Xuân Ca

 


Thiếu Khanh







Em có biết bởi mùa xuân xinh quá
Cứ hồn nhiên như hoa lá trên cây
Ta trân trối như trụ đồng tượng đá
Chợt thẹn thùng em gỡ thoát hai tay.


Em có thấy nụ sương trên ngọn cỏ
Buổi sớm mai sương mới mọc trên trời
Ta rối rít cho nên em động vỡ
Thành âm giai khúc khích ở trên môi


Em có nghe bài xuân ca trong đất
Cỏ non thơm con dế hát rì rào
Em có thấy những chồi xuân mở mắt
Gió thì thầm hoa lá nép vai nhau


Con chim nhỏ bay chuyền trên nhánh mới
Tiếng hót dài lóng lánh nắng ban mai
Từng chuỗi ngọc ở ngang trời gieo vãi
Rơi tung tăng tiếng nhạc xuống môi người


Cùng buổi sáng nên cùng chung vội vã
(Em cũng nghe hơi thở ở trong hồn?)
Ta bay nhảy và lòng không mặc cả
Con bướm nào phơi phới cánh môi hôn


(Nguồn: Son Ng.; [email protected])

Bài Thơ Ghi Bên Cầu Chữ Y

 


Trần Dzạ Lữ







Từa tựa tằm ăn rỗi
Em ngốn hết mùa xuân
Ta lưng chừng dốc đợi
Treo lòng giữa phân vân… 


Nắng trải dài mộng mị


Phố vẫy hoài hương xưa


Tình loanh quanh về chưa


Ngẩn ngơ đời hàn sĩ!


 


Nếu được như Phạm Lãi


Giong buồm tình Tây Thi


Ta sẽ cõng em về


Một nơi nào xa ngái!


 


Quên đi bao dấu hỏi


Những mong manh phận người


Quên luôn nợ cơm áo


Ngày mỗi trà hụt hơi…


 


Nơi mùa xuân mãi mãi


Ngây ngất cuộc tình nồng


Adam níu thiên đường


Cho Eva trở lại!


 


Nhưng rồi xuân vẫn vậy


Em ngốn hết bao mùa


Ta hoài công đi cấy


Ước mơ vào hư vô…


 


(Nguồn: Son Ng.; [email protected])


 


 

Ði Chợ Tết

Quan Dương



 









 


Chủ Nhật theo em đi chợ tết
Cuối năm.
Trời lạnh nổi da gà
Lòng vòng trong chợ nhìn thiên hạ
Hồn chợt ngang xương nỗi nhớ nhà
 
Bó cải trên quầy màu cổ tích
Bày bán ê hề giữa chợ xuân
Nhớ mẹ quê xưa chiều tháng chạp
Gánh cải vai oằn ngọn gió đông
Ống quần mẹ xắn ngang đầu gối
Bùn đất ngậm sầu mấy ngón chân
 
Chủ nhật theo em đi chợ tết
Anh núp mình trong jacket dày
Nhớ buổi nhà nghèo đi chân đất
Cha trở trăn theo tiếng thở dài
Tết đến gió luồn đường chỉ rách
Mảnh vá trân mình nhẹ như mê
 
Chủ Nhật theo em đi chợ tết
miếng ăn đất khách bán dư thừa
thiếu miếng ân tình còn ướt lệ
Mua về ướp lại giấc mơ xưa
 
Thuở giấc mơ chưa sà xuống thấp
Trời cao chỉ một vói ngang đầu
(cái thuở làm sao em hiểu được)
Anh buồn còn hơn nồi cơm thiu
 
Chủ Nhật theo em đi chợ tết
Chai rượu chờ anh trên kệ nằm
Chạnh nỗi mồ côi từ lâu lắc
Vô cớ buồn hơn đứa chết bầm
 
(Nguồn: Son Ng.; [email protected])

Bài Thơ Năm Mới

 


Hoàng Lộc









năm mới – em còn không áo mới?
có nghe trời lạnh cóng, tàn đông
khi thêm một tuổi buồn một tuổi
ngày xưa xin cất giấu trong lòng


em vẫn như thời ta quen biết
ưa chăm hoa cỏ đón xuân về
cây ngọc anh đầu sân đã chết
em bắt đền kẻ cuối trời kia…


cuối trời – ta cũng vào năm mới ?
trắng đêm ngồi ngó mặt phong trần
ta như cây mùa cây hết lá
dang đời mình chờ cạn trăm năm


có lẽ chỉ còn em biết được
bài-thơ-năm-mới cũ mà thôi ?
nhiều khi những gì sâu kín nhất
không thể nào che giấu một người…


(Nguồn: Son Ng.; [email protected])


 


 

Chén Trà Xuân


 
Mạc Phương Ðình







Ngày Xuân người uống rượu
ta ngồi uống nước chè
ấm chè xanh Tiên Phước
ngọt ngào mùi hương quê
đầu xuân nơi Bắc Mỹ
hơi lạnh còn tê tê
chén trà tỏa hơi nóng
ấm trong lòng bàn tay
bỗng dưng dào dạt nhớ
khóe mắt dường cay cay
chừng như có giọt lệ
rơi xuống chén trà đầy
vị trà pha nước mắt
tỏa mùi hương quanh đây
bạn bè giờ xa khuất
quê hương như bóng mây
cồn cào trong gan ruột
chén trà làm ta say.
 
(Nguồn: Son Ng.; [email protected])


 

Bông Hồng Ðầu Năm


Mường Mán







 
Mưa chẳng nhảy valse trên đường nữa
Vàng chi lắm thế nắng mai ơi
Hình như có điệu tango mới
Ðưa bước em qua ngõ nhà người
 
Ðông biếc đã phai ngoài dậu trúc
Tết hồng xác pháo cuối hiên mai
Có chàng nghiêng ngó xuân sau trước
Rồi chợt thấy mình đi theo ai
 
Dòng sông uốn lượn theo chân sáo
Chim lợp vòm me khúc nhạc vui
Ði lễ chùa xa nên em vội
Quên cả giấu duyên trên miệng cười
 
Màu áo hoa ngâu như là sóng
Tóc mơ se mộng với mây trời
Thầm cuốn lòng ai lên tận núi
Chùa xa chuông điểm nhịp sương rơi
 
Lóng ngóng ẩn mình sau hương khói
Với cành hoa nói hộ trên tay
Sao anh chẳng dám trao thiên hạ
Ðể hồng úa rụng chỉ còn gai
 
Bông hồng chưa nhận em đâu biết
Có kẻ khật khùng suốt Tết nay
Trái tim thôi nhảy soul trong ngực
Bởi đã hóa thành bong bóng bay…
 
(Nguồn: Tony Son Nguyen; [email protected])

Như Cây Trái Tết

Bùi Chí Vinh







Mới đầu anh tưởng em là ổi
Xá lị mà ăn rất đã đời
Dè đâu em trở thành xí muội
Ngọt ngào mà chua lét đôi môi


Anh ê răng chạm vào trái cóc
Em lại đem xoài tượng ra mời
Tim anh phân nữa là muối ớt
Nửa nước mắm đường nêm mê tơi


Em khoe cả một vườn cây trái
Me dốt mùa xuân ngó bắt thèm
Trái dâu nũng nịu trên đầu lưỡi
Có xuýt xoa bằng anh nhớ em?


Em đỏng đảnh tương đương như tết
Yểu điệu mà chua ngọt đủ điều
Anh nằm mộng suốt đêm trừ tịch
Thấy trái trong vườn cũng biết yêu!


(Nguồn: Tony Son Nguyen; [email protected])


 


 

Xuân Ca

 



Tưởng Dung







Nguyên Phan phổ nhạc, Thùy An hát,
Liên Như Trần thực hiện thành YouTube
 
Mùa Xuân có phải
là những giọt sương
long lanh cuối mắt
khi ta nhìn nhau
ngọt ngào nỗi nhớ?
 
Mùa Xuân có phải
là những nụ hồng
trên cành lá biếc
như môi xinh tươi
chờ người hôn vội.
 
Mùa Xuân có phải
là những bình minh
ngồi nghe chim hót
lời ru bình yên
trên miền đất lạ.
 
Mùa Xuân có phải
là những hoàng hôn
cùng mây phiêu lãng
về thăm vườn xưa
làm mưa thấm đất.
 
Mùa Xuân có phải
là sóng dòng sông
quê nhà, xa lắc
đang vỗ dạt dào
trong lòng êm ả?
 
Mùa Xuân có phải
là bản tình ca
anh đàn em hát
về quê hương xa
mãi là… tất cả!



(Nguồn: [email protected])


 

Xuân Ðất Khách


 
Trần Trung Ðạo







Ai có về bên kia đất nước
Thở giùm tôi hơi ấm quê hương
Tôi, con én lạc mùa xuân trước
Vẫn khóc âm thầm nơi viễn phương
 
Vẫn đếm xuân về trên đất khách
Nghe buồn nhỏ giọt xuống vai tôi
Ðèn ai thắp sáng bên kia phố
Nhớ quá, chao ôi, tiếng mẹ cười
 
Bếp lửa than hồng sao chẳng ấm
Tôi thèm một chiếc bánh chưng xanh
Thèm nghe ai nói lời tha thiết
Một lời chúc tụng bước sang năm
 
Ai có về bên kia đất nước
Chở giùm tôi nỗi nhớ qua sông
Hỡi em, cô gái mùa xuân trước
Còn đứng hong khô áo lụa hồng
 
Lòng tôi cũng bạc theo màu áo
Chiếc pháo giao thừa đã tả tơi
Chén rượu mừng xuân tôi chẳng uống
Chỉ uống đêm nay những ngậm ngùi.



(Nguồn:Son Ng.; [email protected])

Hai lần Xuân đến


 
Phan Ðắc Lữ







 
Ngày tôi đến công trường
Vườn táo đầu làng chín ngọt
Chua chát lòng tôi mùa đông chuyển gót
Ðêm đầu xuân da diết nhớ quê hương
Nhà trống phiên thưa rét buốt tận xương
Giữa tối giao thừa
Ngồi quanh bếp lửa
Uống trà suông
Bàn chuyện tương lai
 
Một mảnh áo bông
Không góp nổi tiền
Gió lạnh đầu mùa đe dọa
Vườn táo một lần nữa lại ra hoa
 
Sáng nay trên cành trụi lá
Âm thầm đếm bốn mùa đi
Trời đất cho tôi nào thấy những gì
Mưa nắng mỗi mùa góp lại
Chai rắn đôi bàn tay trắng
Làm sao nắm bắt tương lai.
(Nguồn: DaiHocVanKhoaSG)

Thơ Biểu Ý

 


Thơ Biểu Ý







 
Palden Choetso (1)
Om mani padme hum (2)
Vạch phăng màng lưới vô minh
Ðặc quánh quanh quả địa cầu
Tiếng kinh của người Tây Tạng
Cả thế giới rúng động
Thêm một lần giàn giụa cảm xúc
Lệ tràn trên từng đọt lá
Ðất quặn mình
Hư không nhòa pháp vũ
“Gọi hết lửa vào xương da bỏ ngỏ
Phật pháp chẳng rời tay” (3)
 
Lửa đi giữa phố Sichuan
Ni sư gục ngã mười lăm giây ngoài
Lưng trời mây bổng chơi vơi
Lung lay mặt nước chót vời vợi non
Lạy người sát đất vào lòng
Niệm kinh bất hoại Kim Cang Phật Thừa
 
Khoảnh khắc vừa đủ dứt câu:
“Free Tibet
Let Dalai Lama comes home!”
(Tự do cho Tây Tạng
Hãy để Ðạt Lai Lạt Ma trở về!)
Tùng địa dõng xuất, Pháp Hoa kinh
Namo Avalokitesvara Bodhisattva
Nhỉ căn viên thông
Nghe thấy gì không?
Âm thanh ba động bốn nghìn chiều
Truyền đi trong mười phương cõi!
 
Trên thân ni sư Palden
Rực lửa
“Lửa, lửa, lửa”
Trăm ngàn ngọn lửa
Do đốt mà có
Hay đã sẵn cháy tự bao giờ
Trong mỗi chúng ta
Và mãi muôn đời
Trong tận cùng tâm thức nhân loại
Mỗi ngọn dâng lên vạn tòa sen
“Hữu hóa Như Lai
Tạo bảo hoa trung
Tuyên thuyết thần chú” (4)
Irvine, 25 tháng 12, 2011
 
Chú thích:
(1) Ni sư Palden Choetso, 30 tuổi, tự thiêu ngày 3 tháng 11, 2011 tại thành phố Tứ Xuyên.Trung Cộng.
(2) Om Mani Padme Hum: Tiếng kinh của người Tây Tạng.
(3)Trích từ bài thơ “Lửa Từ Bi” của Vũ Hoàng Chương.
(4) Trích từ bài tựa kinh Lăng Nghiêm.


 

Món nợ đầu Xuân

 


Phạm Hồng Ân 


Chợ xã bắt đầu vắng tanh. Người ta vội vã thu xếp hàng hóa, tất bật về nhà để kịp chuẩn bị đón Tết. Hôm nay là ba mươi. Ngày giao thừa. Ngày tống cựu nghinh tân. Gia đình nào nghèo nhất cũng phải có dĩa trái cây, dĩa mứt, hoặc vài lát bánh tét đặt lên bàn thờ. Giờ này, cái đồng hồ quán cà phê chú Tửng chỉ đúng ba giờ trưa. Thế mà, con đường làng đã rợp bóng người. Trai thanh gái tú ăn mặc bóng loáng, kéo nhau đi lũ lượt.







Chỉ có tôi, vẫn còn đứng đây. Giữa khu chợ thưa thớt, với xấp vé số dày cộm. Hôm nay đài Cửu Long. Cái đài khốn kiếp, tuần nào cũng có lô độc đắc vô tay cán bộ. Còn dân, sáng mua chiều vứt. Tội nghiệp, họ cầm đồng tiền chắt chiu để mua những tờ giấy lộn, chết tiệt.


Chiều qua, thằng con tôi đã cảnh cáo:


– Cửu Long là cõng lu. Nặng trình trịch. Ba coi chừng “ôm” đó! Lãnh in ít thôi ông ơi!


Mẹ, nó còn nhỏ, nên ăn chưa no lo chưa tới. Nó chưa biết chi về tục lệ ông bà. Chiều ba mươi Tết, khạp gạo phải đầy tràn. Nước nôi phải lai láng. Tệ lắm, cũng phải có một phong bánh in cúng ông bà, vài cây pháo chuột để đốt đì đạch đón giao thừa chào mừng năm mới. Lãnh in ít thì lấy đách chi mà ăn. Lấy cái gì làm tiền để mua gạo, mua bánh.


Từ đây về nhà, tôi nhẩm đếm sẽ leo hết 14 cây cầu khỉ chênh vênh chập chùng. Sẽ lội qua 4 ấp : Phú Bần, Phú Kiệt, Phú Keo và Phú Hàn. Xấp vé số, ít ra cũng vơi hơn phân nửa. Bọn trẻ đang có tiền lì xì. Chúng muốn lấy hên cuối năm. Ở đây, trong cái chốn đồng không mông quạnh này, chúng chỉ còn cách thử thời vận bằng đánh bạc hoặc mua vé số cầu may. Rồi, tôi sẽ lời chút tiền. Trở về căn chòi mục nát ở Phú Hàn, cạnh bờ ao cá tra của chị hai Rớt, thắp nén nhang đầu năm tưởng tiếc ông bà. Rồi, vợ chồng con cái sẽ quây quần bên mâm cơm đạm bạc, ôn cố tri tân, tính toán chuyện tương lai.


– Anh bán vé số ơi, vào đây cho em mua vài vé…


Một cô bé thấp thoáng trong sân vườn. Vạt áo bà ba màu hoàng yến phất phới như đôi cánh nàng tiên nào đó trong huyền thoại.


– Anh lựa hộ giùm em 10 vé, cầu may…


Tôi trao 10 vé cho nàng. Những con số đen đủi, lăn quay một cách hèn hạ trên bàn tay mượt mà, mềm mại của cô bé.


– Em tên Út, con của Tám Bòn, bà con bên vợ với anh đây…


Căn nhà mái ngói trong đám mía đường tịch mịch này đây, bỗng vươn ra, lớn dần, và nhào lộn trong trí nhớ tôi. Hôm ở tù về, vợ tôi có dẫn đến, giới thiệu với cậu tám – một người chủ vườn trung niên, từng lưu lạc khắp nơi trong thời chiến tranh còn ác liệt.


– Ồ, chào cô. Tôi có đến thăm cậu tám một lần, nhưng không gặp cô…


– Em dạy học ở Mỹ Tho, mới về.


– Ồ… thì ra cô… là giáo chức… Rồi, về chơi… chừng nào cô trở lại lớp học?


– Em trốn luôn. Giáo chức… vứt cháo dài dài… Em không còn tinh thần phát huy nghề nghiệp nữa…


Tôi ngậm ngùi. Khuôn mặt Út bỗng mập mờ hư ảo trước mắt tôi. Ðó là một khuôn mặt trái xoan thanh tú, chỉ tội có nốt ruồi phá tướng nằm vắt ngang môi trên, dưới cánh mũi phập phồng. Thế rồi… nàng sẽ như tôi. Sẽ về vườn làm cỏ, lội mương, chôn cuộc đời son trẻ vào các vũng nước ao tù.


Trong số khách hào phóng mua vé số tôi mỗi ngày, Tư Ðà là một thanh niên có những nét đặc biệt. Hắn thường đến nhà tôi vào lúc gà gáy sớm, lúc sương còn ướt đầm ngọn cỏ. Hoặc khi trời tối mịt, khi bóng đen trùm phủ ấp Phú Hàn, chỉ có ánh đuốc của hắn lập lòe bùng cháy trong đêm.


Hắn đến để rút dăm tờ vé số chết tiệt, rồi ngồi bó gối cùng tôi uống trà, rung đùi kéo những hơi thuốc rê mịt mù sương khói. Ðôi khi, trong cơn mưa dai dẳng buồn nẫu ruột, hắn cắp nách xị đế chạy tìm tôi, rồi hái quách trái bưởi non làm “mồi,” hai anh em ngồi lai rai đến khuya lơ khuya lắc.


Tư Ðà sinh ra và lớn lên tại Phú Hàn. Và chỉ biết có đồng ruộng, con trâu, cùng cỏ cây hoa lá. Ðến tuổi thanh niên, người ta dí vào tay hắn cây AK, rồi đẩy hắn ra bờ sông làm du kích ấp. Tội nghiệp, suốt thời gian đi du kích, hắn chỉ biết trốn chui trốn nhủi trong những căn hầm hôi hám, khi máy bay hoặc tàu thủy của lính Cộng Hòa thi nhau tăng hỏa lực đì đùng. Cứ bị dồn vào chiến cuộc như thế, hắn không có điều kiện cắp sách đến trường, nên dốt đặc cán mai, một chữ i tờ lận lưng cũng chẳng có. Chiến tranh chấm dứt, khi tiếp xúc với đủ thành phần trong ấp Phú Hàn, Tư Ðà cảm thấy thua thiệt. Hắn bắt đầu đau khổ, chán đời, mượn rượu tiêu sầu. Rồi… tìm đến tôi – một kẻ bị đời chán – bầu bạn giải khuây.


Sáng Mồng Một Tết năm nọ, tự dưng, hắn mang đến tặng tôi một gói Samit đầu lọc. Hút thuốc rê khét lẹt đã lâu, bỗng dưng có Samit như bắt được vàng, tôi vội hít vào tận phổi những hơi khói thơm lừng, sảng khoái đưa tâm trí mình về cõi mê hoang, quên mất Tư Ðà đang lúng ta lúng túng mở đề câu chuyện.


– Anh Sáu, tui… tui… có chuyện… nhờ anh…


Tôi rung đùi, từ tốn rót tách trà “quạu” cho hắn:


– Chuyện gì? Cứ nói. Bạn bè nhau, khách sáo chi nữa, ông bạn?


Hắn hồi hộp ngó láo liên xung quanh, rồi e dè kề sát tai tôi:


– Tui… nói, anh đừng cười. Tui… tui… thương… cô Út, con Tám Bòn…


Tôi chưng hửng, ngó hắn từ đầu đến chân, từ chân lên đầu.


– Thì… cứ việc tỏ tình. Biểu lộ cho nàng biết tình yêu của mình.


Mắt hắn đỏ hoe, cuống quít nhìn tôi một cách thiết tha:


– Anh hút Samit thêm đi. Rồi… suy nghĩ, viết giùm em lá thư tỏ tình. Anh thông cảm, giúp… em…


Những ngụm thuốc Samit làm tôi hưng phấn, thoải mái tinh thần. Mùi thuốc ngọt lịm, thơm phức… cứ thoang thoáng xung quanh – gây nên cảm giác ngất ngây chất ngất. Gần mười năm qua, tôi đã làm bạn với thuốc rê. Ôi, những sợi thuốc rê đen mun và hăng hắc, hút với giấy nhựt trình chỉ ngửi được mùi giấy khét lẹt. Vậy mà nó cũng kích xúc, cũng tê mê, giải phá cơn sầu. Cám ơn Tư Ðà, người mang đến cho tôi gói samit tuyệt vời giữa chốn khỉ ho cò gáy này.


– Dễ thôi. Tôi viết giùm anh… bây giờ.


Thế rồi, lá thư tình được tôi nắn nót một cách lãng mạn. Tôi “cóp” nguyên xi bài Tình Tuyệt Vọng của nhà thơ trữ tình Pháp Lamartine, được nhà văn Khái Hưng dịch lại bằng lời Việt. Tư Ðà hồi hộp thay tôi sang tận Phú Keo bán vé số. Hắn đột nhập vào đám mía đường tịch mịch, khẩn thiết mời mọc Út mua số, rồi ấp a ấp úng trao lá thư tình.


Vài ngày sau, giữa lúc tôi đang ngồi xếp bằng dưới chiếu, tẩn mẩn ghi lại kết quả xổ số từ radio, Tư Ðà thình lình xuất hiện. Hắn hí hửng đưa cho tôi xem lá thư hồi âm, rồi choàng vòng tay qua vai tôi, biểu lộ lòng biết ơn trìu mến… Nét chữ mềm mại con gái khiến tim tôi se lại. Hàng loạt kỷ niệm học trò hiện ra miên man, dắt tôi trở lại thời áo trắng xa xưa. Không cầm lòng được, tôi dẹp radio sang một bên, cầm bút viết ngay dòng chữ hồi âm. Thế rồi, thư qua thư lại, thư lại thư qua… ròng rã gần hơn năm trời. Cho tới một hôm, đúng ngay ngày ấp Phú Hàn đồng loạt quết bánh phồng đón Tết. Giữa tiếng thình thịch thình thịch vang rân khắp xóm làng, Tư Ðà vui vẻ đến nhà tôi, trịnh trọng trao tấm thiệp cưới với nụ cười rạng rỡ. Như vậy, bắt đầu từ hôm nay, tôi đã chấm dứt nhiệm vụ của một kẻ se duyên. Cầu mong mối tình Tư Ðà và Út trọn đời gắn bó.


Chẳng hiểu hạnh phúc có thật sự đến với cặp tình nhân này hay không? Chỉ biết, khi tôi sắp sửa đi Mỹ, Út vội vã đến tìm tôi, rồi nhanh nhẹn lôi tôi ra phía hàng cam xanh um trĩu trái.


Ðêm ấy cũng là đêm giao thừa. Nhà nào nhà nấy đều đốt đèn thắp nhang đỏ rực cả khu ấp. Dưới bóng tối vây quanh của vườn cam, trong ánh sáng nhờ nhờ của ngọn đèn nhà tôi hắt ra, tôi thấy những giọt nước mắt lả tả rơi não nề trên khuôn mặt Út.


– Có phải những lá thư năm xưa, chính anh là tác giả… Anh viết hộ cho Tư Ðà phải không?


Tôi quính quáng, nghẹn lời:


– Ơ… ơ…


– Anh hại em, hại cả một đời. Tư Ðà không xứng với em. Anh ta mù chữ, dốt tính toán, chẳng giúp cho em được chi hết…


Tôi xót xa nhìn Út, khuôn mặt trái xoan mập mờ, lung linh một cách tội tình:


– Ơ… ơ… Anh xin lỗi…


Út úp mặt vào hai bàn tay khóc rấm rức. Bờ vai nhô lên, rung rinh như một cánh buồm trên sóng nước. Ðột nhiên, nàng cất tiếng, quát lớn vào tai tôi:


– Anh ác lắm, tàn nhẫn lắm!…


Rồi vụt bỏ chạy như điên, khuất dần trong bóng đen mịt mùng của ấp Phú Hàn.


Cho tới giờ này, ở phương trời viễn xứ xa lạ, tôi vẫn luôn bị dày vò, vẫn ân hận mãi về chuyện se duyên lá lay này.


San Diego, 5 tháng 12, 2000


(Nguồn: Tác giả gửi qua Thư viện Sáng tạo)


 

Tết quê xưa

 


Huỳnh Kim Bửu


Tôi xa quê đã lâu, ăn Tết quê người đã bao nhiêu cái Tết, nhưng không quên được Tết quê nhà thuở tôi còn thơ.


Mới đầu Tháng Chạp, các chợ Gò Chàm, Ðập Ðá, Cảnh Hàng… đã nhộn nhịp cảnh mua bán những mặt hàng ngày Tết: Vải vóc, quần áo, gạo nếp, dụng cụ gia đình… Từ ngày 22 trở đi, chợ còn nhóm đêm nữa. Tôi mừng lắm mỗi khi được mẹ dẫn đi chợ Tết. Thế nào tôi cũng vòi vĩnh mẹ mua cho được, khi thì con gà cồ đất, khi thì anh giã gạo bằng gỗ, cái trống rung bịt giấy bóng… Ðem về nhà, tôi chơi với những đồ chơi ấy không chán, tôi thức dậy sớm để gáy con gà cồ đất lúc sáng sớm, rồi đi học. Và còn đem đi khoe với lũ đồng trang lứa trong xóm.







Mấy ngày trước Tết, nhà nào cũng lo trang trí nhà cửa, lau chùi bàn thờ gia tiên, tham gia tổng vệ sinh đường làng ngõ xóm. Các cái hàng rào xanh được cắt ngay ngắn. Nhiều nhà trồng trụ đèn trái ấu, cây nêu cao ở trước sân, dán câu đối Tết ở hai trụ ngõ. Các chợ chỉ bán hoa giấy ngũ sắc cắt thủ công, dán vào cọng thép hoặc thanh tre chuốt mảnh tạo thành cành huệ, cành cúc, cành mai… được nhiều người mua, bảo là về chơi cho bền. Nhiều nhà trồng cúc, thược dược, vạn thọ… hoa nở khoe sắc khoe hương như một báo hiệu Xuân sang,


Mỗi năm, mỗi Tết qua đi, tuổi tôi mỗi lớn khôn. Mỗi lần sắp đến Tết, tôi thấy người ta ra chợ, mua những tấm bức đại tự viết chữ Phước hoặc Thọ hoặc chữ Thái Sơn hoặc Càn Khôn về treo trên bàn thờ ông bà. Các thầy đồ ngồi viết bức thờ khăn đen, áo dài đĩnh đạc, chữ viết như “Phượng múa rồng bay.” Mà khách mua cũng là những người đàn ông thành tâm, lịch sự, bà ba trắng guốc mộc, thưa gởi rất lễ phép với thầy đồ.


Không ít nhà treo tranh Tết mua ở các hiệu tàu trên Bình Ðịnh, Ðập Ðá… Tranh Ðông Hồ Hứng dừa, Ðám cưới chuột, Ðàn gà mẹ con… kén người mua. Người ta mua tranh ”Tứ bình” in mộc bản Mai-Lan-Cúc-Trúc, Bát Tiên, Mục Kiền Liên, Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Quốc Toản… Mẹ đi chợ Phú Ða mua về một bộ tranh Phù Ðổng Thiên Vương đuổi giặc Ân treo ở phòng khách. Ði học về thấy tranh, tôi và thằng Út dán mắt vào xem. Thấy thế, đến tối mẹ giảng sự tích Tháng Gióng cho nghe, để tôi nhớ suốt dời.


Tôi cảm thấy hạnh phúc gia đình ở đêm 30 Tết: Gia đình tôi đoàn tụ và cả nhà thức để đón giao thừa. Ba làm cai lục lộ, quanh năm đi làm xa nhà, chị Hai buôn bán với các cô gái hái chè ở đồn điền chè Bàu Cạn, đến chiều 30 Tết mới lục tục về để cho mẹ trông đợi. Nhà trên, Ba đã thắp đèn nến sáng choang và báo cho chúng tôi giao thừa đã đến. Lòng tôi bồi hồi cảm động vì thấy bao điều thiêng liêng ở phút giây này. Gương mặt của mọi người trong nhà đều tươi vui. Mẹ đi thăm nồi bánh tét còn chị Hai thì ngồi tỉa tót những bánh hoa quả: Mãng cầu, chanh, ớt… bằng bột nếp nhuộm màu, trông giống như thật. Sáng Mồng Một, mẹ dặn mọi người phải tử tế với nhau để cho cả năm gặp toàn chuyện vui. Tôi và thằng Út, nhỏ nhất nhà, nghe mẹ nói thế, mừng lắm. Chị Hai dẫn tôi và thằng Ut Nhàn ra đường làng, chị bảo là đi xuất hành. Có đông người đi xuất hành như chị em chúng tôi. “Chí cha chí chát khua giày dép” (TTX) và lượt là phấn son làm rộn lên âm thanh và sắc màu con đường làng sáng Mồng Một Tết.


Mấy ngày Tết, các đình làng ở trong vùng đều có tổ chức các trò chơi: Ðánh bài chòi, đánh đu, đập ấm, bịt mắt bắt dê… Người trong làng ra xem. Chàng trai cô gái làng nọ sang làng kia xem như thể vừa du Xuân vừa giao duyên để sau đó đã có bao “chuyện tình”:


Trai Thuận Thái nhớ gái Kim Tài
Trách con sông Gò Chàm nó chảy, rẽ hai chúng mình.
(Ca dao)


Ðình Trung Lý, đình Tân Dân, chùa Ông trong thành Bình Ðịnh, Tết nào cũng xổ cổ nhân. Cổ nhân là một trò chơi đòi hỏi kiến thức, là dịp cho mấy thầy đồ ngồi sẵn hè phố bàn “thai” ăn tiền. Ðánh cờ người thì hay tổ chức ở Cảnh Hàng, Háo Lễ… Những nhà có học thức: Thư sinh, hàn sĩ, thầy đồ, tú, cử… thường lấy việc “khai bút” đầu Xuân làm thú tao nhã theo tinh thần:
Chẳng hay ho cũng đỗ Tú tài
Ngày Tết đến cũng một vài câu đối…
(Trần Tế Xương)


Ðến đêm Rằm Tháng Giêng thì mọi người tụ hôi về nhà ông Cử Nhì ở Thuận Thái để “trình làng” những bài thơ khai bút đó. Thật là một cuộc uống rượu ngâm thơ dưới vầng trăng Nguyên tiêu đầy thi hứng.


Từ mồng Năm trở đi diễn ra nhiều lễ hội ở các đình chùa: Vía Chùa Ông Bình Ðịnh 12, chùa Bà Liêm Lợi 17, Tổ nghề dệt Chùa Kén – Phương Danh 21, Thành Hoàng của các làng thì lần lượt mỗi làng một ngày… Các lễ hội có cúng tế, hát bội, náo nức lắm, người xem đến mỏi mắt mà không chán. Ðặc biệt, lễ hội Ðống Ða, kỷ niệm trận đại thắng của anh hùng dân tộc Quang Trung, ngày mồng Năm Tết, là lớn nhất. Người đi trẩy hội, từ các nơi đổ về Ðiện Tây Sơn (nay là Bảo tàng Vua Quang Trung) như nước chảy.


Ðã gọi là ăn Tết, cho nên Tết phải có ăn:
Chẳng phong lưu cũng ba ngày Tết
Keo kiết như ai cũng rượu chè
(Trần Tế Xương)


Mấy ngày Tết, khi thì ba mẹ dẫn, khi anh chị cho đi theo, tôi được đi thăm Xuân, mừng tuổi, chúc Tết nhiều nhà trong dòng họ, bà con. Ði đến đâu, tôi cũng được tiền mừng tuổi, ăn bánh trái. Người lớn nói với nhau những câu chúc tụng, ăn uống nhiều rượu thịt.


Trong làng, có nhà phú ông và mấy người chức việc có phúc lộc, được tá điền, thuộc cấp đi Tết gạo nếp, gà vịt, bánh trái, trà rượu… để chật nhà, ăn Tết to lắm. Tôi nhớ món ngon ngày Tết của quê tôi: nem chua, chả lụa, thịt thưng, thịt bì… Thứ nhất, nhớ bánh tét của mẹ làm.


Mới đến ngày đưa ông Táo về Trời, 23 Tháng Chạp, mẹ đã lo chọn nếp ngon, đậu xanh đều hột, đặt phần thịt heo đậu tay… Mẹ bảo đâu đó cho sẵn để đến sáng ngày 30 dậy sớm gói bánh và nấu cho kịp đến giao thừa thì bánh chín. Bánh tét của mẹ nấu chín rồi, lột lớp lá chuối thấy cây bánh xanh, tét ra mặt miếng bánh mịn, nhân bánh ở giữa, phảng phất mùi thơm ngon. Ăn với thịt bì hay thịt heo phay, dưa kiệu… đều ngon. Có lần ngồi ăn bánh tét với cả nhà, anh Ba đố: Trong trắng ngoài xanh trỉa đỗ trồng hành, thả heo vô chạy. Ðố là cái gì? Tôi nghĩ một thoáng, đáp: -Bánh tét.


Anh Ba khen tôi thông minh cho tôi vui, chớ câu đố đó dễ ợt. Tôi nhớ mâm cơm ngày Tết, mẹ dọn lên bữa nào cũng tinh tươm: Ðủ thứ thịt (kho tàu, thưng, bì) bánh tráng, dưa kiệu, dưa leo, nhiều bữa có nem chả… Ba tôi vừa ăn vừa uống. Ba tôi bảo một năm được uống rượu Bàu Ðá mấy ngày Tết, ở quê người nhớ bao món ngon của quê hương.


(Nguồn: Son Ng.; [email protected])

Những cái Tết ly hương

 


Ðàm Trung Phán


 


Tôi đã xa quê hương 36 năm, tóc đã đổi màu và… thuyền muốn trở về bến cũ, mặc kệ dòng nước lũ cuộc đời .


 


Ngược dòng thời gian, tôi mong tìm lại những nguồn tình cảm thân thương, những kỷ niệm ấu thơ còn nhạt nhòa trong ký ức.


 


Tôi học xong trung học vào mùa Hè 1960, năm cuối tôi học Ðệ Nhất Chu Văn An tại Saigon.


 







 


Tuổi trẻ, tôi mơ ước được đi du lịch, giang hồ mạo hiểm. Tôi thích cuộc sống tự lập, xa gia đình. May mắn thay, tôi được học bổng du học ngành kỹ sư ở Úc, sau một cuộc thi tuyển khá gay go. Tôi học ngành kỹ sư mà suốt bẩy năm trung học tôi chưa hề nghĩ tới. Trong thời gian chờ đợi, tôi đã đếm từng ngày để được xuất ngoại, nôn nóng xem xứ lạ quê người. Nhưng số tôi bị “tuần triệt,” bị sao quả tạ chiếu, vì năm 1961, sau khi dinh Ðộc Lập bị bỏ bom, cụ Diệm không cho phép một ai xuất ngoại du học. Trình trạng của tôi thật như người ngồi trên đống lửa.


 


Ở hiền gặp lành, cuối cùng rồi trời cũng thương, tôi được xuất ngoại du học vào cuối năm 1961.


 


Cái Tết xa nhà đầu tiên của nhóm sinh viên du học tụi tôi là ở thành phố Sydney vào đầu năm 1962. Cả thành phố Sydney đất rộng, người đông đó chỉ vỏn vẹn có chừng 15 sinh viên Việt Nam. Tuy nhiên, chúng tôi cũng tổ chức Tết. Hai anh bạn và tôi đi xe bus lên phố tầu mua sắm thực phẩm Á Ðông. Muốn có hương vị Tết Việt Nam thì phải có bánh chưng, dưa hành, hạt dưa đỏ… Nhưng hồi đó ở Sydney, kiếm đâu ra những thứ đó, không như bây giờ, thực phẩm Á Ðông nào cũng có, thật ê hề. Không có bánh chưng, dưa hành, chúng tôi đành tưởng tượng cho đỡ thèm. Chúng tôi ca hát những bản nhạc Xuân quê hương, rồi kéo nhau đi ăn cơm Tàu cho đến khuya.


 


Rời nhà người bạn, tôi kiếm xe bus lên đồi Bellevue Hill nhìn xuống thành phố Sydney. Trong cái khí lạnh của đêm, và nhìn những ngọn đèn vàng phía dưới, tự nhiên nhớ nhà chi lạ! Tôi hình dung ra hình ảnh cha tôi đang khăn đóng áo dài đứng lễ trước bàn thờ tổ tiện. Mẹ tôi đã qua đời vào năm 1955, một năm sau khi gia đình tôi tay trắng di cư vào Saigon. Cha tôi, trong cảnh gà trống nuôi con, chăm sóc cho ba anh em tôi còn nhỏ dại. Lúc đó, ở Việt Nam, chỉ có cha tôi và một em trai 13 tuổi. Còn anh tôi, hơn tôi một tuổi, và tôi, mỗi đứa ở một bán cầu xa lạ: Mỹ Châu và Úc Châu.


 


Những ngọn đèn vàng lấp lánh dưới chân đồi đưa tôi về dĩ vãng của những năm nhỏ dai. Quê tôi tại Bắc Ninh, mẹ tôi là người con gái Nội Duệ:


Trai Cồng Vồng Yên Thế


Gái Nội Duệ Cầu Lim


 


Tôi còn nhớ mang máng những ngày hạnh phúc nhất của gia định. Những đêm trước Tết, bố mẹ tôi gói bánh chưng ở làng quê tôi. Tôi cố thức để coi nồi bánh chưng và canh trộm trong những ngày tháng “củ mật” cùng với người lớn.


 


Rồi tôi lăn ra ngủ lúc nào không hay.


 


Sáng Mồng Một Tết, mẹ tôi bắt chúng tôi ăn mặc đàng hoàng để đi chào họ hàng, để được mở hàng và đánh tam cúc cùng với gia đình. Tôi cũng còn lờ mờ nhớ được những đêm sáng trăng, những người thợ gặt vừa đập lúa, vừa hát đố với nhau.


 


Ngày vui qua mau! Chiến tranh lan tràn đến làng, tôi theo cha đi chạy loạn, mẹ tôi phải ở lại nhà vì mới sinh em trai. Tôi bắt đầu hiểu biết thế nào là ly tán. Hơn 40 năm về sau, tôi đã ghi lại những hình ảnh đó qua những vần thơ mộc mạc:


Tôi sinh ra giữa lúc bom đạn ngang trời


Người nằm xuống vì bom rơi, vì nạn đói,


Những đêm tối, theo cha tôi đi chạy loạn,


Mẹ ở lại nhà vì vướng bận em thơ


Buổi tối đói, tôi mong mỏi đợi chờ,


Hình bóng mẹ và im lìm tiếng súng!


 


Rồi cha tôi bị Tây bắt đi tù, sau đó được thả và đi dạy học ở Phúc Yên. Anh em tôi theo cha đi học, lại phải xa mẹ, vì mẹ tôi phải ở lại quê trông nhà, ruộng vườn. Lúc đó, chúng tôi, đứa 9 tuổi, đứa 8 tuổi.


 


Có những buổi chiều, hai anh em tôi leo lên thang gác của những nhà bị bom ném sập, đứng ngó những xe “ca” từ Hà Nội lên Phúc Yên, hy vọng trong xe có mẹ lên thăm. Cuối cùng, gia đình tôi được đoàn tụ tại Hà Nội vào năm 1952.


 


Nhà tôi ở sát hồ Bẩy Mẫu và tôi học trường Ðỗ Hữu Vị. Ðường từ nhà tới trường rất xa, nhưng tôi không dám đi tầu điện vì người anh họ của tôi có tính “anh hùng” hay thích đánh lộn với những học sinh khác cùng đi một chuyến tầu điện với tụi tôi. Thành thử tôi phải cuốc bộ từ 5 giờ rưỡi sáng. Trên lộ trình, tôi chỉ còn nhớ mang máng những villa rất thơ mộng và những cái lạnh buổi sớm mai của Hà Nội.


 


Những ngày gần Tết, tôi xin phép bố mẹ cho tôi ghé qua chợ Ðồng Xuân xem chợ hoa sau giờ hoc. Tôi bắt đầu mê hoa từ đó. Về sau, trong những năm trung học, tôi đọc đi đọc lại cuốn “Gánh Hàng Hoa” và giờ đây, ở tuổi ngũ tuần, tôi thích trồng phong lan để sống lại những kỷ niệm của tuổi ấu thơ. Những ngày đầu năm, đi lễ đền Ngọc Sơn với mẹ, đầu đội berêt, mặc blouson đi chợ phiên cạnh hồ Hoàn Kiếm, tôi chẳng thấy lạnh là gì! Cuộc sống thật là êm đềm như một bài thơ.


Nhưng cuộc đời vô thường đầy thay đổi, Hiệp Nghị Genevè chia đôi đất nước được ký kết, gia đình tôi di cư vào Nam vào tháng 8 năm 1954. Ðấy là lần đầu tiên trong đời tôi được đi máy bay. Giờ đây, mỗi lần đi máy bay, tôi đều có cảm nghĩ mất mát, xa vắng:


Phi cơ đem đến chờ mong,


Bay đi biền biệt ai lòng buồn ai!


 


Sung sướng nhất là những năm 57, 58 khi tôi còn học trường Trần Lục. Trước khi nghỉ Tết, trường tổ chức đi xe lửa lên Biên Hòa xem các vườn cây ăn trái. Cùng đi trong toa xe, tôi nhớ nhất là thầy Doãn Quốc Sĩ, mà tôi thương mến từ năm Ðệ Lục, Ðệ Ngũ. Thầy đã dạy cả hai anh em tôi môn Việt Văn. Chính nhờ thầy mà tôi thích Việt Văn từ hồi đó.


 


Nhắc đến cái Tết tha hương đầu tiên luôn luôn làm tôi xúc động, vì hình như nó đánh dấu khúc quanh quan trọng nhất của cuộc đời tôi?


 


Trước Tết năm 1964 tại Sydney, tôi đã dành dụm đủ tiền mua được chiếc xe Peugeot 203, mà chỉ những vị sồn sồn như tôi mới may ra có thể hình dung nổi cái dáng dấp của nó. Xe le lắm cơ, có cả cái “sân thượng” (dịch từ chữ “sunroof” ý mà!). Ðêm ông Táo chầu Trời, tôi chở 4 ông bạn Mít da vàng, mũi tẹt đi chơi bờ biển cho đỡ nhớ nhà. Xe đang ngon trớn thì bị một thầy phú lít mắt xanh mũi lõ bắt tôi ngừng xe. Lúc bấy giờ tôi mới chợt vỡ lẽ là tôi đã đi ngược chiều. Tôi lo quýnh quáng vì nếu thầy biên phạt thì hỏng to, sẽ làm tiêu tan cả cái gia sản của tôi. Tôi cố trấn tĩnh để đối thoại với thầy cảnh sát:


Your driving license, please!


You drove crazy


And didn’t you see:


“One way” only


Hung on a tree?


Chủ xe:


Me Vietnamese


And me buddies


Go to party.


Me did not see


Sign on the tree!


Excuse me please:


“Rộng lòng từ bi


Ðừng phạt làm chi,


Ticket costs money


Please let me ‘đi’


I’ll be darn happy!”


Cảnh sát:


Hey you, smarty


You’re crazy


You’d better drive and see!


I let you go free


Enjoy and leave!


 


Khi xe chuyển bánh, một trạng lơn Vietnam (Dr. Vietnamese Pig), ngày còn ở quê nhà học trường Chu Văn An, bèn phóng tác ngay một bài thơ để tặng mọi người trong xe, tựa là đi xem hội


 


“Bẩm thưa thầy đội


Em đi xem hội


Cùng mấy cha nội


Chẳng may cây cối


Che mất phố phường


Nên đi ngược đường


Vậy xin thầy thương


Chớ nên biên phạt


Lần sau phạm pháp


Thầy “charge” gấp hai


Thôi nhé bái bai


Hẹn không gặp lại.”


 


Cuộc đời lăn như một hòn bi không bao giờ ngừng và từ đó tôi không còn có cái may mắn để ăn Tết ta, Tết tây với gia đình, họ hàng nữa.


Sinh viên chúng tôi chỉ có thể tổ chức văn nghệ sinh viên và ăn Tết tập thể với nhau. Cũng có năm, tôi phải đi thực tập tại các công trường trong đại lục Úc Châu nên không thể về chung vui ăn Tết Việt Nam với bạn bè được. Sự lạc lõng này đã gợi cho tôi những câu thơ như:


Quê hương tôi giờ này xa lắc


Tôi một người lạc lối giữa Á và Âu


Sa mạc này, tôi đã tìm thấy tôi!


 


Những dự tính của tôi khi còn học hoàn toàn đi trái ngược với thực tế. Tôi đã không đi làm công việc của một kỹ sư công chánh như tôi đã định và tôi cũng chẳng trở về Việt Nam để đoàn tụ với cha già và anh em tôi. Tôi đã đến lập nghiệp ở Canada và trở thành một giáo sư dạy ngành công chánh mà tôi chẳng bao giờ định trước!


 


Hơn 36 năm rồi, xa quê hương, mỗi lần Tết về, tôi cố nhớ lại những gì đã mất. Còn chăng, đó chỉ là những hình ảnh nhạt nhòa của chợ hoa Hà Nội, chợ hoa Saigon, cảnh gói bánh chưng cùng cảnh sum họp gia đình trong ba ngày Tết…


 


Tháng12, 1998


Toronto, Canada


Ðàm Trung Phán


([email protected])


 


 

CLB Văn Hóa & Báo Chí tổ chức nhạc thính phòng

 


WESTMINSTER (NV) Trong không khí mừng Xuân Nhâm Thìn, Câu Lạc Bộ Văn Hóa và Báo Chí sẽ tổ chức một buổi nhạc thính phòng mang tên “Mùa Xuân và Tình Yêu” vào lúc 8 giờ 30 tối Thứ Bảy, 28 Tháng Giêng (tức ngày mùng 6 Tết) tại câu lạc bộ bên trong nhà hàng chay Zen Vegetarian Restaurant, 9325 Bolsa Ave., Westminster, CA 92683. Tiếp tân vào lúc 7 giờ tối.










Ca sĩ Thục Oanh.
(Hình: CLB VH&BC cung cấp)



Ca nhạc sĩ An Khoa.
(Hình: CLB VH&BC cung cấp)







Nghệ sĩ dương cầm Lý Kim.
(Hình: CLB VH&BC cung cấp)



Nhạc sĩ Ngọc Trọng.
(Hình: CLB VH&BC cung cấp)


Ðây là một đêm ca nhạc thính phòng quy tụ các tài năng trẻ trong làng văn nghệ người Việt tại Orange County trình diễn những ca khúc mới và xưa vốn được quần chúng yêu thích.


Những khuôn mặt nghệ sĩ như ca nhạc sĩ An Khoa, nhạc sĩ Ngọc Trọng sẽ cùng với các ca sĩ trẻ duyên dáng như Thục Oanh, Hà Trúc Mai, Như Lan, Kim Trang, Ðan Thanh và một số thân hữu đến góp vui vào chương trình.


Ðặc biệt, “sân chơi văn nghệ” của câu lạc bộ mở màn với ngón đàn của một tài năng trẻ tuổi, nghệ sĩ dương cầm Lý Kim, 16 tuổi. Năm 2009, Lý Kim đoạt giải tư trong cuộc thi dương cầm do Ðại Học Cal State Long Beach tổ chức và năm 2010 đoạt giải nhì cuộc thi dương cầm do nhóm Japanese Pianist Association America tổ chức tại California.


Em Lý Kim ra đời Cambodia trong một gia đình nghệ sĩ người Việt lai Trung Hoa và Khmer. Cha em là nhạc sĩ Lý Ty, sinh sống tại Nam Vang nhiều năm, sau đó di tản qua Việt Nam và qua Mỹ. Ông là nhạc sĩ dương cầm, tây ban cầm và vĩ cầm. Ông từng chơi nhạc cho Hoàng Cung Campuchia trên 20 năm, và cũng chính là thầy dạy dương cầm cho Lý Kim 13 năm qua.


Ngoài ra, người đầu đàn trong nhóm, ca nhạc sĩ An Khoa, tên thật là Nguyễn-Khoa Ðốc Anh, thừa hưởng một giong ca tenor từ thân mẫu, vốn sinh trưởng trong một gia đình nho học và mang dòng máu văn nghệ, là con của cố đại sứ, bộ trưởng Văn Hóa Truyền Thông, cụ Nguyễn-Khoa Toàn. An Khoa bắt đầu học hát và trình diễn từ năm 4 tuổi, từng là thành viên trong ca đoàn Cơ Ðốc Sài Gòn do Giáo Sư Lê Văn Khoa hương dẫn. Ông sáng tác trên 20 nhạc phẩm Việt và song ngữ Việt Anh. Những tác phẩm được khán thính giả yêu chuộng là “Kỷ Niệm,” “Tình Quê,” “Tình Thương Người Cho,” “Em và Tôi,” “Có Bao Giờ Em Biết.”


Ông từng là quản trị doanh nghiệp của nhóm Club O’ Noodle (1992-1994) và là Personal Talent Manager và Agent của nhiều nhân tài Hoa Kỳ và quốc tế khi ông thành lập Ankhoa Agency International (1979-1988) và Ankhoa Production Agency (1980-1988).


Một nhạc sĩ đóng góp đặc biệt biệt trong chương trình được khán giả yêu mến từ nhiều năm qua, qua các ca khúc trữ tình như “Buồn Vương Màu Áo,” “Ân Tình Mong Manh,” “Ðêm Cô Ðơn,” là nhạc sĩ Ngọc Trọng. Ông ít xuất hiện trên sân khấu, nhưng lần này cũng đến với “sân chơi văn nghệ” của Câu Lạc Bộ Văn Hóa & Báo Chí vì rất thích chủ trương của câu lạc bộ tạo điều kiện cho giới trẻ. Ngọc Trọng không những là nhạc sĩ sáng tác mà còn là ngón đàn mượt mà Tây Ban Cầm và Keyboard.


Ðến với đêm ca nhạc thính phòng “Mùa Xuân và Tình Yêu,” khán giả còn thưởng thức các giọng hát trẻ đang lên như Thục Oanh, Hà Trúc Mai, Như Lan, Kim Trang, Ðan Thanh, v.v… Những tài năng trẻ trong vườn hoa văn nghệ sẽ cống hiến cho quí khán giả những tình khúc mùa Xuân, nhưng quan trọng hơn cả là tấm lòng cổ vũ và khích lệ của khán giả đối với các tài năng văn nghệ trẻ của cộng đồng Việt Nam hải ngoại.


Muốn tham dự, xin liên lạc số điện thoại 714-230-5003 hoặc 714-331-8393.

Westminster thông báo đóng đường diễn hành Tết 2012

 


WESTMINSTER (NV) Theo thông báo của thành phố Westminster, cuộc diễn hành Tết trên đại lộ Bolsa năm nay sẽ diễn ra từ 9 giờ 30 sáng đến 1 giờ trưa Thứ Bảy ngày 28 Tháng Giêng vào cuối tuần này.









Thông báo về lịch trình đóng đường khu vực diễn hành Tết do thành phố Westminster gởi cho cư dân. (Hình: Linh Nguyễn/Người Việt)


Ðể chuẩn bị, thành phố Westminster đã ra thông báo và gởi đến nhà của cư dân sống trong thành phố, với nội dung nhấn mạnh tuyệt đối không được đậu xe dọc hai bên đại lộ Bolsa, khoảng giữa Magnolia và Purdy.


Ngoài ra, cũng liên quan đến việc đóng đường, mọi người cần lưu ý giờ và các đường sau đây sẽ đóng trong ngày Thứ Bảy, 28 tháng Giêng:


-6 giờ sáng: Ðại lộ Bolsa khoảng giữa Newland và Magnolia


-8:30 sáng:


Ðại lộ Bolsa: khoảng giữa Magnolia và Bushard


Ðường Magnolia: khoảng giữa Greenville và Bolsa


Ðường Magnolia: khoảng giữa Bolsa và Gable Lane


Ðường Bushard: khoảng giữa Bolsa và Bishop Place


Bishop Place: khoảng giữa Bushard và Belgrade


Riêng những đoạn đường sau đây chỉ dành cho cư dân được phép di chuyển:


-8:30 sáng:


Ðường Magnolia: khoảng giữa Hazard và Greenville


Ðường Magnolia: khoảng giữa Bishop Place và Gable Lane


Cư dân, chủ doanh nghiệp và nhân viên trong khu Little Saigon cần đi về hướng Bắc của đại lộ Bolsa chỉ được ra vào đến 8 giờ 30 sáng. Muốn đi về hướng Nam của đại lộ Bolsa trong thời gian diễn hành, xin dùng đường Bishop Place.


Ðường phố sẽ được mở lại sau khi diễn hành chấm dứt. Muốn biết thêm chi tiết, gọi ban dịch vụ cộng đồng tại điện thoại số (714) 895-2860. (L.N.)


 

Cụ Bà Vũ Văn Đạm

 

Người giàu nhất thị trường chứng khoán Việt Nam ‘đổi nhà lấy cao su’

 


VIỆT NAM (NV) Chủ tịch Hội đồng Quản trị Tổ hợp Kinh tế Hoàng Anh-Gia Lai Ðoàn Nguyên Ðức vừa tuyên bố chấp nhận “đổi nhà lấy cao su” mà không hề luyến tiếc.









Ông bầu Ðức mặc áo ca rô chống nạnh giữa rừng cao su. (Hình: VNExpress)


Ông Ðoàn Nguyên Ðức, người giàu nhất thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay còn được mệnh danh là “ông bầu Ðức” vì đứng đầu một đội túc cầu ở Việt Nam. Ông này vừa được tạp chí Wall Street Journal đưa vào danh sách 29 doanh nhân quyền lực nhất khu vực Ðông Nam Á đã giúp Hoàng Anh-Gia Lai thu 90 triệu đô la tiền phát hành trái phiếu tại Singapore hồi tháng 3 năm rồi.


Ông cũng đã làm bùng nổ dư luận cho rằng ông và Hoàng Anh-Gia Lai đã mất trắng trên 350 triệu đô vì chứng khoán Hoàng Anh-Gia Lai sụt giá thê thảm trong năm qua. Tuy nhiên, theo báo mạng Ðầu Tư-Chứng Khoán thì tình hình trì trệ của thị trường chứng khoán không hề làm ông nản lòng vì ông đã hoàn tất việc “đổi nhà lấy cao su.”


Quyết định thay đổi cơ cấu đầu tư từ ba năm trước, để bất động sản chỉ còn chiếm 25% trong tổng trị giá đầu tư, ông bầu Ðức và Hoàng Anh-Gia Lai chuyển sang khai thác thủy điện, khoáng sản và trồng rừng cao su. Hiện nay, tổ hợp này đang sở hữu trên 100,000 ha đất trồng cao su tại Việt Nam, Lào và Cam Bốt. Yếu tố này khiến ông Ðức “nở phồng mũi” vì Hoàng Anh-Gia Lai hiện là công ty tư nhân Việt Nam duy nhất có quỹ đất trồng cao su lớn nhất Ðông Nam Á.


Coi cao su là loại vàng trắng, ông bầu Ðức đã bắt đầu “sự nghiệp khai thác vàng trắng” tại một khu vườn rộng 3,000 ha ở Attapeu trên đất Lào từ ba năm rưỡi trước, mà ông hy vọng sẽ thu hoạch được lứa đầu vào 5 tháng tới.


Tự nhận là một “nông dân thứ thiệt,” ông bầu Ðức cho rằng việc trồng cao su ở ngoài lãnh thổ Việt Nam là không dễ dàng, nhưng vẫn phải chấp nhận.


Ông bầu Ðức còn trồng 12,000 ha mía, ngoài kế hoạch xuống giống 100,000 ha cao su tại Attapeu trong hai năm 2012-2013 và tràn trề hy vọng vào loại sản phẩm “làm một, bán tới năm.”


Còn theo VNExpress, trong hai năm tới, Hoàng Anh-Gia Lai sẽ tăng số công nhân từ 6,000 người hiện nay lên hơn 20,000 người.


Cho rằng mình là người sẵn sàng đổi nhà để lấy cao su, ông bầu Ðức lại thú nhận rằng ông hiện “không có lấy một căn nhà ở Sài Gòn” vì “không có nhu cầu.” (PL)

Công an Thanh Hóa tiếp tục ‘quăng lưới’ bắt người

 


THANH HÓA (NV) Bất chấp dư luận ồn ào phản đối, công an thành phố Thanh Hóa hôm 23 Tháng Giêng cho hay sẽ tiếp tục áp dụng biện pháp quăng lưới vào xe gắn máy để bắt người vi phạm luật giao thông.









Cảnh công an Thanh Hóa quăng lưới bắt người lái xe gắn máy trên đường không chịu dừng lại theo lệnh. (Hình: báo Tiền Phong)


Theo báo Tiền Phong, công an Thanh Hóa nay còn dùng loại vật dụng mà họ gọi là “bùi nhùi” để ném vào bánh xe sau của xe gắn máy. Ðám lưới bùi nhùi này vướng vào bộ đĩa bánh xe sau khiến người cỡi xe gắn máy phải dừng lại.


Công an thành phố Thanh Hóa cho biết đã áp dụng biện pháp quăng lưới bùi ngùi bắt người không chịu dừng xe lại theo lệnh từ tháng 10 năm rồi.


Một số cán bộ công an Thanh Hóa còn “vui mừng” cho rằng biện pháp kỳ quặc này chưa gây chết người hoặc khiến người cỡi xe bị chấn thương nặng và giúp họ đạt được kết quả hữu hiệu là buộc người vi phạm luật giao thông phải dừng xe.


Theo báo Tiền Phong, công an Thanh Hóa tiếp tục áp dụng biện pháp này vì cấp trên của họ không cấm, bất chấp dư luận phản đối kịch liệt trong thời gian qua. (PL)


 

Dây cáp trò chơi nâng tuột đứt, 5 người bị thương

 


AN GIANG (NV) Dây cáp trò chơi nâng-tuột đứt thình lình làm 5 du khách ngồi trên ghế rơi từ độ cao 16m xuống đất tại khu vui chơi Vạn Hương Mai ở huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.










Dây cáp trò chơi nâng tuột đứt làm 5 người bị thương. (Hình: Bee.net)


Tai nạn xảy ra vào trưa ngày 24 Tháng Giêng, tức mùng 2 Tết làm cả 5 du khách bị thương được đưa vào bệnh viện cứu cấp.


Báo mạng Bee.net cho biết trò chơi nâng-tuột đưa du khách ngồi trên ghế lên một độ cao khoảng 16m rồi tuột xuống bằng một hệ thống dây cáp. Không may vào giờ nói trên, dây cáp đứt đột ngột khiến du khách đang ở độ cao nhất rơi xuống đất.


Năm người ngồi trên ghế trò chơi lúc đó đều bị thương trong đó có một phụ nữ tên Lê Thị Lanh bị thương nặng ở cột sống, được đưa vào bệnh viện cứu cấp.


Tất cả đều là cư dân huyện Thoại Sơn, Châu Ðốc.


Cũng theo Bee.net, đây là trò chơi giúp du khách “tìm cảm giác mạnh” như nhiều trò chơi được thiết kế tại các khu vui chơi ở Việt Nam. Tuy nhiên, vì được thiết kế sơ sài, chỉ cốt thu tiền của du khách bất kể sự an nguy của họ nên nhiều trò chơi kém an toàn vẫn được đưa vào hoạt động, đặc biệt trong dịp lễ Tết.


Nhiều tai nạn xảy ra tại các khu vui chơi thời gian qua, kể cả hệ thống cáp quang đưa du khách đi từ dưới đất lên núi cao chứ không phải trò chơi thông thường tại núi Bà Tây Ninh, khu du lịch Bà Nà… (PL)


 

Tin mới cập nhật