Chúng ta ai cũng biết cụ Chu Văn An (1292-1370) là một danh sĩ liêm khiết đời Trần. Nhiều người trong chúng ta đã từng học trường Chu Văn An. Nay ta hãy đọc 1 bài thơ của cụ về mùa Xuân. (Hiep Vo: [email protected])
Xuân Ðán
Chu Văn An
Tịch mịch sơn gia trấn nhật nhàn,
Trúc phi tà ủng hộ khinh hàn.
Bích mê thảo sắc thiên như túy,
Hồng thấp hoa sao lộ vị can.
Thân dữ cô vân trường luyến tụ,
Tâm đồng cổ tỉnh bất sinh lan.
Bách huân bán lảnh trà yên yết,
Khê điểu nhất thanh xuân mộng tàn
Nhà trong núi vắng, thật an nhàn.
Mành trúc nghiêng nghiêng, lạnh xẻ xan.
Cỏ biếc chít chi, trời túy lúy.
Hoa hồng thưa thớt, sương lan man.
Thân như mây trắng, đồi còn bám.
Lòng tợ giếng xưa, sóng chẳng lan.
Củi sắp hết rồi, trà hết khói.
Chim đơn một tiếng, mộng xuân tàn.
(Tết Giáp Ngọ 2014)
Xuân sớm
Hà Châu
Nhà trong núi vắng, cứ an nhàn
Mành trúc lơ thơ, lạnh mơn man
Sắc biếc cỏ thơm, trời mê mải
Hồng hoa lãng đãng, sương mỏng lan
Thân vốn cùng mây lưu luyến tụ
Lòng như giếng cổ, sóng chửa lan
Củi hết thế mà trà còn ấm
Chim kêu một tiếng, mộng xuân tàn.
Trong cuộc sống… thường khi vì mải mê với công việc, vui chơi với bạn bè, mình quên đi hình bóng và những chuyện nhỏ nhặt trong nhà của người vợ. Mặc dù ở xứ người ngoài việc phụ giúp, kề vai cùng chồng trong công ăn, việc làm, người vợ vẫn lo công việc trong nhà… Bình thường mình không để ý… nhưng lúc thiếu vắng người vợ trong nhà thì mọi việc như rối bung lên… nhất là lúc về già, bịnh hoạn… vẫn chỉ có một người vợ lo chăm sóc cho mình… Bạn bè không còn ai trực tiếp lo cho mình. Tôi xin ghi nhận cảm xúc của tôi qua bài thơ sau đây để tỏ lòng với vợ hiền và bậu bạn thân mến.(TAM HOAI [email protected];)
Quen mùi
(Tặng vợ hiền)
Em kho nồi cá
Bỏ vô dạ, vô tâm
Anh nhai, anh ăn…
Nuốt vô miệng thấm mấy chục năm vợ chồng
Quen mùi, quen vị, quen tình
Tự dưng chống đũa… thương mình… mình ơi!
Mấy chục năm quen rồi
Dù cao lương mỹ vị… ai mời cũng thua.
Ngẫm lại sự đời, tôi thấy hình như hầu hết chúng ta chẳng bao giờ thực sống. Lúc còn trẻ, ta mơ ước tương lai, sống cho tương lai. Nghĩ rằng phải đạt cái này cái nọ, có được cái kia cái khác mới là sống. Khi có tuổi, khi đã có được cái này cái nọ, cái kia cái khác thì ta lại sống cho quá khứ!
Hừm! Nhỏ mong cho mau lớn, lớn mong cho nhỏ lại. Quả là lý thú! Tóm lại, ta chẳng biết quý những giây phút hiện tại. Một người 60, tiếc mãi tuổi 45 của mình, thì khi 75, họ sẽ tiếc mãi tuổi 60, rồi khi 80, họ sẽ càng tiếc 75! Vậy tại sao ta không nghĩ ta đang ở cái tuổi tuyệt vời nhất của mình lại không yêu thích nó đi, sao cứ phải… nguyền rủa, bất mãn với nó.
Có phải tội nghiệp nó không? Ta đang ở cái tuổi nào thì nhất định tuổi đó phải là tuổi đẹp nhất rồi, không thể có tuổi nào đẹp hơn nữa!
Còn đối với các vị phụ nữ cũng có khi tự gạt gẫm mình chút đỉnh như đi giải phẫu thẩm mỹ chẳng hạn. Xóa chỗ này, bơm chỗ nọ, lóc chỗ kia. Nhưng nhức mỏi vẫn cứ nhức mỏi, loãng xương vẫn cứ loãng xương, tim mạch vẫn cứ tim mạch…
Thân thể ta cứ tiến triển theo một “lộ trình” đã được vạch sẵn của nó, không cần hỏi han ta, không cần biết ta có “chịu” không! Mà hình như, càng nguyền rủa, càng bất mãn với nó, nó càng làm dữ.
Trái lại, nếu biết thương yêu nó, chiều chuộng nó một chút, biết cách cho nó ăn, cho nó nghỉ, biết cách làm cho xương nó cứng cáp, làm cho mạch máu nó thông thoáng, làm cho các khớp nó trơn tru thì nó cũng sẽ tử tế với ta hơn.
Từ ngày “thế giới phẳng” thông qua Internet, ta còn sống với đời sống ảo. Ta ngồi đây với người nhà nhưng chuyện trò với một người nào khác, cười đùa, nhăn nhó, giận dữ, âu yếm với một người nào khác ở nơi xa.
Khi bắt lại câu chuyện với mọi người bên cạnh thì nhiều khi đã lỡ nhịp!
Hiểu ra những điều tầm thường đó, tôi biết quý thời gian hơn, quý phút giây hiện tại, ở đây và bây giờ hơn.
Nhờ vậy mà không có thì giờ cho già nữa! Hiện tại với tôi thì không có già, không có trẻ, không có quá khứ vị lai.
Dĩ nhiên, không phải trốn chạy già mà hiểu nó, chấp nhận nó, thưởng thức nó.
Khi biết “enjoy” nó thì quả có nhiều điều thú vị để phát hiện, để khám phá.
Từ ngày biết thương “thân thể” của mình hơn, tử tế với nó hơn, thì có vẻ tôi… cũng khác tôi xưa…
Tôi biết cho thân thể của mình ăn khi đói, không ép nó ăn lúc đang no, không cần phải cười cười nói nói trong lúc ăn.
Món gì khoái khẩu thì ăn, chay mặn gì cũng tốt. Cá khô, mắm ruốc gì cũng được, miễn là đừng nhiều muối quá!
Một người bạn tôi mắc bệnh “ăn không được,” “ăn không biết ngon” vậy mà vẫn béo phì, đi không nổi, là bởi vì các con thương ông quá, mua toàn sữa Mỹ mắc tiền cho uống! Sữa giàu năng lượng, nhiều chất béo bổ quá, làm sao còn có thể ăn ngon, làm sao không béo phì cho được?
Giá ông nghèo một chút còn hay hơn! Cá kho quẹt, rau muống mà tốt, miễn ông ăn thấy ngon, thấy sướng! Tôi cũng biết cho thân thể của mình ngủ hơn.
Ngủ đầy giấc, đủ giấc. Ngủ đủ giấc là cơ hội tốt nhất cho các tế bào não phục hồi, như sạc pin vậy.
Sạc không đủ mà đòi pin ngon lành sao được!
Bảy trăm năm trước, Trần Nhân Tông viết: Cơ tắc xan hề khốn tắc miên! (Đói đến thì ăn, mệt ngủ liền!) trong bài Cư trần lạc đạo, (ở đời mà vui đạo)! Ông là vị vua nhà Trần sớm nhường ngôi cho con, lên tu ở núi Yên Tử, tổ sư thiền phái Trúc Lâm. Tu hành như vậy mà khi quân Nguyên xâm lấn nước ta, ông liền xuống núi, ra tay dẹp giặc, xong, phủi tay lên núi tu tiếp!
Mỗi người có đồng hồ sinh học của riêng mình, không ai giống ai, như vân tay vậy, cho nên không cần bắt chước, chỉ cần lắng nghe mình.
Phương pháp này, phương pháp nọ của người này người kia bày vẽ chẳng qua cũng chỉ để tham khảo, nắm lấy nguyên tắc chung thôi, rồi áp dụng vào hoàn cảnh riêng cụ thể của mình, tính cách mình, sinh lý mình.
Phương pháp nào có sự ép buộc cứng ngắc quá thì phải cảnh giác!
Nên nhớ rằng tới tuổi nào đó, tai ta sẽ bắt đầu kém nhạy, mắt bắt đầu kém tinh, đầu óc bắt đầu kém sắc sảo. Tai kém nhạy để bớt nghe những điều chướng tai. Mắt kém tinh để bớt thấy những điều gai mắt. Đầu óc cứ sắc sảo hoài ai chịu cho nổi! Tuy vậy, tai kém mà muốn nghe gì thì nghe được, không thì đóng lại; mắt kém mà muốn thấy gì thì thấy được, không thì khép lại.Thế là “căn” hết tiếp xúc được với “trần.”
Tự dưng không tu hành gì cả mà cũng như tu, cũng thực tập ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm!
Rồi một hôm đẹp trời nào đó ta còn có thể phát hiện mắt mình chẳng những nhìn kém mà còn thấy những ngôi sao lấm chấm, những lốm đốm hoa trên bầu trời trong xanh vời vợi kia.
Nếu không phải do một thứ bệnh mắt nào đó thì đây hẳn là hiện tượng thoái hóa của tuổi già, nói nôm na là mắt xài lâu quá, hết thời hạn bảo hành.
Cái mà người xưa gọi là “hoa đốm hư không” chính là nó.
Tưởng hoa đốm của trời, ai dè trong mắt mình! Chính cái “tưởng’ của ta nhiều khi làm hại ta.
Biết vậy ta bớt mất thì giờ cho những cuộc tranh tụng, bớt tiêu hao năng lượng vào những chuyện hơn thua.
Dĩ nhiên có những chuyện phải ra ngô ra khoai, nhưng cái cách cũng đã khác, cái nhìn đã khác, biết tôn trọng ý kiến người khác, biết chấp nhận và nhìn lại mình.
Khi 20 tuổi người ta băn khoăn lo lắng không biết người khác nghĩ gì về mình.
Đến 40 thì ai nghĩ gì mặc họ.
Đến 60 mới biết chả có ai nghĩ gì về mình cả!
Tóm lại, chấp nhận mình là mình và từ bi với mình một chút.
Lần đầu tiên trong lịch sử của Trung Ương Tình Báo Hoa Kỳ (CIA), ban biên tập của cơ quan cho giải mật hai tập tài liệu quan trọng về liên hệ CIA và Việt Nam.
“Lần đầu tiên” trong nghĩa này là hai quyển sách trên thuộc lọai sử kể (narrative history), có đầu đuôi, chú thích – và quan trọng hơn hết – tác giả là người thật, đọc nhiều tài liệu và viết lại có ngọn ngành cho độc giả. Đa số những tài liệu giải mật của CIA trước đây thuộc lọai nặc danh vì lý do nghề nghiệp, hay là những tường trình do nhân viên báo cáo về để “kính tường.”
Gia đình họ Ngô
CIA and the House of Ngo: Covert Action in South Vietnam, 1954-1963 (CIA và Những Điệp Vụ Mật ở Miền Nam, 1954-1963) nói về những hoạt động bên trong để giúp đỡ chính phủ Ngô Đình Diệm, từ ngày ông Diệm về làm thủ tướng cho đến ngày tổng thống Diệm bị hạ sát trong cuộc cách mạng 1 Tháng Mười Một, 1963.
Qua tài liệu này, lần đầu tiên chúng ta biết được, từ năm 1950 cho đến năm 1956, CIA có hai sở tình báo ở Sài Gòn: một Sở CIA Saigon Station nằm dưới sự điều khiển thông thường từ bản doanh CIA ở Langley, Virginia; Sở kia, có tên là Saigon Military Mission, làm việc trực tiếp, và chỉ trả lời cho Giám Đốc Trung Ương Tình Báo.
Saigon Military Mission, theo Tài Liệu Ngũ Giác Đài (The Pentagon Papers) được giải mật trước đây, do Đại Tá Edward G. Lansdale chỉ huy. Lansdale đến Sài Gòn Tháng Sáu, 1954, với hai nhiệm vụ: huấn luyện những toán tình báo Việt Nam để gài lại ở miền Bắc trước ngày “di cư và tập kết” hết hạn; và, dùng mọi phương tiện ngầm (covert action) để giúp tân Thủ Tướng Ngô Đình Diệm.
Nay, theo tác giả Thomas L. Aherns, chính Giám Đốc CIA Allen Dulles chỉ định Đại Tá Lansdale cho điệp vụ ở Sài Gòn – và cũng ra lệnh Lansdale làm việc trực tiếp cho ông. Tác giả Ahern viết, CIA có mặt từ năm 1950 để giúp đỡ quân đội Pháp xâm nhập và thu thập tin tức tình báo. Nhưng từ cuối năm 1953, khi thấy tình hình quân sự nguy ngập của Pháp, Hoa Thịnh Đốn thay đổi nhiệm vụ của CIA Saigon Station: Liên lạc và thu thập tình báo những thành phần quốc gia để lập một chánh thể chống cộng trong trường hợp Hoa Kỳ thay thế Pháp. Cùng lúc Hoa Thịnh Đốn gởi thêm một toán CIA để lo về quân sự, Saigon Military Mission.
CIA and the House of Ngo tiết lộ một số chi tiết ly kỳ như, CIA liên lạc và làm thân với ông Ngô Đình Nhu từ năm 1951, rất lâu trước khi Hoa Kỳ liên lạc với ông Diệm. Đầu năm 1954, khi có tin Hoa Kỳ chuẩn bị đề nghị Quốc Trưởng Bảo Đại và chánh phủ Pháp giải nhiệm hoàng thân Bửu Lộc và thay bằng ông Diệm, thì ông Nhu là người đầu tiên CIA gặp để bàn về liên hệ của Hoa Kỳ đối với thủ tướng tương lai Ngô Đình Diệm.
Liên lạc Ngô Đình Nhu
CIA biết được hầu hết kế hoạch và khả năng của Bình Xuyên, nhờ một cận thần của Bảy Viễn đang làm việc cho CIA.
Tháng Tư, 1954, một nữ nhân viên Mỹ làm việc ở CIA Saigon Station, thông thạo tiếng Pháp, quen biết và liên lạc thân thiện với bà Ngô Đình Nhu. Từ nữ nhân viên Virginia Spence này, Sở CIA Saigon bắt được nhiều liên lạc với hầu hết những người thân trong gia đình, hoặc thân cận với nhà Ngô.
Tháng Tư, 1954, CIA ở Hoa Thịnh Đốn gửi Paul Harwood sang làm cố vấn riêng cho ông Nhu. Tuy là nhân viên CIA, nhưng Harwood đóng vai một nhân viên Bộ Ngoại Giao, làm việc từ Tòa Đại Sứ. Trong hai năm, Hardwood cố vấn là làm việc với ông Nhu để xâm nhập và ảnh hưởng đường lối ngoại giao quân sự của nền đệ nhất VNCH với tổng thống Diệm. Paul Hardwood thân thiện với gia đình ông bà Nhu đến độ ông ta là người đỡ đầu cho Ngô Đình Lệ Thủy, ái nữ của ông bà Nhu.
Từ tài liệu này chúng ta cũng biết thêm, ông bà Nhu được đưa qua thăm viếng Mỹ trước Tổng Thống Diệm. Để lấy tình cảm và ảnh huởng với ông Nhu, đầu Tháng Ba, 1957, ông bà Nhu được CIA mời qua thăm Hoa Thịnh Đốn. Tuy không có một chức vụ gì chánh thức với chính phủ nhưng ông Nhu được diện kiến Tổng Thống Dwight Eisenhower, hai bộ trưởng Ngoại Giao và Quốc Phòng, và Giám Đốc CIA Allen Dullles. Tài liệu cho biết, với tài ăn nói và sắc diện, bà Nhu gây được nhiều chú ý với các thẩm quyền Mỹ… “Bà Nhu là một ngôi sao trong dạ tiệc” do CIA khoản đãi. Hai tháng sau chuyến thăm viếng âm thầm của ông bà Nhu, đầu Tháng Năm, 1957, Tổng Thống Diệm lên đường công du theo lời mời của chánh phủ Hoa Kỳ.
Trong cuộc tranh chấp – rồi sau đó là giao chiến – giữa chánh phủ Diệm và quân phiến loạn Bình Xuyên, CIA biết được hầu hết kế hoạch và khả năng của Bình Xuyên, nhờ một cận thần của Bảy Viễn đang làm việc cho CIA. Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia, một đảng chính trị thành lập để hổ trợ chính phủ Diệm, nhận tài chính và cố vấn từ CIA. Nhưng đến đầu năm 1960 thì CIA cắt ngân khoản vì cơ cấu nhân sự không còn hữu hiệu trong công tác tuyên truyền. CIA đã than phiền nhiều lần về những hoạt động của Đảng Cần Lao và hành vi của ông Ngô Đình Cẩn. Nhưng mỗi lần CIA than phiền với ông Nhu về những hoạt động bí mật – đôi khi trái phép – của ông Cẩn, thì ông Nhu “đưa hai tay lên trời” với một thái độ buông xuôi vì ông không thể nào làm gì được.
Năm sau cùng của nhà Ngô, Hoa Kỳ có phần lớn trách nhiệm trong kế hoạch hạ bệ tổng thống. Nhưng gia đình ông Diệm cũng hủy hoại, vì chia rẽ từ trong nhà.
Ở một tài liệu khác cho biết, khoảng giữa năm 1956, CIA nhận được nguồn tin cho biết ông Cẩn đang bàn kế hoạch để loại trừ Bộ Trưởng Thông Tin Trần Chánh Thành và Cố Vấn Ngô Đình Nhu ra khỏi vòng ảnh hưởng ở Dinh Tổng Thống. Qua nhiều trang, chúng ta đọc được sự bất lực của chính phủ Sài Gòn đối với “lãnh chúa” Ngô Đình Cẩn ở miền Trung.
Với hai Sở CIA ở Sài Gòn hoạt động độc lập nhau, báo cáo gửi về cho CIA ở Hoa Thịnh Đốn đôi khi trái ngược: Cố vấn Paul Hardwood thì báo cáo tốt, nhân nhượng cho ông Nhu và có ý chỉ trích ông Diệm; Edward Lansdale ngược lại: bảo vệ ông Diệm và nói xấu ông bà Nhu. Cuối năm 1956, sau khi Lansdale bị triệu hồi về Mỹ, Al Ulmer, Trưởng Vụ Viễn Đông CIA, ra lệnh giải tán những gì còn lại của Saigon Military Mission – và thái độ của Hoa Kỳ cũng bắt đầu thay đổi với chính phủ Ngô Đình Diệm.
Liên lạc đối lập
Đầu năm 1958 Hoa Kỳ cho phép CIA Saigon bắt liên lạc với các đảng chính trị đối lập. Tài liệu nói nhân viên của CIA mua chuộc và thành lập một lực lượng đối lập “ngay sau lưng ông Nhu,” để trong trường hợp phải thay đổi cấp lãnh đạo mới. Cuộc đảo chánh 11 Tháng Mười Một, 1960, là một “hăm dọa” của Hoa Kỳ đối với Tổng Thống Diệm: Nhân viên CIA có mặt ở tại bộ chỉ huy của Đại Tá Nguyễn Chánh Thi và kế bên ông Hoàng Cơ Thụy để giới hạn bước tiến của quân đảo chính – điệp viên Russ Miller khuyên Đại Tá Thi nên thượng lượng với ông Diệm, trong khi biết rõ quân ủng hộ chính phủ của Đại Tá Trần Thiện Khiêm đang trên đường từ Vùng IV về thủ đô tiếp cứu. Khi thấy thái độ trở mặt của CIA, lưới tình báo của ông Nhu cũng không hoàn toàn thụ động: Phó Sở CIA Saigon, Douglas Blaufarb, ngỡ ngàng khi ông khám phá ra người tài xế Việt Nam của ông không bị điếc như lúc được giới thiệu vào làm việc (do Trần Kim Tuyến giới thiệu); người tài xế không điếc mà còn thông thạo hai ngoại ngữ Anh và Pháp!
Tổng Thống Thiệu bên các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ. (Hình: Tư liệu)
Tài liệu thú nhận vào năm sau cùng của nhà Ngô, Hoa Kỳ có một phần lớn trách nhiệm trong kế hoạch hạ bệ Tổng Thống Diệm. Nhưng chính gia đình ông Diệm cũng hủy hoại, vì sự chia rẽ từ anh em trong nhà. Từ mùa Xuân năm 1963, ông Nhu yêu cầu CIA đừng nói lại những gì ông và CIA trao đổi. Và qua nhiều lần nói chuyện với CIA, ông Nhu tuyên bố ông muốn thay Tổng Thống Diệm! Trong khi đó bà Nhu thì thường làm hùng làm hổ với Tổng Thống Diệm: trong cuộc bầu cử Hạ Viện năm 1963, bà Nhu muốn ủng hộ 30 ứng cử viên mà bà ta ưng ý. Ông Diệm không đồng ý, nhưng bà Nhu “cằn nhằn, to tiếng” cho đến khi Tổng Thống Diệm nhượng bộ. Bà Nhu cũng thắng thêm một lần nữa, khi đòi làm người chủ tọa và đọc diễn văn ngày Lễ Hai Bà Trưng – thay Phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ như ông Diệm đã chỉ định. Riêng về ông Ngô Đình Cẩn: ông Cẩn từ chối không ủng hộ hay giúp ông Nhu về Chương Trình Ấp Chiến Lược ở Miền Trung.
Ngày Lễ Quốc Khánh Hoa Kỳ, 4 Tháng Bảy, 1963, lần đầu tiên tổng thống Diệm cho phép các tướng lĩnh VNCH tham dự tiệc ăn mừng do tòa đại sứ tổ chức. Sau tiệc rượu ở khuôn viên tòa Đại Sứ Hoa Kỳ, một vài tướng lĩnh VNCH và nhân viên CIA kéo nhau ra quán để uống nữa. Tại quán rượu, Tướng Trần Văn Đôn nói với nhân viên CIA là các tướng muốn đảo chính Tổng Thống Diệm. Thảm kịch của nhà Ngô bắt đầu từ đó.
Các tướng lĩnh miền Nam
Tài liệu thứ hai, CIA and the Generals: Covert Support to the Military Government in South Vietnam (CIA và Các Tướng Lĩnh: Những Hỗ Trợ Ngầm Cho Chính Phủ Quân Sự Việt Nam Cộng Hòa), cũng tương đối “tối mật” so với những tài liệu được CIA công bố trước đây.
Tài liệu trong CIA & Generals bắt đầu sau cuộc đảo chính Tháng Mười Một, 1963. Những gì đến từ tài liệu cho thấy ngay sau đảo chính, như một tập thể, Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng không được hòa thuận; và, như những liên hệ cá nhân, các tướng đã nghi kỵ, ngờ vực lẫn nhau trước khi đảo chính.
Trước khi đảo chính, Tướng Nguyễn Khánh đã nói xấu về hai tướng Dương Văn Minh và Trần Thiện Khiêm với Tổng Thống Diệm và một số nhân viên CIA. Qua nhiều chi tiết, chúng ta thấy các tướng làm việc chung vì phải tựa vào nhau để mưu cầu lợi quyền lợi riêng, chứ không thật sự có chung một lý tưởng. Trước ngày Tướng Khánh “chỉnh lý” Tướng Minh và bốn tướng Lê Văn Kim, Tôn Thất Đính, Mai Hữu Xuân, và Trần Văn Đôn, Tướng Khánh thường xuyên rỉ tai với CIA về tin đồn những tướng nói trên sẽ theo Pháp để biến Việt Nam thành trung lập.
Tháng Hai, 1964, Tướng Nguyễn Văn Thiệu đã đưa nhiều sĩ quan thuộc Đảng Đại Việt nằm vào những chức vụ quan trọng trong quân đội. Khi được hỏi để làm gì, Tướng Thiệu trả lời để triệt hạ Cộng Sản và những thành phần thân Cộng. Nhưng CIA có nguồn tin cho biết ông Thiệu sẽ dùng sĩ quan Đại Việt để đảo chính ông Khánh. Và chuyện xảy ra đúng như vậy. Tướng Khánh rất ngây thơ khi “hù” Tướng Thiệu là Mỹ sẽ “chơi” ông. Nhưng, như chúng ta đã thấy, Mỹ chơi ông Khánh trước ông Thiệu!
Chân dung một số vị tướng
Những chi tiết được giải mật trong CIA & Generals: Trong các tướng VNCH, CIA kính trọng kiến thức của Tướng Lê Văn Kim nhất. Trong một buổi thuyết trình về các kế hoạch “kín” đang thực hiện trên đất Bắc, trong khi mặt Tướng Dương Văn Minh “ngớ” ra với những chi tiết tình báo quân sự, Tướng Kim lấy được sự kính trọng của tình báo Hoa Kỳ với những câu hỏi rất chuyên nghiệp.
Tướng Nguyễn Đức Thắng được người Mỹ kính nể. Trong một báo cáo, Giám Đốc CIA Richard Helms đề nghị cho Tướng Thắng cùng một lúc giữ hai Bộ Quốc Phòng và Xây Dựng Nông Thôn, với tất cả cơ cấu và cố vấn Hoa Kỳ “nằm dưới quyền thống thuộc của Tướng Thắng.”
Về Tướng Nguyễn Ngọc Loan, mặc dù người Mỹ không thích Tướng Loan vì sự thẳng thắn của ông, nhưng họ nhận định Tướng Nguyễn Ngọc Loan là một người thật thà, can đảm, biết được ẩn ý của người Mỹ. Tướng Loan không sợ khi nói thật ý nghĩ của ông với tình báo Mỹ. Đầu năm 1967, khi biết được Hoa Kỳ đang đi sau lưng chính phủ VNCH, liên lạc với Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, ông Loan nói với CIA là người Mỹ từ đây sẽ đi sau lưng người quốc gia… và sau cùng người Mỹ sẽ bỏ đi, chỉ còn VNCH một mình đơn thân chống lại Bắc Việt.
Cuối năm 1966 Hoa Kỳ có ý định “bắt liên lạc” với một vài nhân sự của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (MTGPMN). Lý luận của CIA là họ muốn xâm nhập vào nội bộ để gây chia rẽ giữa cấp lãnh đạo MTGPMN và Hà Nội. Muốn lấy lòng tin của MTGPMN, CIA xin chính phủ VNCH phóng thích vài nhân sự quan trọng của MTGPMN đang bị Cảnh Sát Quốc Gia VNCH giam giữ, trong đó có vợ của Trần Bạch Đằng (bà Mai Thị Vàng) và Trần Bửu Kiếm (bà Phạm Thị Yến), và một số cán bộ giao liên.
Ban đầu VNCH phản đối, nhưng sau cùng vì áp lực cũng phải cộng tác với Hoa Kỳ trong kế hoạch liên lạc với MTGPNM. Từ Tháng Hai, 1967 cho đến Tháng Hai, 1968, VNCH thả bà Vàng và bà Yến, cộng thêm 10 cán bộ giao liên phía bên kia. Đổi lại, phía MTGPMN chỉ thả ba tù binh Hoa Kỳ. Nhưng từ đó VNCH – nhất là Tướng Nguyễn Ngọc Loan – thấy Hoa Kỳ sẵn sàng “xé lẻ” nếu tình thế phù hợp với đường lối ngoại giao của họ.
Qua các tài liệu giải mật sau này, chúng ta thấy CIA có một hồ sơ rất chi tiết về nhân sự và cơ cấu của MTGPMN. Thêm vào đó, CIA cũng có luôn những báo cáo của Chánh Phủ Lâm Thời Miền Nam Việt Nam (là hậu thân của MTGPMN từ tháng 6-1969) gởi về cho Trung Uơng Cục Miền Nam, cập nhật những diễn tiến ở Hội Đàm Paris 1968-1973.
Nội bộ VNCH
CIA xâm nhập sâu vào cơ cấu hành chính và nhân sự của VNCH trong khoảng 1967-1975, nhất là sau cuộc bầu cử tổng thống đầu tiên của nền Đệ Nhị Cộng Hòa (1967). Vì kết quả bầu cử phải được Hạ Viện VNCH chứng nhận hợp pháp – nhất là một cuộc bầu cử mà hai ứng viên cùng chung liên danh (Nguyễn Văn Thiệu-Nguyễn Cao Kỳ), đã cấu xé nhau trước khi ngồi lại với nhau, và hầu hết liên danh thất cử nào cũng phản đối kết quả – Hoa Kỳ chỉ thị cho CIA phải tìm mọi cách bảo đảm Hạ Viện sẽ chứng nhận kết qủa bầu cử. Hạ viện bỏ phiếu thuận 58 trên 43, xác nhận liên danh Thiệu-Kỳ đắc cử.
CIA xâm nhập sâu vào cơ cấu hành chánh và nhân sự của VNCH trong khoảng 1967-1975.
Tài liệu trong CIA & Generals nói tình báo Mỹ đã khuynh đảo một số dân biểu trong hai bầu cử tổng thống 1967 và 1971 (và bầu cử Quốc Hội của năm 1970). CIA mua chuộc được 10 dân biểu, “nhưng muốn có thêm 10 tiếng nói” ủng hộ nữa, để chắc ăn về những dự luật đang nghị luận! Tài liệu cho biết CIA đã tốn bao nhiêu tiền để thành lập hay giúp đỡ các đảng phái chính trị với hy vọng các lực lượng này sẽ ủng hộ và xây dựng một thế lực phía sau Tổng Thống Thiệu. Đảng Mặt Trận Cứu Nguy Dân Tộc, (của Thượng Nghị Sĩ Trần Văn Đôn) được CIA tài trợ với hy vọng trên. Nhưng khi biết được người đứng ra tổ chức là Đặng Đức Khôi – một thân tín của ông Kỳ – ông Thiệu từ chối ủng hộ. Để có một tổ chức riêng, ông Thiệu cho ra đời Lực Lượng Dân Chủ.
Sau Đảng Dân Chủ, CIA tài trợ một lực lượng chính trị khác, có tên Đảng Liên Minh Cách Mạng Xã Hội, với hy vọng gom lại tất cả lực lượng chính trị thành một mặt trận chung, dưới sự lãnh đạo chung của Tổng Thống Thiệu và Phó Tổng Thống Kỳ. Nhưng vấn đề là hai ông Thiệu, Kỳ không còn muốn xuất hiện chung với nhau ngoài công cộng! Sau cùng, với sự nài nỉ của người Mỹ, và vì lợi ích quốc gia, Khối Liên Minh được khai mạc ngày 4 Tháng Bảy, 1968, với sự chủ tọa của hai ông Thiệu và Kỳ.
Khối Liên Minh tập họp hơn 25 đảng phái chính trị lớn nhỏ ở Miền Nam. CIA tài trợ đảng này cho đến cuối năm 1969. Tuy nghe theo lời cố vấn của Hoa Kỳ, nhưng Tổng Thống Thiệu lúc nào cũng nghi ngờ dụng ý của người Mỹ. Ông nói với nhân viên CIA là không những VNCH phải đương đầu với sự xâm nhập của quân đội Bắc Việt vào Nam, mà còn phải đương đầu với sự xâm nhập của CIA vào nhân sự của chính phủ!
Một số tài liệu giải mật cho thấy CIA có điệp viên nằm trong Trung Ương Cục, qua tin tức họ nhận được về cuộc nói chuyện giữa Lê Đức Thọ và Kissinger.
Những tiết lộ khác trong CIA & Generals: Tình báo của MACV biết rõ ngày giờ Bắc Việt sẽ tấn công qua vùng Phi Quân Sự trong trận tổng công kích Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, nhưng Hoa Kỳ không thông báo cho VNCH, hay tấn công vào các đơn vị Bắc Việt đang tập trung quân. Ngược lại, thái độ của Đại Tướng Creighton Abrams và Đại Sứ Bunker rất lạc quan, hai ông tuyên bố – trong cao điểm của cuộc tấn công – là Bắc Việt sẽ mất hết quân sau trận tổng tấn công. Những chi tiết này làm người đọc không khỏi thắc mắc, là có phải Hoa Kỳ đã cố ý để cho cuộc tấn công xảy ra? Chi tiết này làm cho đọc giả nhớ lại câu đối thọai của Tổng Thống Richard Nixon với Henry Kissinger là “…sau trận này, hai bên phải có một bên hết quân.”
Từ Tháng Tám, 1972, để chuẩn bị cho những thương lượng sau cùng của Kissinger và Lê Đức Thọ ở Paris, CIA được lệnh phải làm hao mòn sức chống đối của Tổng Thống Thiệu về một số điều khoản trong bản hiệp định (một trong những điều khoản ông Thiệu cực lực phản đối, là Hoa Kỳ đồng ý cho Bắc Việt để lại quân ở Miền Nam, Lào, Cam Bốt). Một số tài liệu giải mật ở giai đoạn này (tháng 8 1972 cho đến lúc ký Hiệp Định Paris, Tháng Giêng, 1972) cho thấy CIA có điệp viên nằm trong Trung Ương Cục, qua những tin tức họ nhận được về cuộc nói chuyện giữa Lê Đức Thọ và Kissinger.
Tuy là tài liệu được giải mật, nhưng một số lớn chi tiết, tên tuổi của những điệp viên, điềm chỉ viên trong sách vẫn còn bị kiểm duyệt. Nhưng nếu độc giả gom những chi tiết trong CIA & Ngo, trong CIA & Generals, và so sánh với một số tài liệu đã được giải mật từ Bộ Ngoại Giao (Foreign Relations of the United States, Vietnam), đọc giả có thể suy luận ai là ai nằm dưới những lằn đen kiểm duyệt. (Nguyễn Kỳ Phong)
(Bài trích từ Nguyệt San KBC Hải Ngoại, Tháng Mười Một năm 2008)
EAST LANSING, Michigan (AP) – Bà Lou Anna Simon, viện trưởng viện đại học Michigan State University (MSU), hôm Thứ Tư nộp đơn từ chức trong lúc có tố cáo là nhà trường làm lơ trong vụ Bác Sĩ Larry Nassar bị tố cáo sờ mó hàng trăm sinh viên.
Thông báo từ chức của bà Simon được đưa ra chỉ vài giờ sau khi Bác Sĩ Nassar bị kết án từ 40 đến 175 năm tù vì sờ mó nhiều cô gái trẻ và phụ nữ qua hình thức giả vờ chữa bệnh.
Ông Nassar làm bác sĩ thể thao cho MSU từ năm 1997 đến năm 2016.
Nhiều phụ nữ trong số 150 nạn nhân đưa ra nhiều lời khai tại tòa chống ông Nassar.
Nhiều nạn nhân từng là vận động viên của trường, và họ cũng tố cáo là trường đại học không giải quyết vấn đề rốt ráo khi có nhiều sinh viên phàn nàn về hành động của ông Nassar.
“Khi các bi kịch bị chính trị hóa, đổ thừa là không thể tránh khỏi,” bà Simon viết trong thư từ chức. “Là viện trưởng, tất nhiên mọi giận dữ đổ vào tôi.”
Bà Simon được thăng chức viện trưởng năm 2005 sau khi trải qua một số vị trí hành chánh.
“Chúng tôi đồng ý với Tiến Sĩ Simon rằng đây là lúc thay đổi,” ông Brian Breslin, chủ tịch hội đồng quản trị của trường, viết trong một bản tuyên bố. “Viện Trưởng Simon đã phục vụ không mệt mỏi cho MSU trong 13 năm, và là khuôn mặt của trường trong hơn 40 năm qua…”
Sự từ chức của bà Simon được Quốc Hội Michigan hoan nghênh, nhất là khi bắt đầu có những áp lực buộc bà từ chức hoặc bị sa thải.
Thượng Nghị Sĩ Curtis Hertel Jr., một người thuộc đảng Dân Chủ đại diện thành phố East Lansing, nơi MSU tọa lạc, gọi sự từ chức của bà Simon là “một bước quan trọng trong việc đưa trường đại học đi qua thời kỳ khó khăn này.”
Ông Hertel, từng tốt nghiệp ở MSU, nói cần có điều tra thêm những gì đã xảy ra.
Ông Bill Schuette, bộ trưởng Bộ Tư Pháp Michigan, sẽ xem xét việc MSU giải quyết các tố cáo đối với Bác Sĩ Nassar như thế nào.
Ngoài ra, Hiệp Hội Thể Thao Đại Học (NCAA) yêu cầu nhà trường cung cấp thông tin liên quan đến việc có thể có vi phạm liên quan đến vụ ông Nassar.
Ngoài MSU, Bác Sĩ Larry Nassar cũng bị tố cáo sờ mó và lạm dụng tính dục một số vận động viên thể dục dụng cụ đội tuyển quốc gia Mỹ.
Hôm Thứ Hai, ba thành viên Hội Đồng Quản Trị Ủy Ban Thể Dục Dụng Cụ Mỹ từ chức, cũng vì vụ ông Nassar. (Đ.D.)
TT Trump sẵn lòng cứu xét việc Dreamers trở thành công dân Mỹ
HÀ NỘI, Việt Nam (AP) – Một hàng không mẫu hạm Mỹ theo dự trù sẽ đến Đà Nẵng vào Tháng Ba tới đây, ông James Mattis, bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ, nói hôm Thứ Năm.
Đây sẽ là lần đầu tiên một hàng không mẫu hạm Mỹ ghé Việt Nam trong thời kỳ hậu chiến tranh.
Sự kiện này chắc chắn sẽ làm Trung Quốc khó chịu, và là một trong những hoạt động quân sự quan trọng nhất của Mỹ trong khu vực.
Ông Mattis và Đại Tướng Ngô Xuân Lịch, bộ trưởng Quốc Phòng CSVN, thảo luận chuyện hàng không mẫu hạm ghé Việt Nam trong buổi họp kín, Hạm trưởng Jeff Davis, phát ngôn viên Bộ Quốc Phòng Mỹ, nói.
Ông Davis nói phía Việt Nam đang chờ sự chuẩn thuận của các giới chức cao cấp ở Hà Nội, nhưng ông Mattis có vẻ cho thấy chuyện này chắc chắn xảy ra.
“Tôi xin cảm ơn quý vị gia tăng đối tác qua việc hàng không mẫu hạm của chúng tôi ghé Đà Nẵng vào Tháng Ba,” ông Mattis nói trong cuộc họp với ông Nguyễn Phú Trọng, tổng bí thư đảng CSVN.
Ông Mattis cũng cảm ơn ông Trọng vì Việt Nam ủng hộ mạnh mẽ Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc trong việc trừng phạt Bắc Hàn.
Trong khi đó, Bộ Quốc Phòng Việt Nam nói rằng hai vị bộ trưởng đã nộp đề nghị đến lãnh đạo hai nước cho phép hàng không mẫu hạm Mỹ ghé Việt Nam. Ý tưởng này được đưa ra hồi năm ngoái khi ông Lịch gặp ông Mattis tại Ngũ Giác Đài.
Hai người này vừa gặp lại nhau tại Hà Nội hôm Thứ Năm.
“Chúng tôi nhận ra một điều là quan hệ không bao giờ không thay đổi. Nó chỉ có mạnh hơn hoặc yếu hơn, và nước Mỹ muốn một quan hệ song phương mạnh hơn với một Việt Nam mạnh hơn,” ông Mattis nói với ông Lịch.
Trong chuyến thăm Việt Nam đầu tiên này, ông Mattis cũng gặp ông Trần Đại Quang, chủ tịch nước.
“Từ những gì chiến tranh để lại cho tới những gì Bộ Trưởng Lịch gọi là một quan hệ quân sự song phương tích cực, tôi tin rằng chúng ta đang đi đúng hướng, thưa ông,” ông Mattis nói với ông Quang tại Phủ Chủ Tịch.
Sáng sớm Thứ Năm, ông Mattis ghé thăm chùa Trấn Quốc cạnh Hồ Tây, một trong những ngôi chùa cổ xưa nhất ở Việt Nam, tọa lạc cách hồ Trúc Bạch không bao xa, nơi máy bay của Thượng Nghị Sĩ John McCain bị bắn rơi hồi năm 1967 khi ông là phi công Hải Quân trong chiến tranh Việt Nam.
Trong lúc đi bộ tại ngôi chùa được xây từ thế kỷ thứ 6, ông Mattis nói với một nhà sư rằng: “Đẹp. Yên tĩnh. Cảnh tượng này làm thầy suy nghĩ sâu hơn.”
Ông Mattis gia nhập lực lượng trừ bị Thủy Quân Lục Chiến Mỹ năm 1969, trong lúc chiến tranh Việt Nam diễn ra khốc liệt, nhưng không đến chiến trường Việt Nam. (Đ.D.)
Thuốc giảm đau có ma túy từ Trung Quốc vào Mỹ qua đường bưu điện
SÀI GÒN (NV) – Trong các đám giỗ, đám tiệc trước kia của những gia đình miền Nam, dù là giàu sang hay nghèo khó đều không thể thiếu món cà-ri.
Cà-ri ở Sài Gòn thường chia làm hai trường phái.
Đó là cà-ri Ấn Độ và cà-ri theo kiểu Thái mà người miền Nam cũng như Trung Hoa ở miền Nam chịu nhiều ảnh hưởng.
Trong bài viết này, chúng tôi chủ yếu đề cập tới cà-ri của người miền Nam. Cà-ri Ấn Độ chúng tôi sẽ đề cập riêng, trong một bài viết khác.
Nếu như nguyên liệu để nấu món cà-ri ở Ấn Độ có rất nhiều (vì nấu nhiều thứ cà-ri khác nhau). Thì cà-ri của người miền Nam chủ yếu là món cà-ri gà (cũng có khi người ta nấu cà-ri bò; cà-ri vịt; vịt xiêm hoặc như người Hoa thì có thêm cà-ri cá viên).
Nhiều người không thường ăn mấy món của người miền Nam, đôi khi cũng bị lẫn lộn giữa mấy món: cà-ri, ra-gu (Ragout) và món bò kho. Là vì mấy món này có điểm chung là sử dụng nước dừa, và mấy loại củ nấu chung.
Kỳ thực, cà-ri có đặc điểm rất riêng, có thể nói là một trong những món đặc trưng của người miền Nam.
Khác với món ra-gu và bò kho dùng nước dừa tươi, cà-ri dùng nước cốt dừa.
Loại củ nấu trong món cà-ri thường dùng khoai lang (cũng có khi thêm khoai môn hoặc một ít khoai tây, cà-rốt). Trong khi món ra-gu và bò kho thì dùng khoai tây (không dùng khoai lang). Do vậy, món cà-ri của người miền Nam nó mang tính đặc trưng của hương vị Việt nhiều hơn hai món kia. Dù cả ba món: cà-ri, ra-gu, bò kho đều có nguồn gốc từ ngoại quốc đã được người miền Nam “bản địa hóa.”
Dễ nhận thấy những món “nằm ngoài” truyền thống ẩm thực gốc Việt, khi trong phần tẩm ướp nguyên liệu trước khi nấu không dùng nước mắm. Không những vậy, khi dọn ăn thì phần nước chấm cũng không dùng nước mắm. Có lẽ chỉ trừ khi cà-ri ăn với bún, vì có bún nên đôi khi “miễn cưỡng” thêm chút nước mắm ớt xắt để “lua” bún và cũng chỉ để bên ngoài. Còn như cà-ri ăn với bánh mì thì không ai dùng nước mắm. Mà ra-gu, cà-ri, bò kho người ta đều thường dùng muối tiêu chanh để không mất đi hương vị của mùi cà-ri quyện nước cốt dừa, thơm-béo-ngậy quyến rũ quá chừng!
Ngày nay, cũng như món ăn một thời phổ biến của miền Nam là món bánh hỏi thịt heo quay, đang bị mai một dần. Thì món cà-ri của người miền Nam cũng ở trong tình trạng tương tự. Khi thế hệ những người miền Nam xưa “dần khuất bóng.” Giới trẻ, cũng như những người trung niên lớn lên sau này thích ăn thức ăn nhanh, hoặc lười biếng “ai nấu sẵn họ ăn.” Và việc đi kiếm một cái quán bán món cà-ri thuần khiết miền Nam cũng rất khó kiếm.
Tại khu Chợ Lớn, quận 5, có mấy quán cà-ri, khi chúng tôi tới ăn và trò chuyện. Thì đây đều là những quán của người Hoa.
Cách nấu ăn của người Hoa và người miền Nam có rất nhiều nét tương đồng. Đúng hơn, là phong cách nấu ăn của người miền Nam chịu ảnh hưởng nhiều bởi nền ẩm thực Trung Hoa. Nhất là với những món vừa mang vị ngọt, vị béo như món cà-ri.
Một phần cà-ri bánh mì tại quán đường phố trong khu Chợ Lớn. (Hình: Văn Lang/Người Việt)
Người Hoa “xưa” thì cũng thích nấu theo lối truyền thống, Như mấy vị chủ quán cà-ri gốc Hoa cho biết. Là xưa thấy, ông bà cha mẹ họ nấu vậy, thì họ cứ y công thức vậy mà nấu, không hề có sự thay đổi.
Nhưng với những đầu bếp gốc Hoa trẻ tuổi, thì họ ưa thích sự “phá cách” có chọn lọc hơn. Như với món cà-ri, xưa kia không ai bỏ bơ vô, nhưng đầu bếp Hoa ngày nay trong món cà-ri bánh mì họ thường thêm một chút bơ cho thêm phần thơm ngon. Nhưng nếu cà-ri ăn với bún họ sẽ không thêm bơ.
Dân Việt hải ngoại, cũng như giới trẻ ngày nay ở Sài Gòn không chuộng mấy thứ “lục phụ ngũ tạng” động vật là vì vấn đề cholesterol. Nhưng với món cà-ri gà hoặc cà-ri vịt thì “bộ đồ lòng” được hầm trong nồi cà-ri béo ngậy, thơm phức mùi nước cốt dừa – cà ri, đúng là thuộc hàng “số dzách.”
Những miếng gan, miếng mề, miếng huyết đã được hầm kỹ trong nồi cà-ri có một mùi thơm thật ngọt ngào quyết rũ. Được xắt miếng vừa ăn, chấm với muối tiêu chanh, cha chả là ngon. Ngon đến nỗi mà những kiến thức y khoa đều là “đồ bỏ,” mặc kệ cholesterol, bởi vì lâu lâu mới được ăn “đã miệng” một lần. Nhưng sự thực trong thuyết “âm-dương” về ẩm thực trong y lý phương Đông thì cái vị này, vị kia trong nồi cà-ri tương khắc lẫn nhau, ăn chẳng những ngon mà còn có lợi cho… sức khỏe.
Sự tương khắc và hòa hợp trong nồi cà-ri đó là: Nước cốt dừa, bột cà-ri (và lá cà-ri), xả cây đập dập, ớt bằm, hành tây, tỏi, hành (tím),…
Thường người ta chiên hơi vàng món thịt (gà hoặc vịt) cũng như khoai trước khi bỏ vô nồi hầm.
Trước kia, sau khi tẩm ướp thịt gà (khoảng 2 tiếng), người miền quê cho hết thịt vô nồi, cho lên bếp lửa đảo đều cho tới khi thịt bắt đầu săn lại thì đổ phần nước dừa dão vô nồi hầm. Như vậy không mất công chiên, nhưng vì khoai không được chiên nên khi hầm kỹ, khoai bị nhão và một phần bột khoai sẽ hòa trong nước, cùng với nước cốt dừa (bỏ vô sau) sẽ tạo thành nồi nước cà-ri hơi sánh như vậy sẽ ngon hơn (dù khoai bị bể thì không mấy thẩm mỹ).
Khoai chiên và thịt chiên giúp khoai và thịt “bảo toàn” hình dạng ban đầu. Để tạo độ sánh người ta thường thêm chút bột năng (hoặc bột bắp). Nhưng một số đầu bếp “đầu óc” thì khi chiên khoai họ để lại ít miếng không chiên, sau khi hầm những miếng không chiên này được lấy ra đem nghiền kỹ, rồi bỏ lại vô nồi để tạo độ sánh.
Cà-ri gà hoặc vịt muốn ngon, thường người ta chọn giống gà ta (còn gọi là gà đi bộ) vì thịt của chúng dai và ngọt, nhất là khi hầm trong nồi cà-ri không bị nhão (nát) thịt. Người dân quê khi xưa, thường chọn những con gà, con vịt đã đẻ và ấp qua vài lứa để đem nấu cà-ri, còn gà mái tơ hay gà trống thiến thì để làm món khác.
Món cà-ri (dù là gà hay vịt) vừa là món ăn rất thân quen mà lại “lạ miệng.” Là một lựa chọn thích hợp trong bối cảnh nhiều người sợ cholesrerol, vì y lý Đông phương chỉ ra rằng, món này chẳng những ngon mà còn tốt cho sức khỏe. Dù vị rất béo nhưng đã được trung hòa theo nguyên lý “tương xung tương khắc” của thành phần gia vị âm-dương rất đề huề. (Văn Lang)
Xưa giờ nhiều đoàn cải lương của các thế hệ đã từng đưa tuyệt tác “Kim Vân Kiều” của cụ Nguyễn Du lên sân khấu, mà đa số là gánh hát nhỏ ở thôn quê. Dù chưa biết đoàn hát trình diễn hay, dở như thế nào nhưng người ta cũng sẵn sàng mua vé vào để xem nàng Kiều ra sao, có như sự suy nghĩ của mình không?
Thế nhưng, theo như người trong giới thì đoàn nào hát Truyện Kiều thì không lâu sẽ bị rã gánh. Ông bầu Xuân, giám đốc đoàn Dạ Lý Hương, một nhà tư bản, nhà xuất nhập cảng, là hãng thầu, thế mà do tình thế đưa đẩy đã đứng ra làm bầu gánh cải lương, mà lại là đoàn hát lớn danh tiếng lẫy lừng.
Đến Tháng Mười, 1974, đoàn Dạ Lý Hương diễn vở hát cuối cùng là “Người Thua Cuộc” của soạn giả Nguyên Thảo tại rạp Quốc Thanh có mặt nữ nghệ sĩ Thanh Nga. Đêm ấy đoàn có 300 khán giả đến xem, Thanh Nga từ chối không lãnh lương. Cô nói vì “khán giả chỉ có 300 người, khán giả ít lắm, nghệ sĩ lãnh lương kỳ quá”… Sau đó đoàn Dạ Lý Hương giải thể sau 12 năm hoạt động.
Sau 30 Tháng Tư, 1975, ông bầu Xuân thành lập trở lại đoàn Dạ Lý Hương (tỉnh Sông Bé). Đến năm 1978 bầu Xuân định dàn dựng vở “Kiều” trên sân khấu của ông và hỏi ý kiến nghệ sĩ Năm Châu, nghệ sĩ lão thành đã khuyên bầu Xuân không nên dựng diễn vở “Kiều” vì sẽ gặp chuyện không may.
Ông nêu trường hợp đoàn Bạch Tuyết Hùng Cường diễn “Kiều” rồi liền sau đó đoàn hát này bị rã gánh. Bầu Xuân có vẻ không tin điều này.
Sau này khi nghệ sĩ Năm Châu qua đời, giữa năm 1978, bầu Xuân nhờ đạo diễn Hoàng Sa dựng vở “Kiều” diễn tại Miễu Quốc Công (Vĩnh Long) khán giả đầy rạp suốt một tuần lễ. Đến đêm chót tại đây, bầu Xuân bị tai nạn phải đi “học tập cải tạo” nơi xa suốt thời gian ba năm chín tháng (bầu Xuân là tư sản). Có lẽ do vậy mà sau đó không thấy đoàn hát nào hát tuồng “Kim Vân Kiều.”
Và sau đây là phần sau của bài vọng cổ, nhịp 16 “Hoạn Thư” từ câu 11 đến câu 20 do Cô Ba Bến Tre ca thu thanh dĩa hát Asia thời giữa thập niên 1940.
11-Tiện thiếp đành cam muôn lỗi mà trình lại lịnh bà nếu lúc ấy mà lịnh bà thử đặt mình vào địa vị của tiện thiếp có lẽ lịnh bà cũng phải ra tay, huống chi có ớt nào là ớt chẳng cay, có gái nào là gái chẳng hay ghen vì chồng.
12-Vả lại bao nhiêu sự tác tệ gây ra là chẳng qua vì thiếp quá thương chồng, chớ thiếp đâu có quyết ý làm cho lịnh bà phải thiệt thân hại mạng, vì cố tâm thiếp chỉ muốn dùng đủ phương châm để bảo thủ cho chồng khỏi sa ngã vì son phấn má hồng.
13-Đến như bao nhiêu nghịch cảnh oan nghiệt của thiếp bày ra, bắt buộc lịnh bà phải nhẹ thể hạ mình, cạo đầu bôi mặt ra hầu đờn, dưng rượu là cũng chẳng qua vì muốn làm cho chàng phải một phen thống khổ để về sau chừa hẳn thói trăng hoa.
14-Chớ thật ra thì tận trong thâm tâm thiếp cũng cảm động xót xa vì nghĩ thương nhau cũng phận đàn bà, ngặt vì Thúc lang đã quen thói trăng gió sa đà, nếu không làm cho chàng khổ tâm kinh khủng thì chàng đâu có thể nào thức tỉnh giấc mơ hoa.
15-Nghĩ lại những sự đanh thép chua ngoa mà trong một lúc ghen tương tối mặt, thiếp đã trót gây ra làm cho lịnh bà phải thành thân hoại thể khổ trí lao tâm, thì tiện thiếp đành cam muôn lỗi nhưng tội kia nặng tội mà tình đây cũng có chỗ đáng dung tình.
16-Bởi thiếp quá thương chồng muốn bảo thủ gia cang mới lỡ gây ra oan nghiệt, song nếu giá như lịnh bà cũng lâm nhằm cảnh thiệt thòi đã dày công thiết tha tận tụy với ai, mà bỗng dưng ai ấy lại trở dạ phụ phàng thì chắc lịnh bà cũng phải liều thân quyết liệt chớ chồng chung ai dễ chịu nhường cho ai.
17-Tiện thiếp nay bó tay dưới trướng, đao kiếm bên đầu chỉ dám xin khẩn khoản yêu cầu lịnh bà nên hồi tâm nghĩ lại những ngày nhàn an nơi Quan Âm Các chép kinh, ấy là thiếp cũng biết nghĩ thương người lâm lụy vì sắc tài mới để cho thong thả tháng ngày.
18-Và hơn nữa là đến khi lịnh bà chán nản ra đi mà buộc lòng phải lấy theo những khánh bạc chuông vàng, ấy là vật tiền gia tri bửu, nhưng nghĩ thương một thân nhi nữ dặm ngàn thiếp mới để tặng làm lộ phí không nỡ lòng làm khó dễ về sau.
19-Tuy bao nhiêu ấy cũng chưa phải là một ơn trọng hậu, và cũng chưa đủ đền bù lại những sự hành hạ trước kia, nhưng đó chẳng qua là bởi mạng số lịnh bà phải long đong vất vả, nên mới khiến xảy ra những cơn đày đọa phong trần cho lá lay cay đắng bấy phiêu lần.
20-Nhưng trải bao cơn mưa sa bão táp lằng gương nga càng tỏ rạng, còn như lịnh bà có trải qua nhiều phen dày dặn rồi lại càng thêm nâng cao phẩm giá của một đời tài sắc, đến nay hết những hồi bất đắc lại vinh hiển rỡ ràng, vậy cúi xin mở rộng lòng trời biển mà thương xót giùm phận thiếp nữ lưu. (Ngành Mai)
Đờn ca tài tử họp mặt
Đờn ca tài tử sẽ họp mặt trở lại lúc 6 giờ chiều Thứ Năm, 25 Tháng Giêng, 2018, tại phòng sinh hoạt nhật báo Người Việt, 14771 Moran St., Westminster, CA 92683.
Ban tổ chức mời tất cả giai nhân tài tử, những ai từng học đờn, học ca cổ nhạc hãy đến tham gia. Những người khi xưa từng đi đờn ca nhưng bỏ lâu quá quên bài ca, xin hãy cứ đến nói lên kỷ niệm của mình đối với đờn ca tài tử.
Riêng những người yêu thích, chỉ muốn nghe đờn ca thì đến với tư cách khán giả. Vào cửa tự do, miễn phí. Liên lạc trưởng ban tổ chức, ông Lê Quang Thế (714) 454-7851.
HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Sau nhiều ngày cấp cứu do bị nữ điều dưỡng bệnh viện Đa Khoa Đông Anh chích nhầm thuốc, bé gái 8 tháng tuổi ở huyện Đông Anh đã qua đời sau khi được xác định chết não.
Theo báo Zing, sáng 24 Tháng Giêng, chị Trịnh Thanh Hải (ở Mai Lâm, Đông Anh, Hà Nội) cho biết sau hơn một tuần cấp cứu do bị nữ điều dưỡng bệnh viện Đa Khoa Đông Anh tiêm nhầm thuốc, con gái 8 tháng tuổi của chị đã qua đời vào tối 23 Tháng Giêng.
Mẹ nạn nhân nói, sau khi lo hậu sự cho cháu bé, gia đình mời luật sư vào cuộc để làm thủ tục, khởi kiện bệnh viện. Chị Hải cho rằng trong việc này, sai sót là cả ê kip chứ không riêng một điều dưỡng, phía gia đình mong muốn có lời giải thích rõ ràng.
Báo VNExpress cho hay, bé gái này là con đầu lòng của vợ chồng chị Hải. Tối 15 Tháng Giêng, bé được gia đình đưa vào cấp cứu tại bệnh viện Đa Khoa Đông Anh trong tình trạng được chẩn đoán “sốt cao liên tục, nôn, tiêu chảy, chẩn đoán tiêu chảy cấp có mất nước, viêm họng cấp, theo dõi tim bẩm sinh.”
Đến đêm, bé mệt, có dấu hiệu mất nước, bụng trướng, được bác sĩ chỉ định cho uống một ống kaliclorid 10%/5ml, liều mỗi lần uống nửa ống. Tuy nhiên, chỉ 10 phút sau khi điều dưỡng Hoàng Thu Trang thực hiện y lệnh, ông Nguyễn Thành Luân, cha bệnh nhi, gọi bác sĩ vì bé bị co cứng người, môi tím, thở nhanh, tim nhanh… Kiểm tra lại, bác sĩ phát hiện điều dưỡng Trang đã dùng thuốc kaliclorid chích tĩnh mạch cho bé.
Mặc dù được cấp cứu, hồi sức, thải kali và chuyển qua hai bệnh viện lớn là Saint Paul và Nhi Trung Ương để tiếp tục cứu chữa nhưng đến tối ngày 23 Tháng Giêng bé không qua khỏi.
Nói với báo Tuổi Trẻ, chị Hải cho hay, con chị có sức khỏe tốt, không bị bệnh bẩm sinh nhưng sau tai biến thì bệnh viện lại nói bé có bệnh tim. Nhà chức trách đã tiến hành giảo nghiệm tử thi để phục vụ điều tra.
Tin cho biết, chị Hải lập gia đình muộn, hai vợ chồng phải rất khó khăn mới sinh được cháu bé. (Tr.N)
Không biết chữ, vẫn bị tuyên án sáu năm tù vì “chống nhà nước”
BANKSTOWN, Úc – Cái chết của ông Lê Đình Hồ, một luật sư người gốc Việt ở Úc, có nhiều bí ẩn vì cảnh sát vẫn chưa tìm ra được lý do tại sao hung thủ lại bắn ông.
Các báo ở Úc như ABC, Daily Mail và Daily Telegraph vừa đưa ra thêm một số chi tiết về vụ án này.
Theo Daily Mail, đoạn phim từ máy ghi hình cho thấy cảnh hung thủ uống một ngụm từ một chai nước. Cảnh sát vẫn đang tìm kiếm chai nước này vì đây là manh mối duy nhất để tìm ra hung thủ.
Còn về lý do tại ông Hồ bị bắn thì có rất nhiều giả thuyết.
Báo Daily Telegraph cho biết ông Hồ đang thiếu nợ rất nhiều tiền và phải rút tên công ty Ledinh Lawyers Ltd của mình ra khỏi sổ ghi danh các doanh nghiệp trong sáu tháng của năm ngoái.
Bên phía cảnh sát thì cho rằng ông bị giết vì ông là một luật sư hình sự.
Cảnh sát lục lọi thùng rác để tìm chai nước của hung thủ. (Hình: Daily Mail)
Thanh tra Brad Throne cho biết: “Đây là một nghề nguy hiểm, tuy kiếm ra tiền. Tôi nghĩ ông bị giết là vì ông làm nghề này.”
Báo Daily Mail cũng cho biết một lý do nữa khiến ông Hồ bị bắn là vì ông là một người chống cộng sản rất mạnh.
Ông Nguyễn Hữu Chí, hay còn được biết là nhà báo Hữu Nguyên của tờ báo tiếng Việt ở Úc có tên là Saigon Times và là một người bạn rất lâu năm của vị luật sư bị giết.
Trong một cuộc phỏng vấn với Daily Mail, ông Chí cho rằng có hai lý do khiến bạn mình bị bắn. Một là vì ông Hồ hành nghề luật sư hình sự và có nhiều kẻ thù. Hai là lý do chính trị.
“Tờ báo Saigon Times có hai người điều hành là tôi và ông Hồ. Ông làm cố vấn pháp lý cho tờ báo được hơn 20 năm rồi. Báo của chúng tôi lúc nào cũng chống cộng sản. Ở Úc thì có nguyên một mạng lưới gián điệp của cộng sản, rất ghét tôi và ông Hồ,” ông Chí cho Daily Mail biết.
Ông là một trong những người bên cạnh luật sư Lê Đình Hồ trong những giây phút cuối đời.
Ông kể lại những giây phút đó: “Tôi thấy hung thủ bỏ chạy rồi quay lại nhìn ông Hồ. Ông ấy đứng lên đi vài bước rồi mất thăng bằng và ngã xuống đất. Tôi không thấy ông chảy máu ở đâu hết, nhưng khi ông ngã, một tay tôi đỡ lưng ông, còn tay kia thì bên hông. Tôi vẫn giữ chặt ông và không cầm được nước mắt vì thấy ông đang yếu dần đi.”
Nhà báo Hữu Nguyên, bạn thân của luật sư Lê Đình Hồ, cùng vợ khóc thương cho bạn mình. (Hình: Daily Mail)
Cũng theo lời ông Chí, một người phụ nữ kêu ông đặt ông Hồ xuống đất hô hấp nhân tạo. Bà thì làm ở ngực, còn ông Chí thì thổi không khí vào miệng ông.
“Ông ấy gọi tên tôi, ‘Chí’. Rồi tôi vừa khóc vừa kêu ông ấy nói gì tiếp đi,” ông Chí kể thêm.
Cũng theo Daily Mail, ông Chí có nhặt cặp mắt kính của bạn mình lên để làm một món kỷ vật, nhưng cuối cùng phải đưa cho cảnh sát.
Báo ABC cũng cho biết ông Hồ là một người rất thẳng thắn, không hề ngại ngùng để nêu lên suy nghĩ của mình và đó có thể là một trong những lý do khiến ông bị bắn.
Còn về phần cô Ngô Thu Hương, người vợ trẻ của luật sư Lê Đình Hồ, thì cô vẫn chưa biết chồng mình qua đời vì đang về thăm gia đình ở Việt Nam.
Cô Vivian Võ, bạn của gia đình ông Hồ, cho Daily Mail biết cô Hương cần phải có mặt ở Úc để nghe tin dữ về chồng mình vì cô nghe ở Việt Nam sẽ không giữ bình tĩnh được.
“Chỉ mới nói ông ấy bị bệnh thôi là cô ấy òa khóc rồi,” cô Vivian cho biết.
Cô Vivian còn cho biết thêm là sẽ có hai người đàn ông ra sân bay để đón cô Hương rồi báo tin dữ cho cô. (TL)
Mời độc giả xem phóng sự “Chợ đồ giả giữa Los Angeles”