Xe gắn máy sụp ổ gà cũng cháy

 


VIỆT NAM (NV) Trong những ngày đầu Tháng Giêng âm lịch, liên tiếp nhiều vụ cháy xe xảy ra tại các tỉnh Quảng Ngãi, Nghệ An và Hưng Yên.


Vụ đầu tiên kể từ đầu năm âm lịch cho đến nay xảy ra tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An khoảng 4 giờ rưỡi chiều ngày 23 tháng 1, tức mùng 1 Tết.








Xe gắn máy phựt cháy tại tỉnh Hà Tĩnh chiều mùng 1 Tết. (Hình: Báo Tuổi Trẻ)


Theo báo Tuổi Trẻ, ông Nguyễn Cao Cường 28 tuổi, cư dân Hà Tĩnh lái chiếc xe gắn máy đang chạy trên đường. Vì tránh một chiếc xe khác, ông Cường bị lạc tay lái trượt nhào trên đường một quãng khoảng 3m và chiếc xe thình lình bốc hỏa cháy dữ dội.


Vài tiếng đồng hồ sau, khoảng 4 giờ sáng ngày 24 tháng 1, tức rạng sáng mùng 2 Tết, hai chiếc xe gắn máy dựng trong nhà của ông Phạm Tự ở huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi cũng đột nhiên phựt cháy dữ dội.


Hai chiếc xe này bị cháy rụi hoàn toàn, suýt nữa thiêu đốt luôn căn nhà của ông Tự nếu người hàng xóm không kịp thời chạy đến dập lửa cứu nguy.


Riêng trong vụ này, các nhân chứng nghi nguyên nhân gây ra vụ cháy xe là vì xăng rỉ từ trong bình, bắt lửa cháy.


Vụ thứ ba trong mùa Tết âm lịch năm nay xảy ra chiều 25 tháng 1, tức mùng 3 Tết tại thị trấn Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên. Chiếc xe hơi 4 chỗ ngồi đang chạy trên đường bỗng nhiên phựt cháy ra tro.


Chủ xe kiêm tài xế là ông Nguyễn Văn Hùng 18 tuổi, cư dân tỉnh Bắc Ninh cho biết đang chở 4 người khác cùng ngồi trên xe lưu thông trên đường liên tỉnh lộ. Xe ông thình lình sụp ổ gà một cái rầm rồi bốc khói mù mịt.


Ông Hùng cùng bốn người kia vừa kịp mở cửa tông ra ngoài thì ngọn lửa đã bùng cháy dữ dội.


Theo báo Tuổi Trẻ, chiếc xe bị thiêu rụi hoàn toàn, chỉ còn lại cái sườn sắt trong vài mươi phút sau.


Theo dư luận, mặc dù nhiều công ty và tổ chức nghiên cứu khoa học thi nhau mở các cuộc nghiên cứu, điều tra từ mấy tháng nay nhưng vẫn không xác định được nguyên nhân gây ra hàng trăm vụ cháy nổ xe từ đầu năm rồi cho đến nay.


Mặt khác, đại diện Bộ Công Thương và Giao Thông-Vận Tải Việt Nam cũng đã nhận trách nhiệm về các vụ cháy nổ xe nhưng hầu như nguy cơ này vẫn chưa dừng. (PL)


 

Việt Nam mất cơ hội xuất cảng gạo cả 200 năm

 


VIỆT NAM (NV)Cuối thập niên 1980, Việt Nam bắt đầu xuất cảng gạo sau 25 năm đình trệ và nhiều năm phải nhập cảng để giải quyết nạn đói kém kéo dài.


Lịch sử xuất cảng hạt gạo Việt Nam trong ngần ấy thời gian cũng đã trải qua nhiều biến động, thăng trầm, từ 1.37 triệu tấn vào cuối thập niên 1980 cho đến năm rồi cũng chỉ mới đạt đến mức tối đa là 7.2 tấn.








Hạt gạo Việt Nam đã được Hoa Kỳ chú ý từ hơn 220 năm trước. (Hình: Báo Dân Việt)


Theo báo Dân Việt, hạt gạo Việt Nam vươn ra thế giới như một điều kỳ diệu vì phải khó nhọc lắm mới chen chân cùng các nước xuất cảng gạo hàng đầu thế giới trong thị trường đầy cạnh tranh hiện nay.


Tuy nhiên, giở lại lịch sử 200 năm trước, nhiều người dân Việt bùi ngùi tiếc rẻ cơ hội xuất cảng “ngàn năm có một” của hạt gạo Việt Nam.


Theo một tài liệu được báo Dân Việt trích dẫn, cách nay hơn 224 năm, đại diện thương mại Hoa Kỳ tại Pháp lúc đó là ông Thomas Jefferson lần đầu tiên xác định vai trò quan trọng của hạt gạo Việt Nam đối với người Hoa Kỳ.


Cũng theo tài liệu này thì Hoa Kỳ đã chú ý đến hạt gạo Việt Nam hơn 200 năm trước. Ông Thomas Jefferson còn tìm cách liên lạc với Hoàng Tử Cảnh – con trai của vua Gia Long đang ở Pháp lúc đó để xin một số hạt lúa giống Việt Nam.








Gạo Việt Nam tìm thị trường xuất cảng hiện nay không hề dễ dàng. (Hình: Báo Dân Việt)


Ðầu thế kỷ thứ XIX, dưới thời tổng thống thứ ba của Hoa Kỳ – Thomas Jefferson, một thương thuyền được phái tới để thu thập tin tức về hạt gạo Việt Nam và thảo luận về việc Việt Nam xuất cảng đường và cà phê sang thị trường Hoa Kỳ.


Ðó là chiếc thương thuyền Hoa Kỳ đầu tiên đến Việt Nam nhưng không gặt hái được thành công vì người đại diện của họ không gặp được vua Gia Long. Thương thuyền sau đó quay sang Philippines.


Cũng theo tài liệu này, chiếc tàu buôn thứ hai của Hoa Kỳ cập cảng Việt Nam khoảng 16 năm sau để tìm mua nông sản, nhưng lại thất bại lần nữa.


Tài liệu nói rằng thuyền trưởng John White của con tàu Franklin chờ mãi không được sự phúc đáp đơn xin ghé bến thương cảng Sài Gòn. Cuối cùng thì ông John White cũng lại quày quả ra đi.


Chi tiết các sự kiện nói trên được Tổng Thống Hoa Kỳ Bill Clinton công bố trong chuyến thăm đầu tiên nước Việt Nam cộng sản của vị nguyên thủ Hoa Kỳ vào năm 2000. Trong bài nói chuyện với các sinh viên Việt Nam tại trường đại học quốc gia Hà Nội, Tổng Thống Bill Clinton còn tiết lộ rằng hạt giống gạo Việt Nam được ông Thomas Jefferson mang về Hoa Kỳ từ hơn 200 năm trước đã được gieo trồng tại một trang trại ở tiểu bang Virginia.


Bài viết đăng trên báo Dân Việt bày tỏ nỗi ngậm ngùi tiếc rẻ vì Việt Nam đã đánh mất những cơ hội giao thương ngàn năm một thuở với Hoa Kỳ và cho rằng “đến nay thì hạt gạo Việt Nam vẫn chưa lọt nổi vào danh sách những hàng hóa được nhập cảng và được ưa chuộng tại Hoa Kỳ.” (PL)


 

Cụ bà Vũ Văn Đạm-Ngũ Đại Đồng Đường.

 



Cụ là vợ của nhiếp ảnh gia Vũ Văn Đạm và là em dâu của nhiếp ảnh gia nổi tiếng Võ An Ninh. Suốt một đời cụ chỉ đứng đằng sau người chồng tài hoa, ông từng làm cố vấn trong văn phòng Quốc Trưởng Bảo Đại. Dù phụ nữ nhưng bản tính mạnh mẽ, cứng cõi, cụ bà có cái oai phong của một nội tướng, khiến cho con cháu cũng như gia nhân trong nhà kính trọng, nể vì.


Chị Vũ Ngọc Diệp kể về Mẹ bằng giọng kính phục: Cụ bà không những vững chãi mặc tinh thần mà thể chất bà cụ cũng là người khoẻ mạnh. Cụ bước qua tuổi 94, nhưng chưa từng bị nhổ hay đau một cái răng nào. Trời mưa gió, khí trời thay đổi, con cháu đứa ho hen, đứa sụt sùi, riêng cụ lúc nào cũng mạnh mẽ, vững vàng.



Tuy là phụ nữ nhưng cụ như cây tùng, cây bách. Chỉ có một lần trong đời cụ gục xuống là lúc cụ ông qua đời. Đó là ngày 10 tháng 4 năm 1984, khi nhận giấy bảo lãnh của các con gửi về báo cho biết hai ngày nữa cụ được xuất cảnh. Có lẽ do quá xúc động trước tin vui bất ngờ, cụ ông đã đột ngột từ trần. Bao nhiêu năm sống bên nhau, dù cụ ông có nghiêm khắc, khó tính, nhưng đó là phần đời không dứt ra được. Cụ bà đau đớn thắt ruột gan khi phải cân phân giữa người chồng vừa quá cố và 8 người con ở ngoại quốc đang cần Mẹ. Tình mẫu tử đã thắng, các con đã thuyết phục được cụ lên đường. Cụ đã đến Mỹ sau hai ngày chịu tang chồng.


Sinh trưởng trong một gia đình Nho Giáo, cụ được thấm nhuần bởi tứ đức tam tòng. Năm 1950, vì cụ ông là nhân viên trong văn phòng Quốc Trưởng, nên gia đình cụ được đức Quốc Trưởng đưa vào Đà Lạt sớm. Như bao phụ nữ khác trong giai đoạn của những năm 50. Họ ít tham gia công việc của chồng mà chỉ chuyên vào việc bếp núc, chăm sóc con cái. Cụ bà có chín người con, một tay lo liệu, từ miếng ăn đến dạy dỗ, uốn nắn những mầm non để trở thành cây quý. Và gia đình họ Vũ đã có những cây quý và với thời gian, những cây cũng nảy sinh ra những cành, nhánh tốt lành.


Thật hiếm có một gia đình Ngũ Đại Đồng Đường. Cái gốc có vững mới nuôi được cây, cành mạnh mẽ. Gia đình họ Vũ đã có một cây cổ thụ mà tàng che là những cành lá xanh tươi, những hoa, nụ tươi sắc.




Những ngày cuối đời, cụ bà sống bình an hạnh phúc bên con cháu. Tám người con thành danh. Những đứa cháu, chắt, chút, chít, thế hệ tiếp theo là những mầm non xanh tươi tốt, là đặc ân ơn trên trao cho cụ bà.


Ngày lìa đời, con cháu đông đủ bên cụ, đó là niềm an ủi, hạnh phúc mà cuối đời ai cũng mơ ước hưởng được. Cụ đã hưởng được và còn có thêm sự ra đi bình an, êm ái.


Cầu xin Phật Tổ cùng Chư Tăng gia hộ cho phật tử Quảng Diệu Đặng sớm vào cõi Niết Bàn.


tp

Một năm sau nổi dậy, dân Ai Cập vẫn phản kháng

 


CAIRO (Reuters)Hàng ngàn người dân Ai Cập tụ tập ở Quảng Trường Tahrir hôm Thứ Tư để đánh dấu một năm ngày xảy ra cuộc nổi dậy lật đổ chế độ độc tài Hosni Mubarak nhưng cùng lúc cũng có những kêu gọi tiếp tục cuộc tranh đấu chống lại chế độ quân sự hiện nay.









Dân Ai Cập tập trung tại Quảng Trường Tahrir hôm 25 Tháng Giêng để kỷ niệm một năm cuộc nổi dậy lật đổ chế độ Mubarak. (Hình: AP Photo/Amr Nabil)


Một năm trôi qua kể từ khi người dân Ai Cập được cuộc nổi dậy ở Tunisia khuyến khích đã xuống đường phản kháng và đưa đến sự sụp đổ của chế độ độc tài lâu năm, tuy nhiên, ngày kỷ niệm 25 Tháng Giêng cũng cho thấy các chia rẽ trong quốc gia đông dân nhất thế giới Ả Rập trong tiến trình chuyển đổi dân chủ.


Lo ngại rằng thành phần tướng lãnh trong chính quyền lâm thời đang tìm cách ngăn chặn cải cách để bảo vệ quyền lợi của họ, giới tranh đấu từng lãnh đạo cuộc “Cách Mạng 25 Tháng Giêng” kêu gọi dân chúng kéo về Quảng Trường Tahrir để đòi hỏi Hội Ðồng Quân Nhân lãnh đạo đất nước phải ngay lập tức trao quyền lại cho một chính phủ dân sự.


Tuy nhiên, các đảng phái Hồi Giáo, với sự tổ chức chặt chẽ, đã tạo chiến thắng trong các cuộc bầu cử vừa qua, không muốn có thêm tình trạng bất ổn.


Dân chúng ở thủ đô Cairo vội đi mua nhu yếu phẩm để phòng hờ có biến loạn trong thời gian kỷ niệm cuộc cách mạng với các cuộc biểu tình kéo dài suốt 18 ngày hồi năm ngoái trước khi ông Mubarak bị buộc phải từ chức ngày 11 Tháng Hai.


Washington, đồng minh thân cận của Ai Cập dưới thời Mubarak, cũng bày tỏ sự hoan nghênh các thành quả chuyển đổi dân chủ xảy ra tuần này, kể cả việc nhóm họp của tân Quốc Hội Ai Cập. (V.Giang)

Dân Tây Tạng tiếp tục biểu tình, thêm 2 người bị bắn chết

 


BẮC KINH (AFP)Hôm Thứ Tư có tin công an Trung Quốc bắn chết thêm người biểu tình ở khu vực sinh sống của người thiểu số Tây Tạng trong khi tình trạng bất ổn tiếp tục lan rộng, theo nguồn tin từ giới truyền thông nhà nước cũng như một tổ chức tranh đấu.








Một nhà sư Tây Tạng la lớn trong khi những người khác mang hình dân Tây Tạng
mà theo họ là bị lính Trung Quốc bắn chết. (Hình: AP Photo/Angus McDonald)


Tỉnh Tứ Xuyên ở Trung Quốc, nơi có đông đảo người Tây Tạng sinh sống, đang có nhiều bất ổn tuần này, phần lớn do sự phản đối chính sách đàn áp khắc nghiệt của chính quyền cộng sản Bắc Kinh. Nhà nước phải ứng bằng cách hoàn toàn cô lập cả vùng này.


Chính phủ Mỹ hôm Thứ Ba cho hay rất quan tâm về tình hình hiện nay, kêu gọi lực lượng an ninh Trung Quốc hãy có sự tự chế và yêu cầu giới hữu trách để cho các nhà báo và giới chức ngoại giao đến khu vực này.


Hôm Thứ Tư có các chỉ dấu cho thấy nhà cầm quyền Trung Quốc đang có biện pháp ngăn cấm việc di chuyển cũng như thông tin liên lạc trong vùng, giữa khi có các báo cáo nói rằng tình trạng bất ổn nay đang lan rộng.


Các số điện thoại trước đó vẫn hoạt động nay bỗng không còn sử dụng được nữa và một cư dân địa phương cho báo chí hay thành phố nơi ông ở đã bị cô lập.


Tình trạng này đã khiến ông Lobsang Sangay, người đứng đầu chính phủ lưu vong Tây Tạng, phải lên tiếng kêu gọi cộng đồng quốc tế “đừng tiếp tục có thái độ thụ động” mà hãy can thiệp để “chấm dứt tình trạng đổ máu.”


Nguồn tin mới nhất cho hay công an đã nổ súng vào một cuộc biểu tình ở quận Seda hôm Thứ Ba, làm thiệt mạng hai người và làm bị thương hàng chục người khác, theo chính phủ lưu vong Tây Tạng và tổ chức Free Tibet.


Tân Hoa Xã, cơ quan thông tấn nhà nước Trung Quốc, cho hay công an chỉ bắn chết một người khi bị tấn công bằng dao, bom xăng và súng.


Tổ chức Free Tibet, qua lời giám đốc Stephanie Brigden, bác bỏ tường thuật của phía chính quyền Trung Quốc, nói rằng người biểu tình không có hành vi bạo động hay dùng võ khí. (V.Giang)

WESTVIEW SERVICES/MPO

 

ŨCV Phạm Kim Long tự tài trợ $100,000 vào quỹ tranh cử

 


NEWPORT BEACH (NV)Ứng cử viên Phạm Kim Long tự cho quỹ tranh cử của ông vay $100,000 để tranh chức dân biểu tiểu bang California đại diện Ðịa Hạt 72, thông cáo báo chí do ông đưa ra cho biết.








Tiến Sĩ Phạm Kim Long, ứng cử viên Ðịa Hạt 72. (Hình: Ðỗ Dzũng/Người Việt)


Tiến Sĩ Phạm Kim Long (Cộng Hòa) hiện là ủy viên Hội Ðồng Giáo Dục Orange County, tuyên bố ứng cử hồi cuối Tháng Mười Hai năm ngoái, và số tiền này được công bố trong bản báo cáo hôm 31 Tháng Mười Hai, 2011.


Ông Long từng ra ứng cử nhiều chức vụ địa phương, tiểu bang và liên bang trước đây. Năm 2008, ông đắc cử chức vụ hiện thời với nhiệm kỳ bốn năm.


Ông hiện là kỹ sư nguyên tử của công ty điện lực Southern California Edison. Trước đó, ông Long làm việc cho Bechtel và Rockwell International.


Ngoài Tiến Sĩ Long, còn có hai người gốc Việt khác tuyên bố ứng cử đại diện địa hạt này. Ðó là Nghị Viên Westminster Tyler Diệp (Cộng Hòa) và ông Joe Ðỗ Vinh (Dân Chủ).


Ðịa Hạt 72 là địa hạt mới, do một ủy ban độc lập tiểu bang California vẽ lại ranh giới các địa hạt bầu cử, bao gồm một phần hoặc toàn bộ các thành phố Seal Beach, Huntington Beach, Westminster và Garden Grove. (Ð.D.)

TT Obama kêu gọi ‘cứu lấy Giấc Mơ Mỹ’ trong bài diễn văn liên bang

 


WASHINGTON (McClatchy)Tổng Thống Barack Obama trong bài diễn văn thường niên về hiện tình liên bang Mỹ tối ngày Thứ Ba đã tìm cách đưa cuộc tranh luận hiện nay về khả năng lãnh đạo quốc gia của ông thành đề tài làm thế nào để cứu “Giấc Mơ Mỹ.”









Tổng Thống Barack Obama đọc diễn văn liên bang trước lưỡng viện Quốc Hội.
(Hình: Mark Wilson/Getty Images)


Tổng Thống Obama nói về thành tích cải thiện được tình hình kinh tế, tuy vẫn còn chậm chạp, để ra khỏi cuộc suy thoái. “Tình hình của liên bang chúng ta hiện đang khá hơn,” ông nói.


Tuy nhiên, ông cảnh cáo rằng giới trung lưu đã bị tụt dốc từ mấy thập niên qua, và kêu gọi phải có một chương trình cải tổ thuế khóa cũng như chi tiêu của chính phủ để tạo điều kiện thuận lợi cho họ cũng như giảm bớt những đặc lợi dành cho thành phần giàu có nhất để chia sẻ bớt cho đa số dân chúng.


Ông nói rằng đã có lúc người dân Mỹ tin rằng “hứa hẹn của nước Mỹ là nếu làm việc chăm chỉ, quý vị có thể đủ khả năng tài chánh để gây dựng gia đình, làm chủ căn nhà, cho con vào đại học, và dành chút tiền để nghỉ hưu. Vấn đề chính của chúng ta hiện nay là làm thế nào để giữ được lời hứa đó.”


“Không thử thách nào gấp rút hơn. Không cuộc tranh luận nào quan trọng hơn,” ông nói. “Chúng ta hoặc sẽ trở thành một quốc gia có một nhóm nhỏ người rất giàu sang, trong khi ngày càng có nhiều người khác chật vật để có thể sống còn. Hoặc chúng ta có thể có được một nền kinh tế để mọi người đều có cơ hội bình đẳng và theo cùng một luật chơi.”


Trong số những điều ông Obama đề nghị có việc đưa ra mức thuế tối thiểu là 30% cho những người có lợi tức hơn $1 triệu mỗi năm; thuế đánh vào các công ty đưa công việc ra ngoại quốc và giảm thuế cho những công ty giữ việc làm trong nước.


“Chúng ta tạo điều kiện dễ dàng cho doanh nghiệp Mỹ bán sản phẩm khắp thế giới. Cách đây hai năm, tôi đưa ra mục tiêu gia tăng gấp đôi xuất cảng trong vòng năm năm. Khi tôi ký hiệp ước thương mại được lưỡng đảng chấp thuận, chúng ta đã đi đúng đường, và chúng ta đang tiếp tục đi,” ông Obama nói.


Ông cho rằng sẽ có hàng triệu khách hàng ở Panama, Colombia, và Nam Hàn mua sản phẩm của Mỹ, và sẽ có những chiếc xe hơi do Mỹ chế tạo tại Detroit, Toledo và Chicago chạy trên đường phố Seoul.


“Tôi sẽ đi mọi nơi trên thế giới để mở ra những thị trường mới cho sản phẩm của Mỹ. Tôi sẽ không chấp nhận những quốc gia làm ăn với Mỹ một cách không công bằng,” ông Obama nói.


Tổng Thống Obama cũng cho rằng Trung Quốc không công bằng trong khi làm ăn với Mỹ và “nước Mỹ sẽ không ngồi yên nhìn sự việc xảy ra” và ông sẽ có hành động.


Ông nhắc tới Trung Quốc tổng cộng năm lần trong bài diễn văn.


Về giáo dục, Tổng Thống Obama nhắc đến những ví dụ hợp tác giữa các công ty, ví dụ như Siemens, với các đại học cộng đồng ở Charlotte, Orlando, và Louisville.


“Chúng ta cần giúp các đại học cộng đồng nhiều hơn nữa để những nơi này trở thành trung tâm dạy nghề, nơi dạy những kỹ năng mà doanh nghiệp địa phương đang rất cần,” ông Obama nói. “Những cải tổ này sẽ giúp người dân có việc làm trong thị trường. Ðồng thời, nó cũng giúp cho những việc làm tương lai, và chúng ta phải bắt đầu việc này sớm hơn.”


Về di dân bất hợp pháp, ông Obama cho rằng Hoa Kỳ phải giải quyết vấn đề này.


“Ðó là lý do tại sao chúng ta phải điều thêm nhân viên công lực ra biên giới nhiều hơn bao giờ hết. Ðó là lý do tại sao có ít người vượt biên vào Mỹ hơn từ khi tôi đắc cử,” ông Obama nói thêm.


Tổng Thống Obama cũng nhắc đến vụ hạ sát Osama bin Laden và Moamer Kadhafi như là thành tích về bang giao quốc tế trong năm bầu cử, nhằm nhắc nhở các đối thủ Cộng Hòa rằng ông là một nhà lãnh đạo “cứng rắn.”


“Lần đầu tiên, không còn người Mỹ nào chiến đấu tại Iraq. Lần đầu tiên trong hai thập niên, Osama bin Laden không còn là đe dọa đối với quốc gia này,” tổng thống nói. “Hầu hết lãnh đạo cao cấp của al-Qaida bị hạ sát. Sức mạnh của Taliban yếu đi nhiều, một số lính Mỹ tại Afghanistan bắt đầu trở về.”


Ông Obama cũng nói một giải pháp êm thấm và hòa bình vẫn có thể đạt được với Iran liên quan đến vấn đề vũ khí nguyên tử.


“Chế độ này bị cô lập hơn bao giờ hết. Lãnh đạo của họ đang bị bao vây và trừng phạt, chừng nào mà họ không chịu từ bỏ chương trình nguyên tử. Sức ép vẫn đang tiếp tục,” ông Obama nói. “Chắc chắn, nước Mỹ sẽ không chùn bước trong việc ngăn chặn Iran làm vũ khí nguyên tử, và tôi sẽ không loại trừ bất kỳ khả năng nào.”


“Nhưng một giải pháp ôn hòa là có thể được, rất có thể,” vị tổng thống nói. “Và nếu Iran thay đổi, họ có thể tham gia cộng đồng quốc tế trở lại.”


Ông Obama cũng cho biết ông dứt khoát không tương nhượng trong việc bảo vệ môi trường,và cảnh báo rằng Hoa Kỳ đang tụt hậu so với Trung Quốc và Ðức.


“Quốc gia này cần một chiến lược toàn diện để phát triển năng lượng, một chiến lược rẻ hơn, sạch hơn và tạo ra nhiều việc làm,” ông Obama nói. (V.Giang, Ð.D.)

Dân chủ Ðài Loan’ là quà quý nhất cho Trung Quốc


ÐÀI BẮC (AFP)
Tổng thống Ðài Loan, ông Mã Anh Cửu (Ma Ying-jeou), cho hay cuộc bầu cử tổng thống ở quốc gia này mới đây là “quà tặng quý nhất” cho Trung Quốc, nói rằng điều này có thể giúp con đường đưa đến dân chủ ở lục địa.







Tổng Thống Mã Anh Cửu bày tỏ sự chiến thắng sau cuộc bầu cử. (Hình: Patrick Lin/AFP/Getty Images)


Ông Mã Anh Cửu nói rằng hàng trăm triệu người ở lục địa Trung Quốc hồi tháng qua đã lần đầu tiên được xem cuộc tranh luận giữa các ứng viên tổng thống Ðài Loan truyền hình trực tiếp và loan tải qua Internet.


Cuộc bầu cử này có thể góp phần hỗ trợ cho những người tranh đấu cho dân chủ ở Trung Quốc, theo một bản thông cáo do Văn Phòng Tổng Thống Ðài Loan đưa ra.


“Cuộc bầu cử ôn hòa, chỉ dấu nền dân chủ đang bắt rễ và kết trái trên lãnh thổ của một cộng đồng Trung Hoa, sẽ khiến họ thấy rằng điều này cũng có thể xảy ra ở lục địa,” theo bản thông cáo.


“Tôi nghĩ rằng đây là món quà tặng lớn nhất của chúng ta cho lục địa.”


Ông nói thêm rằng cuộc bầu cử hôm 14 Tháng Giêng sẽ cho lục địa thấy rằng việc “đếm đầu người (phiếu) là cách tốt nhất để giải quyết các khác biệt giữa hai bên.”


Ông Mã Anh Cửu, thuộc Quốc Dân Ðảng với lập trường thân Trung Quốc, tái đắc cử sau bốn năm theo đuổi chính sách tạo mối liên hệ chặt chẽ với Bắc Kinh. (V.Giang)


 

Biệt kích Mỹ giải cứu hai con tin tại Somalia

 


MOGADISHU, Somalia (NV)Một toán biệt kích Mỹ đột kích vào Somalia lúc rạng sáng ngày Thứ Tư, hạ sát chín tay súng thuộc nhóm bắt cóc và cứu hai con tin gồm một người Mỹ và một người Ðan Mạch trong cuộc hành quân mà Tổng Thống Barack Obama nói rằng được chính ông chấp thuận.









Ông Poul Hagen Thisted (trái) và bà Jessica Buchanan vừa được biệt kích Mỹ
cứu khỏi Somalia. (Hình: AP Photo/Danish Refugee Council)


Tổ chức Ðan Mạch trợ giúp dân tị nạn, có tên Danish Refugee Council, xác nhận hai nhân viên thiện nguyện, một công dân Mỹ tên Jessica Buchanan và một công dân Ðan Mạch tên Poul Hagen Thisted, đã được giải cứu và “đang trên đường về nhà để đoàn tụ với gia đình.”


Hiện chưa có các chi tiết rõ ràng về cuộc giải cứu này. Tuy nhiên, một số giới chức chính phủ Mỹ cho hay đơn vị thực hiện cuộc tấn công cũng là đơn vị hải kích từng hạ sát Osama bin Laden trước đây và họ đã nhảy dù xuống biển rồi tiến lên hòn đảo nơi hai con tin bị giam giữ.


Cuộc tấn công diễn ra rất nhanh chóng, vào lúc khoảng 2 giờ sáng, tại địa điểm cách thị trấn Adado ở Somalia chừng 20 km về phía Bắc.


Hai con tin Buchanan, 32 tuổi, và Thisted, 60 tuổi, bị bắt cóc hồi Tháng Mười năm ngoái khi đang làm việc với một toán tháo gỡ bom mìn của tổ chức Danish Refugee Council.


Bộ Chỉ Huy Phi Châu của quân đội Mỹ, đặt căn cứ ở Stuttgard, Ðức, xác nhận có chín người trong số thành phần bắt cóc bị hạ sát.


Tổng Thống Obama có vẻ như nói đến kết quả cuộc hành quân trước khi đọc bài diễn văn về hiện tình đất nước vào tối Thứ Ba ở Washington, khi đó đã là sáng ngày Thứ Tư ở Somalia. Lúc bước vào phòng họp khoáng đại Hạ Viện Mỹ, ông Obama chỉ tay về phía Bộ Trưởng Quốc Phòng Leon Panetta để bày tỏ sự khen ngợi về “công việc tốt đẹp tối nay.”


Trong bản thông cáo do Tòa Bạch Ốc phổ biến tới báo chí hôm Thứ Tư, ông Obama cho hay “là tổng tư lệnh quân đội, tôi vô cùng hãnh diện về các quân nhân thi hành nhiệm vụ này, cũng như đối với những người khác làm công tác hỗ trợ họ.” Ông cho hay đã có quyết định chấp thuận cuộc hành quân giải cứu hôm Thứ Hai.


Một giới chức quân sự cho biết hai trực thăng chở con tin được giải cứu và toán biệt kích đã bay về lại căn cứ Camp Lemonnier của Mỹ ở Djibouti trong khu vực Sừng Phi Châu. (V.Giang)


 

Trung học Pacifica mở hội thảo giúp phụ huynh hướng dẫn con em

 


GARDEN GROVE (NV)Trường Trung Học Pacifica sẽ tổ chức buổi hội thảo miễn phí dành cho phụ huynh với đề tài “Hướng Dẫn Con Em Thanh Thiếu Niên Biết Lựa Chọn Những Ðiều Ðúng Ðắn Cho Cuộc Sống Của Mình” từ 6 giờ 30 chiều đến 8 giờ tối Thứ Ba, 31 Tháng Giêng, tại cafeteria của trường, 6851 Lampson Ave., Garden Grove, CA 92845, điện thoại 714-663-6515, thông cáo của Học Khu Garden Grove cho biết.









Phụ huynh gốc Việt tham dự một buổi hội thảo do Học Khu Garden Grove tổ chức. (Hình: Ðỗ Dzũng/Người Việt)


Với những khó khăn nuôi dạy trẻ thanh thiếu niên ngày nay, phụ huynh cần biết những phương cách thực tiễn để giúp con em biết lựa chọn một cách khôn ngoan, lành mạnh và đúng đắn để có được một tương lai thành công, đó là chủ đề của buổi hướng dẫn.


Nhằm hỗ trợ quý phụ huynh với những nỗ lực này, trường trung học Pacifica thuộc Học Khu Garden Grove muốn mời quý phụ huynh có con em theo học tại các trường công trong học khu (kể cả trường Barker, Enders, Garden Park và trường tiểu học Patton, trường trung học Bell) đến tham dự buổi hội thảo do Nhóm Cộng Sự Viên Giáo Dục West Garden Grove thuyết trình với chủ đề “Hướng Dẫn Con Em Lựa Chọn Những Ðiều Ðúng Ðắn: Phương Pháp Giúp Con Em Thành Công.”


Buổi hội thảo này hoàn toàn miễn phí.


Phụ huynh sẽ tìm hiểu về khuynh hướng sử dụng các chất gây nghiện của giới trẻ hiện nay, nơi mua, và phương cách giúp con em mình tránh xa ma túy. Buổi hội thảo cũng sẽ trình bày về các phương cách ngăn chặn con em vào con đường ma túy.


Trưởng nhóm thuyết trình gồm có chuyên viên giáo dục sức khỏe, cô Stephan Lambert và Trung Sĩ Ed Leiva của Sở Cảnh Sát Garden Grove. Các cơ quan phòng ngừa và chữa trị của quận hạt, các đoàn thể trong cộng đồng cũng sẽ đến tham dự, cung cấp tài liệu hướng dẫn và trả lời các thắc mắc của quý vị.


Buổi hội thảo sẽ được thuyết trình bằng tiếng Anh với phần thông dịch qua tiếng Việt, Tây Ban Nha và Triều Tiên.


Trường học sẽ giữ trẻ em từ 2-12 tuổi miễn phí cho quý vị phụ huynh tham dự.


Ðể biết thêm chi tiết, vui lòng gọi trường trung học Pacifica tại số (714) 663-6515. (Ð.D.)

JP BAKERY

 


Bánh mới mỗi ngày – Ngon – Tốt cho sức khỏe – Phục vụ khách hết lòng
Ðặc biệt: Bớt 15% OFF từ nay đến 29 Tháng Hai, 2012


 


Bài và Hình: Việt Linh


Trong cuộc sống, chúng ta thường nghe nói “ăn chơi ngon hơn ăn thiệt,” hay có chút “bánh trái” xin mời bạn hữu. Thật vậy, bánh đóng vai trò quan trọng bất cứ ở không gian nào, nhưng bánh ngon và hợp khẩu vị người Việt mới là khó kiếm. JP Bakery là câu trả lời cho khách hàng muốn tìm một tiệm bánh đặc biệt hợp với “gu” của người Việt.









Mặt tiền của JP Bakery trong chợ Thuận Phát Garden Grove.


Chủ nhân, ông Charles Weng, tâm sự: “Ðây là một family business, cơ sở của gia đình. Chúng tôi có hai địa điểm. JP là tên tắt của Jennifer, tên cô con gái và Pan, tên vợ của ông. JP Bakery tọa lạc tại 13861 Brookhurst, #9 tại trung tâm Little Saigon, trong chợ Thuận Phát, bên hông của chợ Target, góc đường Westminster và Brookhurst, thuộc thành phố Garden Grove. Bãi đậu xe rộng rãi. Nhân viên nói tiếng Việt.”









Ðủ loại bánh sinh nhật, bánh cưới,… cà phê nóng.


Ông Charles nói: “Châm ngôn của chúng tôi là ‘bánh mới’, ‘ngon’, ‘tốt cho sức khỏe’ và ‘Phục vụ khách hết lòng.’” 


Bánh mới mỗi ngày 


Tại JP Bakery, ông Charles nói, “Các loại bánh tại đây luôn luôn mới ra lò. Làm ngày nào, bán trong ngày nấy. Không bán lại bánh cũ.” Vì thế, bánh các loại luôn giữ được phẩm chất mà chủ nhân muốn.









Các loại bánh ngon, bổ và giá phải chăng.


Do kinh nghiệm trong nghề nhiều năm tại Ðài Loan. Ông khuyên khách hàng không nên mua quá nhiều để trữ vì tiệm luôn có bánh mới. Nếu giữ quá 48 tiếng, nên bỏ vào tủ lạnh.









Các em bé rất thích.


Ngon – Tốt cho sức khỏe


Bánh tại JP Bakery đặc biệt có hương vị ngon vì dùng ít đường, không thêm chất phụ liệu (additives hay preservative). Vì sức khỏe của khách hàng, theo ông Charles Weng, bánh các loại được sản xuất với tiêu chuẩn cao. Không hề bỏ mối bán lẻ cho các chợ vì muốn bánh luôn mới để bảo vệ sự uy tín.








Các loại bánh khi uống trà như bánh dứa, bánh lòng trứng, bánh trà xanh, khoai môn,…


Tiệm chỉ dùng trái cây thật và mua từ các nhà cung cấp địa phương để giữ “fresh” vì không phải đợi hàng chuyên chở đến từ xa. Chất tươi bảo đảm dinh dưỡng cho sức khỏe của khách hàng.


Khách thích bánh mì hành chà bông, hay bánh Ðan Mạch nho khô, chỉ có $1.35. Bánh mì dứa kiểu Pháp $1.45, bánh mì tỏi thanh dài $1.50. Bánh trà xanh hạnh nhân, bánh hạnh nhân miếng chỉ có $4.25, ngon tuyệt.









Ðặc sản Ðài Loan: Bánh dứa sang trọng.


Khách thích trứng không thể không thử bánh lòng trứng táo đỏ, bánh lòng trứng hạt sen, chỉ có $2.25. Bánh khoai môn của JP Bakery cũng được khách hàng ưa thích chiếu cố, chỉ có $1.65. Vị khoai môn và bánh dừa đặc biệt vô cùng. Bánh ngọt Chocolate Sweetheart dành cho những ai mê vị sô cô la, chỉ có $1.20… 


Phục vụ hết lòng









Ðông khách ưa chuộng ghé mua.


JP Bakery cũng có quầy phục vụ bánh nóng và cà phê nóng. Thử tưởng tượng khách bắt đầu một ngày bằng một ly cà phê nóng và bánh dứa đặc biệt của JP Bakery gói bằng lớp giấy màu vàng sang trọng. Ôi tuyệt vời!









Các loại bánh sinh nhật, đám cưới,…


JP Bakery còn chuyên làm bánh cho các dịp đặc biệt như sinh nhật, đám cưới, anniversary. Giá cả phải chăng và phẩm chất thì bảo đảm là ngon.


JP Bakery mong mỏi quý khách Việt Nam chiếu cố và ước mong được phục vụ quý vị mỗi ngày, Thứ Hai-Thứ Bảy, mở cửa từ 8:30AM-8PM. Chủ Nhật từ 8:30AM-7:30PM. Ðiện thoại: (714) 530-2288.









Nhân viên phục vụ hết lòng.


 





JP BAKERY
JP Sweet Temptation, Inc 


Ðịa điểm #1:
13861 Brookhurst Street, #9
Garden Grove, CA 92843
ÐT: (714) 530-2288
 


Ðịa điểm #2:
11446 South Street
Cerritos, CA 90703
ÐT: (562) 865-8383




Một giờ nói chuyện với dịch giả Liêu Quốc Nhĩ (Kỳ 2)

Tiếp theo kỳ trước


LNÐ: Trong khoảng thời gian 5 năm cuối cùng của 20 năm sinh hoạt văn học miền Nam, sách dịch các loại là hiện tượng nổi bật, mạnh mẽ nhất. Nó lấn lướt tất cả mọi loại sáng tác ở miền Nam. Tới mức độ, nhiều nhà xuất bản danh tiếng, vốn chỉ chú trọng tới những sáng tác mang tính văn học, nghệ thuật cao, cũng quay sang khai thác thị trường sách dịch.









Nhà văn Quỳnh Dao.
(Hình tác giả cung cấp)


Một bất ngờ, nằm ngoài mọi dự tính, tiên liệu của các nhà xuất bản là sự nổi lên cuồn cuộn như sóng trào của cái gọi là “Hiện tượng truyện Quỳnh Dao.” Vì thế, tạp chí Văn ở Saigon thời đó, đã có một bài phỏng vấn người vô tình tạo nên “cơn bão” truyện Quỳnh Dao, dịch giả Liêu Quốc Nhĩ.


Nhờ công sưu tầm của nhà thơ Thành Tôn, hiện cư ngụ tại miền Nam California, chúng tôi trân trọng kính mời bạn đọc theo dõi cuộc phỏng vấn kể trên, thực hiện bởi nhà thơ Du Tử Lê, theo yêu cầu của tạp chí Văn, cách đây cũng đã trên, dưới bốn mươi năm. 


DTL: Xin ông kể cuốn truyện dịch đầu tiên mà ông tự xuất bản?


LQN: Ðó là cuốn “Hải Âu Phi Xứ.”


DTL: Muốn hay không thì việc đọc Quỳnh Dao cũng đã từng thành hiện tượng ở đây. Với tổng số sách in ra không dưới con số mấy trăm ngàn bản, và như ông đã nhận định truyện của Quỳnh Dao không có giá trị văn chương… Nên câu hỏi của tôi là, có bao giờ ông nghĩ, ông có trách nhiệm tinh thần ít hay nhiều, trong việc tạo thành hiện tượng đó? Tôi muốn nói rõ hơn, ông có thể hiểu chữ “trách nhiệm” theo nghĩa nào cũng được?


LQN: Thưa ông, thiệt tình tôi chưa hề đặt thành vấn đề “trách nhiệm” trước hiện tượng sách Quỳnh Dao… Tôi chỉ biết dịch. Và sau này tôi bị quay chạy theo món hàng mà người ta muốn. Tuy nhiên, tôi có cảm thấy thích thú trong công việc đó. Câu hỏi của ông bất ngờ quá với tôi…


DTL: Vâng, hiện ông có đang dịch dở một cuốn nào khác?


LQN: Có thưa ông. Ðó là cuốn “Băng Ðiểm,” của nhà văn Nhật, Ayako Miura. Tôi sẽ tự in lấy cuốn này.


DTL: Công việc dịch thuật ở đây, mấy lúc sau này, thường bị những “đòn” cạnh tranh không đẹp! Cá nhân ông có bị?


LQN: Có chứ ông! Tôi bị rất nhiều cuốn. Tuy nhiên, tôi có độc giả riêng của tôi. Cho nên tôi không sợ lắm, dù cho họ có ra trước hay sau cuốn đó. Tôi nghĩ hành động phi văn nghệ này, chỉ có loại nhà xuất bản con buôn mới làm mà thôi. Như tôi mới bị hai cuốn “đụng” là cuốn “Trôi Theo Giòng Ðời” của Quỳnh Dao và “Những Tháng Ngày Có Em” của Từ Tốc. Tôi đã quảng cáo trước ở trong sách in ra trước đấy của mình. Nhưng họ cứ làm…


DTL: Thay mặt độc giả Văn, chúng tôi xin gửi lời cám ơn ông. Một câu sau cùng: Ông có thấy còn điều gì cần phải nói thêm chăng?


LQN: Thưa không. Tôi nghĩ, thế cũng đủ rồi. 


Bên ngoài cuộc phỏng vấn, Liêu Quốc Nhĩ nói thêm về mình 


“Nghề dịch sách đến với tôi một cách khá bất ngờ. Năm 1965, khi vừa xong tú tài II, tôi đã hăm hở bước chân vào Khoa Học với một ý tưởng thật lớn. Làm một khoa học gia lừng danh. Lúc bấy giờ tôi đã chê Văn và Luật. Vì với tôi đấy là chỗ dành cho con gái (xin lỗi quí vị ở Văn và Luật Khoa nhé). Thời gian miệt mài ở Khoa Học thật là suôn sẻ. Môn tôi chọn ở năm thứ II là Hóa Học. Những phản ứng Walden, Soerensen, Rosenmund… vây chặt lấy tôi không một phút rảnh rỗi. Do đó chẳng có chuyện vẩn vơ văn nghệ gì cả. Ðầu năm 1968, tình cờ ban đại diện trường có ý nhờ tôi viết một truyện ngắn. Bấy giờ là lúc sắp Tết. Tháng của cái lạnh phớt nhẹ, đủ để khơi dậy những cái mà Xuân Diệu bảo là ‘Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn.’ Cũng là lúc mới tựu trường, chưa phải chạy đua nước rút với phản ứng hóa học, tôi đã tập tành làm văn chương, viết một truyện ngắn và dịch một truyện ngắn khác cho tờ báo Xuân Khoa Học. Chuyện làm của tôi chỉ có tính cách vui chơi văn nghệ, chứ chẳng có một chủ đích nào. (Thú thật với quý vị độc giả là trước đó ít lâu, khi còn ở trung học tôi cũng có thời viết lách lai rai nhưng chẳng có báo nào chịu đăng cả! Và mộng văn sĩ của tôi cũng tàn lụi từ đó). Chuyện chơi chơi không ngờ lại lọt vào mắt xanh của một nhà xuất bản tài tử, đó là nhà xuất bản Hàn Thuyên do anh Lạc Hà, người chủ trương tờ Võ Thuật phụ trách, Tờ Võ Thuật lúc bấy giờ bán hơi yếu, nên anh muốn chuyển nghề bằng cách lập thêm một nhà xuất bản chuyên về văn chương dịch thuật. Quỳnh Dao là tác giả nữ đầu tiên được anh chú ý đến, và anh đã nhờ tôi dịch cho một truyện của Quỳnh Dao. Tôi chọn ‘Song Ngoại.’ Tôi cần cù làm việc trên hai tháng. (Sự thật mà nói, lúc bấy giờ vì biến cố Mậu Thân, đời sống tôi khá vất vả. Nên tôi phải vừa đi học vừa đi làm. Quốc lộ số 4 cứ bị cắt tới cắt lui, làm nguồn tiếp tế từ gia đình ở Cần Thơ lên cứ gián đoạn). Sách dịch xong trao cho nhà xuất bản cứ bị bỏ xó một chỗ! Vì họ chưa có tiền in. Và do đấy, dĩ nhiên tiền bản quyền của tôi cũng chưa có. Tôi chán nản nghĩ rằng có lẽ quyển truyện dịch rồi đã bị xếp bỏ trong đống giấy lộn! Tôi trở lại việc học, và tiếp tục kèm trẻ. Ðến lúc gần như tôi đã quên thì quyển sách được tung ra. Ðó là năm bảy mươi. Cầm quyển sách đầu tiên mà mình đã có công dịch ra trên tay, tôi hạnh phúc muốn khóc!”


“Nhưng có lẽ vì bất phùng thời, dù Quỳnh Dao bấy giờ đã là một tên khá quen thuộc với độc giả trẻ, nhất là những người đọc báo ‘Văn.’ Vì ‘Văn’ đã giới thiệu một lần trong tuyển tập Quỳnh Dao (trước tuyển tập về Quách Lương Huệ). Sách in ra chỉ có ba ngàn cuốn. Kỹ thuật khá mà bán không chạy. Anh Lạc Hà phải xách xe hai bánh chạy tới chạy lui mấy quán sách… Nhưng họ vẫn không chịu mua. Rốt cuộc anh đành phải đem bán ‘sôn’ để gỡ vốn, và dĩ nhiên tôi chẳng có một đồng bản quyền nào. Chuyện dịch sách của tôi tưởng đã vào quá khứ. Tôi ra trường và bắt đầu công việc dạy học. Mỗi tuần dạy có hai ngày, quanh quẩn mãi trong phòng thí nghiệm và những giờ giảng bài tập, đôi lúc tôi cũng thấy chán. Tôi định kiếm thêm vài giờ ở các trung học tư thì tình cờ quen với anh Ðỗ Quí Toàn. Lúc bấy giờ anh Toàn đang thay chân cho anh Uyên Thao trong chức Thư Ký Tòa Soạn tuần báo ‘Ðời’. Anh bảo tôi, thử dịch một truyện Tàu xem sao. Nếu được, anh ấy sẽ cho đăng trên báo Ðời. Tôi thấy công việc mình hiện có khá nhàn, nên nhận lời ngay, và về nhà hì hục dịch ‘Thố Ty Hoa’ tức ‘Cánh Hoa Chùm Gửi.’ Ông Chu Tử thấy hay nên cho đăng ngay trên Ðời lúc đó. Ðồng thời, tôi cũng bắt đầu bước chân vào làng báo với những bài ký sự, phóng sự ngắn… Việc làm chỉ có tính cách tài tử. Mỗi tháng tôi kiếm thêm được mươi ngàn dư dả.”


“Cuốn ‘Song Ngoại’ tuy tung bán ‘sole’ nhưng lại được nhà Hiện Ðại để ý. Chủ nhân, anh Thành, thấy quyển sách hay mà sao lại bán ‘sole,’ nên thu mua tất cả những quyển còn lại, và cho người liên lạc với tôi ở tòa soạn Ðời nhờ dịch tiếp Quỳnh Dao. Người đến nhà tiếp xúc với tôi là Vũ Dzũng. Chủ nhà Khai Hóa lúc bấy giờ. Anh Vũ Dzũng khi đó mới tách khỏi nhóm Quảng Hóa (*), và cuốn đầu tiên tôi làm với nhà xuất bản mới này là ‘Tiển Tiển Phong’ tức là ‘Cơn Gió Thoảng.’ Lúc đầu theo tôi biết nhà xuất bản hình như chẳng có ý làm nguyên lô sách về Quỳnh Dao đâu. Nhưng có lẽ vì nhờ báo Ðời (phải thành nhìn thật nhận như vậy. Vì lúc đó chẳng có nhà xuất bản cũng như phát hành nào chịu bỏ tiền quảng cáo lăng xê Quỳnh Dao tí nào cả). Cũng có thể vì lúc bấy giờ mọi người đều mệt mỏi vì chiến tranh, thích một cái gì nhẹ nhàng dễ đọc, nên Quỳnh Dao đột ngột trở thành hiện tượng. Và tôi, tôi trở thành một bánh xe lăn theo nhu cầu độc giả. Nói như vậy không có nghĩa là tôi đã nhắm mắt dịch, mà tôi rất chọn lựa. Bằng chứng là mười ba cuốn sách thật của Quỳnh Dao tôi chỉ chọn có mười cuốn (những cuốn còn lại có cuốn là sách phóng tác nên tôi không dịch). Trong lúc dịch, có lẽ tôi bị ảnh hưởng giọng văn nhẹ nhàng của Quỳnh Dao… nên tôi đâm ra mê luôn sách của nhà văn đầy nữ tính này. Tôi dịch rất say mê. Tôi thích nhất là cuốn ‘Bên Bờ Hiu Quạnh.’ Nhưng cuốn này lại bán không chạy lắm. Có lẽ vì độc giả của Quỳnh Dao không thích lối văn tự truyện này! Nhờ sách bán chạy nên tôi cũng có chút tiếng tăm, và cũng vì thế chung quanh tôi mọc lên rất nhiều kẻ thù. Nói kẻ thù không đúng lắm, mà phải nói là những kẻ ganh ghét mình. Có một điều mà tôi rất buồn, đấy là có người đã hiểu lầm tôi, tưởng tôi là một cột trụ trong chiến dịch gây nên hiện tượng Quỳnh Dao để giết chết một số nhà xuất bản và anh em văn nghệ trẻ. Xin thưa thật, tôi chẳng bao giờ có tham vọng, tôi cũng không nghĩ đến nó, cho đến khi có người đưa ra nhận xét như vậy.”


“Chuyện Quỳnh Dao trở thành một hiện tượng theo tôi là một chuyện tự nhiên xảy ra theo chu kỳ nhu cầu của độc giả. Nhiều lúc đọc loại sách bắt trí óc làm việc nhiều quá như loại tư tưởng hay triết học cũng mệt mỏi. Do đó cũng cần có sách nhẹ nhàng để đọc. Hầu hết truyện của Quỳnh Dao là chuyện tình bối cảnh xã hội là bối cảnh của phương Ðông. Trong đó tư tưởng Ðông và Tây đang xung đột, rất gần gụi với cái không khí của xã hội ta. Ðọc một cuốn sách, người ta khó đứng ở vị trí khách quan của người đọc để xét đoán, nhất là loại tiểu thuyết, mà độc giả thường hòa mình vào đời sống của nhân vật. Họ vui với cái vui, cũng như buồn với cái buồn của nhân vật. Bối cảnh của sách Quỳnh Dao là bối cảnh phương Ðông thì làm sao chẳng được độc giả đón nhận nồng nhiệt.”


“Sách Quỳnh Dao được đón nhận nồng nhiệt đến độ trở thành hiện tượng, đó hoàn toàn là do độc giả và tác giả, người dịch là tôi, chỉ giữ vai trò chuyển ngữ thế thôi. Còn vấn đề những nhà xuất bản hay tác phẩm của nhà văn trong nước bị ảnh hưởng thì đó hoàn toàn là ngoài ý muốn của tôi. Mong quí vị có thiên ý như vậy cũng nên xét lại.”


Liêu Quốc Nhĩ


(Nguồn: Giai Phẩm Văn, Saigon, chủ đề “Hiện Tượng Sách Dịch,” số ra ngày 8 tháng 6 năm 1973. Hiệu đính tại Cali, tháng 1, 2012)


 


Chú thích:


(*) Nhà xuất bản Quảng Hóa thời đó, do nhà báo Ðỗ Việt Anh chủ trương. (DTL)

AAA Tax Services

 

Làm báo Tết con rồng đầu tiên trên xứ người

VIÊN LINH










Hình bìa màu giai phẩm Lửa Việt Xuân Bính Thìn, tháng 1 năm 1976, Nguyễn Ngọc Bích chủ trương, Viên Linh thực hiện, tờ báo Xuân đầu tiên của người Việt tị nạn cộng sản trên đất Mỹ. (Hình: Lê Văn Khoa)


Lúc 1 giờ 55 phút ngày 3 tháng 8, 1975, chuyến xe buýt Capitol Trailways rời bỏ Building số 3-109 trong căn cứ quân sự dùng làm trại tạm cư người tị nạn Việt Nam ở Indiantown Gap, thuộc Harrisburg, tiểu bang Pennsylvania, và đúng 3 giờ 20 phút sau, đổ gia đình chúng tôi xuống bến xe công cộng thủ đô Hoa Thịnh Ðốn. Những phút đầu tiên sau khi xe chuyển bánh, còn nhớ cặp mắt thất thần của Thanh Nam đứng dưới đất ngó theo. Ngay từ lúc rời Phú Quốc, anh đã dặn dò: nhớ đừng rời nhau nhé. Và hai gia đình chúng tôi đã không rời nhau từ tháng 4, 1975, cho tới lúc đó. Suốt trong ba tháng, ngày ngày từ lều riêng lên trụ sở phỏng vấn của các cơ quan thiện nguyện, tôi đã dặn anh: tụi mình nhất định chỉ rời trại để đi một trong hai nơi mà thôi: hoặc New York, hoặc Washington, D.C. Tôi đã từ chối sự bảo trợ của một giáo sư đại học ở ngay Harrisburg, đến nỗi cơ quan thiện nguyện khó chịu, vặn hỏi tại sao. Lý do viện dẫn thật dễ hiểu và được chấp thuận: chúng tôi là người viết văn làm báo chuyên nghiệp, chúng tôi chỉ xin đi hai nơi đó, vì chỉ hai nơi đó trên nước Mỹ là có hai thư viện lớn nhất có đầy đủ sách báo Việt Nam, chúng tôi phải làm việc quanh các thư viện đó, mới dễ sống, và mới có thể giữ được nghề cũ. Quả như thế, ai cũng biết: Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ ở thủ đô nước Mỹ, và Thư viện Ðại học Cornell ở New York là hai thư viện có nhiều sách báo nhất thế giới, và đặc biệt có nhiều ấn phẩm Việt ngữ nhất thế giới. Và gia đình tôi được bảo trợ sớm từ nhà thờ Mt Vernon Place Church trên đường số 9, Washington, D.C. Chỉ ba tháng sau, tôi vào làm việc trong một nhà in trên đường Lee Highway, và đem tờ Văn Nghệ Tiền Phong của anh Hồ Anh Nguyễn Thanh Hoàng vào in tại đây. Tới tháng 11, tôi đã điều khiển chiếc máy gấp báo dài thoòng, khoanh tay ngắm những tờ Văn Nghệ Tiền Phong số 1 tại hải ngoại chạy ra từ chiếc máy ấy. Tôi trở lại nghề báo kể như không gián đoạn. Tháng 12, 1975, bạn Nguyễn Ngọc Bích nhờ tôi thực hiện tờ báo Xuân Bính Thìn Lửa Việt cho tổ chức có tên là The National Center for Vietnamese Resettlement, Trung tâm Phối hợp Ðịnh cư Việt kiều. Cứ theo cuốn Mục lục Báo chí Việt Nam Ðầu tiên (1975-1985) của IRAC do anh Lê Xuân Khoa chủ trương, thì đây phải là tờ báo Xuân Việt Nam đầu tiên trên đất Mỹ, nếu không là trên thế giới. (1)


Tết Bính Thìn nhằm ngày 31 tháng 1, 1976. Bài này được viết vào ngày mùng 2 Tết Nhâm Thìn, vừa đúng 36 cái Tết tị nạn, và là cái Tết năm Rồng thứ 3, tròn ba con giáp. Trong tháng 1, 1976, có một số báo xuất bản, nhưng mức độ chuyên nghiệp (đặc biệt về báo Xuân) và bề dày như thế nào, chúng tôi không được rõ, có thể kể Văn Nghệ Tiền Phong (Arlington, Virginia), Ánh Ðạo Vàng (Washington, D.C.), Khuông Việt (Tokyo), Hồn Việt (Glendale, Calif.) Có thể có một số báo khác do sinh viên Việt Nam du học tại Âu Châu (Pháp, Bỉ, Ðức) thực hiện, song chắc cũng không qui tụ nhiều các văn nghệ sĩ chuyên nghiệp và tên tuổi như trên tờ Lửa Việt: Mặc Ðỗ, Phạm Duy, Nghiêm Xuân Hồng, Ngọc Dũng, Lê Văn Khoa, Võ Phiến, ký giả thể thao Huyền Vũ, nhà biên khảo sử địa Hà Mai Phương, diễn viên Lê Tuấn, cụ Trương Cam Khải, Kim Y, Vi Khuê, Trương Anh Thụy, Nguyễn Ðức Nam, Phạm Trần, Trần Phong Vũ, Ngô Vương Toại, nhạc sĩ Hùng Lân với bài Tuyết Rơi, các họa sĩ Long Ân, Thái Bá, và sau cùng là Nguyễn Ngọc Bích và Viên Linh.


Anh Nguyễn Ngọc Bích là người chủ trương, lúc ấy làm việc trong Trung tâm Phối hợp Ðịnh cư Việt kiều, và tờ báo ghi rõ do trung tâm này xuất bản. Thu góp bài vở do Nguyễn Ngọc Bích và Viên Linh. Viên Linh trình bày, kể cả đánh máy một số thơ văn và bỏ dấu Việt ngữ. Lúc ấy chưa có computer tiếng Việt, phải đánh máy vừa bằng máy chữ văn phòng, vừa bằng máy varityper (?)không có dấu, và cũng không thể dàn cột chữ. Thế mà tờ báo vẫn dàn 3 cột, 2 cột như thường, và cột chữ, phía tay phải, vẫn thẳng băng, dù dàn bằng mắt, ước tính bằng mắt, ước chừng cứ 9 chữ là một dòng cho trang chia 3 cột, hay 12 chữ một dòng cho trang chia 2 cột. Việc bỏ dấu kỳ khu đến nỗi ít người nhận ra là chữ bỏ dấu bằng tay: chúng tôi đã mua những ngòi bút nhỏ nét nhất, nhúng vào mực đen, chứ không đánh dấu bằng bút bi nguyên-tử. Tờ Lửa Việt còn hơn nhiều báo bây giờ ở chỗ bài viết có minh họa bởi họa sĩ chuyên nghiệp Ngọc Dũng (minh họa: đọc bài báo xem tác giả viết cái gì, tả cái gì, rồi theo đó vẽ ra), khác với lối trình bày bằng computer hiện nay (nếu có tranh vẽ, là tranh trình bày, không phải tranh minh họa). Mức truyền thống của một “Giai phẩm Xuân” của Lửa Việt khá cao: ông giám đốc Thông tin Quốc ngoại của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa ở Hoa Thịnh Ðốn Nguyễn Ngọc Bính vừa viết Lời Phi Lộ (Xuân Tha Hương), vừa viết “Năm Rồng kể chuyện Rồng,” vừa tính sổ cuối năm (Mấy bông hoa đầu văn hóa Việt Nam tại Mỹ,” và vừa làm Sớ Táo Quân, cẩn thận ký là “Táo Quân lưu vong.”


Giai phẩm Xuân chắc chắn là một nét đặc thù của văn học Việt Nam. Ðó là một tập báo phải đẹp, cần thể hiện tính truyền thống của tử vi lịch sách, cần có bài vở về con vật cầm tinh trong 12 tháng tới, nên ôn lại chuyện cũ trong năm, và đó là tờ báo ít thông tin mà nhiều sáng tác, biên khảo. Văn hóa của báo Xuân là cần nêu lên nét truyền thống còn và mất, và văn học cần kiểm điểm sự thành tựu trong năm qua. Nếu báo Xuân hàng năm không có cái cá tính của năm đó, thì nó là báo bốn mùa, hay thiếu bản sắc của sự thay đổi, của lễ lạc dân tộc. Với Lửa Việt, nếu chỉ dùng một hai dòng thôi, để nói về các tác giả trong số báo, và điều họ viết trong tờ báo, người viết bài này xin tóm tắt như sau về giai phẩm Xuân đầu tiên của người Việt tị nạn cộng sản tại hải ngoại, Lửa Việt Xuân Bính Thìn, tháng 1, 1976:


-Nghiêm Xuân Hồng: “Riêng tôi thầm nghĩ không thấy cao hứng gì về việc thay đổi quốc tịch. Có lẽ sống làm một người vô cố hương thì vui hơn.” (Xuân thực, xuân mộng, tr.7)


-Mặc Ðỗ: “Trong thời gian ở trại tạm trú (Fort Chaffee), thấy ngày dài là một nỗi khổ tâm lớn…” (Chiếc áo len màu rêu, tr.22)


-Viên Linh: “Tỉnh ra ta ở quê người / Hiên nay vắng bạn, lòng thời thiếu ai / Cửu Long ôi! Chín sông dài / Lao xao Ðất gọi, hoài hoài Nước kêu…” (Cố hương, tr.14)


-Võ Phiến: “Tuyết là cả một mối bận tâm của đám người lưu vong từ xứ nóng sang xứ lạnh.” (Mưa giăng tuyết đổ, tr. 24)


Nguyễn Ðức Nam: “Sau đó, hơn một trăm ngàn người Việt Nam đã di tản bằng mọi cách bằng mọi giá đến đất Mỹ hoặc các nước tự do khác.” (Mùa xuân không trở lại, tr. 30)


-Kim Y Phạm Lệ Oanh: “Dời đất Thục lòng quê man mác / Hận sầu này dằng dặc khôn quên / Ngày xuân đằng đẵng như niên / Dặm trường thui thủi như quyên gọi hồn!” (Hồn Vong Quốc, dịch lại để kỷ niệm ngày dời xứ, và để mở đầu cho một nếp sống mới nơi quê hương thứ hai, tr 31)


-Huyền Vũ: “Tự do hay là chết! Bao nhiêu người yêu nước đã gục ngã vì lý tưởng thiêng liêng ấy thì vì tự do mà phải buồn day dứt, xa gia đình, xa quê hương, cũng chưa phải là quá đáng.” (Hướng nhớ người đi, tr. 34)


-Trần Phong Vũ: “Một đồng nghiệp cũ [dạy học] ở Sài Gòn hiện làm cu li cho một nhà máy ở Ohio biên thư cho tôi than thở đủ điều về những đảo lộn trong đời sống hiện tại. Cuối thư anh viết: ‘Vì qua đây không có chỗ chạy rông nên mình có dịp gần gũi vợ con hơn hồi ở Sài Gòn… Âu cũng là một cái may, phải không anh?’” (Trả lời phỏng vấn của V.L., tr. 40)


-Phạm Duy: “Cái khác biệt nhất là ở Việt Nam ngày nào cũng là ngày Tết đối với tôi còn ở Hoa Kỳ thì chắc Tết năm nay không phải là cái Tết.” (Trả lời phỏng vấn, tr. 41)


-Lê Văn Khoa: “Hiện tại ở đất Mỹ này chưa có việc làm ở không buồn muốn điên. Tôi sẽ cố làm cho người Mỹ biết đến văn hóa và những khía cạnh đẹp của Việt Nam.” (nt, tr. 40)


-Nguyễn Ngọc Bích: “Tập báo này đến trong tay quí bạn có thể với một cái nhói trong tim. Tết tha hương đầu của số lớn chúng ta, làm sao khỏi chút ngậm ngùi, nhung nhớ? Ðây là một tựu điểm mà chúng tôi mường tượng và mong đạt thành khi đặt chân lên đất Mỹ. Một ao ước thành sự thật, chứng tỏ chúng ta không chỉ có biết nhìn xuống… Một bông hồng phải được đem tặng cho anh Viên Linh đã thức khuya dậy sớm, mặc dầu ốm o gầy gò, đã quyết thực hiện cho xong số báo này. Làm việc như anh, không trách anh được lòng mọi người.” (Xuân tha hương, tr. 1).


-A Bibliography of Overseas Vietnamese Periodicals and Newspapers, Nguyễn Hùng Cường, Indochina Resource Action Center, Washington, D.C., 1985.


Ghi thêm: Trong năm 1975, từ tháng 5 đến tháng 12, chỉ có khoảng 6, 7 tờ báo mỏng. Năm 1976 có nhiều hơn, song báo Tết, ra vào tháng 1, 1976, chỉ có vài tờ, như đã kể ở trên. Sau Tết và nội trong năm 1976, còn những tờ sau đây được xuất bản: Dòng Lửa Việt, Ðất Việt, Ðuốc Tuệ (Calif.), Ðuốc Tuệ (Washington, D.C. – là tiền thân của Nguồn Ðạo hiện nay, vẫn đặt trụ sở tại Chùa Giác Hoàng, đường 16), Lạc Hồng, Mê Linh, Người Việt Tự Do (Nhật), Phục Quốc, Quê Mẹ (Pháp), Trắng Ðen (Calif.), Việt Báo (Virginia).

Châu Long (Kỳ 52)

 





LGT:
Lưu Bình – Dương Lễ là một truyện cổ tích quen thuộc của người Việt Nam, đã được dựng thành những vở chèo, tuồng, và kể lại qua 788 câu thơ lục bát. Nhà văn Mai Khanh đã tiểu thuyết hóa thành truyện Châu Long, mà Người Việt hân hạnh giới thiệu cùng quý vị độc giả trên trang báo và mạng Người Việt Online.




 


Kỳ 52


 


Anh chàng Dương Lễ đã tu từ kiếp nào? Mà kiếp xưa ta đã làm điều gì lầm lỗi? Mà ngày nay ta phải trả lại Châu Long… Ta sẽ mất đứa con nuôi yêu quý, Mạnh Ðức sẽ mất một người anh cả, mà vợ chồng sẽ mất… Châu Long!!


Nghĩ đến đây… Hai dòng lệ đã từ từ rơi trên gò má của quan Ngự Sử… Ông đã thương mến Châu Long đến bực nào?


Chu Mạnh Tử! Một vị trọng thần… Có bao giờ ngài để lộ vẻ vui buồn ra ngoài mặt đâu! Thế mà hôm nay ngài đã khóc. Trái tim già của ngài đau nhói.


Ôi, vận mệnh éo le. Ông vẫn biết câu Nhất ẩm, nhất trác, giai do tiền định, mà ông đã làm gì mang tội với trời, đã cho ông gặp Châu Lương. Thêm đứa con nuôi Chu Mạnh Lương, lại bắt ông nắm giữ vận mệnh, hạnh phúc của Châu Long ở trong tay.


Phải! Chỉ có một lời ông ban ra… Ông có thể kết tội Châu Long: Khi quân, mạn chúa! Ðảo lộn cương thường!


Mà cũng chỉ một lời ông ban ra, nàng sẽ được êm ấm, kết duyên cùng Dương Lễ… Sẽ đường đường một ngôi mệnh phụ như ai…


Hai ý nghĩ đang đối chọi trong đầu ông, trong hai con mắt ông điểm một mối buồn vô hạn… Nửa tỉnh, nửa say, ông cầm tay Dương Lễ nói:


– Ta không ngờ đời ta đến tuổi này mà ta phải đứng trước một hoàn cảnh éo le, ta gạt lệ, mà trả lại Châu Long cho con, ta biết là ta bị thiệt thòi nhiều lắm, xong ta không muốn rằng các con bị buồn tủi về ta. Ta không mất hẳn Châu Long… Mà ta lại được thêm con làm rể nữa. Phải không con?


Lễ chưa kịp trả lời thì ông đã tiếp ngay. Ta sẽ nhận Châu Long làm con gái ta, có gì là thay đổi? Nàng sẽ giữ mãi tên họ Chu, ta sẽ đứng lên làm chủ hôn.


Ông tự tay rót nước cho Dương Lễ và Hoàng Thế Phiệt.


Dương Lễ vì cảm động quá không thốt ra được một lời… Thế Phiệt lại nói:


– Xin nhạc phụ cho gọi Vân Lan ra… Có lẽ Vân Lan sẽ là người sung sướng nhất hôm nay, vì từ trước tới nay Vân Lan vẫn lo sợ là nếu Châu Long thú thật, thì nhạc phụ đau lòng, mà nếu không nói ra thì nàng phải dối trá suốt đời, và phụ lời thề với Dương Lễ.


Ông gật đầu.


Vân Lan bước vào thư phòng. Nàng chưa kịp lạy cha để xin lỗi, xin cha tha tội cho vì đã giấu chuyện Châu Long trong mấy tháng trời. Thì ông đã cố gượng cười nói:


-Con gái yêu của ta! Con đã khôn ngoan, tinh tường hơn cha… Con đã thay ta làm êm dịu bớt những vết thương lòng của Châu Long! Con đã vì ta mà xếp đặt an toàn ngày Dương Lễ hội kiến cùng Châu Long. Con đã thông minh tính toán cho trong ấm, ngoài êm… Ta rất cảm ơn Trời Phật đã ban cho ta một người con gái như con…


Vân Lan thẹn đỏ mặt, nàng biết cha nàng nửa vì say rượu, nửa vì người đau đớn đến tận tim can, nên người muốn nói nhiều để giảm bớt nổi lòng…


Nàng nói:


-Xin thân phụ ngồi lên sập cho chị Châu Long vào rập đầu tạ tội và xin cha chấp nhận chị làm nghĩa nữ… Con chắc là lần này cha sẽ là nghĩa phụ của Châu Long cả kiếp người…


Nói xong nàng ra ngoài cửa… Dắt tay một người thiếu nữ yêu kiều.


Cũng mặt mũi Châu Lương, mà ông quen hàng ngày… Cũng vẫn thân hình Chu công tử mà ông yêu dấu. Mà sao hôm nay, Châu Long… Châu Long trong bộ quần áo đàn bà… Lại dịu dàng như bóng mây chiều. Ðôi mắt nàng đượm vẻ buồn… Vì hối hận, mà nàng đẹp như ngọc nữ giáng trần.


Cả bốn người trong thư phòng cùng ngẩn ngơ ngắm Châu Long!


Quan Ngự Sử như tỉnh giấc mơ đứng lên… Ngài đi từ từ tới Châu Long, dắt tay nàng đến bên Dương Lễ nói:


– Hôm nay là một ngày ta đau khổ nhất đời! Mà hôm nay lại là một ngày mà ta sung sướng nhất đời… Trong khoảnh khắc… Tạo hóa đã cướp của ta Chu công tử! Ðứa con nuôi mà ta đặt bao nhiêu tình phụ tử và hy vọng trên đầu… Nhưng từ phút mà con là nhi nữ… Ta vui mừng vô hạn. Vì từ nay trong vườn của ta lại thêm một đóa hoa quý mới nở…


Ông hỏi Vân Lan:


-Có phải không con?


Vân Lan âu yếm nhìn cha gật đầu.


Ông lại nói:


-Ta thay ông Tơ Hồng… Cho con kết duyên cùng Dương Lễ! Khi ta say rượu ở ngoài vườn… Ta đã ước mong có thêm một cô con gái nữa… Ðể giữ Dương Lễ làm rể… Trời đã không phụ lòng ta…


Cả gia đình cùng cười vang trong đêm dạ hội, họ ngồi uống rượu vui mừng.


Tiệc rượu đã tàn canh… Mặt trời vừa mọc ánh sáng buổi bình minh đầy hứa hẹn…


Ông cho mời bà Chu Mạnh Tử và Mạnh Ðức tới thư phòng, để giới thiệu cô con gái và chàng rể Dương Lễ… mới, và kể chuyện cho vợ con nghe.


Trên bàn ăn, đồ điểm tâm bầy la liệt, bà mệnh phụ lững thững đi vào… Mạnh Ðức theo đằng sau.


Cả năm người cùng đứng dậy ra đón…


Bà Mạnh Tử còn đang bỡ ngỡ… Nhìn hết cả mọi người. Nhất là Châu Long và Dương Lễ. Bà giương to mắt nhìn Châu Long… Ai thế nhỉ? Khuôn mặt cô này bà quen quá! Cô ta giống ai nhỉ? À… À… Giống Châu Lương! Giống Chu Mạnh Lương!


Ông không để cho bà nát óc nghĩ lâu… Mời bà ngồi xuống ghế. Ông cầm tay Dương Lễ và Châu Long lại gần bà… Cả hai cùng quỳ xuống đất…


– Ðêm qua trời đã cho hai ta một đứa con gái và một chàng con rể…


Bà chẳng hiểu gì cả… Lấy tay dụi lên mắt xem mình tỉnh hay chỉ là một giấc mơ…


Ông đã đoán ra trước, đêm qua… Tôi cũng như bà… Mà tôi lại mơ một cơn ác mộng trước, bà tốt số hơn tôi, được trông thấy đôi trai tài gái sắc. Rồi ông thong thả kể cho bà nghe hết đầu đuôi câu chuyện (Thiên ai sử) của đôi trẻ đang quỳ dưới chân bà… Tuy bà không khóc, xong cũng mủi lòng. Lấy khăn thấm lệ luôn.


Bà đỡ hai người đứng dậy, vuốt ve Châu Long. Khen Dương Lễ… Lại rất mừng vì ông chồng đã không giận mà còn thương thêm Châu Long nữa.


Mạnh Ðức ngẩn ngơ hỏi cha:


– Thế anh Mạnh Lương đâu?


Châu Long bế Mạnh Ðức lên lòng nói:


– Châu Lương… Hay Mạnh Lương cũng là chị cả. Chị xin lỗi em… Chị đã dối em từ buổi ban đầu… Cho tới đêm nay.


Mạnh Ðức trụt xuống đất nũng nịu…


– Bây giờ con lại có một mình. Không có ai chơi với con, không ai dạy con làm bài vở nữa!!!


Ông nói:


– Con tuy mất Mạnh Lương… Xong ta cho con một người chị gái nữa… Lại thêm anh Dương Lễ… Con còn muốn gì hơn nữa?


Dương Lễ cũng cầm tay Mạnh Ðức như đứa em trai yêu vậy.


Thật là cả một cái gia đình đầm ấm… Hạnh phúc. Quan Ngự Sử rất hả hê… Vì ông đã rộng lượng mà tha tội cho đàn trẻ.


Cả gia đình ăn điểm tâm… Tuy là từ tối hôm qua không ai được ngủ… Mà không có ai mỏi mệt, mọi người như sống quãng đời vui đẹp sáng sủa như buổi bình minh này…


Ông lại nói:


– Lát nữa, ta cho phép Dương Lễ về nhà. Sắm sửa lễ nghi đến hỏi con gái ta… Nghe không?

Câu Lạc Bộ Âm Nhạc Hương Sen ra mắt

 


Ngọc Lan/Người Việt


WESTMINSTER (NV)Hòa trong không khí nhộn nhịp, náo nức của ngày Xuân, Câu Lạc Bộ Âm Nhạc Hương Sen đã chính thức ra mắt cộng đồng vào chiều Thứ Bảy, 21 Tháng Giêng, tại hội trường nhật báo Người Việt, Westminster.









Ngọc Trân, thành viên CLB Hương Sen, trình diễn bài “Nếu Xuân Này Vắng Anh” trong buổi ra mắt CLB. (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)


Trong lời mở đầu chương trình, ông Ðỗ Thắng, người sáng lập CLB, nói, “CLB được thành lập trên cơ sở phục vụ cộng đồng miễn phí. Ðó cũng là nơi tụ họp của những người hát hay, hay hát nhưng không chọn nghề ca sĩ, bởi vì những lý do gia đình, giáo dục, nghề nghiệp,… dù họ hát rất hay.”


Ðược thành lập từ Tháng Mười Một, 2011, tuy nhiên, đây là lần đầu tiên CLB Âm Nhạc Hương Sen chính thức ra mắt cộng đồng bằng một chương trình ca nhạc khá qui mô, đặc sắc.


Trao đổi với phóng viên Người Việt, ông Ðỗ Thắng cho biết ngoài hai lý do nêu trên, mục đích của CLB Âm Nhạc Hương Sen còn là “nơi tôi hy vọng sẽ gửi gắm nhạc sĩ mới vào.” Theo ông Thắng, “nhiều nhạc sĩ mới có những bài rất hay, nhưng không thể nào mướn được ca sĩ của những trung tâm lớn vì họ đòi hỏi rất nhiều tiền nên nhạc sĩ không thể nào đáp ứng được.”









Ông Ðỗ Thắng, người sáng lập CLB Hương Sen, nơi tụ họp của những người hát hay, hay hát nhưng không chọn nghề ca sĩ. (Hình: Ngọc Lan/Người Việt) 


“Cho nên các ca sĩ này là những người đủ sức diễn tả các ca khúc mới của nhạc sĩ. Những buổi biểu diễn này đều là miễn phí cho cộng đồng và hát đi hát lại nhiều lần để những bài hát mới đó đi được vào lòng người.” Ông Thắng nói thêm.


Trả lời câu hỏi của phóng viên về ý tưởng thành lập CLB Âm Nhạc Hương Sen, ông Ðỗ Thắng cho biết, “Là một người làm về giáo dục, nhưng khi thấy có những người bạn hát hay quá mà chỉ hát ở nhà hay đi hát karaoke tôi cảm thấy uổng. Kế đến là năm ngoái ở Phước Lộc Thọ, tôi thấy có những người hát rất hay mà chờ lên hát trên một sân khấu rất là đơn giản. Ðiều đó khiến tôi nghĩ tại sao mình không lập nên một cái gì gọi là chuyên nghiệp một chút để họ không phải hát ở những nơi ít người nghe hay không được tôn trọng lắm. Thế là tôi làm sân khấu, và thay vì mướn ban nhạc ‘one man band’ như nhiều tổ chức khác, thì tôi mướn luôn ban nhạc ‘full band,’ tức có hai người đàn, một trống, một keyboard.”


Người thành lập CLB Âm Nhạc Hương Sen cho biết toàn bộ chi phí lúc đầu là do ông “tự bỏ tiền túi ra.” Tuy nhiên, ông Thắng hy vọng, “Tương lai sẽ có những mạnh thường quân nhìn thấy được công việc phục vụ miễn phí cho cộng đồng như thế này thì mỗi người sẽ góp tay một chút thì chắc là cũng xong.”









Hai bé Thông Võ, 10 tuổi (trái), và Mathew Ngô, 8 tuổi, trình diễn bài “Ðón Xuân” trong buổi ra mắt CLB Hương Sen. (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)


“Theo dự trù, CLB Âm Nhạc Hương Sen sẽ có chương trình vào các mùa lễ lớn như Valentine, Father’s Day, Lễ Phật Ðản, Christmas. Ngoài ra tôi cũng muốn mỗi tháng sẽ tổ chức một lần nữa, đúng một ngày nhất định đầu tháng hay cuối tháng trình diễn miễn phí cho cộng đồng. Ðịa điểm thì tùy, như nhật báo Người Việt chẳng hạn,” ông Ðỗ Thắng nói một cách lạc quan.


Nhìn những người yêu thích ca hát có dịp được lên sân khấu để hát cho những đam mê của mình, có lẽ ai cũng sẽ cảm thấy vui chung với niềm vui của họ, “những người hát hay, hay hát nhưng không chọn nghề ca sĩ làm nghiệp.”


Muốn biết thêm chi tiết về CLB Âm Nhạc Hương Sen, quý độc giả có thể xem thêm ở trang mạng www.amnhachuongsen.com.


 


––-


Liên lạc tác giả: [email protected]

Mô hình Trung Quốc, con rồng đỏ phun lửa – Việt Nguyên


 


Việt Nguyên 


LTSTừ Bàn Viết Houston là cột mục bàn về các vấn đề thời sự từ chính trị tới kinh tế, văn hóa… do nhà báo Việt Nguyên trong ban biên tập Ngày Nay phụ trách. Ông cũng là một bác sĩ làm việc tại Houston. 


Ðầu năm dương lịch 2012, Chủ Tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Ðào đã chào mừng năm mới bằng lời kêu gọi dân Trung Hoa đồng lòng giữ vững truyền thống 5,000 năm chống lại làn sóng văn hóa Tây phương đang lan tràn khắp nước. Mặt trận văn hóa được ông Hồ đặt nặng từ tháng 10, 2011 khi Ðảng CSTQ ấn định làn ranh rõ rệt giữa văn hóa Tây phương và Trung Hoa. Ðảng CS đặt nặng vấn đề kiểm duyệt thông tin báo chí và mạng lưới, ngăn chận tự do dân chủ. Ðầu năm ngoái, ông Hồ Cẩm Ðào đi thăm Hoa Kỳ, viếng Viện Khổng Tử lớn nhất ở hải ngoại tại Chicago, tự hào về “xã hội hài hòa” của CSTQ, nay chương trình của Ðảng CS nhắm vào phát triển các viện Khổng Tử cùng với thông tin tuyên truyền của Tân Hoa Xã và Ðài Truyền hình CCTV khắp nơi trên thế giới trong khi ngân sách các đài BBC Anh quốc và VOA bị cắt giảm tối đa. Trong khi cả thế giới đang nhìn về Bắc Hàn với ông hoàng bé Kim Chánh Ân lên ngôi thì ông Hồ Cẩm Ðào âm thầm chuẩn bị cho Hoàng Ðế Tập Cận Bình lên ngôi thống trị thiên hạ thiết lập một “xã hội hài hòa” giả tạo nguy hiểm cho thế giới trong năm 2012. 


Xây dựng xã hội hài hòa? 


Xã hội hài hòa của Ðảng CSTQ đang được quảng cáo rầm rộ là một xã hội đang tự hủy. Con rồng Trung Hoa cũng như những con rồng Á Châu phun nước (khác với con rồng Âu Châu phun lửa) đem lại phúc lợi cho mùa màng và hạnh phúc cho người dân nay đã trở thành con rồng phun lửa độc hại. Từ người Trung Hoa cho đến mọi người trên thế giới đều tự thấy phải cần Thánh George ra tay cầm ngọn giáo tiêu diệt con “rồng đỏ” vào năm Nhâm Thìn đang đến.


Người Trung Hoa ngày nay đang sống trong một quốc gia thiếu đạo lý. Ngày 20 tháng 11, 2011, cả thế giới chứng kiến cảnh em bé hai tuổi bị chiếc xe minivan cán qua cán lại 2 lần, khách bàng quan đi qua nhìn không can thiệp cho đến khi có người kéo em bé lên (4 ngày sau đó em chết). Thông tin cộng sản cố giấu nhẹm nhưng Youtube đã cho thấy những cảnh khác như một ông lão té ở chợ, người đi chợ đứng dửng dưng không ai đỡ ông dậy. Xã hội thiếu lòng nhân là kết quả của xã hội pháp trị, luật pháp khắc nghiệt từ thời Thượng Ưởng che chở cho người quyền thế. Năm 2006, tòa án ở Bắc Kinh đã phán xét một trường hợp về một người ra tay cứu giúp kẻ bị nạn ở giữa đường, ông phải trả tất cả chi phí bệnh viện và xe cứu thương cho nạn nhân! Từ đó người Trung Hoa không giúp người lâm nạn, Trung Hoa không có luật “Good Samaritan” như ở Hoa Kỳ để che chở cho những người tốt bụng giúp người lâm nạn. CSTQ tự hào với Trung Quốc, vương quốc ở giữa thế giới, cái rốn của thiên hạ, của vũ trụ, nay “Trung Quốc” đã mất chữ “Trung.” Nguyên nhân của sự tự hủy bắt đầu từ giữa thế kỷ thứ 19 khi Trung Hoa bị tổn thương nặng từ chiến tranh quân sự đến kinh tế với Tây phương và Nhật. Khoa học và kinh tế của xã hội phong kiến Khổng Tử giả tạo nhắm chữ “Trung Hiếu” đễ tự bảo vệ chế độ thiếu tính dân chủ thật của Khổng Mạnh đã thua kỹ thuật Tây phương. Các cuộc cải tổ đã thất bại vì không thay đổi từ nền móng. Ðến thời cộng sản sau năm 1949, Ðảng CS xây dựng Xã hội Chủ nghĩa, con người mới XHCN đập phá tất cả tàn tích chế độ cũ phong kiến và tư bản, xóa sạch những cái đẹp kể cả ngôn ngữ, nghệ thuật, kiến trúc, tôn giáo, y phục, âm nhạc v.v… Xây dựng xã hội mới dựa trên hận thù và dối trá cũng như trên sự ngu dốt trên 60 năm, nay Ðảng CSTQ lại đang khoe đảng bảo vệ văn hóa cổ truyền Trung Hoa!


Thành công sau cuộc cách mạng năm 1949, Ðảng CS phản bội giai cấp công nhân, xây dựng các đô thị, bỏ quên các vùng thôn quê. Mỗi năm có 10 triệu người đổ về các thành phố lớn. Nhưng Bắc Kinh và các thành phố lớn là nguồn gốc của những bất ổn xã hội trong 20 năm qua. Trong những năm gần đây, giá nhà giá đất gia tăng, những người dân thường chỉ có thể ở trong các chung cư lớn. Giá nhà và vật giá leo thang giờ đây trở thành những câu chuyện hằng ngày của người dân Bắc Kinh. Bắt chước Tây Phương, dân Trung Hoa bắt đầu thưa kiện tập thể, trong năm qua hơn 10,000 vụ kiện, chính quyền CS phải ra lệnh cấm nhưng họ thiếu hẳn cái nhìn hiện đại hóa đất nước ngoài chuyện phô trương bên ngoài.


Năm 2003, ông Wang trong cuốn sách xã hội nổi tiếng “Hồ sơ thành phố” nay trở thành “Hồ sơ Bắc Kinh” bán chạy nhất trong 8 năm qua, gọi kiến trúc Bắc Kinh là kết quả của sự tấn công từ các “lãnh chúa” cộng sản. Dân chúng không còn tin vào cán bộ “chiếm đất giành nhà.” Thành phố cổ không được bảo tồn. Cơ quan chính quyền dọn xa ra về phía Tây, ra xa Cấm thành, xây đại lộ Trường An. Khi mới bắt đầu xây lại Bắc Kinh, ông Mao Trạch Ðông không nghe lời cố vấn Xô Viết giữ văn phòng, cơ sở chánh quyền ở khu Bắc Kinh cổ, đảng CSTQ muốn xây tất cả cơ sở “vĩ đại” như sự “vĩ đại của Ðảng CS.” Quảng trường Thiên An Môn phải được xây dựng, đại lộ Trường An và 10 tòa nhà đảng và chính quyền phải được xây “nhanh hơn, tốt hơn và rẻ hơn” để kịp mừng ngày 10 năm chiến thắng. Các di tích lịch sử được phá nhanh, phá chùa, phá cổng Tây Môn nổi tiếng trong truyện Tây Môn ký, phá khu hẻm nổi tiếng “Hutong.” Chuyên gia về Trung Hoa, GS Simon Ley phê bình nặng: “tên tuổi của chế độ CSTQ gắn liền với những phá hủy Bắc Kinh, di sản của nhân loại.” Sự phá hủy vẫn tiếp tục không ngừng vì đối với CS kiến trúc không quan trọng. Ðô thị ở Trung Hoa xây lên thiếu một tình người khác với những thành phố ở Ba Lan, với những câu thơ của thi sĩ đối kháng thời CS Zagajewski:


“Tôi nghĩ, thành phố được xây dựng,
Không bằng những căn nhà, những công trường,
Những đại lộ, những công viên
Mà bằng những gương mặt rạng rỡ như những ngọn đèn
những ngọn đuốc, của con người…”


Bắc Kinh trở thành một địa điểm “đấu tranh giai cấp” mới, thành phố toàn cầu của Ðảng CS và con ông cháu cha ở trung tâm và thường dân ở ngoại ô. Chính quyền đổ 70% ngân quỹ điều nghiên ngoại ô. Các tòa nhà đồ sộ của chính quyền có mục đích tuyên truyền vinh quang cho chế độ như những xây cất cho Thế vận hội năm 2008 nay bị bỏ hoang. Dân Bắc Kinh tự hỏi, “nếu chính quyền quan tâm đến họ tại sao không tân trang nhà của họ thay vì đuổi họ ra khỏi thành phố?” Kết quả của xã hội hài hòa trong mấy năm qua là dân mất đất mất nhà và các thành phố cổ bị hủy hoại vì lòng tham của cán bộ đảng. 


Văn hóa ô nhiễm? 


Ông Hồ Cẩm Ðào cảnh cáo dân Trung Hoa về một nền văn hóa ô nhiễm Tây phương khiến người ta nghĩ lời cảnh báo của ông Lưu Hiểu Ba, người đoạt giải Nobel “Ông Hồ Cẩm Ðào và Ðảng CS là một Hitler và Nazi mới của thế kỷ thứ 21,” họ Hồ xem người Hán ưu chủng, dân Hán siêu việt giống như quan niệm của chế độ phong kiến Trung Hoa trong 5 ngàn năm, tự xem mình là Trung Quốc văn minh còn các nước lân bang là man rợ “Bắc Rợ, Nam man.”


Chữ Rợ nguyên từ chữ Hy Lạp, Barbarian, xuất từ chữ barbaros những người ngoại quốc không nói được tiếng Hy Lạp bập bẹ: bar-bar-bar như những người Việt lúc mới đến Mỹ. Chữ được sử gia đầu tiên trên thế giới Herodotus dùng 2,500 năm trước không có nghĩa kỳ thị như những người Hán dùng cho dân tộc ngoài biên cương của họ. Ông Hồ Cẩm Ðào đi ngược thời gian ngược cả thời sử gia Herodotus “phong tục giống như sản phẩm trong thị trường, con người có quyền chọn lựa,” dĩ nhiên là dân tộc nào cũng thích chọn phong tục tập quán của xứ sở quê hương mình nhưng ở vào thời đại nào, nhất là thời đại toàn cầu hóa này, vấn đề ô nhiễm là điều không thể tránh và văn minh Trung Hoa trong suốt dòng lịch sử 5,000 năm không bao giờ “thuần túy,” chính họ đã học được những bài học chua cay.


Trong các năm qua, các lãnh tụ Ðảng CSTQ đã cố trở về phong tục cổ truyền, mỗi năm đi lễ bái tổ tiên, lên ngọn Hoàng Lĩnh tế hoàng đế. Trên núi Hoàng Lĩnh vẫn còn bia tưởng niệm hoàng đế, bia đề: “Nơi đây hoàng đế lập ra triều đại nhà Hán, ngài từ đâu đến không ai biết, chỉ biết ngài đến từ phương Tây.” Tổ tiên, nguồn gốc của người Hán chính họ cũng không biết rõ!


Tục lệ thờ cúng tổ tiên từ mấy ngàn năm được Khổng Tử làm sáng lại. Ngài chỉ có công san định lại Ngũ Kinh chứ chính Khổng Tử không viết. Luận ngữ được học trò ghi chép lại. Chính quyền cộng sản muốn dùng Khổng Tử để dạy dân. “Trung với đảng” “Hiếu với Hoàng Ðế Tập Cận Bình” bỏ đi những lời dạy dân chủ, “dân vi quý” không khác gì nền dân chủ Tây phương. Khổng Tử của Ðảng CSTQ là Khổng Tử nguyên tắc, cùm kẹp, hạn chế tự do cá nhân của con người vì vậy lịch sử Trung Hoa khác với lịch sử Hoa Kỳ, dân đi ra ngoài làm ăn buôn bán không về nhiều hơn là số di dân đến Trung Hoa. Khổng Tử của đảng CSTQ là Khổng Tử của thời quân chủ chuyên chế, một Khổng Tử bị Lão Tử phê bình “cái sắc của ông ngạo mạn, cái lòng của ông đầy dục.”


Khổng giáo và Lão giáo (500 năm trước Thiên Chúa) ở Trung Hoa sau bị đạo Phật từ Ấn Ðộ tràn qua lấn át. Những người dân bị áp bức tìm được lối thoát qua đạo Phật. Những người Trung Hoa hiện nay muốn phục hưng lại tinh thần đời nhà Ðường. Thời đại kéo dài gần 3 thế kỷ từ năm 618 đến 907. Thời đại thịnh vượng, hòa đồng tôn giáo Khổng, Lão, Phật. Thời đại của văn học với thơ đường Ðỗ Phủ, Lý Bạch. Thời kỳ Phật giáo hưng thịnh nhất Trung Hoa. Thời mà cái đạo của Khổng Tử “thiên thời, địa lợi, nhân hòa,” con người sống hòa với trời đất. Trung Hoa sống hòa bình với các nước láng giềng nhất là với Hàn Quốc và Việt Nam. Thời đại nhân tài được trọng dụng qua các kỳ thi chứ không lấy thúng đong tiền mua quan bán chức như trong thời cộng sản.


Chính ở thời đại huy hoàng của đời nhà Ðường, văn hóa Trung Hoa cũng bị ô nhiễm. Con đường tơ lụa đem văn hóa Trung Ðông và Trung Á đến. Ngày nay người Trung Hoa ăn mặc, cắt tóc như Tây phương còn ở thời nhà Ðường phụ nữ từ bỏ y phục bó sát thay vào những xiêm y lộng lẫy, ghế trường kỷ nhập cảng từ Trung Ðông, dụng cụ âm nhạc, đàn tì bà, đàn dây đến từ Khotan, Trung Á. Vua Ðường Minh Hoàng mê “vũ khúc Nghê thường,” mơ lên cung Quảng, yêu Dương Quý Phi bốn mươi phần trăm quan trong triều là người Trung Ðông, Trung Á đưa đến loạn tướng An Lộc Sơn (gốc Trung Á, Ubekistan hiện nay) vua phải chạy về hướng Tây, Dương Quý Phi treo cổ tự vẫn giữa đường.


Tự hào với dòng Hán, xem các nước ngoài biên cương là bọn rợ nhưng những bức Ðại Thành không ngăn được rợ, các triều nhà Nguyên, nhà Thanh gốc từ bọn rợ Mông cổ đến cai trị. Người Trung Hoa tự hào phát minh ra giấy cùng với chữ viết nên giỏi tuyên truyền. Giấy do ông Thái Luân phát minh năm 105 (được xem là phát minh của người Hán đang được tranh cãi, Thái Luân quê ở Quế Dương phần đất Việt Nam cũ) quan trọng cho sự tuyên truyền của người Hán, giấy nhẹ hơn tre, hơn gỗ để truyền bá được người Trung Hoa giữ bí mật nghề nghiệp trên 600 năm, nhưng ở trong Vạn Phật Ðộng trên con đường lụa các nhà khoa học đã tìm thấy kinh Phật in trên giấy 100 năm trước khi người Hoa phát minh.


Ðến thế kỷ 20, Trung Hoa lại bị văn hóa ô nhiễm từ phương Tây, lần này văn hóa Marx độc hại hơn, tiêu hủy tất cả truyền thống của quốc gia họ.


Mùa Thu năm 2011, Trung Cộng kỷ niệm Cách Mạng Tân Hợi 1911, 100 năm sau khi nhà Thanh, chính quyền quân chủ cuối cùng, sụp đổ. Cuộc cách mạng ấy dẫn đến sự chiến thắng của CS năm 1949. 100 năm này đánh dấu sự sụp đổ tinh thần của người Trung Hoa. Tinh thần tôn giáo, đạo thờ cúng ông bà Tổ tiên, bắt đầu từ ngày Tết, ngày mồng một bắt đầu một năm mới, ngày mà trời đất hài hòa, con người sống tử tế với nhau, nhân hòa, đất trời mở rộng, mùa màng gặt hái bị triệt từ đời nhà Thanh. Cuối thế kỷ 19, Trung Hoa có hơn một triệu chùa và miếu. Bắt đầu năm 1898, bà Từ Hy Thái Hậu thấy “bọn thầy chùa lười biếng” đã phá tất cả chùa để biến thành trường học. Triều nhà Thanh biện minh: “Tôn giáo phải bị hủy bỏ vì Trung Hoa cần hiện đại hóa.” Ðến khi ông vua cuối cùng Phổ Nghi mất ngôi, Trung Hoa bước qua những thập niên khủng hoảng, người Trung Hoa theo văn hóa Tây phương, hệ thống cũ không còn giá trị để đối đầu với kỹ nghệ và quân sự của Tây phương. Trung Hoa bị Ngũ cường chia cắt. Ðến thời CS sau 1949, tôn giáo lại bị đàn áp, một triệu chùa, miếu bị đập đổ, nhất là sau cách mạng văn hóa, đến năm 1982, Trung Hoa chỉ còn ít chùa, nhà thờ và đền thờ Hồi giáo trong một quốc gia hơn 1 tỷ người. Tinh thần quốc gia được Tổng thống Tưởng Giới Thạch xây dựng trong chương trình “Ðời sống mới” qua sinh hoạt Hướng Ðạo bị cấm ngay sau khi CS cầm quyền.


Ðời sống tinh thần của người Trung Hoa hiện nay trong chế độ CS đang được dân phục hồi bằng các tôn giáo khác hơn Khổng giáo. Cái đời sống tinh thần trống rỗng ấy được nhà văn Fiel Xiaotong mô tả: “Từ đầu thế kỷ 20, người dân quê chỉ còn biết và quan tâm đến chính gia đình và bạn bè của họ, họ không hề quan tâm và lo lắng đến người ngoài.” Những người trẻ tuổi sống và lớn lên trong chế độ hiện nay lại xem: “Những người già không thể tin được, các ông ấy lớn lên trong xã hội CS chẳng biết lễ giáo, luân lý là gì!”


Chủ Tịch Hồ Cẩm Ðào năm 2007, đi ngược về thời nhà Thanh, bắt đầu cho phép các tổ chức từ thiện giải quyết những vấn nạn xã hội. Tôn giáo là chỗ nương tựa cho 10 triệu người bỏ quê lên tỉnh. Tôn chỉ “Tôn giáo là thuốc độc của quần chúng” nay được Ðảng CS thay đổi, họ dùng “độc dược” này để dân chúng quên đấu tranh chính trị chống bất công đặc quyền đặc lợi. CS chủ trương khi vật chất đầy đủ, kinh tế phát triển dân không cần tôn giáo nhưng trong 30 năm qua, trường hợp Trung Hoa đã cho thấy quan niệm ấy sai. Hiện nay Ðảng CS chấp nhận 5 tôn giáo Phật, Lão, Hồi, Công Giáo và Tin Lành. Dân Trung Hoa tập khí công ở các công viên chỉ có Pháp Luân Công bị cấm, bắt và tra tấn vì chính quyền CSTQ cho rằng Pháp Luân Công đã chỉ trích đảng qua tập Cửu Bình, 9 bài bình luận về Ðảng CSTQ. Tôn giáo bùng phát ở Trung Hoa, hiện nay Trung Hoa là quốc gia có nhiều Phật tử nhất trên thế giới, là nước in Thánh Kinh nhiều nhất trên thế giới với hàng ngàn linh mục và mục sư mới. Ðền thờ Hồi giáo mọc lên nhiều nơi. Mỗi Chúa Nhật có từ 60 đến 80 triệu người đi nhà thờ. Ðạo Lão cũng trở lại với những đoàn hát dạo đi khắp Bắc Kinh, chỉ có Ðảng CS và Chủ Tịch Hồ Cẩm Ðào nói chuyện Khổng Tử!


Hồ Cẩm Ðào đang sửa soạn con đường lên ngôi cho Hoàng Ðế Tập Cận Bình, họ đang muốn con rồng Trung Hoa phun lửa, đe dọa các nước láng giềng. Con rồng độc hại của mô hình Trung Quốc ấy giống như lời phê bình của nhà độc tài CS Xô Viết Stalin, khi là người tù trẻ tuổi, đã phê bình chế độ Sa Hoàng: “Con rồng đen ấy đã đánh cắp mặt trời từ tay nhân loại!”


Ngày 9 tháng 1, 2012


 

Thiền viện Sùng Nghiêm ra mắt sách Phật ngày Xuân

Nguyên Huy/Người Việt 


GARDEN GROVE (NV) “Tại sao không mở mắt vãng sanh khi đang hiện sống?” là tựa đề của cuốn sách mới được tác giả là Ni Sư Thích Nữ Chân Thiền Thanh Tịnh Liên thuộc tu viện Sùng Nghiêm, Garden Grove, cho ra mắt nhân dịp Xuân Nhâm Thìn 2012.


Ðây là một trong những cuốn “khảo luận” về Phật pháp của tác giả Thanh Tịnh Liên, và cũng là thêm một cái nhìn mới về những lời Phật dậy qua kinh kệ được lưu truyền đến ngày nay.










Lễ Phật ngày Xuân. (Hình: Nguyên Huy/Người Việt)


Tác giả có nhiều cái nhìn rất thực tế về ý nghĩa của kinh kệ trong Phật pháp qua những tác phẩm đã xuất bản. Tác giả đọc kinh kệ, suy nghĩ, tìm tòi và nhận ra những điều rất “nhập thế” cho người Phật tử mà từ trước đến nay, người Phật tử cũng như nhiều vị tu hành đã không khai triển cho việc tu hành.


Tác giả đã tìm thấy trong “Bát Nhã Tâm Kinh” ý nghĩa vãng sanh ngay khi còn sống. Diễn giải về “Bát Nhã tâm Kinh,” tác giả nhìn trên hai phương diện hình tướng và vô hình tướng như cái tâm và cái trí để nắm bắt sự vật sau màn vô minh (tham, sân, si) cũng như mọi tạp khí như vui, buồn, giận, yêu, ghét mà chúng ta đã phá bỏ được. Nhưng đã là con người thì mấy ai không mắc phải cái màn vô minh nên cứ nghĩ chỉ khi chết mới mở mắt vãng sanh thì theo tác giả “đã quá muộn rồi.” Ngay khi còn sống nếu chúng ta nhận diện được “chân lý” ví như một đồng tiền có hai mặt và hai mặt ấy không thể rời nhau, mà nếu rời được nhau thì không phải là đồng tiền. Với đạo và đời thì cũng như vậy. Do lẽ đó mà trong kinh có nói: “Phật pháp không rời thế gian pháp.”


Ðể tâm trí mà suy nghiệm thì hẳn đã thấy mặt vô tướng cũng như mặt hữu tướng là hai mặt đạo và đời. Mặt đạo là vô tướng mà người đời đặt cho nó những danh từ làm cho chúng ta nhầm lẫn, khó hiểu. Còn mặt đời vì là hữu tướng nên cũng dễ nhận biết. Nhưng chân lý là mặt đời không rời mặt đạo nên nếu chấp mặt đời phải tiêu diệt đi rồi vứt bỏ đi để đi kiếm cái vô tướng là cực lạc thì chúng ta đã có “trí mà không có thân” là hoàn toàn đi ngược lại với chân lý cũng là đi ngược lại với những Kinh Bát Nhã, Lăng Nghiêm, Pháp Hoa, Duy Ma Cật.


Vẫn theo tác giả Thanh Tịnh Liên thì “vì chân lý là giải thoát sinh tử nên cũng khó hiểu và khó thâm nhập được là lẽ đương nhiên, nhất là đối với những ai ít chịu suy tư, nông cạn, lười biếng, chưa đủ duyên lành. Trái lại, đối với những ai đã chán ngán cuộc đời dâu bể, vô thường nên muốn xả bỏ vô thường và khao khát chân lý là cái giải thoát sinh tử thì chẳng ngại gì chông gai, những hành giả này lúc nào cũng khắc khoải, suy tư, dù có khó cách mấy cũng nỗ lực để hiểu và vượt qua.”


Ðúng vậy. Khi chúng ta còn say mê cuộc sống (mặt đời), đuổi theo những hư ảo giầu sang phú quí vợ đẹp con khôn, coi nhẹ mặt đạo, chờ đến khi chết đi buông xuôi hai tay không mang được gì mới cầu mong chuyện vãng sanh nơi miền cực lạc thì chẳng những đã muộn mà còn là hư ảo nữa. Nên lo chuyện vãng sanh khi hiện tiền cũng là trả cho đồng tiền có hai mặt hợp với chân lý.


Lời nhắn nhủ của Ni Sư Thích Chân Thiền Thanh Tịnh Liên qua tập khảo luận Phật pháp “Tại sao không mở mắt vãng sanh khi đang hiện sống” như một lời nhắn nhủ mọi người thiện nam tín nữ trong ngày Xuân đi lễ Phật theo truyền thống tín ngưỡng của người dân Việt.


Tác giả đã chọn đúng đêm giao thừa Nhâm Thìn để phát hành 500 cuốn sách này cho Phật tử và đồng hương như một món quà đầu Xuân của thiền viện Sùng Nghiêm. Những ai đã có duyên quả nhận được sách xin đọc để cùng tác giả suy luận thêm, tìm hiểu thêm về mặt đạo mặt đời để tôn giáo và đời sống không phải bị cắt chia riêng biệt, giúp cho con người sống sạch đẹp may ra nhân loại mới tránh được khổ đau, chinh chiến mà cùng nhau làm cho mặt đất này đâu cũng là miền cực lạc.


Những ai chưa có sách xin liên lạc với thiền viện Sùng Nghiêm, 11561 Magnolia St., Garden Grove, CA 92841, điện thoại (714) 636-0118.


 


––-


Liên lạc tác giả: [email protected]

‘Xe Lên Xe Xuống’ – Khảo sát dân tộc miền núi Bắc Việt

 


Phạm Xuân Ðài






LTS
– Diễn Ðàn Thế Kỷ vừa cho phát hành tiểu thuyết có tựa đề “Xe Lên Xe Xuống,” của tác giả Nguyễn Bình Phương, 46 tuổi, hiện đang sống tại Hà Nội. “Xe Lên Xe Xuống,” theo lời một số văn hữu trong nước, đã bị ba nhà xuất bản từ chối phát hành; và do đó, đây là lần đầu tiên tác phẩm được trình làng, và độc giả hải ngoại được cơ hội làm “người đọc đầu tiên.” Tác phẩm được đánh giá rất cao bởi hai người; một là nhà văn Bảo Ninh, tác giả “Nỗi Buồn Chiến Tranh,” và một là nhà phê bình văn học hiện sống tại Pháp, Thụy Khuê. Chúng tôi xin đăng bài viết sau đây, của nhà văn Phạm Xuân Ðài, điểm một khía cạnh khác – khảo sát dân tộc miền núi – trong tác phẩm “Xe Lên Xe Xuống” của Nguyễn Bình Phương.


“Xe lên” là một chuyến xe đầy ắp sự kiện. Ngoài mấy chủ đề lớn là phỉ, cuộc chiến biên giới và băng đảng tội ác, tác giả Nguyễn Bình Phương còn rỉ rả kể cho chúng ta nghe những câu chuyện thuộc về từng dân tộc thiểu số trong những địa phương mà chuyến xe lên đã đi qua. Ðó là những câu chuyện nho nhỏ nhưng rất điển hình, khắc họa tính cách hoặc hoàn cảnh sống của từng cộng đồng người, cũng thuộc dân tộc Việt Nam đấy, nhưng hầu như đại đa số người Việt chẳng ai biết gì về họ. Chính vì thế tôi coi những câu chuyện loại này là những khảo sát có tính chất dân tộc học. Trên vùng rừng núi mênh mông ấy chỗ nào cũng có một nhóm dân tộc sinh sống, mà đã có người ở thì một dòng sông, dòng suối, một ngọn núi đều có thể là một đề tài. Họ đã sống bao lâu trên những đỉnh cao lạnh ấy, cuộc sống khắc khổ hay êm đềm đều để dấu vết trên tâm hồn họ, ngôn ngữ và tính cách họ, từ ngày xửa ngày xưa cho tới hôm nay. Có những câu chuyện cho thấy thời xưa đôi khi không có ranh giới rõ ràng giữa người và vật.


“Vả lại ăn thịt người đâu phải là chuyện hiếm. Giỏng tai lên có thể nghe ở bất cứ đâu những câu chuyện như thế. Sách cổ ghi lại chuyện ở vùng Phong Khê, Bạch Hạc có loài đười mặt ngay ngắn như mặt người, lại nói được tiếng người, giọng rất buồn, buồn đến mức khi nghe hai con đười nói chuyện với nhau thì ai cũng não lòng chảy nước mắt. Ngày kia, viên huyện lệnh được một người mời đến nhà khoản đãi. Viên huyện lệnh nhìn quanh, không thấy đồ nhắm gì ngoài cái cũi nhốt một con đười trong đó, bèn hỏi chủ nhà: Ðãi ta món gì đấy? Chủ nhà chưa kịp trả lời thì đười nói: ‘Chỉ có rượu nhắm với thịt tôi thôi.’ Mình cho rằng đười thực ra cũng là một loại người thiểu số như những người thiểu số bây giờ.”


Trong khoảng thập niên 1960 của thế kỷ trước, tạp chí National Geographic của Mỹ có bài nghiên cứu về một nhóm người hoàn toàn sơ khai trong rừng núi Phi Luật Tân, với nhiều hình ảnh cho thấy họ chưa có nhà cửa, chưa biết mặc áo quần, thức ăn là những con đuông, con sâu còn sống bày trên một tàu lá chuối. Liên hệ với loại “đười” mà Nguyễn Bình Phương viết ở đây, có thể nói rằng loài người tiến hóa không đồng đều, trong khi đại đa số đã phát triển cao, vẫn còn những nhóm mà ngay cả tiếng nói còn chưa hoàn chỉnh, và tôi nghĩ đó là lý do khiến người đã phát triển cao hơn nghe họ nói “thì ai cũng não lòng chảy nước mắt.”


Có những vùng, rất cao như trên đỉnh Tà Vần, con người sống trong sự thoáng đãng và yên tĩnh hầu như tuyệt đối, nhưng tai họa thì lại không hiếm. Con chim bay trên trời có khi cũng là một nguy hiểm chết người.


“Có hai bóng chim lầm lừ sóng đôi lượn ngay trước tầm mắt mọi người. Không rõ đó là loại chim gì. Lái xe buông một tay khỏi vô lăng, co duỗi thư giãn, bảo:


– Ðại bàng đấy.


– Vùng này cũng có đại bàng ấy à? Lạ nhỉ?


Mình thắc mắc.


– Nhiều là đằng khác – Lái xe bình thản khẳng định – chúng nó từng quắp cả trẻ con về tổ để ăn. Còn bắt lợn gà là chuyện bình thường.


Trang rú lên. Lái xe nói người dân tộc đi nương thường mang theo trẻ con, để ở chỗ mát, nhiều khi mải làm quên luôn cả chúng. Ðại bàng từ trên cao thấy đứa trẻ ngoe nguẩy, cho đó là con mồi, thế là vụt xuống quắp lên. Lúc ấy bố mẹ chỉ biết đứng dưới mà ngửa mặt kêu gào. Trẻ sơ sinh dân tộc bắt đầu với thế giới này bằng vô vàn những bất trắc. Không ít đứa bị bố mẹ bỏ quên trên nương, về gần nhà mới sực nhớ, quay lại thì chỉ thấy còn sót một mảnh áo đầy máu với những vết chân hổ to như cái bát tô, chồng chéo.”


Còn địa bàn sinh sống của một giống người gọi là La Chí mới thật lạ lùng. Cái gì khiến họ chọn một địa điểm cao nhất quanh năm chỉ có mây mù và giá lạnh, với chim chóc lạ, đá lạ, cây lạ:


“ -Cao nhất ở vùng Ðông bắc này là đỉnh Lũng Tẩu.


(…) Ðó là thánh địa của một nhóm người La Chí. Họ chiếm trọn cái đỉnh ấy, quanh năm sống trong mây, trong giá lạnh, trong dồng dộng gió. Ðỉnh cao hoang lạnh ấy cũng là nơi họa mi chúa sống. Con họa mi chúa trắng từ đầu tới chân, hiếm ai nhìn thấy, nó thống trị tất cả họa mi ở dải Tây Côn Lĩnh. Mỗi khi họa mi chúa hót, lá trên đỉnh Lũng Tẩu đổi màu và sương sẽ rơi xuống như mưa. (…) Một đặc điểm quan trọng: Người La Chí rất giỏi đọc ý nghĩ của kẻ khác nhưng khó ai đọc được ý nghĩ của họ. (…) Người La Chí thích hát, bài hát của họ thanh thoát hơn các dân tộc khác. Chính vậy mà họa mi chúa mới chọn sống với họ. (…) Trước khi xảy ra cuộc va chạm, dân nước họ vẫn vượt qua biên giới, lần mò lên tận đỉnh Lũng Tẩu để lấy cây và đá về làm cảnh. Những cây tùng mọc trên đỉnh núi này có tuổi hàng vài trăm năm nhưng lại chỉ nhỉnh hơn ngón chân cái một chút, dáng của chúng rất đẹp. Theo hắn có hai lý do: Thứ nhất cây mọc trên đá, nên cằn, thứ hai, gió ở đây nhiều, vì thế mà cây luôn vặn vẹo theo đủ các dáng. Ðá của đỉnh Lũng Tẩu còn kỳ bí hơn bởi nếu mang xuống vùng đồng bằng khí hậu khô thì có khả năng tự phát ra âm thanh. Sống trên đỉnh Lũng Tẩu có thể thọ đến trăm hoặc trăm rưỡi vì khí hậu cực tốt.”


Khi đọc những trang Nguyễn Bình Phương viết về các dân tộc thiểu số trên vùng biên giới, tôi bỗng sực nhớ tôi đã có dịp tiếp xúc với họ, không chỉ một vài người mà cả một tập thể đông đảo. Thực lạ lùng là dịp gặp gỡ ấy cũng liên quan đến trận chiến 1979. Từ năm 1976 chúng tôi, một nhóm công chức thuộc chính quyền Việt Nam Cộng Hòa được đưa đi “cải tạo” tại trại Thanh Cẩm trên miền thượng du tỉnh Thanh Hóa. Năm 1981 tôi bị tai nạn vỡ xương bánh chè, người chữa cho tôi là một tù nhân người Trung Quốc, và những lá thuốc cần thiết cho việc chữa chạy lại hoàn toàn do những người dân tộc này hái trên núi quanh trại Thanh Cẩm. Tôi nhớ là tôi đã có viết về sự kiện này, vội đi tìm chồng báo cũ, và may quá đã tìm ra bài viết trên các số báo Thế Kỷ 21 đầu năm 1995, xin trích mấy đoạn liên quan. Trước hết là ông thầy thuốc người Tàu tên Phi:


“Phi là một tù nhân người Tàu độ 35 tuổi, đậm người, mặt tròn, bị bắt năm 1975 vì xâm nhập Việt Nam bất hợp pháp và bị kết tội gián điệp, ở Hỏa Lò Hà Nội một thời gian dài, mới được chuyển đến trại này mấy tháng nay. (…)Vừa là thầy thuốc giỏi, vừa chuyên về xương, sự hiện diện của anh ta giữa lúc này giống như là một sắp xếp của màn kịch định mệnh.” (Phạm Xuân Ðài, Chuyện cái đầu gối, Thế Kỷ 21 số 69, Jan. 1995).


Và đám tù nhân người dân tộc thiểu số đã đi hái lá thuốc để chữa chân cho tôi:


“Tất cả các thứ thuốc mà Phi có được đều là cây cỏ quanh vùng đem về sao chế. Có điều kẹt là Phi không được phép đi ra khỏi trại, các loại cây lá đều phải nhờ người khác hái trong khi đi lao động bên ngoài. Thường người Việt Nam không làm được việc này, vì Phi không biết các loại cây cỏ làm thuốc ấy tiếng Việt gọi là gì, mà mô tả hình dạng thì người được nhờ không thể nào nhận ra giữa vô số cây cối của núi rừng nhiệt đới. Cũng may là thời ấy có những đội toàn là người Tàu, Phi nhờ họ kiếm được khá đầy đủ lá thuốc. Thật ra đám tù nhân ấy không hẳn là người Tàu, họ là các sắc dân thiểu số sống ở vùng gần biên giới Tàu, có thể nói tiếng Việt, tiếng Tàu và thổ ngữ của họ. Sau trận chiến với Trung Quốc năm 1979, các sắc dân ấy, mà Hà Nội nghi là thân Tàu, bị tập trung hàng loạt nhốt một chỗ cho chắc ăn, chứ thật ra họ không có tội tình gì cả. Họ toàn là dân sống ở miền núi nên cây cỏ họ cũng rành lắm. Ðối với một vài sắc dân thảm cảnh đã xảy ra: bị bắt vào tù họ đã chết hàng loạt, đến độ trại mộc dù làm hết công suất cũng không thể cung cấp đủ hòm để chôn kịp, cuối cùng đành phải quấn chiếu mà chôn. Ðó là những giống dân ở vùng núi cao, họ trồng cây thuốc phiện và dùng thuốc phiện hàng ngày như ăn cơm, uống nước, khi vào tù cơ thể họ không chịu nổi tình trạng thiếu thuốc, cứ rũ liệt, héo tàn dần dần không có cách gì cứu chữa được (dĩ nhiên có một thứ thuốc có thể chữa được, là thuốc phiện, nhưng kiếm đâu ra). Cái chết của họ thực thương tâm, họ đã sống hồn nhiên như cây cỏ, đã say sưa với chất nhựa ma túy lấy từ thiên nhiên chung quanh họ là những đỉnh cao lạnh lẽo mù sương, chắc cả đời họ chẳng biết đến những chuyện chính trị như kẻ này cần dạy cho kẻ kia một bài học, thế mà một hôm họ bị gom vào tù, rời khỏi môi trường cố hữu của họ, và gục chết. Chết không kịp chôn.” (Phạm Xuân Ðài, Chuyện cái đầu gối, Thế Kỷ 21 số 70, Feb. 1995).


Trên chuyến “xe lên” Nguyễn Bình Phương có nhắc đến vùng thuốc phiện.


“Huyện tặng đoàn hai can mật ong hoa bạc hà. Hồi chưa cấm trồng thuốc phiện thì mật ong hoa thuốc phiện là nhất, giờ thì mật ong hoa bạc hà là nhất. (…)Thời kỳ Pháp cai trị, vùng này là nơi cung cấp thuốc phiện cho toàn bộ Ðông Dương.”


Ðó là địa bàn của người Mèo, nơi có con sông Nho Quế chảy qua. Trong lịch sử, sông Nho Quế đã mấy lần biến thành màu đỏ vì các cuộc tàn sát, và trong cuộc 1979, nó lại được nhuộm đỏ bởi máu Tàu lẫn máu Việt.


Người Mèo là một dân tộc thiểu số được biết đến nhiều, nhưng ít ai biết điều này:


“Người Mèo ít khi sử dụng ưu thế của đôi mắt, họ không dùng nó để biểu cảm như các dân tộc khác. Ðối với họ, mắt chỉ thuần để nhìn, không phải để xét đoán.”


Tôi không biết do duyên nợ từ kiếp nào mà tôi, một người miền Nam, lại có dây dưa với dân tộc trồng thuốc phiện này, nhân cuộc chiến 1979 mà họ vào Thanh Hóa, giúp đi hái lá thuốc để chữa chân cho tôi. Và hôm nay, 30 năm sau, tôi lại ngồi săm soi tác phẩm của Nguyễn Bình Phương, cũng về cuộc chiến ấy, để tìm dấu vết của một cuộc khảo sát dân tộc học về người Mèo ở tuốt từ trên đỉnh núi cao, những người một thời đã lừng lẫy sống vì thuốc phiện, và cũng đã chết vì thuốc phiện.

Tin mới cập nhật