Dân luật: Đáo tụng đình

Luật Sư LyLy Nguyễn chuyên về Luật Khánh Tận Chương 7, 11, 13 cho cá nhân và cơ sở thương mại, xóa hết các loại nợ, tranh tụng trước Tòa Khánh Tận và khai phá sản hủy bỏ nợ thuế. Về Hoạch Định Tài Sản, Luật Sư LyLy chuyên thảo di chúc và tín mục (trust), ủy quyền điều hành tất cả tài sản, dặn dò săn sóc y tế khi bất lực và hoạch định kế nghiệp. Về Luật Thuế, Luật Sư LyLy đại diện cho thân chủ trường hợp bị kiểm thuế, xin ngưng tịch thâu tài sản vì thiếu thuế, đại diện biện hộ trước Tòa Án Thuế và điều đình xin giảm nợ thuế. Về Luật Thương Mại, Luật Sư LyLy giúp thành lập công ty và tổ hợp hùn hạp. Ngoài ra Luật Sư LyLy còn rất giàu kinh nghiệm về thuế lợi tức cá nhân, thuế trả nhân công, thuế mua bán và thuế tài sản ở hai cấp liên bang và tiểu bang. Luật Sư LyLy Nguyễn được chứng nhận hành nghề tại Supreme Court of California, United States District Court, United States Court of Appeals for the Ninth Circuit và United States Tax Court. Nếu cần tham khảo riêng xin liên lạc với Luật Sư LyLy Nguyễn tại văn phòng ở 10221 Slater Avenue, Suite 216, Fountain Valley, California 92708. Điện thoại: (714) 531-7080. website: www.lylylaw.com

Xưa kia mỗi khi hai người xích mích bất đồng với nhau mà không giải quyết được thì đem nhau “đáo tụng đình” hay nói nôm na là đi kiện. Ở thôn quê Việt Nam thời trước quan nha thì xa, “phép vua thua lệ làng,” phiên tòa diễn ra ở sân đình làng do ông lý trưởng làm “chánh án” dưới sự chủ tọa của cụ tiên chỉ, đôi bên thưa kiện được gọi ra đó để xử nên có thành ngữ “đáo tụng đình” ám chỉ chuyện tranh tụng kiện cáo. Chúng ta thử chứng kiến hoạt cảnh một vụ kiện điển hình với người đi kiện tên Ninh. Ninh lễ phép chắp tay vái hai vị lý trưởng và tiên chỉ rồi trình rằng con chó của kẻ hàng xóm là Nang cắn què chân con nghé mới đẻ được một tuần. Ninh kêu nài xin được “đèn trời soi xét” đền bù thiệt hại. Sau khi nghe Ninh thưa thốt đến lượt Nang được gọi ra trình bày đầu đuôi sự tình. Nang gãi đầu gãi tai thưa lên lý trưởng là mình bị oan vì thằng con của Ninh leo rào sang vườn nhà hái trộm ổi bị con chó rượt nên thằng nhỏ cuống lên chạy trốn vào chuồng trâu nấp sau con nghé. Con chó cứ thế nhào tới thằng nhỏ làm cho con nghé hoảng sợ bung ra khỏi chuồng bị cái then cài cửa rớt trúng chân bị thương thành què chứ thực sự Nang không cố ý xua chó cắn nghé. Lý trưởng sau khi nghe đôi bên trình bày tự sự bèn ghé tai thầm thì hội ý với cụ tiên chỉ trước khi quyết định xem có nên bắt Nang bồi thường cho Ninh hay không rồi sau đó mới tuyên bố kết quả.

Hoạt cảnh trên cho chúng ta ý niệm về thủ tục tố tụng, đó là một thủ tục do chính quyền đứng ra phân xử để giải quyết một cuộc tranh chấp giữa hai bên dân sự bằng một kết quả công bình thỏa đáng. Hai bên trình bày lý lẽ trước một thẩm phán (chánh án) do chính phủ ủy quyền để ngồi nghe cả hai nêu ra sự kiện rồi giải quyết bằng một quyết định, bên nào thắng kiện thì được tòa ra lệnh cho bên thua bồi thường. Câu chuyện Ninh Nang chỉ là một câu chuyện vui để quí độc giả có khái niệm về tố tụng kiện thưa. Dĩ nhiên xử án trong bối cảnh một làng quê Việt Nam thời đại phong kiến xa xưa thì hoàn toàn khác với xử án ở Hoa Kỳ là một xứ dân chủ có nền văn minh tân tiến, nhưng cả hai có căn bản giống nhau theo đó tố tụng là một thủ tục do chính quyền đảm nhiệm phân xử một cuộc tranh chấp song phương, có thể giữa hai cá nhân, giữa hai tập thể, giữa một cá nhân với một tập thể hay ngược lại. Đôi bên đem vấn đề bất đồng không hòa giải được với nhau ra tranh cãi trước một thẩm phán do chính phủ ủy thác quyền giải quyết. Tuy nhiên nguyên đơn tức là người đứng kiện không bắt buộc phải đi kiện mà có thể dàn xếp hòa giải khỏi đem ra tòa vì theo tâm lý chung phần đông mọi người không muốn dính dáng đến “ba tòa ông lớn” sợ gặp nhiều phiền phức, thí dụ như Ninh nghĩ nếu đưa Nang “đáo tụng đình” chắc gì đã thắng nhiều khi thua còn phải bị phạt vạ. Thay vào đó nếu Ninh nhỏ nhẹ điều đình phải trái với Nang không chừng anh chàng này sẵn sàng chịu bồi thường vì con chó của hắn là nguyên nhân gây ra thương tích cho con nghé. Một lý do khác nữa hẳn nhiên kiện tụng mất nhiều thì giờ và tốn công tốn của. Thời nay dân chúng rất ngại thưa kiện, chỉ trừ phi bất đắc dĩ lắm mới phải dính dáng đến tòa án dù rằng trong cuộc sống hàng ngày họ bị nhiều đụng chạm bất mãn với người khác. Trước sự tình này phần đông thường nhẫn nhịn bỏ qua vì ra tòa ngoài việc tốn kém tiền án phí và tiền trả luật sư lại mất nhiều thì giờ mà còn kết thù kết oán với đối phương, do đó việc kiện thưa ra tòa chỉ dành cho những vụ tối quan trọng có mức thiệt hại đáng kể đo lường được bằng cả tính chất xã hội lẫn tiền tài.

Hoa Kỳ vốn là một nước chịu ảnh hưởng của luật Anh Quốc theo đó tố tụng là một thủ tục xử một cuộc tranh cãi song phương, trước tòa án cả hai bên đều cố tranh dành lợi thế, bên nguyên đơn phải quyết định có nên đem sự việc ra tòa kiện hay không, nếu ra tòa thì phải đưa ra lý lẽ thế nào. Phía bị kiện thì ra tòa là một cơ hội để cãi lại, đưa ra sự kiện minh oan cùng bằng cớ. Nhiệm vụ của vị chánh án là nghe lập luận đôi bên rồi quyết định kết quả cho một bên thắng. Ngày nay hệ thống tư pháp tuy phức tạp hơn nhiều nhưng căn bản tố tụng dân sự vẫn là thủ tục phân xử hai bên đối phương. Trong một vụ kiện luật sư cả hai phía đều giữ vai trò chính yếu vì luật sư sẽ là người định đoạt thưa kiện hay chống lại đối phương là ai, kiện lúc nào và kiện ở đâu, dựa theo luật nào mà cãi, điều tra sự việc ra sao, cần đưa những nhân chứng và bằng chứng nào. Vị chánh án sẽ là trọng tài giám sát các luật sư trong việc theo đúng luật lệ và thủ tục tố tụng, nhưng quan trọng hơn hết là quyết định kết quả vụ án hoặc giám sát việc lấy quyết định của bồi thẩm đoàn cho kết quả vụ án. Tuy nhiên trong thực tế không bao giờ thấy có một vụ án phân xử hai bên đối phương đúng theo mẫu mực tố tụng thuần túy như vụ xử “Ninh Nang.” Đặc biệt trong những năm sau này khi số lượng các vụ án càng tăng gấp bội thì các thẩm phán có khuynh hướng xử qua loa mau cho xong bằng cách thu hẹp vấn đề hay khuyến khích đôi bên dàn xếp với nhau đỡ phải đưa ra xử chính thức cho khỏi mất công tốn sức.

Tố tụng luôn luôn liên quan đến cả hai việc truy tìm sự kiện và áp dụng luật lệ. Khi ông lý trưởng nghe Ninh thưa rằng Nang để chó cắn què chân nghé của mình thì câu chuyện chưa chấm dứt ở đây. Nang cãi lại rằng không ai xua chó tấn công con nghé mà vì con chó thấy thằng nhỏ ăn cắp ổi nên rượt theo. Chính vì thằng nhỏ nấp trốn sau con nghé nên con vật này mới hoảng sợ vùng chạy làm cho thanh gỗ then cửa chuồng rớt xuống trúng chân. Ông lý trưởng phải quyết định xem Nang có xua chó sang để cắn con nghé không, hay vì con chó làm đúng bổn phận của kẻ giữ nhà rượt kẻ xâm nhập, truy nã đến tận chuồng trâu của Ninh khiến cho con nghé xông ra cửa chuồng làm rớt cái then vào chân. Những diễn tiến này diễn ra đúng như lớp lang theo thủ tục xử các vụ tố tụng ngày nay.

Tố tụng theo dân luật không những chỉ là một thủ tục của chính quyền trong việc giải quyết tranh chấp đôi bên kiện thưa nhau. Nếu Ninh đi qua nhà Nang mà bị Nang xua chó ra cắn thì Nang chắc chắn sẽ bị phạt và bồi thường tiền thuốc thang cho Ninh, vì vụ án đó được liệt vào loại tố tụng dân sự. Nhưng ông lý trưởng cũng có thể kết tội Nang cố tình muốn mưu sát Ninh nên thả chó ra cắn gây thương tích nặng thì đó là tội hình sự, Nang có thể bị kết tội nhẹ thì bị đánh đòn, còn nặng thì bị nhốt rồi giải lên ngục thất ở huyện. Trong một cuộc tranh chấp song phương giữa dân sự với nhau mà tòa án chỉ có nhiệm vụ đứng ra phân xử quyết định phải trái thì đó là tố tụng dân sự. Ngược lại nếu chính phủ đứng ra truy tố một bị can bằng cách phạt tiền, bỏ tù hay nặng nhất là kết án tử hình thì đó là thủ tục xử hình sự. Ngày nay để tránh việc ai cũng đem nhau ra tòa thưa kiện khiến tòa không đủ khả năng xử nổi tất cả mọi vụ nên lập pháp đã nghĩ ra nhiều luật để giải quyết mọi vụ thưa kiện. Bộ luật chính liên hệ đến tố tụng dân sự gọi là dân luật (civil procedure) dùng để điều hành và hướng dẫn thủ tục tố tụng từng buớc một từ đầu đến cuối.

Tuần tới chúng tôi tiếp tục phần tìm hiểu về chi tiết thủ tục xử kiện cùng giải thích tại sao chúng ta cần đến dân luật và luật tố tụng. Cũng như thường lệ, người viết xin xác nhận nội dung của những loạt bài tìm hiểu luật pháp này chỉ hoàn toàn được xử dụng với tính cách thông tin (information) để giúp quí độc giả một vài kiến thức tổng quát căn bản về luật pháp Hoa Kỳ mà thôi, và không thể coi như sự liên hệ của luật sư với thân chủ (attorney-client relationship). Do đó nếu có vấn đề liên hệ đến luật, quí độc giả vẫn cần phải thảo luận với một luật sư chuyên môn về trường hợp của quí vị.

Nếu cần tham khảo riêng xin liên lạc với LyLy Nguyễn, Esq. tại văn phòng chính ở địa chỉ 10221 Slater Avenue, Suite 216, Fountain Valley, CA 92708, Điện thoại: (714) 531-7080, website:lylylaw.com.

Thân Hữu Nguyễn Đình Phú

10583370-14P-NguyenDinhPhu.eps

Thủy Quân Lục Chiến Mỹ trở lại chiến trường Helmand, Afghanistan

HELMAND, Afghanistan (NV) – Các binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến Mỹ mới đây đã quay lại tỉnh Helmand, nơi được coi là cứ địa của thành phần Taliban ở Afghanistan, và từng xảy ra các trận đánh đẫm máu, để giúp huấn luyện lực lượng chính phủ, hiện đang gặp khó khăn đương cự với phiến quân.

Nhiều người trong số khoảng 300 binh sĩ TQLC trở lại Helmand từng phục vụ ở chiến trường này trước đây, nơi có chừng 1,000 lính đồng minh, phần lớn là Mỹ và Anh, thiệt mạng khi chiến đấu chống Taliban.

Khi TQLC Mỹ rút khỏi nơi này năm 2014 và chuyển giao căn cứ rộng lớn cho quân đội Afghanistan, họ không bao giờ nghĩ rằng sẽ quay trở lại.

Sự kiện họ phải quay trở lại cho thấy quân chính phủ Kabul đang gặp khó khăn và không thể tự chiến đấu một mình.

Đa số các quân nhân TQLC cho hay họ muốn trở lại nơi này vì muốn những gì họ từng đầu tư không bị lãng phí.

Nhiều nơi tại tỉnh Helmand hiện do phiến quân Taliban kiểm soát. Quân đội chính phủ Afghanistan tại đây gặp nhiều khó khăn vì khả năng lãnh đạo của cấp chỉ huy và cũng vì tệ trạng tham nhũng lính ma cùng là bán võ khí đạn dược cho địch quân.

Hồi Tháng Ba, tư lệnh quân đoàn 215 của quân đội chính phủ ở Helmand bị bắt, chỉ một năm sau khi ông được gửi tới để tiêu diệt tình trạng tham nhũng và chấn chỉnh kỷ luật ở đơn vị này. (V.Giang)

Thân Hữu Nguyễn Đình Phú

10583369-14P-NguyenDinhPhu.eps

Anh Võ Văn Truyện

10583469-14P-VoVanTruyen

Công hữu tư dụng đất đai

Chế độ sở hữu và cách thức quản lý đất đai luôn là mối bận tâm của mọi chính thể trên thế giới từ xưa đến nay. Luật lệ điền thổ ở Việt Nam thời phong kiến có thể nói khá hoàn chỉnh và đặc sắc, nhất là giai đoạn hậu Lê và Nguyễn. Nhìn chung, cho đến năm 1954 đất đai tại Việt Nam vừa thuộc tư hữu, vừa thuộc công hữu. Sở hữu tư nhân đối với đất đai là điều bình thường trong hệ thống pháp lý trên thế giới, Việt Nam cũng không là ngoại lệ.

Sơ lược lịch sử

Nhiều quy tắc luật pháp đời nhà Lê (thường được gọi chung là Luật Hồng Đức) về điền thổ đã để lại dấu ấn sâu đậm trong pháp chế sử Việt Nam đến mức dù năm tháng qua đi, các triều đại lần lượt thay đổi, sự áp dụng không còn mang tính ràng buộc trên phương diện pháp lý nữa, song chúng vẫn tiếp tục lưu truyền dưới dạng tập quán xã hội, được người dân viện dẫn một cách mặc nhiên trong các thỏa thuận hoặc giao dịch liên quan đến đất đai.

Dưới thời Pháp thuộc, chính quyền thuộc địa đã khảo cứu và áp dụng nhiều giải pháp khoa học vào việc quản lý điền thổ, giúp tạo nên sự ổn định xã hội và phát triển kinh tế trong thời gian dài. Một trong những thành tựu pháp lý đáng kể của các luật gia Pháp tại Việt Nam, bên cạnh các bộ dân luật Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ, chính là Sắc Lệnh Điền Thổ ngày 21 Tháng Bảy, 1925.

Tuy nhiên, mâu thuẫn kinh tế giữa địa chủ và nông dân luôn âm ỷ và không hóa giải được theo thời gian. Trong bộ sách đồ sộ Tư Bản Luận của mình, Karl Marx đã phát hiện và lý giải rằng mâu thuẫn đó chính là động lực chuyển hóa hình thái kinh tế-xã hội từ quân chủ phong kiến sang tư bản chủ nghĩa. Luôn xem chủ nghĩa Marx-Lenin là hệ tư tưởng của mình, đảng Cộng Sản Việt Nam đã lợi dụng mâu thuẫn giữa địa chủ và nông dân để thu hút và biến giới nông dân thành lực lượng cách mạng chủ yếu, dưới khẩu hiệu “người cày có ruộng” hoặc “ruộng đất cho dân cày,” nghe có vẻ như là lời kêu gọi giành lấy ruộng đất từ địa chủ để chia lại cho nông dân.

Sau Cách Mạng Tháng Tám, 1945, chính quyền của ông Hồ Chí Minh cũng duy trì hiệu lực của Sắc Lệnh Điền Thổ 1925 thêm một thời gian cho đến khi người cộng sản tiến hành cuộc kháng chiến chống Pháp vào cuối năm 1946. Tuy nhiên, sau Hiệp Định Genève 1954, một chính sách đất đai hoàn toàn mới dựa trên nền tảng của học thuyết kinh tế-chính trị Marx-Lenin dần hình thành và áp dụng từ năm 1955 ở miền Bắc và từ năm 1975 ở miền Nam.

Theo chính sách ấy, chế độ tư hữu đất đai hoàn toàn chấm dứt và thay vào đó là định chế “quyền sử dụng đất,” xuất phát từ khái niệm “sở hữu toàn dân.” Đây là một quan niệm kỳ lạ về quyền tài sản chỉ có ở các nước thuộc khối Liên Xô cũ, nay vẫn tồn tại ở Trung Quốc và Việt Nam.

Công hữu tư dụng

Điều 53 Hiến pháp 2013 của Việt Nam quy định rằng đất đai là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Trong số các loại tài sản công, đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, nguồn lực quan trọng phát triển đất nước, mà nhà nước có quyền thu hồi từ những tổ chức, cá nhân đang sử dụng nhằm mục đích phát triển kinh tế-xã hội, theo Điều 54 của Hiến Pháp 2013.

Có thể nói, sở hữu toàn dân là một quan niệm chính trị bay bổng về kinh tế của người cộng sản, nhưng được lồng ghép một cách cưỡng bức vào khung pháp lý thông thường về quyền sở hữu tài sản. Hậu quả ra sao có thể tạm ví von bằng hình ảnh cuộc giao hoan giữa thần tiên và người thường, nhưng tiếc thay lại sản sinh cho đời một quái vật, thay vì thánh nhân như mong đợi.

Đất đai là một thực thể pháp lý, còn ông chủ “toàn dân” trên giấy tờ của nó chưa bao giờ là một chủ thể pháp lý, xét cả về công pháp lẫn tư pháp. Vật sở hữu thì cụ thể, chủ sở hữu lại mơ hồ, thậm chí không tồn tại, nên sở hữu toàn dân thực chất chỉ là một hư quyền. Trong khi đó, bên đại diện của “toàn dân” là nhà nước, một thực thể chính trị và chủ thể công pháp hiện hữu cả trên thực tế lẫn pháp lý, bằng hệ thống chính quyền của mình. Do đó, nhà nước CHXHCN Việt Nam với thực quyền sở hữu đất đai nghiễm nhiên trở thành giai cấp đại địa chủ duy nhất và lớn nhất trên toàn lãnh thổ Việt Nam.

Theo định chế quyền sử dụng đất, người sử dụng được luật pháp công nhận đầy đủ các quyền tương tự quyền sở hữu các tài sản thông thường khác, bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt (chuyển nhượng, tặng cho, thừa kế, v.v…). Tuy nhiên, sự định đoạt trong khuôn khổ quyền sử dụng đất không phải là một quyền trọn vẹn như bản chất pháp lý vốn có của nó, mà trái lại tùy thuộc vào quyết định tối hậu của nhà nước, người quản lý hiến định của toàn bộ đất đai trên lãnh thổ quốc gia.

Tuy nắm trong tay quyền sử dụng đất, người nông dân lại không toàn quyền định đoạt lợi ích từ mảnh đất của chính mình trên thực tế. Họ khác gì các tá điền thời phong kiến? Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, suy cho cùng chính là Tô Tá Khế, tức hợp đồng thuê đất canh tác dài hạn, mà tá điền phải ký kết với địa chủ và trả tiền thuê đất dưới hình thức địa tô (mà giờ đây trá hình dưới tên gọi “tiền sử dụng đất”).

Do vậy, có thể kết luận rằng tình trạng pháp lý của đất đai ở Việt Nam hiện nay là “công hữu tư dụng,” theo đó nhà nước nắm trong tay quyền sở hữu trên thực tế, còn nông dân chỉ được giao đất để sử dụng cho đến khi chính quyền địa phương quyết định thu hồi có bồi thường dưới danh nghĩa “vì mục đích phát triển kinh tế-xã hội.”

Hệ lụy của sở hữu toàn dân

Định chế quyền sử dụng đất buộc toàn bộ đất đai thuộc quyền tư hữu dưới các chính thể cũ phải đăng ký lại. Thủ tục đăng ký đó tuy nhiên vô cùng phức tạp, không những kém hiệu quả và thiếu ổn định, mà còn gây tốn kém về tiền bạc, thời gian và công sức cho người có quyền lợi liên quan. Ngoài ra còn phải kể đến cả sự nhiêu khê và nạn nhũng nhiễu khi người dân muốn chuyển nhượng đất.

Quan niệm về quyền sử dụng đất luôn giả định rằng việc sử dụng một mảnh đất nào đó là do nhà nước giao cho nhằm thực hiện một mục đích cụ thể, như canh tác nông nghiệp hay xây nhà xưởng. Hành động bán mảnh đất được hiểu là người sử dụng không còn nhu cầu sử dụng nữa, nên bước đầu tiên cần làm là trả lại mảnh đất đó cho nhà nước, để chính nhà nước giao lại quyền sử dụng đất cho người mua.

Như vậy, thay vì giao dịch mua bán được tiến hành trực tiếp giữa chủ đất và người mua, người ta phải thực hiện nhiều thủ tục vòng vo đầy phiền toái. Các dự án sản xuất công nghiệp hoặc kinh doanh địa ốc thậm chí còn nhiêu khê hơn nữa, vì bên mua còn phải tiến hành thêm thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất, nếu mảnh đất trước đó dùng cho canh tác nông nghiệp.

Nghiêm trọng hơn là việc các quan chức địa phương nắm trong tay đặc quyền quy hoạch sử dụng đất, thường lạm dụng quyền hành cấp đất để ưu đãi các nhóm lợi ích và nhận hối lộ, trong khi việc bồi thường di dời cho nông dân lại không thỏa đáng. Điều đó ngày càng trầm trọng và đã tạo nên bất mãn xã hội ngày càng sâu rộng. Sự kiện Dương Nội, Tiên Lãng hay Đồng Tâm là những ví dụ không bao giờ kể hết về phong trào dân oan và xung đột đất đai khắp cả nước.

Giải pháp

Quyền tư hữu tài sản là một quyền pháp lý tự nhiên mà con người được hưởng theo luật tự nhiên (droit naturel). Luật tự nhiên là các quy luật mặc nhiên chi phối cuộc sống cá nhân và đời sống xã hội, mà từ khi hiện hữu con người đã phải chấp nhận và tuân hành. Muốn xã hội phát triển bình thường và ổn định, thì luật thực tại (droit positif), vốn là sản phẩm của tư duy con người, phải thuận theo lẽ trời đất, tức luật tự nhiên. Những hệ lụy của sở hữu toàn dân, một khái niệm thuần túy chính trị, như nêu trên đều bắt nguồn từ nguyên nhân sâu xa là luật thực tại trái với luật tự nhiên.

Trong nền kinh tế kế hoạch tập trung được xây dựng trên nền tảng lý luận Marx-Lenin, tư duy chính trị thắng thế nên sở hữu toàn dân đối với đất đai không tạo ra nhiều vấn đề nan giải cho xã hội, vì khi ấy nền kinh tế được hoạch định đơn giản và mọi bất đồng có thể giải tỏa bằng mệnh lệnh hành chính từ nhà nước.

Tuy nhiên, khi nền kinh tế được cải cách theo hướng thị trường, yếu tố thị trường ngày càng chi phối sự phát triển, thì tư duy pháp lý tất yếu trở nên thắng thế và đòi hỏi phải xem xét lại tính phù hợp của khái niệm sở hữu toàn dân đối với đất đai. Cưỡng lại yêu cầu này khiến động lực phát triển kinh tế bị triệt tiêu và ổn định xã hội bị đe dọa, như mọi người đều thấy rõ.

Do vậy, đã đến lúc phải từ bỏ khái niệm sở hữu toàn dân về đất đai lỗi thời, và chấp nhận sửa đổi Hiến pháp để tư hữu hóa các loại đất dùng vào mục đích dân sinh và kinh tế. Vấn đề cốt lõi ở đây vẫn là liệu nhà cầm quyền dám từ bỏ tư duy lỗi thời, không còn thích hợp nữa hay không. Nếu không xã hội sẽ ngày càng bất ổn thêm, mà điều đó thì hoàn toàn bất lợi cho chính đảng cầm quyền, chứ không ai khác.

Phạm Bình Minh đi Mỹ: Thành công hay thất bại?

Chuyến công du liên hoàn “Trung trước, Mỹ sau” của ông Phạm Bình Minh, phó thủ tướng kiêm ngoại trưởng, vào Tháng Tư năm nay rốt cuộc tiếp nhận được cái gì?

Hai “thành tích”

Tại Bắc Kinh, ông Minh có cuộc tiếp xúc với những nhân vật trong Bộ Chính Trị Đảng Cộng Sản Trung Quốc. Nhưng cũng như kết quả chuyến công du của Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng đi Trung Quốc vào Tháng Giêng, hầu hết các trao đổi vẫn chỉ là lời nói xã giao “ấm tình đồng chí” nhưng không có giải pháp cụ thể nào, đặc biệt là giải pháp về tiền theo cách “hỗ trợ tín dụng để chế độ Việt Nam ổn định chính trị.”

Còn tại Washington, DC, ông Minh cũng được gặp những quan chức cấp cao, trong đó đặc biệt là ngoại trưởng và cố vấn an ninh quốc gia. Thành quả lớn nhất và có vẻ bất ngờ nhất là chính cố vấn an ninh quốc gia, chứ không phải giới ngoại giao của Mỹ, trao cho ông Minh bức thư của Tổng Thống Donald Trump mời Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc thăm Mỹ. Động thái này diễn ra ngay sau khi Phó Tổng Thống Mike Pence thông báo tại Indonesia rằng ông Trump sẽ dự hội nghị APEC tại Việt Nam vào Tháng Mười Một. Đó là một kết quả lớn mà theo một chuyên gia phân tích chính trị của Mỹ, điều này khiến giới lãnh đạo Việt Nam hưng phấn và hy vọng hẳn lên, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang phải chịu quá nhiều sức ép về quá nhiều phương diện từ kinh tế, quốc phòng và xã hội.

Một kết quả khác, tuy không được rõ nét như kết quả trên, nhưng cũng có thể được xem là “kết quả” trong chuyến đi của ông Minh: báo đảng Việt Nam tường thuật “Hoa Kỳ ủng hộ việc Việt Nam tiếp tục được hưởng các nguồn vốn vay ưu đãi IDA của Ngân Hàng Thế Giới (WB) phù hợp với điều kiện của Việt Nam trong giai đoạn tới cũng như các hoạt động hợp tác trong khuôn khổ APEC.”

Cần nhắc lại, IDA là một định chế tài chính của WB cho vay tín dụng lại suất ưu đãi dành cho các nước nghèo trên thế giới. Nhiều năm trước, trong khi luôn tìm nhiều cách để trưng bày thành tích “hóa rồng” và GDP lên đến 7-9% hàng năm cùng thu nhập đầu người lên đến vài ba ngàn đô la, giới lãnh đạo Việt Nam lại hành động ngược lại khi miệt mài xin tín dụng và viện trợ không hoàn lại. Lý lẽ đưa ra: Việt Nam là một quốc gia… vẫn còn nghèo.

Nhưng đến cuối năm 2015, với những thành tích tăng trưởng mà Việt Nam tự khoác lên mình, WB đã quyết định chấm dứt các chương trình cho vay ODA ưu đãi và bắt buộc Việt Nam phải tốt nghiệp IDA, nghĩa là sẽ phải vay tín dụng của WB với lãi suất cao hơn cùng thời gian ân hạn giảm đi. Đến lúc này, một hiện tượng lạ xảy ra: “Học sinh” Việt Nam tìm cách để được “lưu ban,” tức muốn được kéo dài thời gian vay ưu đãi IDA càng lâu càng tốt.

Tuy nhiên, đó là tất cả cho chuyến đi Mỹ của ông Phạm Bình Minh.

Sau tất cả, đã không có bất kỳ một hơi hướng hay manh mối nào về Hiệp Định Thương Mại Song Phương Việt-Mỹ (BTA).

BTA đâu rồi?

Sau chuyến đi Mỹ của ông Phạm Bình Minh, những tờ báo đảng tường thuật chi tiết nhất về những nội dung đã được mang ra bàn thảo Việt-Mỹ đã không một lời nhắc đến bản hiệp định mà giới lãnh đạo Việt Nam đang mong đợi, và hẳn là mong muốn hơn bao giờ hết.

Cần nhắc lại, chuyến công du Hoa Kỳ của ông Phạm Bình Minh được giới phân tích chính trị Hoa kỳ thông tin là một chuyến đi dọn đường cho cuộc thăm viếng Hoa Kỳ tiếp theo của Thủ Tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc.

Lại có nhiều dấu hiệu cho thấy nhu cầu và mối quan tâm đầu tiên và trên hết của Việt Nam vẫn là thương mại song phương với Hoa Kỳ, sau đó mới là những chủ đề về “xoay trục sang Châu Á – Thái Bình Dương” và “giao lưu” quân sự – quốc phòng Việt-Mỹ ở khu vực Biển Đông. Nhu cầu và mối quan tâm ấy ồn ã hẳn lên từ sau khi Hiệp Định Đối Tác Kinh Tế Xuyên Thái Bình Dương (TPP) hầu như tan vỡ kể từ Tháng Mười Một, 2016 – khi Tổng Thống Trump tuyên bố đoạn tuyệt với hiệp định này, cũng chấm dứt luôn công sức cùng hy vọng kéo dài suốt sáu năm đàm phán của Việt Nam.

Sau 15 năm thực hiện BTA mà đã khiến phi mã giá trị giao thương Việt-Mỹ đến hàng trăm lần, giờ đây, chính quyền của Tổng Thống Trump đang tiến hành rà soát lại toàn bộ BTA này. Việc rà soát này xuất phát từ lời lên án của ông Trump về 16 quốc gia có thương mại song phương “gây hại” cho kinh tế Hoa Kỳ, trong đó có Việt Nam.

Một hệ quả rất không mong đợi đối với Việt Nam là nếu Mỹ “siết” các điều kiện thương mại như đánh thuế xuyên biên giới, dựng đứng hàng rào kiểm nghiệm chất lượng đối với hàng hóa Việt Nam mà trước đó cá basa, tôm, gạo đã trở thành “nạn nhân,” đồng thời ngưng trệ BTA hoặc làm cho hiệp định này trở nên khó khăn hơn nhiều so với 15 năm trước đó, giá trị xuất siêu hàng năm của Việt Nam vào Hoa Kỳ sẽ tụt hẳn.

Trong khi đó, một nguồn “ngoại lực” khác là kiều hối về Việt Nam cũng đang sụt mạnh đến hơn $4 tỷ trong năm 2016 so với năm 2015, báo hiệu một chu kỳ khó tránh thoát về suy giảm tình cảm của “kiều bào ta” đối với chế độ cầm quyền, càng khiến chân đứng của chế độ này dễ bị vỡ vụn hơn bao giờ hết.

Nhưng muốn có được BTA lại không hề dễ dàng. Một BTA với Việt Nam được không chỉ do hành pháp mà còn là do Quốc Hội Hoa Kỳ quyết định.

Còn nhớ vào năm 2015, chỉ riêng định chế quyền đàm phán nhanh (TPA) nằm trong TPP mà chính quyền của Tổng Thống Barack Obama đã phải trình ra hai viện của Quốc Hội Mỹ và đã phải bỏ phiếu đến nghẹt thở 3-4 lần mới thông qua được. Còn nay, trong bối cảnh hàng hóa nước ngoài đang có xu thế tràn ngập nước Mỹ và khiến sụt giảm giá trị xuất siêu của Mỹ, đồng thời làm tăng tỷ lệ thất nghiệp tại nước này, chắc hẳn ông Trump sẽ không thể nhiệt tình đối với BTA cho Việt Nam mà không có những điều kiện đặc biệt kèm theo. Lối suy nghĩ và cách thức hành xử của ông Trump chắc chắn sẽ ảnh hưởng tới nhiều thượng nghị sĩ đảng Cộng Hòa và cả đảng Dân Chủ trong Quốc Hội Mỹ khi nhìn thấy bản dự thảo BTA trước mặt.

Trong lúc đó, nhóm dân biểu quan tâm đến Việt Nam trong nhóm Vietnam Caucus đang trở nên hùng mạnh và ngày càng có tiếng nói mạnh mẽ trong Quốc Hội Hoa Kỳ. Dân Biểu Alan Lowenthal (Dân Chủ-California) là một trong những nhân vật như vậy. Vào đầu Tháng Tư, sau việc phía Việt Nam nêu ra một lời đánh tiếng để Thủ Tướng Phúc “sẵn sàng đi thăm Mỹ,” ông Lowenthal đã nói thẳng với Đài Á Châu Tự Do: “Tôi khẳng định với ngài đại sứ (Ted Osius) rằng Việt Nam muốn tăng cường mối quan hệ thương mại và ký kết BTA thì phải trả tự do cho tất cả tù nhân lương tâm. Nếu họ không làm thế thì không thể có BTA. Tùy thuộc vào chính phủ Việt Nam thôi! Đây là thông điệp của tôi chuyển đến chính phủ Việt Nam.”

Thế nhưng giới lãnh đạo Việt Nam có làm gì để cải thiện nhân quyền?

Còn EVFTA?

Cho tới nay, vẫn chưa hiện ra bất kỳ dấu hiệu nào cho thấy giới lãnh đạo Việt Nam chịu nhân nhượng bất kỳ nội dung nào trong “gói cải thiện nhân quyền” mà người Mỹ, một lần nữa trong không biết bao nhiêu lần, đặt lại. Thậm chí Luật Về Hội và Luật Biểu Tình – những quyền căn bản quá thiết thân của người dân mà Hiến Pháp Việt Nam từ năm 1992 hứa hẹn nhưng đã bị giới lãnh đạo Việt Nam nuốt lời suốt một phần tư thế kỷ qua, vào Tháng Tư năm nay bị Bộ Công An, chính phủ của ông Nguyễn Xuân Phúc, cùng Quốc Hội của bà Nguyễn Thị Kim Ngân rút khỏi chương trình bỏ phiếu thông qua luật năm 2017 và cả năm 2018.

Hãy đề cập đôi chút về chuyến công du ba nước Châu Âu là Thụy Điển, Hungary, và Czech của Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Thị Kim Ngân vào Tháng Tư năm nay.

Chuyến đi mang một mục đích đặc biệt là “thúc đẩy quốc hội ba nước ủng hộ việc ký chính thức, phê chuẩn Hiệp Định Thương Mại Tự Do Việt Nam-EU (EVFTA).”

Đáng lý ra, trách nhiệm vận động các nước thành viên thông qua EVFTA là của Nghị Viện Châu Âu. Nhưng hẳn do tình thế đã biến diễn như thể “nước đã đến chân,” giới chóp bu Việt Nam không thể ngồi rung đùi chờ đợi Châu Âu thông qua EVFTA như cách người Mỹ đã mang BTA đến tận miệng cho Việt Nam 16 năm trước, hay Tổ Chức Thương Mại Thế Giới (WTO) đặc cách xét cho Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức này vào năm 2007. Mọi chuyện đã trở nên khó khăn hơn rất nhiều, đặc biệt sau khi TPP hầu như tan vỡ.

Một cách nào đó, chủ tịch quốc hội Việt Nam đã làm thay công việc vận động của Nghị Viện Châu Âu. Cũng có thể hiểu một cách nào đó, Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng phải làm mọi cách để tìm ra một hiệp định thương mại thay thế cho TPP chết yểu, cũng là cách để ông có được thành tích mang lợi ích kinh tế về cho đảng và do đó sẽ kéo dài tuổi thọ tổng bí thư của ông. Rất có thể đó là lý do chính yếu mà ông Trọng “đẩy” bà Ngân đi Châu Âu vận động EVFTA với tư cách “kênh quốc hội,” bất chấp chính thể Việt Nam vẫn hoàn toàn không quan tâm và càng không hề tôn trọng nhân quyền theo yêu cầu của EU.

Nhưng khác hẳn với quan điểm nhẹ nhàng những năm trước về nhân quyền Việt Nam, từ sau khi bị một số tổ chức nhân quyền quốc tế thẳng thắn phê phán, EU bắt đầu chuyển sang thái độ mạnh mẽ hơn trong việc đòi hỏi chính quyền Việt Nam phải cải thiện nhân quyền. EVFTA chính là một bằng chứng khi hiệp định này lần đầu tiên đã gắn điều kiện Việt Nam phải cải thiện nhân quyền với lộ trình triển khai các điều ước thương mại.

Kết quả đáng thất vọng đối với phái đoàn của bà Nguyễn Thị Kim Ngân là sau các cuộc làm việc ở Châu Âu, không có bất cứ một khoản viện trợ không hoàn lại nào được phía chủ nhà thông báo dành cho Việt Nam. Ngay cả Thụy Điển – vốn được Việt Nam hy vọng nhất về “tình cảm rất đặc biệt trong cuộc kháng chiến chống Mỹ” – cũng không còn tỏ ra hào phóng như thường biếu một số tiền viện trợ không hoàn lại vào những lần giới lãnh đạo Việt Nam thăm Thụy Điển những năm trước. Thậm chí, lãnh đạo Quốc Hội Thụy Điển cũng không hứa hẹn bất kỳ điều gì liên quan đến viện trợ không hoàn lại trong thời gian tới cho Việt Nam. Hẳn quốc gia này vẫn chưa thể quên việc họ đã bắt buộc phải ngừng vô thời hạn các khoản viện trợ ODA cho Việt Nam vào năm 2013 sau khi phát hiện hàng loạt gian dối của quan chức Việt. Sau đó cả Bộ Ngoại Giao Úc và vài quốc gia khác cũng bắt đầu cắt giảm viện trợ.

Trong khi không nhận được khoản viện trợ nào, đoàn “quốc tế vận” của bà Kim Ngân cũng không có được văn bản cam kết nào của quốc hội ba quốc gia này là “sẽ thúc đẩy để Liên Âu sớm phê chuẩn EVFTA.” Tất cả chỉ là nói miệng theo lối xã giao mà chẳng có gì chắc chắn!

Muốn EVFTA được thông qua, phải có sự thống nhất của quốc hội thuộc 27 nước thành viên. Sự đồng thuận giữa các nước EU lại tương đối cao về vấn đề nhân quyền. Chỉ cần vài nước không thông qua thì EVFTA sẽ bị khựng lại.

Cho tới Tháng Tư, Việt Nam vẫn chưa có được manh mối đáng hy vọng nào cho cả EVFTA lẫn BTA. Tương lai gần rất dễ nhận ra là nếu không có những cải thiện đáng kể nào về nhân quyền từ giới lãnh đạo Việt Nam, chuyến đi Mỹ sắp tới của Thủ Tướng Phúc sẽ trở nên công cốc.

Nam Hàn: Mỹ xác nhận sẽ trả chi phí hệ thống THAAD

SEOUL, Nam Hàn (NV) – Chính phủ Nam Hàn cho hay phía Mỹ khẳng định rằng sẽ trả chi phí bố trí hệ thống phòng thủ chống hỏa tiễn THAAD, chỉ ít ngày sau khi Tổng Thống Donald Trump nói rằng Seoul phải trả số tiền $1 tỷ cho hệ thống bảo vệ Nam Hàn chống hỏa tiễn từ Bắc Hàn.

Trong cuộc điện đàm hôm Chủ Nhật, ông H.R. McMaster, cố vấn an ninh Tòa Bạch Ốc, khẳng định với ông Kim Kwan Jin, nhân vật đồng trách vụ phía Nam Hàn, rằng mối quan hệ đồng minh với Nam Hàn là ưu tiên hàng đầu của Mỹ ở vùng Á Châu-Thái Bình Dương, theo văn phòng tổng thống Nam Hàn.

Cuộc thảo luận diễn ra tiếp theo sau một vụ phóng hỏa tiễn mới của Bắc Hàn hôm Thứ Bảy, vốn theo Washington và Seoul là không thành công, nhưng cũng bị thế giới lên án.

Tổng Thống Donald Trump, khi được hỏi là có bình luận gì về việc Bình Nhưỡng phóng hỏa tiễn, cho biết là “rồi sẽ biết,” nhưng không cho biết chi tiết nào khác.

Trong cuộc phỏng vấn dành cho Reuters hôm Thứ Năm, ông Trump nói ông muốn Seoul trả tiền cho hệ thống THAAD.

Hôm sau đó, phía Nam Hàn đáp trả rằng Washington phải trả số tiền đó, theo như thỏa thuận đã có từ trước.

Trong một hình thức biểu dương lực lượng khác, hải đội Mỹ do hàng không mẫu hạm USS Carl Vinson chỉ huy khi đến vùng biển gần bán đảo Triều Tiên đã có cuộc tập trận với Hải Quân Nam Hàn vào chiều tối ngày Thứ Bảy.

Chiếc Carl Vinson trước đó cũng có cuộc thao dượt với Hải Quân Nhật. (V.Giang)

Garden Grove dự trù có Đài Tưởng Niệm Tháng Tư Đen

GARDEN GROVE, California (NV) – Nhân dịp tưởng niệm ngày 30 Tháng Tư năm nay, ông Phát Bùi, phó thị trưởng Garden Grove kiêm chủ tịch Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Nam California, công bố dự án Đài Tưởng Niệm Tháng Tư Đen mà ông cho biết ông là tác giả. Dự án sẽ không dùng đến ngân sách của thành phố.

Cũng theo ông ủy ban xây dựng tượng đài gồm có hai tổ chức bất vụ lợi và đều đặt văn phòng ở Garden Grove. Đó là Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Nam California và Tập Thể Chiến Sĩ Miền Tây Nam Hoa Kỳ. Ngoài ra, còn có sự tham gia của Vietnam Veterans of America – Chapter 785, một tổ chức cựu chiến binh Hoa Kỳ từng tham chiến ở Việt Nam.

Mục đích

Về mục đı́ch của dự án, ông nói: “Chúng tôi đề nghị dự án này để tưởng nhớ biến cố Tháng Tư Đen, và để tưởng nhớ đến những thảm trạng từ Tháng Ba gẫy súng cho đến hậu 30 Tháng Tư. Hàng triệu người liều chết bỏ nước ra đi, hàng trăm ngàn người bỏ mı̀nh trong rừng sâu biển cả, vài trăm ngàn quân nhân bị cầm tù, nhiều người chết trong trại tù cải tạo…”

“Và cũng để ghi ơn sự chiến đấu anh dũng của hơn một triệu quân nhân VNCH và nửa triệu quân đội đồng minh từ 1954 đến 1975 qua các trận Hamburger Hills, Mậu Thân, Quảng Trị, Mùa Hè Đỏ Lửa, Đại Lộ Kinh Hoàng, An Lộc, v.v…” ông nói thêm.

Ông Phát Bùi và mô hình đài tưởng niệm. (Hình: Linh Nguyễn/Người Việt)
Ông Phát Bùi và mô hình đài tưởng niệm. (Hình: Linh Nguyễn/Người Việt)

Đài Tưởng Niệm Tháng Tư Đen khác Tượng Đài Chiến Sĩ Việt-Mỹ

Vị phó thị trưởng giải thích: “Tượng Đài Chiến Sĩ Việt-Mỹ tại Westminster là để ghi ơn các chiến sı̃ Hoa Kỳ và Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà. Trọng tâm của tượng đài này là người lính Hoa Kỳ và người lính VNCH.”

“Trong khi đó, Đài Tưởng Niệm Tháng Tư Đen tưởng nhớ đến thảm trạng của người Việt tị nạn Cộng Sản. Trọng tâm của đài tưởng niệm này là khối người Việt tị nạn khắp nơi trên thế giới. Lịch sử người Việt tị nạn Cộng Sản bắt đầu từ cuộc chiến Việt Nam; và Tháng Tư Đen là khởi điểm của người Việt tị nạn trên thế giới. Vı̀ thế, một số những nét tiêu biểu của chiến tranh Việt Nam được ghi lại trên các tường đá cẩm thạch mầu đen,” ông nói thêm.

Dự án và kiến trúc

Ông Phát kể rằng dự án Đài Tưởng Niệm Tháng Tư Đen được đưa ông đệ trı̀nh lên hội đồng thành phố vào buổi họp ngày 25 Tháng Mười, 2016, nhưng hội đồng đồng ý để sau cuộc bầu cử Tháng Mười Một, tân hội đồng thành phố sẽ quyết định về bản dự thảo, và đề nghị ủy ban xây dựng làm việc với nhân viên để kiện toàn dự án trước khi đệ trı̀nh cho thành phố.

Nghị Viên Thu-Hà Nguyễn, Garden Grove, nói với nhật báo Người Việt rằng: “Tại thời điểm của buổi họp ấy, một số nghị viên không muốn bỏ phiếu, vì nghĩ rằng không công bằng cho những nghị viên được đắc cử sau. Vì thế, hội đồng lúc ấy quyết định chờ sau ngày bầu cử rồi sẽ tính.”

Mô hình bức tường bên trái, mặt ngoài. (Hình: Nghị Viên Phát Bùi cung cấp)
Mô hình bức tường bên trái, mặt ngoài. (Hình: Phát Bùi cung cấp)

Ông Phát nói thêm về đài tưởng niệm: “Nói đến biến cố Tháng Tư Đen, điều nổi bật và là điển hı̀nh bi thảm cho các gia đı̀nh của người Việt quốc gia là sự tuẫn tiết của năm vị tướng VNCH, thà chết không đầu hàng giặc, và tuẫn tiết để tạ lỗi với quân dân. Vı̀ lý do đó, trọng tâm của Đài Tưởng Niệm Tháng Tư Đen là hı̀nh tượng nổi của năm người này trên bức tường đá cẩm thạch đen, dài 40 ft, cao 10 ft.”

“Điểm cao nhất của đài tưởng niệm là cây đuốc cao 20 ft với ngọn lửa thiêng (eternal flame). Bên trái của năm vị tướng là các chi tiết lịch sử về ‘Tháng Ba Gẫy Súng’ và ‘Tháng Tư Đen’ cùng với danh sách tiêu biểu của những anh hùng tử sı̃ đã hy sinh trong Tháng Tư Đen. Phần chı́nh là 45 tướng lãnh và binh sı̃ chiến đấu trong ngày cuối cùng và tuẫn tiết theo mệnh nước. Bên phải của năm vị tướng là chi tiết các trại tù cải tạo mà gần 400,000 chiến sı̃ VNCH bị cầm tù trong nhiều năm tháng,” ông nói.

Mô hình bức tường bên phải, mặt trong. (Hình: Nghị Viên Phát Bùi cung cấp)
Mô hình bức tường bên phải, mặt trong. (Hình: Phát Bùi cung cấp)

Ông cho biết chi tiết về bức tường đen bên trái, mặt trong ghi lại các đơn vị quân lực VNCH và đồng minh chiến đấu cho miền Nam Việt Nam. Danh vị 43 cư dân thành phố Garden Grove và cũng là các chiến binh Hoa Kỳ tử trận tại Việt Nam cũng như thống kê các binh sı̃ Hoa Kỳ và VNCH tử trận mỗi năm từ 1960 đến 1975. Mặt ngoài ghi lại các chiến trận lớn trong chiến tranh Việt Nam.

Bức tường đen bên phải, mặt trong, cũng theo lời kể, ghi lại cuộc tị nạn vı̃ đại của thuyền nhân (Boat People) từ năm 1978 đến 1985, cùng bản đồ và danh sách các trại tị nạn tại Đông Nam Á. Mặt ngoài ghi lại chi tiết ba đợt tị nạn chı́nh, gồm “Di tản Freequent Wind -1975,” “Thuyền Nhân, H.O.,” và “Những Người Bị Bỏ Quên (The Forgotten Ones).”

Một kiosk ngoài trời, với màn ảnh lớn và Internet, sẽ được trang bị để người dân có thể tı̀m hiểu thêm nhiều dữ kiện về Tháng Tư Đen, chiến tranh Việt Nam, tiểu sử các vị tướng tuẫn tiết, thảm cảnh người Việt tị nạn, v.v…

Ông cho biết nguồn điện cho đài tưởng niệm sẽ được cung cấp bằng năng lượng mặt trời.

“Công Ty Southwest Sun Solar hứa bảo trợ $20,000 cho chi phı́ thiết kế hệ thống điện Solar Power. Ngòai ra, để bảo vệ cho đài tưởng niệm, một hệ thống máy ảnh ‘video security monitoring’ sẽ được trang bị để theo dõi và bảo vệ suốt 24 tiếng ngày và đêm,” ông Phát nói.

Chi phí

“Dự trù cho công trı̀nh kiến trúc và xây dựng, chúng tôi tính vào khoảng $500,000 cho tới $600,000 (tuỳ theo vật liệu). Chúng tôi cũng dự trù một quỹ dự trữ (Reserved Trust Funds) dành cho các sửa chữa lớn, thı́ dụ như sửa chữa các hệ thống điện solar mỗi 20 năm. Tiền lời của quỹ này sẽ được sử dụng cho chi phı́ tu bổ nhẹ hàng năm… như sơn phết, rửa và đánh bóng đá cẩm thạch, thay bóng đèn, bảo trı̀ kiosk, v.v…” ông giải thích.

Thực hiện

Công trình thực hiện sẽ trải qua nhiều giai đoạn, như lãnh hội ý kiến của cộng đồng, thiết kế và lên kế hoạch, cơ quan trách nhiệm duyệt, và đưa ra trước hội đồng thành phố để chuẩn thuận. Hiện nay, theo dự trù, dự án sẽ có giấy phép vào đầu năm 2018.

“Chúng tôi sẽ có một ủy ban chịu trách nhiệm giám sát, gây quỹ, xin giấy phép, và khởi công. Mọi chi thu về tài chánh sẽ được công khai và minh bạch. Tôi kêu gọi đồng hương hợp tác và đóng góp những ý kiến xây dựng, để con cháu chúng ta và mọi người có được một nơi xứng đáng để tưởng nhớ lịch sử oai hùng và hãnh diện của người Việt Nam ở hải ngoại,” phó thị trưởng Garden Grove kêu gọi.

Mọi chi tiết, liên lạc ông Phát Bùi qua email: [email protected].

Liên lạc tác giả: [email protected]

Đứng Thẳng Làm Người (Kỳ 146)

1,474 ngày trong nhà tù Cộng Sản Việt Nam

-Tôi nhớ là có văn bản mà. Tôi cam đoan với chị Tần là có văn bản. -Đặng Minh Quang nói.

-Tôi không tin, nói có sách, mách có chứng, có thì đưa ra. Cộng Sản dối trá, lừa gạt qua nhiều rồi, nói suông với tôi là không được. -Tôi nói.

-Tôi sẽ tìm văn bản đưa chị xem. -Đặng Minh Quang nói.

-Bao giờ cán bộ Quang sẽ đưa, cho tôi ngày giờ cụ thể? Tôi không chờ dây dưa ngày này sang ngày khác. Khi nào người nhà tôi đến đây thăm gặp tôi sẽ bảo người nhà tôi làm đơn kiện. -Tôi nói.

-Tuần sau đi chị Tần. -Đặng Minh Quang nói.

Tôi thấy rõ ràng hắn ta có ý định hẹn lần hẹn lửa chớ không có ý thành thật. Tôi truy tới nơi tới chốn luôn:

-Tuần sau cụ thể là ngày nào, giờ nào, cán bộ nói rõ ràng đi.

Hắn ra vẻ suy nghĩ, chậm rãi nói:

-Hôm nay cuối tuần rồi, mai mốt tôi nghỉ, Thứ Hai chào cờ, sinh hoạt tập thể, Thứ Ba (bla… bla…), Thứ Tư (bla… bla…), thôi Thứ Năm đi, chiều Thứ Năm, cũng giờ này.

-Tôi nhất trí, tôi sẵn sàng chờ cán bộ đến thời gian đó. Nếu không thì đừng trách sao tôi không nói trước. -Tôi nói.

Đặng Minh Quang đứng dậy, nói:

-Thôi chị vào đi, tôi đi công việc.

Nói xong, Quang đứng dậy đi. Tôi cũng đứng dậy đi qua phòng bệnh chị Mai Thị Dung kể cho chị Dung nghe diễn biến chuyện tôi đấu khẩu với Đặng Minh Quang. Chúng tôi đồng ý cho hay không là chuyện của chúng nó, đòi là chuyện của mình, bắt buộc nó phải trả lời, nếu nó không cho mình gọi điện thoại là chúng nó tự lột mặt nạ chúng nó. Ở trong tù này phải xác định rõ mỗi ngày là một cuộc chiến đấu, nếu ta không chiến đấu chúng sẽ được nước làm tới, càng ngày càng áp chế ta nhiều hơn, đó là thủ đoạn cũ mèm của chúng từ xưa đến nay như vậy rồi.

Tôi hỏi chị Dung tháng này gia đình chị thăm gặp chưa? Chị nói chưa. Tôi bèn dặn chị gặp chồng là anh Võ Văn Bửu nói với anh Bửu gọi điện thoại cho con Tú em tôi kêu nó mua cho tôi những thứ này, thứ này để tôi xài hằng ngày. Khi tôi sắp thăm gặp thì cũng cho chị Dung hay để chị Dung cần xài cái gì nói với con Tú nó nói lại với anh Bửu. Phải như vậy mới được, chớ chờ gia đình mình vô gặp mới nói, rồi đến tháng sau mới đem vô, thì một món đồ cần xài phải chờ đến hai tháng trời mới có. Chỉ có chị Dung tuy là bịnh tật trầm trọng, sức khỏe yếu đi phải có người dìu, nhưng lại là người tinh thần mạnh mẽ, nhờ cậy giúp đỡ lẫn nhau được mà thôi. Tôi không có quần áo dài, chị Dung tìm trong số đồ cũ của chị cho tôi một bộ màu nâu bông trắng đã cũ. Bộ đồ này không có giá trị tiền bạc, nhưng sau này tôi vẫn đem theo khi bay snag Mỹ, để kỷ niệm tình cảm của người bạn tù bất khuất Mai Thị Dung.

Qua đến đầu tuần sau thì bọn công an trại giam chuyển tôi xuống đất khu phía sau phòng giam của đội 2, ở chung với chị Dương Thị Tròn và chuyển chị Trần Thị Thúy ngược lên phòng giam cũ của tôi. Lần này, bọn chúng rút kinh nghiệm khi dẫn tôi xuống phòng dưới thì cho con Thùy đi theo chỉ chỗ tôi nằm đối diện cửa ra vào phòng giam, cách vách tường phía trên ba người và đúng hai mét vuông hẳn hoi. Đây thuộc loại chỗ VIP trong phòng giam, không quá gần ti vi đỡ ồn ào, cũng không quá xa để không nghe thấy tiếng, ban ngày gió từ ngoài cửa chính thổi vô mát hơn các vị trí khác. Biết điều như vậy đỡ phải nghe chửi.

Cái phòng này nhốt chung hơn bốn mươi nữ tù nhân. Tuy nhiên, ban ngày thì mọi người đi cải tạo hết, còn lại có mỗi mình tôi, chị Dương Thị Tròn và chị Hoa (Hoa mi nơ, dân quận 4 bán ma túy chuyên nghiệp ở Sài Gòn) làm trực sinh.

Ngày đầu tiên tôi mới vô phòng này, con Nguyễn Thị Quý quê Quảng Nam là đứa “hai phai” giả nam đến cà khịa với tôi. Nó cứ hạch sách rằng tại sao ai cũng nằm có ba viên gạch (sáu tấc) mà tôi đến năm viên, quá bức xúc. Tôi trả lời nó đây là quy định chung như vậy, muốn đòi thì ra gặp công an mà đòi, tôi không giải quyết được cho nó. Nó cứ đứng đó cù nhây cù nhằng, tôi không thèm nói gì tơi nó, lo lau dọn chỗ nằm chỗ nằm của mình cho sạch sẽ để tối còn ngủ.

Một chị khoảng hơn năm mươi cũng dân “hai-phai,” tướng tá cao lớn, nghe ai cũng kêu là “cậu Hậu” (sau này tôi biết chị tên Nguyễn Thị Hậu nhà ở quận 4) chạy lại kéo Nguyễn Thị Quý đi chỗ khác. Qua hôm sau, chị Hậu nói nhỏ với tôi:

-Con Quý này nó muốn gây chuyện đó, ở đây nó sợ có mỗi mình tui thôi vì nó đánh không lại tui. Ra ngoài đội nó muốn chửi ai con đĩ là nó chửi, không ai dám nói gì nó hết. Nó đang nuôi con bồ mới của nó ở đây tên Út, tiền bạc dư dã phong bì cho cán bộ. Nó can tội giết người, án hai chục năm, mới vừa vô xét giảm đó. Hồi trước nó ghen chém con bồ nó chết.

-Cám ơn cậu, em hổng có sợ nó đâu. Nó muốn chơi em chiều. -Tôi nói.

(Còn tiếp)

Cá mập tấn công người đang bơi ở bờ biển Nam California

CAMP PENDLETON, California (AP) – Giới hữu trách cho hay một phụ nữ bị con cá mập đớp phải ở ngoài khơi một bãi biển thường có đông người lui tới.

Một nhân viên làm việc cho cơ quan lâm viên tiểu bang, ông Travis Lara, cho tờ báo địa phương Orange County Register hay rằng nạn nhân đang bơi thì bị cá mập táp vào đùi trên.

Cuộc tấn công này xảy ra hôm Thứ Bảy gần bờ biển San Onofre của tiểu bang, dọc theo căn cứ Thủy Quân Lục Chiến Camp Pendleton thuộc San Diego County.

Một phát ngôn viên căn cứ, Trung Sĩ Asia Sorenson, cho tờ báo San Diego Union-Tribune hay rằng nạn nhân này, một thường dân, được di tản bằng trực thăng đến bệnh viện và hiện chưa có chi tiết về vết thương.

Khu vực bãi biển này bị đóng hôm Chủ nhật.

Gần một năm trước đây, cũng có một người khác bị cá mập đớp khi đang bơi ở bờ biển Corona del Mar, nằm cách nơi xảy ra vụ tấn công hôm Thứ Bảy chừng 25 dặm về phía Bắc. (V.Giang)

Chiến hạm Nhật sẽ hộ tống tàu tiếp tế Hải Quân Mỹ ở Thái Bình Dương

TOKYO, Japan (NV) – Nhật sẽ gửi chiến hạm lớn nhất của mình từ sau Thế Chiến 2 đi làm công tác hộ tống một tàu tiếp tế của Hải Quân Mỹ, trong khi tình trạng căng thẳng gia tăng trong khu vực về vấn đề Bắc Hàn, theo các nguồn tin từ giới truyền thông hôm Chủ Nhật.

Bản tin hãng thông tấn AFP cho hay chiếc khu trục hạm chở theo trực thăng Izumo sẽ rời căn cứ ở cảng Yokosuka, nằm về phía Nam Tokyo, hôm Thứ Hai, và sẽ hộ tống chiếc tàu tiếp tế của Hải Quân Mỹ vào vùng biển Tây Thái Bình Dương, theo tờ báo Asahi Shimbun cùng hãng thông tấn Jiji Press ở Nhật.

Đây sẽ là chuyến công tác quân sự đầu tiên của chiếc Izumo, ngoài các cuộc thực tập huấn luyện, để bảo vệ hải đội Mỹ sau khi Thủ Tướng Shinzo Abe mở rộng khả năng hoạt động của Lực Lượng Phòng Vệ Nhật năm 2015, theo AFP.

Chiếc tàu tiếp tế Mỹ dự trù sẽ hỗ trợ các chiến hạm Mỹ hoạt động trong vùng Thái Bình Dương, có thể gồm cả hải đội do hàng không mẫu hạm USS Carl Vinson chỉ huy, vốn trong tình trạng báo động cao sau khi xảy ra vụ phóng hỏa tiễn của Bắc Hàn, AFP cho hay.

Chiếc Izumo, trọng tải tới 27,000 tấn và chở theo tối đa là 28 trực thăng, được coi là một hàng không mẫu hạm, nhưng chính phủ Nhật vì lý do chính trị, vẫn gọi đây là một khu trục hạm. (V.Giang)

Tổng thống Mỹ mời tổng thống Philippines tới Washington, DC

WASHINGTON, DC (NV) – Tổng Thống Donald Trump hôm Thứ Bảy ngỏ lời mời Tổng Thống Philippines Rodrigo Duterte đến Washington, DC sau khi có cuộc điện đàm “thân thiện,” trong đó hai nhà lãnh đạo thảo luận về cuộc chiến chống ma túy ông Duterte đang tiến hành ở Philippines cũng như mối quan hệ giữa hai nước, theo Tòa Bạch Ốc.

Ông Duterte đang gặp sự lên án của thế giới vì cuộc trấn áp ma túy tàn bạo của ông, khiến hàng ngàn người thiệt mạng, và cảnh cáo từ các nhóm tranh đấu nhân quyền là ông có thể có hành vi tội ác chống lại con người, theo bản tin của hãng thông tấn AFP.

Tòa Bạch Ốc nói rằng hai nhà lãnh đạo, vốn cùng được bầu lên hồi năm ngoái, có cuộc nói chuyện “rất thân thiện,” vốn gồm cả cuộc thảo luận về nỗ lực diệt trừ ma túy của ông Duterte và mối đe dọa an ninh khu vực từ Bắc Hàn.

“Tổng Thống Trump cũng mời Tổng Thống Duterte tới Tòa Bạch Ốc để thảo luận về sự quan trọng của liên minh Mỹ-Philippines, vốn đang đi theo chiều hướng tích cực,” theo bản thông cáo của Tòa Bạch Ốc.

Tòa Bạch Ốc cho hay ông Trump thích thú khi nói chuyện với ông Duterte, người từng gọi Tổng Thống Barack Obama là “con của mụ điếm” và Đức Giáo Hoàng Francis là “đồ chó đẻ.”

Ông Trump cũng cho hay ông trông đợi đến ngày tham dự cuộc họp giữa Mỹ và khối ASEAN cùng hội nghị thượng đỉnh Đông Á được tổ chức ở Philippines vào Tháng Mười Một tới đây. (V.Giang)

Giữ rừng, thủ tướng Việt Nam chẳng khác ‘bù nhìn’

ĐÀ NẴNG, Việt Nam (NV) – Những thông tin mới nhất liên quan tới việc khai phá bán đảo Sơn Trà khắc họa thêm thực tế, tại Việt Nam, hệ thống công quyền là “quân hồi vô phèng,” thủ tướng chẳng khác “bù nhìn.”

Theo báo Tuổi Trẻ, Trung Tâm Nghiên Cứu Con Người Và Thiên Nhiên, Trung Tâm Bảo Tồn Đa Dạng Sinh Học Nước Việt Xanh (Green Viet), Nhóm Nghiên cứu-Giảng Dạy về Môi Trường và Tài Nguyên Sinh Vật của Đại Học Đà Nẵng vừa đồng tổ chức một hội thảo về việc bảo tồn, phát triển bền vững bán đảo Sơn Trà tại trường Đại Học Sư Phạm Đà Nẵng hôm 28 Tháng Tư.

Lý do dẫn tới hội thảo vừa kể là vì 1/4 bán đảo này đã được “quy hoạch” thành “trung tâm du lịch sinh thái.” Một mớ “nhà đầu tư” đã được cho phép và đang băm nát Sơn Trà.

Tường thuật của tờ Tuổi Trẻ về hội thảo vừa kể cho thấy, giữ rừng, bảo vệ môi trường, hệ sinh thái tại Việt Nam là bất khả thi vì chẳng ai bảo được ai.

Tại hội thảo, ông Hoàng Sừ, một kiến trúc sư, dẫn các tài liệu chứng minh, do tầm quan trọng của bán đảo Sơn Trà đối với môi trường, hệ sinh thái trong khu vực, từ năm 1977, người đứng đầu chính phủ Việt Nam lúc đó đã xác định, bán đảo này là một trong mười khu “rừng cấm” của Việt Nam (cấm tất cả các kiểu tác động). Căn cứ vào quyết định đó, năm 1992, Bộ Lâm Nghiệp thành lập Khu Bảo Tồn Thiên Nhiên Sơn Trà, diện tích 4,439 hécta.

Năm 2004, Luật Bảo Vệ Rừng ra đời. Luật này quy định, việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất rừng trong các khu bảo tồn thuộc thẩm quyền của thủ tướng.

Tuy nhiên năm 2008, chính quyền thành phố Đà Nẵng vẫn tự tiện ban hành một quyết định, phê duyệt “quy hoạch ba loại rừng ở Đà Nẵng trong giai đoạn từ 2008 đến 2020.”

Theo quyết định, bán đảo Sơn Trà chỉ còn 2,591.1 hécta, 1,840 hécta còn lại (tương đương 41% tổng diện tích khu bảo tồn) được chính quyền thành phố Đà Nẵng cho phép “chuyển mục đích sử dụng” bất kể điều đó vốn thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Việt Nam.

Ông Vũ Ngọc Long, một chuyên gia của Viện Sinh Thái Học Miền Nam, nhận định tính đến cuối năm 2016, 1/4 diện tích bán đảo Sơn Trà đã được “quy hoạch” là “trung tâm du lịch sinh thái,” bất kể “quy hoạch” thay đổi sự liên hoàn về hệ sinh thái của Sơn Trà từ rừng tới bờ biển, rạn san hô…

Ông Huỳnh Tấn Vinh, chủ tịch Hiệp Hội Du Lịch Đà Nẵng, cho biết tuy Đà Nẵng hiện có 22,000 phòng khách sạn, có thể đón 15 triệu khách, lượng khách đến Đà Nẵng năm 2016 chỉ khoảng 5.5 triệu nhưng chính quyền thành phố Đà Nẵng vẫn quyết định xây dựng thêm “trung tâm du lịch sinh thái,” đến năm 2030, Khu Bảo Tồn Thiên Nhiên Sơn Trà sẽ góp thêm 1,600 phòng khách sạn nữa.

Môt kiến trúc sư khác tên Hồ Duy Diệm nhận định, các công trình ở “trung tâm du lịch sinh thái” Sơn Trà là một thứ “kẽ hở” để phát triển biệt thự, phục vụ “lợi ích nhóm.”

Bất chấp chỉ trích của nhiều chuyên gia và dân chúng, chính quyền thành phố Đà Nẵng vẫn đang “tạo mọi điều kiện thuận lợi” cho một số “nhà đầu tư” biến khu bảo tồn này thành “trung tâm du lịch sinh thái.”

Đáng ngạc nhiên là đến giờ, chính phủ Việt Nam không gật mà cũng chẳng lắc dẫu những quyết định về “rừng cấm,” những quy định về các khu bảo tồn thiên nhiên đang bị chính quyền các địa phương sổ toẹt.

Ngoài chính quyền thành phố Đà Nẵng, chính quyền tỉnh Phú Yên cũng sổ toẹt các quyết định, quy định về rừng.

Tuần trước, tờ Tuổi Trẻ công bố một loạt bài điều tra, cho biết, 140 hécta rừng dương sát đoạn bờ biển chạy dọc thành phố Tuy Hòa, được trồng từ năm 1979 đến nay nhằm chắn gió, cát cho Tuy Hòa đã bị dọn sạch.

Về nguyên tắc, chính quyền các tỉnh/thành phố chỉ được phép giao, cho thuê, chuyển mục đích sử dụng các cánh rừng phòng hộ có diện tích từ 20 hécta trở lên sau khi thủ tướng có văn bản đồng ý và hội đồng nhân dân tỉnh/thành phố có nghị quyết về việc này.

Ở Phú Yên thì khác, chính quyền tỉnh này không cần thủ tướng và cũng chẳng cần hội đồng nhân dân do các công trình như sân golf 36 lỗ, khu du lịch cần phải hoàn tất trước khi& vòng chung kết cuộc thi “Hoa Hậu Hữu Nghị ASEAN 2017” khai mạc.

Năm 2005, Tổ Chức Lương Nông Liên Hiệp Quốc (FAO) xác định, Việt Nam đứng thứ nhì thế giới về “phá rừng nguyên sinh” (đứng đầu là Nigeria). Tỉ lệ rừng tự nhiên ở Việt Nam được ước đoán chỉ còn 85,000 hécta (chiếm khoảng 0.7% mức độ che phủ đất).

Đáng lưu ý là chỉ trong 20 năm từ 1975 đến năm 1995, Việt Nam mất 2.8 triệu hécta rừng tự nhiên. Mất rừng dẫn đến nhiều hậu quả khốc hại, Việt Nam đã cố gắng trồng lại rừng. Với sự trợ giúp của cộng đồng quốc tế, Việt Nam tuyên bố sẽ cố gắng đạt tỉ lệ phủ xanh diện tích toàn quốc từ 42% đến 43% vào năm 2015. Song đầu năm 2016, giới hữu trách Việt Nam thú nhận, tính đến hết năm 2015, mức độ che phủ của rừng/diện tích toàn quốc chỉ ở mức 40.84%.

Diện tích rừng tại Việt Nam tuy đã được nâng lên khoảng 13,520 triệu hécta nhưng đa số là rừng mới được trồng lại nên chất lượng rất thấp. Thập niên 1940, trữ lượng gỗ của rừng Việt Nam từ 200 đến 300 mét khối gỗ/hécta và đa số là gỗ quý. Đến thập niên 1990, trữ lượng gỗ giảm xuống chỉ còn 76 mét khối gỗ/hécta và đa số là gỗ tạp. (G.Đ)

Lốc xoáy, lụt lội làm chết 8 người ở Texas, Missouri, Arkansas

DALLAS, Texas (NV) – Lụt lội và lốc xoáy làm thiệt mạng ít nhất tám người và làm bị thương hàng chục người khác ở Missouri, Arkansas và Texas hôm Thứ Bảy.

Bản tin của hãng thông tấn UPI cho hay các vụ lụt và lốc xoáy này do cùng trận bão gây ra khi kéo tới vùng Tây Nam Missouri và Bắc Arkansas, trút xuống tới 11 inches nước mưa.

Có năm người thiệt mạng khi có ít nhất ba trận lốc xoáy đánh vào khu vực Đông thành phố Dallas ở Texas, nơi có các thành phố Eustace, Caney City và Canton vào tối ngày Thứ Bảy, theo các giới chức quận Van Zandt, cũng theo bản tin UPI.

Các bệnh viện ở gần Dallas cho hay điều trị ít nhất 54 bệnh nhân liên quan đến trận bão này, với một người trong tình trạng trầm trọng.

Có ít nhất 49 người được điều trị các vết thương ở East Texas Medical Center.
Chỉ huy trưởng cơ quan cứu hỏa ở Canton, ông Brian Horton, cho đài truyền hình WFAA-TV hay rằng “Chúng ta có thể vẫn còn những người hiện chưa biết tình trạng ra sao.”

Một đại lý bán xe ở Canton bị hư hại nặng nề khi một trận lốc xoáy vượt qua xa lộ liên bang I-20.

Ở tiểu bang Missouri có hai người thiệt mạng do bão. Một thanh niên 18 tuổi chết sau khi xe của anh này đi vào vùng ngập nước ở quận Polaski, nằm cách St. Louis chừng 150 dặm về phía Tây Nam.

Xa hơn về phía Tây Nam tại Clever, người ta tìm thấy thi thể một phụ nữ 72 tuổi sau khi nước lũ cuốn trôi chiếc xe của bà. Ông chồng của bà được cứu trước khi chiếc xe bị nhấn chìm dưới làn nước, cũng theo UPI.

Ở quận Madison tại Missouri, hai trẻ nhỏ mất tích trong một cuộc cấp cứu vì nước lụt. Người mẹ bơi được đến nơi an toàn nhưng hai đứa trẻ trôi đi mất.

Thống Đốc tiểu bang Missouri, ông Eric Greitens, tuyên bố tình trạng khẩn trương, cho hay có 93 cuộc di tản và 33 cuộc cấp cứu do nước lụt trong tiểu bang.

Ở Arkansas, một phụ nữ thiệt mạng sau khi cây đổ xuống căn nhà mobile home ở thành phố De Witt, nằm cách Little Rock chừng 80 dặm về phía Nam.

Tại Oklahoma, nước lụt và ngay cả tuyết đổ xuống khiến Thống Đốc Mary Fallin phải tuyên bố tình trạng khẩn trương. Thành phố Oklahoma City bị mưa đá, lụt và mất điện.

Hôm Chủ Nhật, còn có hơn 30 triệu người Mỹ bị ảnh hưởng bởi lụt cũng như được báo động bão lụt, khi trận bão tiếp tục di chuyển về hướng Đông, theo CNN. (V.Giang)

Thảm họa ô nhiễm lại đe dọa vùng biển miền Trung Việt Nam

THỪA THIÊN-HUẾ, Việt Nam (NV) – Đúng một năm sau khi cá chết trắng vùng biển phía Bắc miền Trung, ngư dân các huyện Phú Lộc, Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên-Huế, cuốn lưới, ngừng ra khơi vì vừa có một đợt cá chết hàng loạt nữa.

Tháng Tư năm ngoái, thảm họa cá chết trắng biển phát xuất từ vùng biển ở khu vực Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh, sau đó lan rộng đến vùng biển thuộc các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế. Tháng Tư năm nay, hiện tượng tương tự đang hiện diện tại vùng biển ở khu vực các huyện Phú Lộc, Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên-Huế.

Theo tờ Người Lao Động, từ hạ tuần Tháng Tư đến nay, biển gần như không có cá. Đáng ngại là nhiều loại cá vốn chỉ sống ở các tầng nước cách mặt biển khoảng 20 mét như cá liệt chạng, cá phèn, cá đuối… đột nhiên đồng loạt trồi lên sát mặt biển trong trạng thái lờ đờ.

Ông Ngô Thảo, một ngư dân tại xã Lộc Vĩnh, huyện Phú Lộc, kể với phóng viên báo Người Lao Động rằng, trước kia, thỉnh thoảng ngư dân mới bắt được những loại cá sống ở tầng nước sâu, trọng lượng trung bình từ 15 kg đến 20 kg nhưng gần đây, những loại cá sống ở tầng nước sâu, trọng lượng lớn hơn như thế liên tục trồi lên, thậm chí dạt cả vào bờ. Cá lớn hiếm gặp trở thành nhiều vô kể nên giá sụt xuống.

Ông Lê Công Minh, chủ tịch xã Lộc Vĩnh, xác nhận vài ngày vừa qua, có nhiều con cá vẩu nặng hơn 30 kg/con chết và bị sóng đánh giạt vào bờ biển. Ông Minh bảo đó là “hiện tượng kỳ lạ” bởi loài cá này chỉ sống ở tầng nước sát đáy biển.

Ông Nguyễn Thanh Phát, chủ tịch Hội Nghề Cá xã Vinh Thanh, huyện Phú Vang, đề cập đến một thực trạng khác: Lượng cá thông thường đột nhiên giảm đáng kể. Sau những chuyến hải hành dài ngày, nhiều tàu đánh bắt xa bờ chỉ kiếm được vài tạ cá, khác hẳn với trước kia, đánh được từ vài tấn đến vài chục tấn cá. Ông nói rằng, ngư dân không hiểu sao từ khi cá sống ở tầng nước sâu trồi lên thì lượng cá sống ở các tầng nước sát mặt biển ở ngoài khơi giảm hẳn.

Theo ông, ngư dân xã Vinh Thanh hiện chỉ bán được một số loài cá sống ở tầng nước sát mặt biển như cá hố vì thương lái có thể xuất cảng sang Trung Quốc. Vì không có người mua, ngư dân đành mang những loại cá lớn, sống ở tầng nước sâu về nhà ướp lạnh, chờ người mua… Vào lúc này, trước khi nhổ neo, ngư dân phải liên lạc trước với thương lái xem họ có mua cá hay không thì mới dám ra khơi…

Báo Người Lao Động cho hay, nhiều ngư dân xã Lộc Vĩnh đã ngưng ra khơi, mang lưới đi cất, chờ hiện tượng cá sống ở tầng nước sát đáy biển nổi lên, dạt vào bờ chấm dứt…

Tuy nhiên tin mới nhất cho biết, hồi cuối tuần vừa qua, một số thợ lặn chuyên tìm tôm hùm dưới biển phát giác nhiều cá mú gai vừa chết dưới đáy biển. Đó cũng là lý do khiến họ phải trồi lên vì sợ nhiễm độc từ nước biển.

Giống như năm ngoái, chính quyền các xã, các huyện và kể cả giới hữu trách cấp tỉnh “án binh bất động.”

Ông Lê Trần Nguyên Hùng, phó giám đốc Sở Nông Nghiệp-Phát Triển Nông Thôn tỉnh Thừa Thiên-Huế, cho biết động tác duy nhất mà họ đã làm là “báo cáo với UBND tỉnh về thiệt hại của ngư dân” nhưng chỉ mới “đề xuất” hỗ trợ cho giới nuôi cá. Ngoài chuyện cá ở ngoài biển chết hàng loạt, tỉnh này vừa có khoảng 35 tấn cá nuôi trong các lồng, bè bị chết, thiệt hại khoảng 7 tỷ đồng.

Theo ông, giới hữu trách chỉ có thể thống kê, xác định được thiệt hại của giới nuôi cá, còn ảnh hưởng của chuyện cá chết hàng loạt ngoài biển đối với ngư dân thì cần phải… nghiên cứu. (G.Đ)

Anh Nguyễn Văn Hạo

10583674-PU-12P - NGUYEN VAN HAO

Bạn Võ Văn Truyện

10583673-PU12-Ong VO VAN TRUY...

Ông Nguyễn Ngọc Hựu (Hill Nguyen)

untitled

Chính nghĩa thời loạn

Vậy là chỉ với một bản cam kết viết tay trên giấy kẻ ô của học sinh tiểu học, giống như một tờ giấy bán nhà viết tay không công chứng, dù có chữ ký của “luật sư” như người làm chứng, uy tín và thể diện của ông Nguyễn Đức Chung, chủ tịch Hà Nội, trước nay thường xuất hiện trên truyền thông với một hình ảnh của một chính khách năng động, gây được nhiều thiện cảm, bỗng chốc có phần “xuống giá.” Và cả sân khấu chính trị Việt Nam cũng phút chốc trở nên hài hước như một màn tấu hài nghiệp dư.

“Dân” dường như không tin chủ tịch Hà Nội nên bắt phải ký cam kết theo kiểu giao kèo, điểm chỉ. Thậm chí họ còn cho người đọc lại dõng dạc từng chữ, phát trên loa phóng thanh của thôn, quay video clip tung lên mạng. Không khác một cuộc “đấu tố” ngày xưa là mấy. Loa phường sau những cuộc tranh luận liệu có nên bỏ đi không, bỗng chốc trở nên thật hữu dụng.

Và Chủ Tịch Nguyễn Đức Chung cũng có vẻ như không có lựa chọn nào khác là phải ký vào cam kết. Xem ra ông Chung cũng không khác những “con tin” bị “dân” bắt giữ là bao. Phải ký vào tờ giấy thì mới xong chuyện.

Liệu sau đây loại “khế ước” độc nhất vô nhị này sẽ chính thức được công nhận, dưới cái tên “hợp đồng hành chính” như một vài “chuyên gia luật” nào đó phân tích, dưới góc độ “học thuật?”

Từ việc bắt giữ con tin cho đến ký giao kèo, đều cho thấy những điều khá bất thường. Sự lúng túng, bất lực của chính quyền và một tình trạng hỗn loạn dường như mất kiểm soát nhưng lại vẫn được kiểm soát theo một cách nào đó. Hành vi giữ người trái luật bỗng nhiên lại được xem là “chính nghĩa,” được bao biện rằng vì chính quyền bắt người trái phép trước nên dân cũng được quyền bắt người trái phép để trả đũa! Vậy mà không hề có bất cứ đại diện nào của nhà nước pháp quyền thực thi phận sự của mình.

Ở một đất nước thỉnh thoảng lại có một vụ “dân tự tử ở đồn công an” mà đột nhiên mấy chục cảnh sát cơ động, có cả lãnh đạo huyện, lại bị “dân” bắt nhốt suốt cả tuần liền mà không hề thấy công an lẫn quân đội gửi lực lượng đến dẹp loạn nhanh chóng thì thật hết sức lạ lùng. Lạ nữa là không thấy ai trong số những người ở vị trí cao nhất lên tiếng và có hành động để giải quyết tình trạng khẩn cấp này.

Một số tin thất thiệt (“fake news”) như “dân tưới xăng lên người cảnh sát cơ động bị bắt làm con tin,” “300 côn đồ kéo vào làng tấn công,” “trẻ con quanh người quấn mìn, sẵn sàng tử thủ” … được cho là do một nhóm các “nhà dân chủ” tung ra trên Facebook, nhưng sau đó đã bị báo chí bác bỏ. Các trang tin được xem là “đài địch” hay “lề trái” đưa tin về Đồng Tâm, trong khi báo chí “lề phải” chịu kiểm duyệt chặt chẽ gần như hoàn toàn im lặng trong mấy ngày đầu.

Một cuộc gặp giữa dân xã Đồng Tâm và Chủ Tịch Nguyễn Đức Chung nhằm đối thoại và giải quyết sự việc cũng phải tới lần thứ hai mới thực hiện được. Buổi làm việc đầu tiên ở trụ sở huyện Mỹ Đức, chỉ có ông Chung mà không có ai là dân Đồng Tâm tới dự. Lý do đưa ra để giải thích cũng thật lạ. Chủ Tịch Nguyễn Đức Chung hỏi nếu đến tận thôn Hoành thì người dân có bắt ông không, trong khi người dân cũng nêu lý do “sợ bị bắt” nếu như lên huyện để họp!

Tất cả những diễn biến lạ lùng của sự việc ở Đồng Tâm khiến nhiều người phải đặt dấu hỏi. Liệu có phải đây một màn đấu đá giữa các phe nhóm chính trị, mà mâu thuẫn đất đai chỉ là cái cớ được đem ra làm bình phong nhằm đẩy sự việc lên cao trào để trả đũa nhau? Đâu đó người ta nói đến thương vụ làm ăn $1 tỷ, tương đương 22,000 tỷ đồng, mà ông Chung ký với tập đoàn Viettel để xây dựng “thành phố thông minh” cho Hà Nội. Phải chăng đây mới là một trong những lý do thật sự của sự việc ở Đồng Tâm? Ngay khi cuộc khủng hoảng ở Đồng Tâm còn chưa chấm dứt, đã có không ít người kêu gọi tẩy chay tập đoàn Viettel trên mạng xã hội.

Quan sát phản ứng của công luận, có thể thấy không ít người tỏ vẻ mừng rỡ, tin rằng đây là một thắng lợi rực rỡ của chính nghĩa, của nhân dân. Đám đông theo dõi sư việc “vô tiền khoáng hậu” này có vẻ hoan hỉ tin rằng thế là đã có một trận đánh đẹp, một cái kết đẹp. Chính nghĩa đã thắng. Nhân dân đã chiến thắng bạo quyền!

Tinh thần lạc quan lên cao phơi phới, như khẩu hiệu ghi trên băng-rôn căng ngang đường thôn Hoành trong mấy ngày “chiến sự:” NHÂN DÂN ĐỒNG TÂM TUYỆT ĐỐI TIN TƯỞNG VÀO CHÍNH SÁCH VÀ ĐƯỜNG LỐI CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC (!?!). Cái băng-rôn lạ lùng khiến cho bất kỳ ai tỉnh táo và lý trí cũng phải buồn cười, thắc mắc vì sự tréo ngoe, mâu thuẫn đến khó hiểu của nó. Phải chăng dân xã Đồng Tâm bị mắc hội chứng “Stockholm” (*)? Hay đây là một sự tính toán có chủ đích nhằm ngăn ngừa những địa phương khác cũng có các mâu thuẫn tranh chấp về đất đai bắt chước mà nổi dậy theo?

Trong niềm hân hoan chiến thắng, có vẻ như không ít người ngỡ đất đã được giành lại cho dân, mà không hề hay biết rằng có một cuộc “cướp đất” quy mô lớn hơn nhiều, khủng khiếp hơn nhiều đã và đang diễn ra, bởi công cuộc “cải cách đất đai” với những khẩu hiệu “tích tụ ruộng đất,” “xóa bỏ hạn điền” … đang chuẩn bị hoàn tất, có thể sẽ tước đoạt ruộng đất của hàng triệu người Việt để làm lợi cho các “địa chủ” mới.

Có nhiều thứ được nhân danh “chính nghĩa” trong sự việc ở Đồng Tâm, nhưng có khi tin vào “chính nghĩa” thời loạn thật chẳng khác nào nhắm mắt uống một ly rượu bị lén bỏ thuốc mê, đến khi tỉnh ra thì có khi đã quá muộn mất rồi.


Chú thích:
(*) “Hội chứng Stockholm (hay quan hệ bắt cóc) là thuật ngữ mô tả một loạt những trạng thái tâm lý, trong đó con tin lâu ngày chuyển từ cảm giác sợ hãi, căm ghét sang quý mến, đồng cảm, có thể tới mức bảo vệ và phát triển phẩm chất xấu của kẻ bắt cóc. Tuy nhiên, những cảm xúc nói trên của “nạn nhân” hoàn toàn vô lý vì họ đang nhầm lẫn hành vi hành hạ với lòng tốt của kẻ bắt cóc, mặc cho những nguy hiểm mà họ đã phải trải qua” (Wikipedia).

Tin mới cập nhật