Những cái Tết ly hương

 


Ðàm Trung Phán


 


Tôi đã xa quê hương 36 năm, tóc đã đổi màu và… thuyền muốn trở về bến cũ, mặc kệ dòng nước lũ cuộc đời .


 


Ngược dòng thời gian, tôi mong tìm lại những nguồn tình cảm thân thương, những kỷ niệm ấu thơ còn nhạt nhòa trong ký ức.


 


Tôi học xong trung học vào mùa Hè 1960, năm cuối tôi học Ðệ Nhất Chu Văn An tại Saigon.


 







 


Tuổi trẻ, tôi mơ ước được đi du lịch, giang hồ mạo hiểm. Tôi thích cuộc sống tự lập, xa gia đình. May mắn thay, tôi được học bổng du học ngành kỹ sư ở Úc, sau một cuộc thi tuyển khá gay go. Tôi học ngành kỹ sư mà suốt bẩy năm trung học tôi chưa hề nghĩ tới. Trong thời gian chờ đợi, tôi đã đếm từng ngày để được xuất ngoại, nôn nóng xem xứ lạ quê người. Nhưng số tôi bị “tuần triệt,” bị sao quả tạ chiếu, vì năm 1961, sau khi dinh Ðộc Lập bị bỏ bom, cụ Diệm không cho phép một ai xuất ngoại du học. Trình trạng của tôi thật như người ngồi trên đống lửa.


 


Ở hiền gặp lành, cuối cùng rồi trời cũng thương, tôi được xuất ngoại du học vào cuối năm 1961.


 


Cái Tết xa nhà đầu tiên của nhóm sinh viên du học tụi tôi là ở thành phố Sydney vào đầu năm 1962. Cả thành phố Sydney đất rộng, người đông đó chỉ vỏn vẹn có chừng 15 sinh viên Việt Nam. Tuy nhiên, chúng tôi cũng tổ chức Tết. Hai anh bạn và tôi đi xe bus lên phố tầu mua sắm thực phẩm Á Ðông. Muốn có hương vị Tết Việt Nam thì phải có bánh chưng, dưa hành, hạt dưa đỏ… Nhưng hồi đó ở Sydney, kiếm đâu ra những thứ đó, không như bây giờ, thực phẩm Á Ðông nào cũng có, thật ê hề. Không có bánh chưng, dưa hành, chúng tôi đành tưởng tượng cho đỡ thèm. Chúng tôi ca hát những bản nhạc Xuân quê hương, rồi kéo nhau đi ăn cơm Tàu cho đến khuya.


 


Rời nhà người bạn, tôi kiếm xe bus lên đồi Bellevue Hill nhìn xuống thành phố Sydney. Trong cái khí lạnh của đêm, và nhìn những ngọn đèn vàng phía dưới, tự nhiên nhớ nhà chi lạ! Tôi hình dung ra hình ảnh cha tôi đang khăn đóng áo dài đứng lễ trước bàn thờ tổ tiện. Mẹ tôi đã qua đời vào năm 1955, một năm sau khi gia đình tôi tay trắng di cư vào Saigon. Cha tôi, trong cảnh gà trống nuôi con, chăm sóc cho ba anh em tôi còn nhỏ dại. Lúc đó, ở Việt Nam, chỉ có cha tôi và một em trai 13 tuổi. Còn anh tôi, hơn tôi một tuổi, và tôi, mỗi đứa ở một bán cầu xa lạ: Mỹ Châu và Úc Châu.


 


Những ngọn đèn vàng lấp lánh dưới chân đồi đưa tôi về dĩ vãng của những năm nhỏ dai. Quê tôi tại Bắc Ninh, mẹ tôi là người con gái Nội Duệ:


Trai Cồng Vồng Yên Thế


Gái Nội Duệ Cầu Lim


 


Tôi còn nhớ mang máng những ngày hạnh phúc nhất của gia định. Những đêm trước Tết, bố mẹ tôi gói bánh chưng ở làng quê tôi. Tôi cố thức để coi nồi bánh chưng và canh trộm trong những ngày tháng “củ mật” cùng với người lớn.


 


Rồi tôi lăn ra ngủ lúc nào không hay.


 


Sáng Mồng Một Tết, mẹ tôi bắt chúng tôi ăn mặc đàng hoàng để đi chào họ hàng, để được mở hàng và đánh tam cúc cùng với gia đình. Tôi cũng còn lờ mờ nhớ được những đêm sáng trăng, những người thợ gặt vừa đập lúa, vừa hát đố với nhau.


 


Ngày vui qua mau! Chiến tranh lan tràn đến làng, tôi theo cha đi chạy loạn, mẹ tôi phải ở lại nhà vì mới sinh em trai. Tôi bắt đầu hiểu biết thế nào là ly tán. Hơn 40 năm về sau, tôi đã ghi lại những hình ảnh đó qua những vần thơ mộc mạc:


Tôi sinh ra giữa lúc bom đạn ngang trời


Người nằm xuống vì bom rơi, vì nạn đói,


Những đêm tối, theo cha tôi đi chạy loạn,


Mẹ ở lại nhà vì vướng bận em thơ


Buổi tối đói, tôi mong mỏi đợi chờ,


Hình bóng mẹ và im lìm tiếng súng!


 


Rồi cha tôi bị Tây bắt đi tù, sau đó được thả và đi dạy học ở Phúc Yên. Anh em tôi theo cha đi học, lại phải xa mẹ, vì mẹ tôi phải ở lại quê trông nhà, ruộng vườn. Lúc đó, chúng tôi, đứa 9 tuổi, đứa 8 tuổi.


 


Có những buổi chiều, hai anh em tôi leo lên thang gác của những nhà bị bom ném sập, đứng ngó những xe “ca” từ Hà Nội lên Phúc Yên, hy vọng trong xe có mẹ lên thăm. Cuối cùng, gia đình tôi được đoàn tụ tại Hà Nội vào năm 1952.


 


Nhà tôi ở sát hồ Bẩy Mẫu và tôi học trường Ðỗ Hữu Vị. Ðường từ nhà tới trường rất xa, nhưng tôi không dám đi tầu điện vì người anh họ của tôi có tính “anh hùng” hay thích đánh lộn với những học sinh khác cùng đi một chuyến tầu điện với tụi tôi. Thành thử tôi phải cuốc bộ từ 5 giờ rưỡi sáng. Trên lộ trình, tôi chỉ còn nhớ mang máng những villa rất thơ mộng và những cái lạnh buổi sớm mai của Hà Nội.


 


Những ngày gần Tết, tôi xin phép bố mẹ cho tôi ghé qua chợ Ðồng Xuân xem chợ hoa sau giờ hoc. Tôi bắt đầu mê hoa từ đó. Về sau, trong những năm trung học, tôi đọc đi đọc lại cuốn “Gánh Hàng Hoa” và giờ đây, ở tuổi ngũ tuần, tôi thích trồng phong lan để sống lại những kỷ niệm của tuổi ấu thơ. Những ngày đầu năm, đi lễ đền Ngọc Sơn với mẹ, đầu đội berêt, mặc blouson đi chợ phiên cạnh hồ Hoàn Kiếm, tôi chẳng thấy lạnh là gì! Cuộc sống thật là êm đềm như một bài thơ.


Nhưng cuộc đời vô thường đầy thay đổi, Hiệp Nghị Genevè chia đôi đất nước được ký kết, gia đình tôi di cư vào Nam vào tháng 8 năm 1954. Ðấy là lần đầu tiên trong đời tôi được đi máy bay. Giờ đây, mỗi lần đi máy bay, tôi đều có cảm nghĩ mất mát, xa vắng:


Phi cơ đem đến chờ mong,


Bay đi biền biệt ai lòng buồn ai!


 


Sung sướng nhất là những năm 57, 58 khi tôi còn học trường Trần Lục. Trước khi nghỉ Tết, trường tổ chức đi xe lửa lên Biên Hòa xem các vườn cây ăn trái. Cùng đi trong toa xe, tôi nhớ nhất là thầy Doãn Quốc Sĩ, mà tôi thương mến từ năm Ðệ Lục, Ðệ Ngũ. Thầy đã dạy cả hai anh em tôi môn Việt Văn. Chính nhờ thầy mà tôi thích Việt Văn từ hồi đó.


 


Nhắc đến cái Tết tha hương đầu tiên luôn luôn làm tôi xúc động, vì hình như nó đánh dấu khúc quanh quan trọng nhất của cuộc đời tôi?


 


Trước Tết năm 1964 tại Sydney, tôi đã dành dụm đủ tiền mua được chiếc xe Peugeot 203, mà chỉ những vị sồn sồn như tôi mới may ra có thể hình dung nổi cái dáng dấp của nó. Xe le lắm cơ, có cả cái “sân thượng” (dịch từ chữ “sunroof” ý mà!). Ðêm ông Táo chầu Trời, tôi chở 4 ông bạn Mít da vàng, mũi tẹt đi chơi bờ biển cho đỡ nhớ nhà. Xe đang ngon trớn thì bị một thầy phú lít mắt xanh mũi lõ bắt tôi ngừng xe. Lúc bấy giờ tôi mới chợt vỡ lẽ là tôi đã đi ngược chiều. Tôi lo quýnh quáng vì nếu thầy biên phạt thì hỏng to, sẽ làm tiêu tan cả cái gia sản của tôi. Tôi cố trấn tĩnh để đối thoại với thầy cảnh sát:


Your driving license, please!


You drove crazy


And didn’t you see:


“One way” only


Hung on a tree?


Chủ xe:


Me Vietnamese


And me buddies


Go to party.


Me did not see


Sign on the tree!


Excuse me please:


“Rộng lòng từ bi


Ðừng phạt làm chi,


Ticket costs money


Please let me ‘đi’


I’ll be darn happy!”


Cảnh sát:


Hey you, smarty


You’re crazy


You’d better drive and see!


I let you go free


Enjoy and leave!


 


Khi xe chuyển bánh, một trạng lơn Vietnam (Dr. Vietnamese Pig), ngày còn ở quê nhà học trường Chu Văn An, bèn phóng tác ngay một bài thơ để tặng mọi người trong xe, tựa là đi xem hội


 


“Bẩm thưa thầy đội


Em đi xem hội


Cùng mấy cha nội


Chẳng may cây cối


Che mất phố phường


Nên đi ngược đường


Vậy xin thầy thương


Chớ nên biên phạt


Lần sau phạm pháp


Thầy “charge” gấp hai


Thôi nhé bái bai


Hẹn không gặp lại.”


 


Cuộc đời lăn như một hòn bi không bao giờ ngừng và từ đó tôi không còn có cái may mắn để ăn Tết ta, Tết tây với gia đình, họ hàng nữa.


Sinh viên chúng tôi chỉ có thể tổ chức văn nghệ sinh viên và ăn Tết tập thể với nhau. Cũng có năm, tôi phải đi thực tập tại các công trường trong đại lục Úc Châu nên không thể về chung vui ăn Tết Việt Nam với bạn bè được. Sự lạc lõng này đã gợi cho tôi những câu thơ như:


Quê hương tôi giờ này xa lắc


Tôi một người lạc lối giữa Á và Âu


Sa mạc này, tôi đã tìm thấy tôi!


 


Những dự tính của tôi khi còn học hoàn toàn đi trái ngược với thực tế. Tôi đã không đi làm công việc của một kỹ sư công chánh như tôi đã định và tôi cũng chẳng trở về Việt Nam để đoàn tụ với cha già và anh em tôi. Tôi đã đến lập nghiệp ở Canada và trở thành một giáo sư dạy ngành công chánh mà tôi chẳng bao giờ định trước!


 


Hơn 36 năm rồi, xa quê hương, mỗi lần Tết về, tôi cố nhớ lại những gì đã mất. Còn chăng, đó chỉ là những hình ảnh nhạt nhòa của chợ hoa Hà Nội, chợ hoa Saigon, cảnh gói bánh chưng cùng cảnh sum họp gia đình trong ba ngày Tết…


 


Tháng12, 1998


Toronto, Canada


Ðàm Trung Phán


([email protected])


 


 


Báo Người Việt hoan nghênh quý vị độc giả đóng góp và trao đổi ý kiến. Chúng tôi xin quý vị theo một số quy tắc sau đây:

Tôn trọng sự thật.
Tôn trọng các quan điểm bất đồng.
Dùng ngôn ngữ lễ độ, tương kính.
Không cổ võ độc tài phản dân chủ.
Không cổ động bạo lực và óc kỳ thị.
Không vi phạm đời tư, không mạ lỵ cá nhân cũng như tập thể.

Tòa soạn sẽ từ chối đăng tải các ý kiến không theo những quy tắc trên.

Xin quý vị dùng chữ Việt có đánh dấu đầy đủ. Những thư viết không dấu có thể bị từ chối vì dễ gây hiểu lầm cho người đọc. Tòa soạn có thể hiệu đính lời văn nhưng không thay đổi ý kiến của độc giả, và sẽ không đăng các bức thư chỉ lập lại ý kiến đã nhiều người viết. Việc đăng tải các bức thư không có nghĩa báo Người Việt đồng ý với tác giả.

Vài suy nghĩ rời về chữ và nghĩa

Để có truyền thông, phải có “chữ.” Không có thông tin, không có Internet, không có media nếu không có chữ. Ở đâu cũng cần đến chữ.

Nguyễn Long và mối tình một chiều với Thanh Thúy

Nguyễn Long, một người “can đảm” đi hết “con đường tình... một chiều” dài thăm thẳm của mình, với danh ca Thanh Thúy.

Tiểu thuyết ‘Cô Gái Việt và Người Chiến Binh Mỹ’ đầy kịch tính

Trong ngày ra mắt sách “Cô Gái Việt và Người Chiến Binh Mỹ,” đạo diễn Bùi Sơn Duân phát biểu rằng, tình tiết câu chuyện mang nhiều kịch tính.

Mai về Ba Động cùng anh…

Tôi người Bắc như anh, không thể có quê ở Bà Rịa. Anh thoái thác rằng không biết số điện thoại của tác giả bài thơ Ba Động, nhưng sẽ nhắn lại ngay.

Quốc ngữ và nỗ lực ‘thoát Hán’ của các vua nhà Nguyễn

Chính nỗ lực tiên phong quảng bá Quốc ngữ là của trí thức miền Nam và nhờ chính sách tiến bộ, khoa học của chính quyền Pháp tại Đông Dương tạo đà cho chữ Quốc ngữ lan tỏa.

Giọt… – thơ Thọ Khương

Gió lạnh tê tái/ Nắng úa tàn phai/ Cà phê quán vắng/ Tình sầu trên vai/ Giọt thương nâu sẫm/ Giọt nhớ buồn câm

Vu Lan nhớ mẹ – thơ Huỳnh Ngọc Thương

Từ khi/ áo mẹ bung tà/ Giày con vẹt gót/ đường xa chưa về.../ Thân già,/ mấy dặm sơn khê/ Mo cơm Mẹ bới/ Hồn quê Mẹ đùm

Cái đẹp Việt Nam không bao giờ cũ – thơ Trần Trung Tá

Chế độ Cộng Sản thế chỗ chế độ Cộng Hòa/ Chỉ một ngày qua, người ta đã nói:/ “Chế độ hồi xưa đổi mới ai đợi?

Bức tường – thơ Nguyễn Văn Thu

Là hàng rào sớm chiều vây kín/ Là cơm canh hai buổi cân đong/ Ngày đêm giữ chặt suy cùng tính/ Buồng chật đêm buồn phủ chấn song

Em đi lâu rồi ới Tiểu-Vân! – thơ Huy Uyên

Nửa khuya ngồi quán vơi ly rượu/ Đáy cốc bóng em bỗng hiện về/ Ai một mình lang thang ngoài phố/ Tôi đăm mắt buồn xót tái tê.