùng chiến thuật cây gậy và củ cà rốt.” Hoàn Cầu Thời Báo viết.


Chủ Tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Ðào đến Phnom Penh dùng 5 tỉ đô la tiền viện trợ để áp lực Cambodia không đưa vấn đề tranh chấp chủ quyền Biển Ðông vào nghị trình Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN. Dù vậy, Philippines vẫn nêu vấn đề và được Việt Nam hậu thuẫn cho việc các nước của hiệp hội hoàn thành một bộ quy tắc ứng xử trước khi thảo luận với Bắc Kinh.


Không cản được, ngày 8 tháng 4, 2012, Hoàn Cầu Thời Báo mỉa mai rằng kế hoạch của Tổng Thống Philippines Aquino thế nào cũng sẽ thất bại vì nó “không thích hợp với lợi ích của nhiều nước thành viên ASEAN.”


Bắc Kinh đã đem mối lợi kinh tế, viện trợ và tín dụng để quyến rũ các nước ASEAN hậu thuẫn cho lập trường của mình.


Ngày 9 tháng 4, 2012, Hoàn Cầu Thời Báo cho tướng diều hâu La Viện đe dọa rằng “đây là cơ hội chót” để Philippines giải quyết các tranh chấp chủ quyền biển đảo với Trung Quốc.


“Sự tính toán sai lầm lớn nhất của Philippines là họ phỏng đoán quá thấp sức mạnh và ý chí của Trung Quốc trong việc bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ.” Tướng La Viện nói.


Tuy La Viện không phải là phát ngôn viên chính thức, nhưng một tờ báo đảng có tầm cỡ và nằm dưới sự chỉ huy trực tiếp của Trung Ương Ðảng Trung Quốc, ít nhất cũng phản ảnh hay được bật đèn xanh để phát ngôn đe dọa.


Gần đây, báo chí Trung Quốc đưa tin Bắc Kinh cho mở thầu 19 lô trên biển Ðông trong đó có các lô sát với quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Việt Nam đã lên tiếng phản đối nhưng làm được gì hơn. (TN)

Kinh hoàng với phở ‘gián’, bún ‘thạch sùng’ ở Hà Nội

 


HÀ NỘI (NV) Nhiều khách hàng đã tìm thấy gián, thạch sùng, dây thun, tăm, ruồi,… trong các món ăn tại các quán ăn vỉa hè ở Hà Nội. Theo báo Vietnamnet, việc này một lần nữa báo động về tình trạng mất vệ sinh trầm trọng ở các quán vỉa hè của thành phố này.







Hàng quán vỉa hè Hà Nội vẫn đông khách dù nhiều quán rất bẩn. (Hình: VNN)


Báo Vietnamnet dẫn lời một người tên Nga ở phố Chùa Hà, quận Cầu Giấy, tức giận khi kể lại bữa ăn “sợ nhất trong đời” của mình với một bát phở hai con gián.


Chị Nga kể lại, “vừa ngồi ở quán ăn đối diện số 40 Chùa Hà, Hà Nội gọi một bát phở bò ra, ăn được 2 miếng chị đã hét toáng lên bởi ‘trong bát phở có hai con gián.’ Sợ quá, chị Nga quăng đôi đũa và nôn ọe ra bàn. Thấy vậy, bà chủ quán nhanh nhảu đến phân bua ’em thông cảm cho quán chị nhé, hôm qua dọn hàng về muộn quá nên chị quên không cất nồi nước dùng kỹ.’”


Như vậy, theo giải thích của bà chủ hàng quán, hai con gián có nguồn gốc từ nồi nước dùng vì cả đêm không được đậy kín trong ngôi nhà ẩm thấp.


Một người khác tên Quân, ở trọ khu 175 Xuân Thủy, Hà Nội còn gặp trường hợp oái oăm hơn.









Bên trong một quán phở vỉa hè Hà Nội. (Hình: VNN)


Anh Quân kể với Vietnamnet, “anh Quân mời bạn đi ăn lẩu vịt trên phố Nguyễn Phong Sắc. Không khí đang vui vẻ bỗng dưng Hương, người yêu anh Quân phát hiện ra trong nồi lẩu vịt có hẳn một cái dây thun rất to màu đen… Oái oăm hơn, khi kiến nghị lên bà chủ quán thì bà phát biểu một câu xanh rờn ‘ăn nữa thì ăn không ăn thì biến.’”


Vẫn theo Vietnamnet thì, “vệ sinh của các hàng quán luôn là hồi chuông cảnh báo đối với người tiêu dùng. Thịt bò được phơi giữa đường để ‘ăn bụi’, ‘thu hút ruồi’, bún đậu bán giữa đường lớn – đĩa khách ăn xong không rửa, rau rửa không sạch lẫn rác rưởi là thường, tương ớt 3 không, dầu ăn lấy lại của các nhà hàng có thể gây ung thư, bánh bao nhân thịt bẩn, dừa ủng hô biến thành dừa ngon, trứng gà giả… là những vấn nạn còn tồn tại dai dẳng và ‘ám hại’ người tiêu dùng.”


Tuy nhiên, theo báo này, “với tâm lí ‘trăm người bán vạn người mua’ các hàng quán ở Việt Nam vẫn thoải mái và thản nhiên khi được khách hàng phản ánh có gián hay ruồi muỗi trong đồ ăn. Phải chăng đây là sự băng hoại đạo đức kinh doanh?” (KN)

GDP: Sự dối trá tuyệt vời


Ngô Minh


(Nguồn: Ngominhblog.wordpress.com)


 


Lâu nay trong các báo cáo tổng kết tình hình kinh tế chúng ta hay dùng các chỉ số như GDP, tốc độ tăng GDP, GDP bình quân đầu người… để đo tốc độ phát triển.









Theo dõi báo chí, chúng tôi thấy đa số các tỉnh đều công bố những con số chóng mặt: Tăng trưởng GDP của các địa phương 5 năm qua đều tăng từ 11 đến 13%, có tỉnh đến 15%, có nhiều huyện thị còn đạt tốc độ tới 17%.


Ngày 1 tháng 4, 2012 vừa qua, kỷ niệm ngày giải phóng, ông chủ tịch tỉnh Ninh Thuận đã nói rằng: “Ninh Thuận sẽ đạt tốc độ tăng trưởng GDP từ nay đến năm 2020 từ 17 đến 20%.” Nghe mà sởn tóc gáy. Nghĩa là 64 tỉnh thành nước ta đều có tốc độ tăng GDP khủng khiếp, thế giới chưa từng có! Nghe những con số này, các nhà tuyên truyền thì phấn khích, còn các nhà kinh tế lại rất mỉm cười bảo: “Dối trá. GDP đâu ra mà lắm thế!” Một câu hỏi xoáy lòng người: 64 tỉnh thành tăng trưởng GDP rất cao, tại sao GDP cả nước lại tăng ít hơn? Từ 15 năm nay, GDP nước ta chưa bao giờ vượt ngưỡng 8.5%. Năm 2005, GDP nước ta đạt 8.4%, một trong những nước cao nhất thế giới. Năm 2008, do thiên tai, biến động kinh tế, ảnh hưởng khủng hoảng tài chính Mỹ, dự kiến GDP cả nước chỉ khoảng 7%. Năm 2011: 5.6 %, Quý I-2012: tăng dưới 5%… GDP cả nước tăng thấp, chỉ bằng một phần ba, một nửa tốc độ tăng GDP của nhiều tỉnh! Vậy con số nào là thật? Con số nào là giả?


Vậy GDP là gì? Theo Từ điển Kinh tế do Trung tâm Ðào tạo và Nghiên cứu Khoa học Ngân hàng TP Hồ Chí Minh (1994), thì “GDP là tổng sản phẩm quốc nội, là tổng trị giá tiền tệ của tất cả các sản phẩm cuối cùng và dịch vụ phát sinh trong một nền kinh tế trong một năm.” Theo định nghĩa trên, thì GDP cả nước sẽ bằng GDP 64 tỉnh thành cộng với GDP khu vực kinh tế trung ương. Nhất định GDP khu vực kinh tế trung ương (các tập đoàn, TCT) bao giờ cũng tăng cao hơn các địa phương vì có ưu thế về vốn, thiết bị, thị trường. Theo cách tính đó thì GDP bình quân của nước ta 5 năm qua phải tăng từ 12-15% mỗi năm trở lên, chứ không phải phấn đấu cật lực mới được 7-8.4%! Cho nên cách tính GDP của các địa phương đang là vấn đề nghi vấn: Một là tự kê khống lên để lòe dân, để biến báo “thành tích nhiệm kỳ”? Ðó là bệnh chạy theo thành tích,”màu cờ sắc áo” đã đến kỳ di căn. Ðó là sự dối trá tuyệt vời.


Nếu theo tốc độ tăng GDP của các tỉnh nêu: 15-17%/năm thì chỉ trong 10 năm, nông thôn nước ta đã giàu có hơn nông thôn nước Nhật, Nước Mỹ lắm lắm. Nhưng sự thật thì hoàn toàn trái lại. Bộ mặt nông thôn, đô thị, cuộc sống nhân dân chẳng biến đổi bao nhiêu so với 10 năm trước? Mỗi năm tỉnh Thanh Hóa có hàng ngàn hộ đói. Các tỉnh duyên hải miền Trung cuộc sống của người dân không khác gì cách đây 20 năm. Vẫn nhà tranh vách đất, tháng nào cũng hàng ngàn hộ đứt bữa. Hàng năm trung ương phải xuất hàng ngàn tấn gạo trong kho dự trữ chiến lược để cứu đói cho các địa phương. Nhiều con đường ở một số thành phố cấp I, cấp II vẫn ổ voi, ổ gà lởm chởm, mưa xuống là ngập lụt. Giá điện, giá xăng, giá nước sinh hoạt tăng liên tục làm người dân khốn đốn. Thịt độc, rau độc, thuốc giả, gạo giả… làm người dân vừa ăn vừa nơm nớp sợ.


Nguyên nhân tình trạng GDP một đường, cuộc sống một nẻo là do trong “tổng sản phẩm quốc nội” gọi là GDP ấy đó có rất nhiều thứ có trên thực tế, nhưng hiệu quả thì không. Ví dụ các dự án xây dựng kéo dài, các quy hoạch khu đô thị đã xây cơ sở hạ tầng, nhưng không kêu gọi được đầu tư; rồi các dự án đầu tư hàng trăm ngàn tỷ đồng như cảng nước sâu, sân bay… không phát huy hiệu quả kinh tế. Ðã có sân bay Nha Trang, Cam Ranh cách đó năm ba chục cây số, lại đầu tư xây dựng sân bay “quốc tế” Phú Yên! Rồi cảng nước sâu Chân Mây Thừa Thiên Huế, đầu tư hàng ngàn tỉ đồng, xây xong để đấy, mỗi năm chỉ có vài chuyến tàu chở than đá, chở khách du lịch, hay xây chợ mấy năm rồi mà không có vào người mua bán; Ðường quốc lộ, tỉnh lộ vừa tốn hàng trăm tỷ đồng xây dựng, nâng cấp, qua một mùa mưa lại hư hỏng, lại đầu tư sửa chữa cũng hơn chừng ấy tiền; thậm chí kinh phí đầu tư để sửa chữa công trình mới thi công xong đã hư hỏng v.v… Rồi bao nhiêu nhà máy bao bì xi măng, nhà máy gạch men sứ, nhà máy đường, xi măng lò đứng, lò quay, nhà máy tinh bột sắn, khu du lịch… “trời ơi đất hỡi,” thua lỗ triền miên, huyện nào, tỉnh nào cũng có khu công nghiệp v.v. và v.v. Tất cả vốn đầu tư không hiệu quả ấy đều được tính hết vào GDP. Ngoài ra, nạn “chạy dự án,” tăng đầu tư bất cứ giá nào nhiều năm nay đã trở thành một “mốt” làm ăn thời thượng của nhiều quan chức. Càng đầu tư nhiều tỷ lệ phần trăm ăn chia bên A, bên B, bên C… càng nhiều! Bệnh thành tích nặng nề cũng thúc đẩy đầu tư bất cứ giá nào. Càng đầu tư nhiều thì GDP tỉnh càng cao, càng có thành tích, lãnh đạo lại giàu có thêm, dại gì không làm!


Như vậy, tăng GDP mấy năm trở lại đây là nhờ tăng đầu tư xây dựng cơ bản cho các dự án không có hiệu quả đủ các lĩnh vực, chứ chất lượng cuộc sống của người dân thì không được tăng tương ứng. Càng đầu tư nhiều thì GDP càng cao và tốc độ tăng GDP cũng càng cao, và GDP bình quân đầu người càng tăng, địa phương càng được đánh giá “phát triển cao.” Nhưng GDP đó không phản ảnh được chất lượng phát triển.


Chất lượng phát triển của một địa phương thể hiện ở các chỉ tiêu sau đây: Thặng dư, lợi nhuận bổ sung vốn để tái đầu tư, sản phẩm mới và sức cạnh tranh, khả năng phát triển thị trường trong và ngoài nước, thu nhập thực tế của nhân dân thành thị nông thôn tạo nên sức mua của xã hội, đặc biệt là môi trường trong sạch. Bây giờ tỉnh nào nếu kiểm tra cũng phát hiện ra những vụ “Vê Ðan” gây ô nhiễm rất trầm trọng môi trường sinh sống của người dân. Các xí nghiệp công nghiệp, các bệnh viên lớn nhỏ đều thải trực tiếp nước thải ra sông, ao hồ, ảnh hưởng trầm trọng đến chất lượng cuộc sống của cộng đồng. Ở miền Trung hiện nay phần lớn các tỉnh công nghiệp quy mô nhỏ, chắp vá, công nghệ lạc hậu, sản phẩm chất lượng thấp, không có sức cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước, dẫn đến nhiều doanh nghiệp thua lỗ kéo dài. Tỷ trọng lao động nông-lâm-ngư nghiệp vẫn chiếm trên 70%, lao động thất nghiệp ở nông thôn còn nhiều. Chỉ số GDP bình quân đầu người cả nước được công bố là 650-1000 USD/người/năm, nhưng thực tế thì đa phần hộ dân nông thôn 6 miệng ăn mỗi năm làm ra hạt lúa củ khoai, con cá chưa đầy ba bốn triệu đồng, nghĩa là bình quân mỗi tháng 100-150 ngàn đồng/nhân khẩu! Nền kinh tế vẫn trong tình trạng tự cung tự cấp, ít mặt hàng vươn ra thị trường trong nước và quốc tế mà chỉ đóng khung trong địa bàn tỉnh, huyện! Ðây mới là vấn đề chủ yếu của sự tăng trưởng GDP.


Vì thế chúng tôi đề nghị chính quyền các cấp, cơ quan thống kê và các cơ quan liên quan phải bớt dối trá, phải nghiêm túc trong việc tính toán GDP của các địa phương, hướng vào những chỉ tiêu như: chất lượng cuộc cuộc sống người dân, phát triển bền vững, bảo vệ môi trường, thặng dư, lợi nhuận, sức cạnh tranh, khả năng phát triển thị trường trong và ngoài nước; phải điều tra cụ thể thu nhập thực sự của nhân dân thành thị nông thôn – nghĩa là phải tạo ra GDP xanh. Chứ như bây giờ GDP là cái để tuyên truyền, để lòe dân, tuyên truyền, xưng tụng nghe rác tai lắm!

Ai là thân nhân 61 tử sĩ Biệt Ðộng Quân VNCH tại An Lộc?

 



 


Huy Phương/Người Việt


Trong cuộc chiến Mùa Hè Ðỏ Lửa năm 1972 tại An Lộc, Bình Long, Liên Ðoàn 3 BÐQ đã tham chiến từ ngày 6 tháng 4, 1972 đến ngày 5 tháng 7, 1972 và là đơn vị chịu tổn thất nặng nề. Trong những ngày đầu khi trực thăng còn đáp xuống được, một số tử sĩ được đưa về Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa. Mười ngày sau, số còn lại vì tình hình căng thẳng, LÐ3BÐQ đã lập một nghĩa trang ngay tại Bộ Chỉ huy Liên Ðoàn, an táng khoảng 80 anh em hy sinh, có bia mộ ghi rõ tên tuổi và đơn vị. Ðây chỉ là một số nhỏ tử sĩ may mắn, vì một số lớn đã phải phải chôn tại trận địa hoặc chôn tập thể sau bệnh viện tiểu khu, con số này lên đến hàng trăm.








Xương cốt tử sĩ tại nghĩa trang Bộ Chỉ Huy LÐ93 BÐQ An Lộc được cải táng. (Hình: Ðoàn Trọng Hiếu cung cấp)


Qua cuộc điện đàm của chúng tôi với cựu Ðại Úy Ðoàn Trọng Hiếu Khóa 4/68 SQ Trừ Bị Thủ Ðức, trong thời gian xẩy ra trận chiến An Lộc, là ÐÐT Ðại Ðội 4 Tiểu Ðoàn 52 BÐQ, ông đã cho biết: “Khoảng cuối những năm 90 một số gia đình đã lên An Lộc để cải táng thân nhân của mình mang về quê, đến năm 2007 thì nghĩa trang này bị giải tỏa và các công nhân làm việc tại đã có lòng bốc hài cốt bỏ vào trong các quách bằng sứ, đem đến đặt trong một căn nhà nhỏ ngoài bìa rừng bên cạnh một nghĩa trang của xã.”


Cuối tháng 12, 2011, một số anh em cựu chiến sĩ BÐQ ở hải ngoại và trong nước đã có lòng vận động phương tiện từ một số bạn bè để di dời những hũ cốt này, cải táng 61 tử sĩ thuộc Liên Ðoàn 3 BÐQ tại An Lộc-Bình Long vào những nấm mộ khang trang có bia mộ, cứ gần 20 hài cốt vào một hộc, che bằng một tấm đan và lót gạch hoa.


BÐQ Ðoàn Trọng Hiếu, hiện cư ngụ tại tiểu bang Mexico, thay mặt cho những anh em LÐ3BÐQ, gửi lời xin chân thành cám ơn những người bạn giàu lòng nhân hậu, ở trong cũng như hải ngoại, đã giúp anh em làm tròn trách nhiệm với đồng đội. 61 chiến hữu BÐQ đã được an nghỉ lại tại mảnh đất Bình Long, nơi mà các anh đã anh dũng hy sinh bảo vệ năm xưa.


Như một phép lạ, gần 40 năm không tìm được thân nhân, khi khởi công để đưa anh em xuống lòng đất Mẹ lại thì có hai thân nhân lên nhận hài cốt mang về quê an táng. Trong năm này, sẽ có cháu Lê Thành Phú xin nhận hài cốt cha là Ðại Úy Lê Văn Hiếu, đại đội trưởng ÐÐ1/52 BÐQ và vợ của HSI Trần Văn Thủy TÐ36BÐQ lên nhận hài cốt chồng. Như những lần tìm được hài cốt của thân nhân, nhiều gia đình quan niệm họ đã sống, chiến đấu bên nhau, bốn mươi năm này đã chết, nằm cạnh nhau, bây giờ xin để họ được yên nghỉ vĩnh viễn bên nhau, nhưng cũng có gia đình muốn đưa hài cốt thân nhân về với gia đình để hương khói. Nếu thân nhân gia đình muốn mang hài cốt anh em về nguyên quán xin vui lòng liên lạc với BÐQ Ðoàn Trọng Hiếu theo số điện thoại (505) 990-3476 hoặc (505) 918-7120 để tiện việc sắp xếp, vì ngôi mộ đã được xây kiên cố nên mỗi lần cắt gỡ ra rất khó khăn tốn kém.


Chúng tôi kính mong được quý đồng hương, quý chiến hữu và quý cơ quan truyền thông phổ biến rộng rãi danh sách này để hy vọng tìm được thân nhân của những chiến sĩ đã hy sinh.


Danh sách 61 Tử Sĩ LÐ3BÐQ tại An Lộc.


(Theo thứ tự: cấp bậc, tên họ, số quân, đơn vị và ngày tử trận)


 


1. TS Nguyễn Ph An 51/107…. ÐÐ4 TÐ52BÐQ 11/5/1972


2. B1 Nguyễn Tuấn Anh 71/128548 TÐ31BÐQ 25/05/1972


3. Trần Trọng Nhân 68/104289 BÐQ 15/04/1972


4. B2 Ðặng Văn An 69/149840 TÐ31BÐQ 13/06/1972


5. B1 Trần Văn Ba 71/383565 TÐ36BÐQ 11/6/1972


6. B1 Nguyễn Văn Cảnh 74/105691 TÐ31BÐQ 18/06/1972


7. Ðiểu Cao TÐ74BÐQ 7/1972


8. TS1 Nguyễn Chuyên 73/217507 ÐÐ1 TÐ36BÐQ 15/04/1972


9. B2 Chu Văn Cường 74/114054 TÐ31BÐQ 27/05/1972


10. TH S Lê Văn Cường 64/125135 ÐÐ4 TÐ52BÐQ 16/05/1972


11. HS Nguyễn Văn Ðang ÐÐ2 TÐ52BÐQ 11/5/1972


12. TS Nguyễn Văn Ðông 71/103521 TÐ36BÐQ 7/5/1972


13. B2 Trịnh Dũng 73/108848 BCH TÐ52BÐQ 11/5/1972


14. HS Nguyễn Văn Ðược 69/125616 TÐ36BÐQ 10/5/1972


15. HS Dương Xú Há 62/179159 TÐ36BÐQ 11/6/1972


16. HS1 Lê Ninh Hải 64/189822 TÐ36BÐQ 3/7/1972


17. HS Ðỗ Văn Hai 72/102446 BCH TÐ52BÐQ 7/6/1972


18. ÐU Lê Văn Hiếu 65/145324 ÐÐ1TD52BÐQ 13/05/1972


19. HS1 Nguyễn Văn Hoài 66/400108 BCH TÐ52BÐQ 16/06/1972


20. B2 Trần Hoài 74/109370 ÐÐ3 TÐ52BÐQ 8/5/1972


21. Nguyễn Văn Hưởng 73/123516 ÐÐ2 TÐ52BÐQ 2/5/1972


22. B1 Trần Ðức Lân 61/578478 TÐ36BÐQ 5/5/1972


23. B2 Nguyễn Bá Long 72/147048 TÐ31BÐQ 11/6/1972


24. B2 Hà Văn Lượng TÐ36BÐQ 11/6/1972


25. B2 Hồ Văn Mão 69/106734 TÐ36BÐQ 10/5/1972


26. B1 Nguyễn Văn Nam 74/112571 ÐÐ2 TÐ52BÐQ 11/7/1972


27. Phan Văn Nam 63/122313 TÐ36BÐQ 11/5/1972


28. TR U Tr Ðình Phúc 69/209955 TÐ52BÐQ 19/05/1972


29. HS1 Phương 74/521330 TÐ52BÐQ 11/5/1972


30. B2 Nguyễn Văn Quang 71/126277 TÐ36BÐQ 7/6/1972


31. HS1 Nguyễn Văn Sơn 66/151819 TÐ36BÐQ 14/05/1972


32. B1 Nguyễn Văn Sơn 66/128548 TÐ36BÐQ 20/05/1972


33. HS Phạm Hắt Sơn 69/124285 ÐÐ2 TD52BÐQ 23/05/1972


34. HS1 Ðinh Văn Song 70/109172 ÐÐ2 TÐ36BÐQ 15/06/1972


35. B2 Kiều Văn Tách 73/111521 TÐ36BÐQ 17/05/1972


36. TH T Nguyễn Minh Tâm 63/111171 ÐÐ1 TÐ36BÐQ 15/04/1972


37. HS1 Hồ Văn Tám ÐÐ1 TÐ52BÐQ 8/6/1972


38. B2 Ðỗ Ngọc Tâm 72/149960 TÐ31BÐQ 22/05/1972


39. B1 Lê Thạch 72/204083 TÐ31BÐQ 27/05/1972


40. HS Nguyễn Văn Thanh 69/108099 ÐÐ3 TÐ52BÐQ 22/05/1972


41. HS Lê Văn Thọ 73/111046 TÐ31BÐQ 14/05/1972


42. HS Nguyễn Văn Thơm 72/105570 TÐ36BÐQ 13/06/1972


43. HS1 Trần Văn Thủy 69/156326 Ð36BÐQ 12/5/1972


44. HS1 Vũ Ðình Thụy (Thi) ÐÐ3 TÐ52BÐQ 13/05/1972


45. Ðỗ Ngọc Tiến 74/189540 ÐÐ3 TÐ52BÐQ 12/5/1972


46. B2 Trần Văn Tính 72 73/114120 TÐ36BDQ 13/06/1972


50. B2 Phạm Văn 73/225395 ÐÐ4 TÐ52BÐQ 14/05/1972


51. Quân nhân Nhảy Dù (vô danh) 7/1972


Có 10 hài cốt khác không có tên tuổi. Tổng cộng 61 (sáu mươi mốt) hài cốt.

Các liên danh tranh cử Ban Ðại Diện Cộng Ðồng tại Nam California tranh luận công khai


 


WESTMINSTER (NV)Một buổi tranh luận công khai giữa hai liên danh tranh cử vào Ban Ðại Diện Cộng Ðồng VN/Nam California, nhiệm kỳ 2012-2015, sẽ được tổ chức vào lúc 5 giờ chiều đến 7 giờ tối ngày Thứ Ba, 10 Tháng Tư, tại Câu Lạc Bộ Văn Hóa và Báo Chí, 9325 Bolsa Ave., Westminster.


Trong thư thông báo mời tham dự tranh luận, ông Lý Kiến Trúc, chủ nhiệm Câu Lạc Bộ Văn Hóa & Báo Chí, viết rằng ông “có dịp trao đổi và nhận được hồ sơ tranh cử của ông Nguyễn Xuân Nghĩa, Thụ ủy Liên danh ‘Vì Dân’ và ông Nguyễn Tấn Lạc, Thụ ủy Liên danh ‘Thăng Tiến.’”


Hai ông Nguyễn Xuân Nghĩa và Nguyễn Tấn Lạc đồng ý tham dự cuộc tranh luận công khai, do Câu Lạc Bộ Văn Hóa & Báo Chí tổ chức.


Mục đích của buổi tranh luận, theo thông báo của CLB, là để “đóng góp vào không gian tranh cử minh bạch, dân chủ, công bằng và ôn hòa,” để “rộng đường quan điểm, chủ trương hoạt động, tư cách cá nhân của hai liên danh,” và “để nhờ qua hệ thống truyền thông báo chí tham dự trực tiếp, phổ biến tin tức cho đồng bào sử dụng chính xác lá phiếu của mình.”


Thông báo nói rằng, cuộc tranh luận sẽ có sự hiện diện của quý lãnh đạo tinh thần và quý bậc trưởng thượng, nhằm gia tăng uy tín và trách nhiệm cho hai liên danh, tạo sự tin tưởng của đồng bào sử dụng lá phiếu đúng vào tân ban đại diện.


Ðiều hợp viên của buổi tranh luận là nhà báo Lý Kiến Trúc, chủ nhiệm Câu Lạc Bộ Văn Hóa & Báo Chí. (Ð.B.)

Hải Quân Mỹ đưa hàng không mẫu hạm thứ nhì đến Vịnh Ba Tư

 


 


DUBAI, United Arab Emirates (AP)Hải Quân Mỹ cho hay đã đưa hàng không mẫu hạm thứ nhì đến Vịnh Ba Tư trong khi tình trạng căng thẳng với Iran về chương trình nguyên tử của quốc gia này tiếp tục gia tăng.








Trung Tá Amy Derrick-Frost thuộc Hạm Ðội 5 của Mỹ, với Bộ Chỉ Huy đặt tại Bahrain, hôm Thứ Hai cho hay việc đưa hàng không mẫu hạm USS Enterprise đến hoạt động cạnh hải đội do hàng không mẫu hạm USS Abraham Lincoln chỉ huy đánh dấu lần thứ tư trong thập niên qua hải quân Mỹ có hai hàng không mẫu hạm hoạt động cùng lúc trong vùng này.


Hai hàng không mẫu hạm này sẽ hỗ trợ các hoạt động quân sự của Mỹ trong vùng Afghanistan và chống hải tặc ngoài khơi bờ biển Somalia và trong vịnh Aden.


Các chiến hạm này cũng sẽ tuần tiễu các hải lộ chuyên chở dầu thô trọng yếu trong Vịnh Ba Tư mà Iran từng đe dọa sẽ phong tỏa để trả đũa các biện pháp trừng phạt kinh tế của thế giới.


Hai hàng không mẫu hạm Enterprise và Abraham Lincoln có thể chở theo tổng cộng khoảng 180 phi cơ đủ loại. B

Tin mới cập nhật